1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Kiến thức thái độ thực hành nuôi con bằng sữa mẹ và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Quốc tế Phương Châu năm 2017

10 172 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 408,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ và mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ.

Trang 1

KIẾN THỨC THÁI ĐỘ THỰC HÀNH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ

VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN QUỐC TẾ PHƯƠNG CHÂU

NĂM 2017

Đỗ Thị Thúy Liễu*, Lưu Thị Mỹ Tiên*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ và mối liên quan giữa kiến thức, thái

độ, thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

Kết quả: Kiến thức chiếm tỷ lệ cao nhất biết sữa đầu tiên là sữa non 100%, lợi ích của sữa non 100%, lợi ích

cho bé khi NCBSM là 100%, biết thời gian ăn dặm lúc 6 tháng tuổi của trẻ chiếm 96%, duy trì nguồn sữa chiếm 90,6%, lợi ích cho mẹ khi NCBSM là 88,6%, bé bú mẹ khi nào cai sữa chiếm 86,9%, thấp nhất không biết hạn chế của sữa công thức chiếm 23,7% Thái độ NCBSM: Tỷ lệ chiếm cao nhất đồng ý bú mẹ sớm sau sanh càng sớm càng tốt chiếm 94%, bú mẹ hoàn toàn theo nhu cầu chiếm 94%, cho bé bú ban đem chiếm 90,8%, bú mẹ hoàn toàn

4 đến 6 tháng chiếm 90%, đồng ý lời khuyên lợi ích NCBSM là 88%, đồng ý NCBSM là biện pháp bảo vệ sức khỏe cho mẹ và bé chiếm 86,6%, không đồng ý cho bé uống nước sau mỗi cử bú chiếm 86,5%, không đồng ý cho

bú them sữa công thức vài ngày chờ sữa mẹ lên chiếm 86,3% Thái độ, thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

Kết luận: Có sự liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) giữa thái độ, thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ

Từ khóa: Sữa mẹ

ABSTRACT

ABSTRACTINTRODUCTION TO INTRODUCTION CHILD SUPPORTERS AND RELATED FACTORS

AT THE MISSION INTERNATIONAL HOSPITAL IN 2017

Do Thi Thuy Lieu, Luu Thi My Tien

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 6- 2018: 160 – 169

Objective: The description descriptation, the status, implementation of childing with parent mother in the

Products of the European Institute of European European 2017 Specify the relationship relationship between the comment, the status, the implementation of the parent with the care of the care of the care of the Parent of the European 2017

Method: Crosscut description description for parsing

Result: Results for the relationship found with the current action with milk mother

Conclusion: Knowledge of breastfeeding: knowledge of the highest percentage of knowledge about the first

milk is 100% colostrum, the benefits of colostrum 100%, the benefit of breastfeeding 100%, the time Maintaining

a milk supply of 90.6%, benefits for mother in breastfeeding was 88.6%, breastfeeding when weaning accounted for 86.9%, the lowest known restrictions of formula milk accounted for 23.7%

Breastfeeding: The highest proportion of consent for early initiation of breastfeeding was as early as possible, accounting for 94%, exclusive breastfeeding was 94%, breastfeeding was 90.8% 4% to 6 months of exclusive breastfeeding, 88% consent to breastfeeding counseling, 86% for breastfeeding and 86%, do not agree to give milk to drink water after each feed accounted for 86.5%, not agree to feed milk formula for several days to

*Bệnh viện Quốc Tế Phương Châu

Trang 2

breast milk accounted for 86.3% Attitude and practice of breastfeeding were statistically significant (p < 0.05)

Key word: Grow kids by mom milk

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) luôn được

quan tâm không chỉ ở Việt Nam mà ở khắp nơi

trên thế giới Tầm quan trọng, việc duy trì, lợi ích

của nuôi trẻ bằng sữa mẹ và các phương pháp

nuôi dưỡng trẻ nhỏ luôn được ưu tiên trong các

chương trình thông tin, giáo dục, truyền thông

về bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, về phòng,

chống suy dinh dưỡng ở trẻ em NCBSM là biện

pháp tự nhiên mang lại nhiều lợi ích về kinh tế,

nhiều hiệu quả bảo vệ sức khỏe bà mẹ và bé(4,5)

Sữa mẹ chứa hàng trăm thành phần dinh dưỡng

và các yếu tố bảo vệ giúp tăng cường khả năng

miễn dịch cho cơ thể của bé Đặc biệt, sữa non là

dòng sữa đầu tiên do bầu vú tiết ra rất giàu năng

lượng, vì vậy ngay trong giờ đầu sau sinh cần

cho bé bú mẹ(3) Nhiều năm trước đây các nhà

nghiên cứu đã biết sữa mẹ cung cấp nhiều ích lợi

cho sức khỏe của bé, hạ thấp tỷ lệ: tiêu chảy, phát

ban, dị ứng thức ăn và nhiều vấn đề Y Khoa nữa,

khi so sánh với những bé được nuôi bằng sữa

bò(6) Bà mẹ NCBSM giúp phát triển mối quan hệ

gần gủi yêu thương, gắn bó tình cảm mẹ con(4)

Ngoài ra việc NCBSM rất kinh tế vì có thể tiết

kiệm cho nhà nước hàng triệu USD vào việc sản

xuất, vận chuyển phân phối các sản phẩm, thực

phẩm dùng để chữa trị, phục hồi cho các trẻ em

bị suy dinh dưỡng Mặc dù lợi ích như vậy, hầu

hết các bà mẹ ở Việt Nam chưa thực hiện tốt cho

bé bú đúng phương pháp

Theo UNICEF ước tính 1,3 triệu trẻ chết

hàng năm bởi không được NCBSM hoàn toàn

trong vòng sáu tháng đầu mà được nuôi bằng

các thực phẩm bổ sung khác(9) Theo Anthony

Bloomberg, đại diện UNICEF ở Việt Nam thì

chỉ có chưa đến 1/3 các bà mẹ NCBSM trong 4

tháng đầu Tỷ lệ trung bình Thế Giới là

khoảng 40% Tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng

sữa mẹ ở Việt Nam giảm xuống còn 5% khi bé

được 4 – 6 tháng tuổi Đây là một trong các

vùng có tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ

thấp nhất và có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của trẻ nhỏ Thêm vào đó là trong cuộc sống hiện đại, người phụ nữ không có nhiều thời gian dành cho con bú Nguyên nhân chủ yếu là thái độ xã hội, trong đó thiếu sự hỗ trợ của cộng đồng, nhất là người chồng Các bậc ông, bà, thiếu kiến thức và các bà mẹ chưa ý thức được vai trò quan trọng của việc NCBSM Nhân viên y tế có thể giúp bà mẹ có những quyết định nuôi dưỡng trẻ tốt hơn Tại Việt Nam, hầu hết phụ nữ mang thai được chăm sóc trước sinh Các bà mẹ thường đi khám thai nhiều lần trong suốt thời gian mang thai và đa

số sinh con tại bệnh viện, nhà hộ sinh hoặc cơ

sở y tế ở địa phương Trong thời gian này, nhân viên y tế sẽ có cơ hội để tư vấn, hỗ trợ và cung cấp thông tin giáo dục cho phụ nữ, giúp

họ biết cách nuôi dưỡng trẻ tốt nhất Để tìm hiểu thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của các bà mẹ về vấn đề này, nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu này

Mục tiêu nghiên cứu

Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ tại khoa sản Bệnh viện Quốc tế Phương Châu năm 2017

Xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái

độ, thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ tại khoa sản Bệnh viện Quốc tế Phương Châu năm 2017

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tất cả các sản phụ sanh tại Bệnh viện Quốc

Tế Phương Châu

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Tất cả các sản phụ sanh tại Bệnh viện Quốc

tế Phương Châu thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ (theo phương pháp chọn ngẫu nhiên hệ thống)

Tiêu chuẩn loại trừ

Trẻ bệnh lý nặng hoặc sanh non đang điều trị, cách ly mẹ

Những sản phụ có bệnh lý không cho phép NCBSM: suy tim, lao phổi, HIV, ung thư

Trang 3

đang điều trị hóa chất, đang dùng thuốc

chống động kinh

Những sản phụ không có khả năng trả lời:

những người câm điếc hay tâm thần

Sản phụ không đồng ý phỏng vấn

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

Cỡ mẫu

Được tính theo công thức ước lượng một tỷ

lệ trong quần thể Trong đó:

n là cỡ mẫu

α: xác suất sai lầm loại 1 = 0,05

Z1-α/2: giá trị tương ứng của hệ số tin cậy

với α = 0,05 (mức ý nghĩa α = 5%) thì Z1-α/2 = 1,96

Theo nghiên cứu của tác giả Tôn Thị Anh Tú

và Nguyễn Thu Tịnh (2011) cho thấy có 33,34%

bà mẹ có kiến thức đúng về cho con bú sữa(8)

Áp dụng công thức trên ta có n = 322, chúng

tôi chọn bằng 350

KẾT QUẢ

Đa số tỷ lệ trong độ nhóm tuổi 25 đến 35 tuổi

chiếm 57%, nhóm tuổi nhỏ 25 tuổi chiếm 28%,

nhóm tuổi trên 35 tuổi chiếm 15% Tỷ lệ con so

chiếm 52% cao hơn con rạ chiếm 48% Đa phần

dân tộc kinh chiếm tỷ lệ cao 81%, Hoa chiếm

11%, khơmer chiếm 8%

Bảng 1 Thông tin tuổi, số lần sanh, dân tộc của đối

tượng nghiên cứu

Đặc tính n Tỷ lệ %

Nhóm tuổi

Số lần sanh

Dân tộc

Công chức chiếm tỷ lệ cao nhất 32,3%, tự

kinh doanh buôn bán nhỏ 21,7%, công nhân viên

chiếm 18,6, nội trợ chiếm 10,3%, cán bộ quản lý chiếm 9,7%, làm nghề tự do chiếm 2,9%, nghề nông chiếm 2,9%, thấp nhất là sinh viên chiếm 1,7% Trình độ học vấn chiếm cao nhất chiếm 46%, cao đẳng/ trung cấp chiếm 39%, trình độ khác chiếm 12%, thấp nhất trình độ trên đại học chiếm 3% Thu nhập từ 4 đến 6 triệu chiếm cao nhất 48%, trên 6 triệu chiếm 47%, từ 2 đến 4 triệu chiếm thấp nhất 5%

Bảng 2 Đặc điểm nghề nghiệp, trình độ học vấn,

thu nhập đối tượng nghiên cứu

Nghề nghiệp n p

Công chức/ viên chức 113 32,3

Tự kinh doanh buôn bán nhỏ 76 21,7

Trình độ học vấn

Cao đẳng/ trung cấp 136 39

Thu nhập hàng tháng

Kiến thức, thái độ, thực hành của đối tượng nghiên cứu

Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ của đối

tượng nghiên cứu

Bảng 3 Nguồn thông tin về NCBSM của sản phụ

Nguồn thông tin về NCBSM n %

Qua bạn bè người thân 264 75.6 Qua tạp chí, báo đài, tranh ảnh, tờ rơi 35 10 Qua lớp giáo dục tiền sản 30 8.6

Nguồn thông tin đa số qua người thân chiếm 75,6%, qua tạp chí, báo đài, tranh ảnh, tờ rơi chiếm 10%, qua lớp tiền sản chiếm 8,6%

Nghiên cứu sử dụng 8 biến số để đo lường kiến thức của sản phụ về nuôi con bằng sữa mẹ 7/8 biến số đạt 80% kiến thức nuôi con bằng sữa

mẹ, nhưng kiến thức chiếm tỷ lệ cao nhất biết

Trang 4

sữa đầu tiên là sữa non 100%, lợi ích của sữa non

100%, lợi ích cho bé khi NCBSM là 100%, biết

thời gian ăn dặm lúc 6 tháng tuổi của trẻ chiếm

96%, duy trì nguồn sữa chiếm 90,6%, lợi ích cho

mẹ khi NCBSM là 88,6%, bé bú mẹ khi nào cai

sữa chiếm 86,9%, thấp nhất không biết hạn chế

của sữa công thức chiếm 23,7%

Bảng 4 Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ của đối

tượng nghiên cứu

Kiến thức về NCBSM n %

Biết được sữa đầu tiên là sữa non nên

Biết được lợi ích của sữa non 350 100

Biết được lợi ích cho bé khi NCBSM 350 100

Biết được lợi ích cho mẹ khi NCBSM 310 88,6

Biết được những hạn chế khi nuôi bé

bằng sữa nhân tạo 83 23,7

Biết được cần làm gì để giúp mình duy

trì nguồn sữa 317 90,6

Biết được thời gian từ 6 tháng trở lên

mới cho bé ăn dặm 336 96

Biết được nên cho bé bú mẹ đến khi

nào thì cai sữa 304 86,9

KT chung đúng về NCBSM (8đ)

99,4

0,6 Kết quả kiến thức

Hình 1 Kiến thức chungvề nuôi con bằng sữa mẹ

của đối tượng nghiên cứu

Qua hình 1 cho thấy tỷ lệ bà mẹ biết kiến

thức chung đạt 99,4%, không đạt 0,6%

Thái độ về nuôi con bằng sữa mẹ của đối tượng

nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng 9 biến số để đo lường

thái độ của sản phụ về nuôi con bằng sữa mẹ Tỷ

lệ chiếm cao nhất đồng ý bú mẹ sớm sau sanh

càng sớm càng tốt chiếm 94%, bú mẹ hoàn toàn

theo nhu cầu chiếm 94%, cho bé bú ban đem

chiếm 90,8%, bú mẹ hoàn toàn 4 đến 6 tháng

chiếm 90%, đồng ý lời khuyên lợi ích NCBSM là

88%, đồng ý NCBSM là biện pháp bảo vệ sức

khỏe cho mẹ và bé chiếm 86,6%, không đồng ý

cho bé uống nước sau mỗi cử bú chiếm 86,5%, không đồng ý cho bú them sữa công thức vài ngày chờ sữa mẹ lên chiếm 86,3%

Bảng 5 Thái độ về nuôi con bằng sữa mẹ của đối

tượng nghiên cứu

TĐ về NCBSM n %

Đồng ý sữa mẹ là tốt nhất phù hợp với nhu

cầu phát triển của trẻ 308 88 Đồng ý lời khuyên về lợi ích của việc NCBSM

là hoàn toàn đúng 309 88,3 Đồng ý NCBSM là biện pháp bảo vệ sức

khỏe cho mẹ và bé 303 86,6 Đồng ý cho bé bú mẹ ngay sau sanh càng

sớm càng tốt để trẻ bú được sữa non 329 94 Đồng ý cho bé bú mẹ hoàn toàn theo nhu

cầu của bé khi bé đòi bú 329 94 Đồng ý nên cho bé bú mẹ ban đêm 318 90,8 Không đồng ý cho bé uống nước sau mỗi lần

bú mẹ vì sữa mẹ đã đủ nước 303 86,5 Đồng ý cho bé bú mẹ hoàn toàn trong 4 – 6

Không đồng ý cho bú thêm sữa công thức vài ngày trong khi chờ đợi mẹ lên sữa 302 86,3

TĐ chung phù hợp về NCBSM

56,3 43,7

Kết quả thái độ

Hình 2 Thái độ chungvề nuôi con bằng sữa mẹ của

đối tượng nghiên cứu

Thái độ chung đúng đạt 56,3%, không đạt chiếm 43,7%

Thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ của đối tượng nghiên cứu

Bảng 6 Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của đối

tượng nghiên cứu

TH về NCBSM n %

Cho bé bú sớm trong 2 giờ đầu sau sanh 349 99.7 Không cho bé uống thêm nước sau mỗi

Cách đặt bé vào vú đúng 307 87.7

Có vắt bỏ sữa thừa sau mỗi cử bú 294 84 Cho bé bú theo nhu cầu cả ngày và đêm 333 95.1

Tư thế cho bé bú đúng 317 90.6 Cách cho bé ngậm bắt vú đúng 320 91.4

Trang 5

Tỷ lệ cho trẻ bú sau 2 giờ đầu sau sanh đạt

99,7%, thấp đạt 84% không vắt sữa thừa sau mỗi

cử bú

57.1 42.9

Kết quả thực hành

Đạt Không đạt

Hình 3 Thực hành đúng về nuôi con bằng sữa mẹ

của đối tượng nghiên cứu

Thực hành chung đạt 57,31%, không đạt

chiếm 42,9%

Mối tương quan giữa kiến thức, thái độ, thực

hành của đối tượng nghiên cứu

Một số yếu tố liên quan đến số lần sanhvới

thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của đối tượng

nghiên cứu

Bảng 7 Liên quan giữa số lần sanh với thực hành

nuôi con bằng sữa mẹ

Biến số

Thực hành NCBSM

X 2 p Đạt (%) Không đạt

(%)

Số lần

sanh

Con so 29,4 22,3

0,5 >0,05 Con rạ 27,7 20,3

Kết quả bảng cho thấy không liên quan giữa

số lần sanh với thực hành NCBSM

Một số yếu tố liên quan trình độ học vấn với

thực hành nuôi con bằng sữa mẹ

Bảng 7 Liên quan giữa trình độ học vấn với thực

hành NCBSM

Biến số Thực hành NCBSM X 2 p

Đạt (%) Không đạt (%)

Trình độ

học vấn

Trên đại

0,2 >0,05 Đại học 26,6 19,1

Cao đẳng/

trung cấp 22 16,9

Kết quả cho thấy không liên quan giữa trình

độ học vấn với thực hành NCBSM

Một số yếu tố liên quan thu nhập với thực hành nuôi con bằng sữa mẹ

Bảng 8 Liên quan giữa thu nhập thu nhập với thực

hành nuôi con bằng sữa mẹ

Biến số

Thực hành NCBSM

X2 p Đạt (%) Không đạt

(%)

Thu nhập

Từ 2 đến 4 triệu 3,4 1,7

0,7 >0,05

Từ 4 đến 6 triệu 27,1 20,9 Trên 6 triệu 26,6 20,3 Kết quả cho thấy không liên quan giữa thu nhập với thực hành NCBSM

Một số yếu tố liên quan nghề nghiệp với thực hành nuôi con bằng sữa mẹ

Bảng 9 Liên quan giữa nghề nghiệp với thực hành

nuôi con bằng sữa mẹ

Biên số

Thực hành NCBSM

X 2 p Đạt (%) Không

đạt (%)

Nghề nghiệp

Sinh viên 0,6 1,1

0,376 >0,05

Công nhân viên 10,6 8 Công chức/ viên

chức 18,9 13,4 Kinh doanh

buôn bán 12,9 8,9 Cán bộ quản lý 6,6 3,1

Làm nghề tự do 1,4 1,4

Kết quả cho thấy không liên quan giữa thu nhập với thực hành NCBSM

Một số yếu tố liên quan dân tộc với thực hành nuôi con bằng sữa mẹ

Bảng 10 Liên quan giữa dân tộc với thực hành nuôi

con bằng sữa mẹ

Biến số Thực hành NCBSM X

2

p Đạt (%) Không đạt (%)

Dân tộc

Kinh 45,7 34,3

0,4 >0,05

Khơmer 4,1 4,1

Kết quả cho thấy không liên quan giữa dân tộc với thực hành NCBSM

Một số yếu tố liên quan kiến thức với thực hành nuôi con bằng sữa mẹ

Kết quả cho thấy không liên quan giữa kiến

Trang 6

thức với thực hành NCBSM

Bảng 11 Liên quan giữa kiến thức với thực hành

nuôi con bằng sữa mẹ

Biến số

Thực hành NCBSM

X 2 p Đạt (%) Không đạt

(%)

Kiến

thức

Đạt 57,1 42,3

0,1 > 0,05 Không

Yếu tố liên quan thái độ với thực hành nuôi con

bằng sữa mẹ

Bảng 12 Liên quan giữa thái độ với thực hành nuôi

con bằng sữa mẹ

Biến số

Thực hành NCBSM

X 2 p Đạt (%) Không đạt

(%)

Thái độ Đạt 35,1 21,1 0,023 <0,05

Không đạt 22 21,7

Kết quả cho thấy có mối liên quan giữa thái

độ với thực hành NCBSM

BÀN LUẬN

Đặc điểm cá nhân của các sản phụ tham gia

nghiên cứu

Qua phỏng vấn 350 bà mẹ đến sinh tại

khoa sản, Bệnh viện Quốc tế Phương Châu

cho thấy đa số các bà mẹ nằm trong nhóm tuổi

từ 25 đến 35 (57%), đa số các bà mẹ có việc làm

ổn định (88%) Đa số bà mẹ có kinh tế gia đình

từ trung bình trở lên chiếm tỷ lệ 95%, hầu hết

các đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn

trung cấp trở lên chiếm 88% Đối tượng

nghiên cứu đa phần là dân tộc kinh chiếm đa

số (81%) Điều này cũng phù hợp với đặc điểm

của người Việt Nam

Số bà mẹ sinh con lần đầu (52%) và sinh con

từ 2 lần trở lên (48%) khá đồng đều, tỷ lệ này

thuận lợi cho việc phân tích kiến thức và thực

hành về NCBSM vì đa số các bà mẹ sinh con lần

đầu chưa có kinh nghiệm về NCBSM

Kiến thức, thái độ, thực hành của sản phụ về

nuôi con bằng sữa mẹ

Kiến thức của sản phụ về nuôi con bằng sữa mẹ

Tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức chung đúng về

NCBSM trong nghiên cứu là 99,4%, kết quả này

cao hơn kết quả nghiên cứu của Tôn Thị Anh Tú

và cộng sự tại Bệnh viện Nhi đồng (2011) là 38%(7) Sự khác biệt về tỷ lệ này là do từng thời điểm nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu khác nhau, dựa vào các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên cho thấy xu hướng về kiến thức NCBSM ngày càng tăng, cụ thể năm 2000 là 2%, năm 2011

là 4% và nghiên cứu là 99,4%

Kiến thức về NCBSM cho từng vấn đề đạt kết quả tương đối cao, cụ thể như lợi ích NCBSM đạt 100%, thời gian cho trẻ bú sữa non đạt 100%, hiểu biết về lợi ích cho mẹ về NCBSM 88,6%, biết cần cho bú cả ngày lẫn đêm đạt 63,8%, biết rõ thời gian cần cho trẻ ăn dặm là 96%, biết hạn chế sữa công thức 24% và có đến 87% biết rõ thời gian nên cai sữa

Kiến thức về NCBSM cho từng vấn đề đạt kết quả tương đối cao, cụ thể như lợi ích NCBSM đạt 62,7%, thời gian cho trẻ bú sữa non đạt 80%, sữa non có ngay sau sinh đạt 75,5%, hiểu biết về lợi ích của NCBSM hoàn toàn đạt 80,5%, biết cần cho bú cả ngày lẫn đêm đạt 63,8%, biết rõ thời gian cần cho trẻ ăn dặm là 77,8%, biết phải duy trì cho trẻ bú mẹ khi trẻ bị bệnh chiếm 8% và có đến 72,5% biết rõ thời gian nên cai sữa Bên cạnh

đó những bà mẹ có kiến thức không đúng về lợi ích cho con và cho mẹ khi cho bú sữa non lần lượt là 73,5% và 71,5%, về NCBSM hoàn toàn trong tháng đầu lên đến 94,7%, về cho trẻ bú theo nhu cầu là 76,5%, về những hoạt động nhằm giúp tăng tiết sữa là 65%

Về từng chi tiết cho thấy tỷ lệ các bà mẹ biết cho trẻ bú ngay trong vòng một giờ đầu sau sinh trong nghiên cứu là 80%, tỷ lệ này tương đương với tỷ lệ nghiên cứu của tác giả Alive và Thrive (78,8%)(2), nhưng cao hơn nhiều so với 2 nghiên cứu của Ali Mohamed Al-Binali (31%)(1) và Tôn Thị Anh Tú & Nguyễn Thu Tịnh (69,4%)(8) Tuy nhiên hiểu rõ về lợi ích sữa non thì kết quả trong nghiên cứu thấp hơn rất nhiều so với các tác giả trên Tỷ lệ các bà mẹ hiểu được lợi ích khi cho con bú sữa non trên cả bà mẹ và con là 55% thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ

Trang 7

trong nghiên cứu của của Tôn Thị Anh Tú &

Nguyễn Thu Tịnh (91,8)(8), 89,3% của tác giả

Ali Mohamed Al-Binali và 74,4% của Alive và

Thrive(1,2) Điều này cho thấy, mặc dù các bà

mẹ trong nghiên cứu này có tỷ lệ biết nên cho

con bú sớm khá cao, nhưng chưa thật sự hiểu

rõ lợi ích của sữa non Vì vậy, chúng ta cần

tăng cường công tác tư vấn trước và sau sinh

cũng như công tác truyền thông, đặc biệt chú

ý đến các bà mẹ sinh con lần đầu

Về việc cần cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong

tháng đầu, kết quả nghiên cứu (52,8%), tỷ lệ này

tương đương với nghiên cứu của tác giả Tôn Thị

Anh Tú và Nguyễn Thu Tịnh (48%)(8) và nghiên

cứu của tác giả Alive và Thrive (52,5%)(2) cao hơn

nghiên cứu của tác giả Ali Mohamed Al-Binali

(28,1%)(1) Theo kết quả nghiên cứu của Tôn Thị

Anh Tú và Nguyễn Thu Tịnh (2011)(8) cho thấy có

đến 8% đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng

về lợi ích sữa mẹ; 91,8% biết sữa non rất quý và

cần thiết cho trẻ sơ sinh, có 48% là có kiến thức

đúng về bú mẹ hoàn toàn trong tháng đầu Điều

này cho thấy các bà mẹ trong nghiên cứu của 2

tác giả này cao hơn so với kiến thức của các bà

mẹ trong nghiên cứu, điều này có thể lý giải do

đối tượng nghiên cứu này là các sản phụ vừa

sinh con trong vòng 1 tuần lễ đầu, trong đó con

so chiếm đến 50,8% Ngoài ra có thể do thời gian

nằm viện lâu hơn, trong tình trạng trẻ ốm đau

nên các bà mẹ này có nhiều cơ hội được tiếp xúc

với nhân viên y tế, được hướng dẫn, tư vấn về

lợi ích NCBSM, lợi ích của sữa non cũng như

thời gian NCBSM hoàn toàn Từ kết quả nghiên

cứu để nâng cao kiến thức của các bà mẹ

NCBSM cần tập trung vào các yếu tố như: Cho

trẻ bú theo nhu cầu (23,5%), lợi ích cho trẻ khi trẻ

được bú sữa non (26,5%), lợi ích cho mẹ khi cho

trẻ bú sữa non (28,5%) và cách nuôi con bằng sữa

mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu (35%) Các yếu

tố này có thể can thiệp được bằng các phương

pháp truyền thông như tư vấn thông qua nhân

viên y tế thôn bản vãng gia, lồng ghép trong tư

vấn khám thai và truyền thông đại chúng trên

loa đài tại địa phương Bên cạnh đó cũng tăng

cường công tác tư vấn trực tiếp của nhân viên y

tế tại bệnh viện, cụ thể là các bác sỹ, nữ hộ sinh trực tiếp tham gia tư vấn, hướng dẫn trong quá trình điều trị và chăm sóc trước sinh hoặc sau sinh tại bệnh viện nhằm nâng cao kiến thức của các bà mẹ về NCBSM

Thái độ của sản phụ về nuôi con bằng sữa mẹ

Thái độ của các bà mẹ trong nghiên cứu, nếu tính từng vấn đề thì có những vấn đề đạt được câu trả lời đúng khá cao, cụ thể là có đến 80% cho là trẻ sinh ra nên được NCBSM, 71,3% biết phải cho con ăn bổ sung khi trẻ được 6 tháng tuổi, 67% biết phải vệ sinh trước khi cho bé bú mẹ, và 54% biết chỉ nên cai sữa khi bé được 24 tháng tuổi, 37,5% biết cần cho con bú ngay trong vòng 1 giờ đầu; 48,8% biết sau khi sinh nên cho bé bú sữa non; 48% biết nên cho trẻ bú cả ngày và đêm

Trong nghiên cứu này tác giả đã phỏng vấn

200 bà mẹ có con dưới 1 năm tuổi đưa con đến khám tại phòng khám ngoại trú nhi tại Dharan, một thành phố lớn của Nepal, cho thấy gần 100% các bà mẹ đều biết cần phải cho con bú mẹ, nhưng họ lại không có những thái độ đúng về cách cho con bú như chỉ có 41,5% biết nên cho con bú sớm sau khi sinh từ 0 phút đến một giờ

và có đến 95% cho con bú sữa non cao hơn so với nghiên cứu là 7% các đối tượng cho rằng cho con

bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh và sau khi sinh nên cho trẻ bú sữa non 48,7% Sự khác biệt này là do dân số chọn mẫu trong nghiên cứu của Chaudhary RN & cộng sự là những phụ nữ đưa con có độ tuổi dưới hoặc bằng 12 tháng đến khám bệnh tại khoa ngoại trú nhi của một bệnh viện tại Nepal, những phụ nữ này chắc chắn trong quá trình sinh nở hoặc trong những lần đưa trẻ đi khám bệnh trước đó đã có nhiều dịp được nhân viên y tế tư vấn về lợi ích cũng như cách thực hành về NCBSM, nhờ đó họ có thái độ

về NCBSM tốt hơn nhóm đối tượng trong nghiên cứu, phần lớn là con so (50,8%) nên có thể chưa từng được nhân viên y tế tư vấn, cũng như có đến 75,5% bà mẹ sống ở nông thôn nên điều kiện tiếp xúc với những thông tin về truyền

Trang 8

thông sức khỏe có phần kém hơn những phụ nữ

sống tại thành phố lớn như Dharan Từ đó, một

số yếu tố cần quan tâm nhằm nâng cao thái độ

về NCBSM tốt hơn như: Nuôi con bằng sữa mẹ

hoàn toàn đến khi trẻ được 6 tháng tuổi (39,3%),

cho trẻ bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh (37,5%)

Thực hành của sản phụ về nuôi con bằng sữa

mẹ

Kết quả nghiên cứu về thực hành đúng của

các bà mẹ cho thấy tỷ lệ thực hành đúng chung

là 2% Nhìn riêng từng vấn đề, đối tượng nghiên

cứu có thực hành tốt theo trình tự sau: 72,3% biết

cần cho trẻ nằm gần mẹ kể cả ngày và đêm đối

với bà mẹ sinh thường và 8% đối với bà mẹ mổ

đẻ; 69,7% biết phải vệ sinh trước khi cho trẻ bú

đối với bà mẹ sinh thường và 70,4% đối với bà

mẹ mổ đẻ; 68% biết tư thế cho trẻ bú đúng ở

những bà mẹ sinh thường và 69,8% ở những bà

mẹ mổ đẻ; 54,1% biết nên cho trẻ bú mẹ hoàn

toàn và bú theo nhu cầu ở những bà mẹ sinh

thường, nhưng ở những bà mẹ sinh mổ chỉ có

3%; 50,2% những bà mẹ sinh thường biết cách

cho trẻ ngậm bắt vú đúng và 53,3% ở những bà

mẹ mổ đẻ, tuy nhiên, bên cạnh đó, một phần lớn

các bà mẹ có thực hành không đúng như: có đến

83,5% không biết cần phải vắt bỏ sữa dư sau mỗi

lần cho bú ở những bà mẹ sinh thường và 92,9%

ở những bà mẹ mổ đẻ; 97,5% cho trẻ ăn dặm

thêm thức ăn bổ sung ngoài sữa mẹ ở những bà

mẹ sinh thường

So sánh với nghiên cứu của Lê Thị Yến Phi

thực hành đúng chỉ có 4% thấp hơn nhiều so với

nghiên cứu là 52% Tuy nhiên, xét trên từng vấn

đề thì cho thấy nghiên cứu của Lê Thị Yến Phi có

thực hành đúng cao hơn so với nghiên cứu này,

cụ thể là có đến 77% bà mẹ cho trẻ bú sớm trong

vòng 1 - 2 giờ đầu so với nghiên cứu chỉ có 28,6%

cho trẻ bú trong vòng một giờ đầu sau sinh; 83%

biết cho trẻ bú đúng tư thế so với 68% ở bà mẹ

sinh thường và 69,8% bà mẹ đẻ mổ trong nghiên

cứu; 41% vắt bỏ sữa thừa sau mỗi cử bú so với

16,5% bà mẹ sinh thường và 7,1% bà mẹ đẻ mổ

trong nghiên cứu; 80% cho con bú cả ngày lẫn

đêm so với 54,1% ở bà mẹ sinh thường và ở bà

mẹ mổ đẻ chỉ có 7,1 trong nghiên cứu Nguyên nhân sự khác biệt này có thể là do đặc điểm về đối tượng nghiên cứu, thời điểm nghiên cứu cũng như khác biệt về địa điểm nghiên cứu

So với kết quả nghiên cứu của RN Chaudhary(7), tỷ lệ cho bú sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh cao hơn nghiên cứu này (41,5%

so với 28,6%); 90% các bà mẹ cho con bú cả ngày lẫn đêm cao hơn nghiên cứu (54,1% ở những bà

mẹ sinh thường và 3% những bà mẹ mổ đẻ); Tuy nhiên, tỷ lệ các bà mẹ cho trẻ bú đúng tư thế cũng thấp hơn nghiên cứu (40% so với 50,1% ở những bà mẹ sinh thường và 69,8% những bà

mẹ mổ đẻ) Kết quả nghiên cứu của All Mohamed Al- Binali cho thấy dù tỷ lệ thực hành cho con bú ngay trong vòng một giờ đầu là 1%, cao hơn so với nghiên cứu là 28,6% Điều này được giải thích trong nghiên cứu của All Mohamed Al- Binali, theo tác giả này, tỷ lệ cho con bú ngay trong vòng một giờ đầu cao là do ảnh hưởng từ tôn giáo (đạo Hồi), % đối tượng nghiên cứu có đạo Hồi, và việc thực hành cho con bú đã được giáo dục cho tất cả tín đồ Hồi giáo Kết quả nghiên cứu cho thấy một số yếu tố

có tỷ lệ thực hành thấp như: Bà mẹ không cho trẻ

ăn thêm thức ăn ngoài sữa mẹ trước khi cho trẻ

bú sữa mẹ có tỷ lệ là 7% ở bà mẹ sinh thường Bà

mẹ vắt bỏ sữa dư sau mỗi lần cho bú là 16,5% ở

bà mẹ sinh thường và 7,1% những bà mẹ mổ đẻ Chỉ có 28,6% cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh Các yếu tố này có thể can thiệp bằng cách các bác sỹ, nữ hộ sinh trực tiếp tư vấn hướng dẫn thực hành cho trẻ bú ngay sau sinh

để nâng cao các kỹ năng thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ

Yếu tố liên quan với kiến thức, thái độ, thực hành về NCBSM của các sản phụ

Tìm hiểu một số yếu tố liên quan giữa các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu với kiến thức, thái độ và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ cho thấy các yếu tố như: tuổi, số lần sinh, nghề nghiệp, nơi ở, kinh tế hộ gia đình, dân tộc chồng, những bà mẹ từ 24 tuổi trở lên có kiến thức, thái

độ, thực hành đúng về NCBSM cao hơn so với

Trang 9

những bà mẹ dưới 24 tuổi Đồng thời, các bà mẹ

có 2 con trở lên có kiến thức, thái độ và thực

hành về NCBSM tốt hơn những bà mẹ mới sinh

con lần đầu Kết quả này cho thấy bà mẹ càng

lớn tuổi và có số lần sinh từ 2 lần trở lên có kiến

thức, thái độ và thực hành tốt về việc NCBSM

Điều này phù hợp với thực tế, khi họ được trãi

nghiệm nhiều lần thì họ sẽ có kinh nghiệm càng

nhiều, sự hiểu biết và thực hành cũng tăng Đây

cũng là những kinh nghiệm giúp các nhà chuyên

môn có thể phân loại đối tượng giáo dục, truyền

thông trong khi thiết kế dịch vụ chăm sóc trước,

trong và sau sinh Kết quả nghiên cứu cho thấy,

những bà mẹ có kinh tế gia đình từ trung bình

trở lên có kiến thức, thái độ, thực hành về

NCBSM cao hơn so với những bà mẹ kinh tế

dưới trung bình Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng,

những bà mẹ dân tộc kinh có kiến thức, thái độ,

thực hành về NCBSM cao hơn so với những bà

mẹ dân tộc khác dân tộc kinh

Ở Việt Nam nói chung và địa bàn nghiên

cứu (Cần thơ) nói riêng, tỷ lệ dân tộc kinh

chiếm đa số, chỉ một số ít là dân tộc thiểu số

Đặc điểm của người dân tộc thiểu số do ảnh

hưởng bởi phong tục tập quán và lối sống còn

lạc hậu, vả lại điều kiện sống của họ còn gặp

nhiều khó khăn do ở vùng sâu, vùng xa nơi

hẻo lánh Điều này cũng ảnh hưởng đến kiến

thức, thái độ và thực hành về việc NCBSM.Kết

quả kiểm tra cũng cho thấy kiến thức và thái

độ là yếu tố bảo vệ Những bà mẹ có kiến thức

và thái độ về NCBSM đạt sẽ có hơn 1 lần cơ

hội thực hành về NCBSM đạt

Từ kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố

liên quan với kiến thức, thái độ và thực hành

nuôi con bằng sữa mẹ như: tuổi, số lần sinh,

nghề nghiệp, nơi ở, kinh tế hộ gia đình, dân

tộc, người sống cùng sản phụ, được cán bộ y

tế hướng dẫn, được chồng và người thân hỗ

trợ Các yếu tố liên quan này là cơ sở khoa học

nhằm giúp chúng ta xác định đối tượng đích

can thiệp một cách có hiệu quả như tăng

cường cung cấp nguồn thông tin từ các thông

tin đại chúng, lồng ghép vào trong các chương

trình vãng gia của nhân viên y tế khóm ấp để đối tượng tiếp cận được và công tác tư vấn trực tiếp của các bác sỹ, nữ hộ sinh tại bệnh viên nhằm cải thiện kiến thức, thái độ và thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ

KẾT LUẬN

Kiến thức NCBSM: kiến thức chiếm tỷ lệ cao nhất biết sữa đầu tiên là sữa non 100%, lợi ích của sữa non 100%, lợi ích cho bé khi NCBSM là 100%, biết thời gian ăn dặm lúc 6 tháng tuổi của trẻ chiếm 96%, duy trì nguồn sữa chiếm 90,6%, lợi ích cho mẹ khi NCBSM là 88,6%, bé bú mẹ khi nào cai sữa chiếm 86,9%, thấp nhất không biết hạn chế của sữa công thức chiếm 23,7% Thái độ NCBSM: Tỷ lệ chiếm cao nhất đồng

ý bú mẹ sớm sau sanh càng sớm càng tốt chiếm 94%, bú mẹ hoàn toàn theo nhu cầu chiếm 94%, cho bé bú ban đem chiếm 90,8%, bú mẹ hoàn toàn 4 đến 6 tháng chiếm 90%, đồng ý lời khuyên lợi ích NCBSM là 88%, đồng ý NCBSM

là biện pháp bảo vệ sức khỏe cho mẹ và bé chiếm 86,6%, không đồng ý cho bé uống nước sau mỗi cử bú chiếm 86,5%, không đồng ý cho

bú them sữa công thức vài ngày chờ sữa mẹ lên chiếm 86,3%

Thái độ, thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Al-Binali AM (2012), "Breastfeeding knowledge, attitude and practice among school teachers in Abha female educational

district, southwestern Saudi Arabia", Int Breastfeed J, 7 (1), pp 10

2 Alive, Thrive (2012), "Báo cáo điều tra ban đầu: báo cáo toàn văn điều

tra 11 tỉnh Hà Nội, Việt Nam", pp xi

3 Bộ môn Nhi, Trường Đại Học Y Hà Nội (2009), "Nuôi con bằng

sữa mẹ", Bài giảng nhi khoa tập 1, nhà xuất bản Y học, tr 7-8,

218-223, 226-228, 235,236

4 Fielding JE (2010), "A Framework for Public Health in the

United States", Public Health Reviews, 32 (1), pp 174-189

5 Huỳnh Văn Tú, Nguyễn Vũ Linh (2010), "Thực trạng nuôi con

bằng sữa mẹ trong thời gian nằm viện sau sinh tại bệnh viện phụ sản nhi bán công Bình Dương-2009", Hội nghị Khoa học Kỹ thuật

Viện Y Tế Công Cộng năm 2009 - 2010, 14 (2), tr 366-370

6 Subbiah N (2003), "A study to assess the knowledge, attitude, practice and problems of postnatal mothers regarding

breastfeeding", Nurs J India, 94 (8), pp 177-9

7 Shah T, Chaudhary RN, Raja S (2011), "Knowledge and practice of mothers regarding breast feeding: a hospital

Trang 10

based study", Knowledge and practice in breast feeding, 9

(3), pp 1994-200

8 Tôn Thị Anh Tú, Nguyễn Thu Tịnh (2011), "Kiến thức-thái độ-

thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ có con dưới 6

tháng tuổi tại bệnh viện nhi đồng 1 từ 1/12/200 đến 30/04/2010",

Y Học TP Hồ Chí Minh, 15 (1), tr 186-191

9 Vandale-Toney S, Rivera-Pasquel ME, Kageyama-Escobar MdlL

(1997), "Breast feeding and weaning: a survey in rural

communities of Mexico", Salud Publica Mex, 39 (5), pp 412-9

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25/11/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/12/2018

Ngày đăng: 08/06/2020, 14:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w