Một trong những nguyên nhân hàng đầu của suy dinh dưỡng (SDD) là do kiến thức và phương pháp nuôi con của các bà mẹ chưa đúng. Mục tiêu: Xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con của bà mẹ với tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ.
Trang 1MỐI LIÊN QUAN KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH NUÔI CON
CỦA BÀ MẸ VỚI TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG
CỦA TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẪU GIÁO TẠI THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG NĂM HỌC 2013 – 2014
Trần Quang Dư*, Nguyễn Quang Ngọc**, Tạ Văn Trầm*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Một trong những nguyên nhân hàng đầu của suy dinh dưỡng (SDD) là do kiến thức và
phương pháp nuôi con của các bà mẹ chưa đúng
Mục tiêu: Xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con của bà mẹ với tình trạng suy
dinh dưỡng của trẻ
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Kết quả: Có mối liên quan giữa từng kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con của các bà mẹ với tình trạng
SDD của trẻ Có mối liên quan giữa kiến thức chung, thái độ chung, thực hành chung của bà mẹ với tình trạng SDD của trẻ
Kết luận: Có mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con của các bà mẹ với tình trạng SDD
của trẻ
Từ khóa: Suy dinh dưỡng, kiến thức, thái độ, thực hành
ABSTRACT
RELATIONSHIP BETWEEN MOTHERS’ KNOWLEDGE, ATTITUDE, PRACTICE
WITH MALNUTRITION STATUS OF THEIR CHILDREN IN NURSERY SCHOOL
IN MY THO CITY, TIEN GIANG PROVINCE IN 2013 – 2014
Tran Quang Du, Nguyen Quang Ngoc, Ta Van Tram
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 19 - No 5 - 2015: 21 - 26
Background: One of the leading causes of malnutrition is due to the knowledge and methods of mothers is
not right
Objectives: Determining the relationship between knowledge, attitude and practice of mothers in raising
children with malnutrition status of children
Methods: Cross-sectional descriptive
Results: Correlation between knowledge, attitudes and practices of mothers in raising children with
malnutrition status of children Correlation between general knowledge, general attitude, common practice of mothers of with their children’ malnutrition status
Conclusion: Correlation between knowledge, attitudes and practices of mothers in raising children with
malnutrition status of children
Key words: Malnutrition, knowledge, attitude, practice
* Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang ** Bệnh viện Đa khoa Phú Thọ
Tác giả liên lạc: PGS.TS Tạ Văn Trầm - ĐT: 0913771779 - Email: tavantram@gmail.com
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay SDD vẫn là vấn đề sức khỏe toàn
cầu Năm 2011 theo số liệu của Tổ chức Y tế
Thế giới (TCYTTG) và Quỹ Nhi đồng Liên
hiệp quốc (QNĐLHQ), số trẻ dưới 5 tuổi bị
SDD thể thấp còi là 165 triệu, SDD thể nhẹ cân
là 101 triệu và trong khoảng 3 triệu trẻ tử vong
trên toàn thế giới thì hơn một phần ba số
trường hợp liên quan đến SDD(5) Do đó
TCYTTG đã đưa ra mục tiêu giảm tỉ lệ SDD trẻ
em xuống dưới 15% vào năm 2015(6,7) Tuy
nhiên, mục tiêu này khó có thể đạt được một
cách dễ dàng vì giảm tỉ lệ SDD không chỉ phụ
thuộc vào tăng trưởng kinh tế, giảm bớt đói
nghèo mà còn phụ thuộc nhiều vào những nỗ
lực làm thay đổi nhận thức và hành vi của
cộng đồng Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra
của Viện Dinh dưỡng từ năm 1999 đến năm
2011 về tình trạng dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi
của cả nước thì tỉ lệ SDD thể nhẹ cân giảm từ
36,7% xuống 16,8% và thể thấp còi từ 38,7%
xuống còn 27,5% Trước tình hình này, ngày
22 tháng 2 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt “Chiến lược Quốc gia về Dinh
dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến
năm 2030” với mục tiêu giảm tỉ lệ SDD thể
thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi xuống dưới 26%, tỉ lệ
SDD thể nhẹ cân dưới 15% vào năm 2015 và
tiếp tục giảm các tỉ lệ này lần lượt còn dưới
23% và dưới 12,5% vào năm 2020(1) Năm 2030
phấn đấu giảm SDD trẻ em xuống dưới mức
có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng (SDD thể thấp
còi dưới 20% và SDD thể nhẹ cân dưới 10%)
Một trong những giải pháp của chiến lược này
là tập trung giảm tỉ lệ SDD thể nhẹ cân, sớm
đưa chỉ tiêu giảm SDD thể thấp còi thành một
chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội của các địa
phương và của quốc gia Đồng thời tăng
cường nghiên cứu đề xuất chính sách hỗ trợ
dinh dưỡng học đường trước hết là ở lứa tuổi
mầm non và tiểu học Đặc biệt là lứa tuổi mầm
non, một trong những giai đoạn tăng trưởng
và phát triển quan trọng, làm nền tảng cho sự phát triển của trẻ về sau(1) Theo nhiều y văn, một trong những nguyên nhân hàng đầu của SDD là do kiến thức và phương pháp nuôi con của các bà mẹ chưa đúng(4,8) Mục tiêu của
“Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020” là nâng cao hiểu biết và tăng cường thực hành dinh dưỡng hợp lý, trong đó nâng cao tỉ lệ nữ thanh niên được huấn luyện
về dinh dưỡng và kiến thức cơ bản về làm mẹ đạt 60% vào năm 2015(1) Vì vậy trong những năm qua, kế hoạch dinh dưỡng quốc gia tập trung nhiều vào việc tuyên truyền, giáo dục kiến thức, thực hành về dinh dưỡng mà người dân có thể thực hiện được bằng khả năng và phương tiện sẵn có tại gia đình Mỹ Tho là thành phố trung tâm của tỉnh Tiền Giang, có điều kiện kinh tế, xã hội phát triển và được tập trung đầu tư nhiều nhất của tỉnh Năm 2013, thành phố Mỹ Tho hoàn thành chỉ tiêu phổ cập giáo dục mầm non Đây là một điều kiện rất tốt để thành phố triển khai các chương trình giáo dục, chăm sóc sức khỏe trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo có hiệu quả hơn Đồng thời đó cũng là điều kiện thuận lợi để việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức về y tế cho các bà
mẹ được tốt hơn
Theo điều tra của Viện Dinh dưỡng, tỉ lệ trẻ SDD thể nhẹ cân ở trẻ dưới 5 tuổi của tỉnh Tiền Giang năm 2012 là 13,9%, thể thấp còi là 26,4%(2) Mặc dù SDD trẻ em vẫn đang là vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng cần can thiệp tích cực nhưng từ trước đến nay, tại Tiền Giang nói chung và thành phố Mỹ Tho nói riêng, chưa có công trình nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con của các bà mẹ Do đó để tìm hiểu
về vấn đề này, từ đó làm cơ sở đề xuất những giải pháp thiết thực, hiệu quả trong công tác nâng cao kiến thức, thực hành nuôi con của người mẹ, góp phần giảm tỉ lệ SDD trẻ em trong tỉnh nên chúng tôi quyết định thực hiện đề tài nghiên cứu Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu là Xác định
Trang 3mối liên quan kiến thức, thái độ, thực hành nuôi
con của bà mẹ với tình trạng suy dinh dưỡng của
trẻ ở các trường mẫu giáo tại thành phố Mỹ Tho
tỉnh Tiền Giang năm học 2013 - 2014
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dân số chọn mẫu
Trẻ đang học ở các trường mẫu giáo tại
thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang năm học
2013 - 2014 và bà mẹ của những trẻ này
Tiêu chí chọn mẫu
Trẻ đang học ở các lớp được chọn trong các
trường mẫu giáo tại thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền
Giang năm 2014 và các bà mẹ có con được chọn
Tiêu chí loại trừ
Trẻ có tên trong các lớp được chọn nhưng
không đi học vào thời điểm thực hiện nghiên
cứu; Bà mẹ không biết chữ; Bà mẹ không đồng ý
tham gia vào nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Xử lý và phân tích dữ liệu
Phần mềm SPSS 16.0
KẾT QUẢ
Liên quan giữa kiến thức của bà mẹ với
tình trạng SDD của trẻ
Liên quan giữa kiến thức của bà mẹ với SDD
thể nhẹ cân của trẻ
- Liên quan giữa từng kiến thức nuôi con của bà
mẹ với SDD thể nhẹ cân của trẻ (n = 1063)
Bảng 1: Liên quan giữa từng kiến thức nuôi con của
bà mẹ với SDD thể nhẹ cân của trẻ (n = 1063)
Thức ăn tốt nhất cho trẻ Phép kiểm
Fisher
p = 0,212
Thời điểm bú mẹ sau sinh
2 = 0,644
p = 0,422
Bú mẹ 6 tháng đầu
2 = 7,326
Thời điểm ăn dặm
2 = 1,709
p = 0,191
Thời điểm cai sữa mẹ
2 = 0,316
p = 0,574
Nhóm thức ăn
2 = 13,386
p < 0,001
Bổ sung vitamin A
Không xác định
Fisher
p = 0,452
Ảnh hưởng của SDD
2 = 0,810
p = 0,368
- Liên quan giữa kiến thức chung của bà mẹ với tình trạng SDD nhẹ cân của trẻ (n = 1063)
Bảng 2: Liên quan giữa kiến thức chung của bà mẹ
với tình trạng SDD nhẹ cân của trẻ (n = 1063)
Kiến thức chung
Tần
số
SDD nhẹ
Không đúng 317 19 (6,0) 5,882 < 0,001 Đúng 746 8 (1,1) (2,547 - 13,583)
Liên quan giữa kiến thức của bà mẹ với SDD thể thấp còi của trẻ
- Liên quan giữa từng kiến thức nuôi con của bà
mẹ với SDD thể thấp còi của trẻ (n = 1063)
Bảng 3: Liên quan giữa từng kiến thức nuôi con của
bà mẹ với SDD thể thấp còi của trẻ (n = 1063)
Thức ăn tốt nhất cho trẻ Phép kiểm
Fisher
p = 0,191
Thời điểm bú mẹ sau sinh
2 = 5,367
p = 0,021
Bú mẹ 6 tháng đầu
2 = 1,308
p = 0,253
Thời điểm ăn dặm
2 = 0,214
p = 0,644
Trang 4Kiến thức Tần số SDD thấp còi
Thời điểm cai sữa mẹ
2 = 2,369
p = 0,124
Nhóm thức ăn
2 = 1,510
p = 0,219
Fisher
p = 0,674
Tẩy giun cho trẻ
2 = 589
p = 0,443
Ảnh hưởng của SDD
2 = 1,784
p = 0,182
- Liên quan giữa kiến thức chung của bà mẹ với
tình trạng SDD thấp còi của trẻ (n = 1063)
Bảng 4: Liên quan giữa kiến thức chung của bà mẹ
với tình trạng SDD thấp còi của trẻ (n = 1063)
Kiến thức
chung
Tần
số
SDD thấp còi
(1,216 - 3,858)
0,007
Liên quan giữa thái độ chung của bà mẹ với
tình trạng SDD của trẻ
- Liên quan giữa thái độ chung của bà mẹ với tình
trạng SDD của trẻ (n = 1063)
Bảng 5: Liên quan giữa thái độ chung của bà mẹ với
tình trạng SDD của trẻ (n = 1063)
n (%)
Đúng
(0,527 - 2,452) 0,744
Không SDD 428 (97,3) 608 (97,6)
(0,847 - 2,669) 0,161
Không SDD 415 (94,3) 599 (96,1)
Liên quan giữa thực hành của bà mẹ với tình
trạng SDD của trẻ
Liên quan giữa thực hành nuôi con của bà mẹ với tình
trạng SDD nhẹ cân của trẻ
- Liên quan giữa từng thực hành nuôi con
của bà mẹ với SDD thể nhẹ cân của trẻ
Bảng 6: Liên quan giữa từng thực hành nuôi con của
bà mẹ với SDD thể nhẹ cân của trẻ
Nuôi con bằng sữa mẹ (n = 1063)
Không xác định
Cho trẻ cai sữa mẹ (n = 1011)
2 = 1,442
p = 0,230
Cho trẻ ăn dầu ngày hôm qua
p < 0,001
Cho trẻ ăn rau ngày hôm qua
định
Tiêm ngừa cho trẻ (n = 1063) Phép kiểm
Fisher
p = 0,113
Tẩy giun cho trẻ (n = 1047)
2 = 21,139
p < 0,001
Theo dõi cân nặng của trẻ (n = 1024) Phép kiểm
Fisher
p = 0,522
- Liên quan giữa thực hành chung của bà mẹ với tình trạng SDD nhẹ cân của trẻ (n = 952)
Bảng 7: Liên quan giữa thực hành chung của bà mẹ
với tình trạng SDD nhẹ cân của trẻ (n = 952)
Thực hành
SDD nhẹ cân
n (%)
OR
10,987)
< 0,001
Liên quan giữa thực hành nuôi con của bà mẹ với
SDD thấp còi của trẻ
- Liên quan giữa từng thực hành nuôi con của bà
mẹ với SDD thể thấp còi của trẻ
Bảng 8: Liên quan giữa từng thực hành nuôi con của
bà mẹ với SDD thể thấp còi của trẻ
Nuôi con bằng sữa mẹ (n = 1063) Phép kiểm
Fisher
p = 0,735
Cho trẻ cai sữa mẹ (n = 1011)
2 = 2,291
p = 0,130
Cho trẻ ăn dầu ngày hôm qua
2
= 3,262
Trang 5Thực hành Tần số SDD nhẹ cân
Cho trẻ ăn rau ngày hôm qua (n = 1055 Phép kiểm
Fisher
p = 0,654
Tiêm ngừa cho trẻ (n = 1063) Phép kiểm
Fisher
p = 0,287
Tẩy giun cho trẻ (n = 1047)
2 = 10,563
p = 0,001
Theo dõi cân nặng của trẻ (n = 1024)
2 = 0,031
p = 0,859
- Liên quan giữa thực hành chung của bà mẹ
với tình trạng SDD thấp còi của trẻ (n = 952)
Bảng 9: Liên quan giữa thực hành chung của bà mẹ
với tình trạng SDD thấp còi của trẻ (n = 952)
(1,361 - 4,733)
0,003
BÀN LUẬN
Đặc điểm kiến thức, thái độ, thực hành
chung của bà mẹ
Trong nghiên cứu này kiến thức nuôi con
của bà mẹ được đánh giá thông qua các kiến
thức cơ bản như vai trò của sữa mẹ đối với trẻ,
thời điểm cho trẻ bú mẹ sau sinh, bú mẹ hoàn
toàn trong 6 tháng đầu, thời điểm cho trẻ ăn
dặm, thời điểm cho trẻ cai sữa mẹ, thành phần
các nhóm chất trong bữa ăn của trẻ, bổ sung
vitamin A, cách tẩy giun cho trẻ, ảnh hưởng của
SDD đối với trẻ Bà mẹ được xem là có kiến thức
chung không đúng khi biết được ít hơn 7 nội
dung trong tổng số 9 nội dung khảo sát đó Kết
quả khảo sát trên 1063 bà mẹ cho thấy tỉ lệ các bà
mẹ có kiến thức nuôi con không đúng là 29,8%
Nhìn chung đây là một kết quả khả quan và có
đến 70,2% các bà mẹ có kiến thức đúng Đây là
một tỉ lệ khá cao và đạt được mục tiêu của
“Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn
2011 - 2020” (60% các nữ thanh niên có kiến thức
làm mẹ cơ bản vào năm 2015)(1) Kết quả này cũng cao hơn kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Lê Thành(3) Trong nghiên cứu đó, tỉ lệ
bà mẹ có kiến thức nuôi con đúng là 57,4% Tuy nhiên tác giả đánh giá kiến thức của bà mẹ thông qua các nội dung như thời gian cho trẻ bú mẹ sau sinh, bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu, thời điểm cho trẻ ăn dặm, thời điểm cho trẻ cai sữa mẹ, các nhóm chất trong bữa ăn
Thái độ của bà mẹ được đánh giá thông qua các nội dung như cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong
6 tháng đầu, cho trẻ cai sữa mẹ sau 24 tháng tuổi
và tiêm ngừa đầy đủ cho trẻ Bà mẹ được xem là
có thái độ chung đúng khi có thái độ đúng với cả
3 vấn đề khảo sát Kết quả cho thấy tỉ lệ bà mẹ có thái độ đúng là 58,6% và có thái độ không đúng
là 41,4%
Thực hành nuôi con của bà mẹ được đánh giá qua 7 nội dung như nuôi con bằng sữa mẹ, thời điểm cai sữa mẹ cho trẻ, bổ sung dầu ăn và cho trẻ ăn rau trong ngày hôm qua, tiêm ngừa cho trẻ, tẩy giun cho trẻ trong 6 tháng qua và theo dõi cân nặng của trẻ trong vòng 3 tháng qua Bà mẹ được xem là có thực hành chung đúng khi thực hiện đúng ít nhất 6 nội dung Kết quả điều tra trên 952 bà mẹ cho thấy tỉ lệ bà mẹ
có thực hành chung đúng là 72,7% và không đúng là 27,3%
Liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành chung của bà mẹ với tình trạng SDD của trẻ
Trong mẫu nghiên cứu này, khi xét mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành chung của bà mẹ với tình trạng SDD của trẻ (gồm SDD thể nhẹ cân và SDD thể thấp còi) thì kiến thức chung và thực hành chung của bà mẹ có liên quan với tình trạng SDD của trẻ Cụ thể, con của những bà mẹ có kiến thức chung không đúng có khả năng bị SDD nhẹ cân cao gấp 5,88 lần (p < 0,001), và khả năng bị SDD thấp còi cao gấp 2,16 lần (p = 0,007) so với con của những bà mẹ có kiến thức chung đúng
Trang 6Con của những bà mẹ có thực hành chung
không đúng có khả năng bị SDD nhẹ cân cao gấp
4,50 lần (p < 0,001) và khả năng bị SDD thấp còi
cao gấp 2,53 lần (p = 0,003) so với con của những
bà mẹ có thực hành đúng
Kết quả này là hợp lý vì khi người mẹ không
có kiến thức đúng và không thực hành đúng thì
trẻ sẽ không được chăm sóc tốt, dễ bệnh tật hơn
nên nguy cơ bị SDD sẽ cao hơn Do đó việc nâng
cao kiến thức, thực hành nuôi con đúng cho bà
mẹ có vai trò quan trọng trong việc giảm thấp tỉ
lệ SDD ở trẻ em
KẾT LUẬN
Liên quan giữa từng kiến thức, thái độ, thực
hành nuôi con của các bà mẹ với tình trạng SDD
của trẻ
Đối với SDD thể nhẹ cân
- Những bà mẹ không có kiến thức đúng về
việc cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
thì trẻ sẽ có tỉ lệ SDD nhẹ cân cao hơn (p = 0,007)
- Những bà mẹ không có kiến thức đúng về
thành phần các nhóm chất dinh dưỡng trong
bữa ăn của trẻ thì trẻ sẽ có tỉ lệ SDD nhẹ cân cao
hơn (p < 0,001)
- Những bà mẹ không bổ sung thêm dầu ăn
vào bữa ăn của trẻ thì tỉ lệ SDD của trẻ sẽ cao
hơn (p < 0,001)
- Những bà mẹ không tẩy giun cho trẻ trong
6 tháng qua thì tỉ lệ SDD nhẹ cân của trẻ sẽ cao
hơn (p < 0,001)
Đối với SDD thể thấp còi
- Những bà mẹ không có kiến thức đúng về
thời điểm cho trẻ bú mẹ sớm sau sinh thì trẻ sẽ
có tỉ lệ SDD thấp còi cao hơn (p = 0,021)
- Những bà mẹ không tẩy giun cho trẻ trong
6 tháng qua thì tỉ lệ SDD thấp còi của trẻ sẽ cao
hơn (p = 0,001)
Liên quan giữa kiến thức chung, thái độ
chung, thực hành chung của bà mẹ với tình
trạng SDD của trẻ
Đối với SDD thể nhẹ cân của trẻ
- Con của những bà mẹ có kiến thức nuôi con không đúng có tỉ lệ SDD nhẹ cân cao hơn gấp 5,88 lần so với con của những bà mẹ có kiến thức đúng (p < 0,001)
- Con của những bà mẹ có thực hành nuôi con không đúng có tỉ lệ SDD nhẹ cân cao hơn gấp 4,50 lần so với bà mẹ có thực hành đúng (p < 0,001)
Đối với SDD thể thấp còi của trẻ
- Con của những bà mẹ có kiến thức nuôi con không đúng có tỉ lệ SDD thấp còi cao hơn gấp 2,16 lần so với con những bà mẹ có kiến thức đúng (p = 0,007)
- Con của những bà mẹ có thực hành nuôi con không đúng có tỉ lệ SDD thấp còi cao hơn gấp 2,53 lần so với con của những bà mẹ có thực hành đúng (p = 0,003)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế (2012), Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội
2 Cục thống kê tỉnh Tiền Giang (2013), Niên giám thống kê tỉnh Tiền Giang năm 2012
3 Nguyễn Lê Thành (2005), Tỉ lệ suy dinh dưỡng và mối liên quan giữa kiến thức dinh dưỡng của người mẹ với tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Dầu Tiếng tỉnh Bình Dương, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
4 Saadeh RJ, Labbok MH, Cooney KA et al (1993), Breast-feeding: The technical basis and recommendations for action, WHO, Geneva, Switzerland, pp.1-14
5 UNICEF, WHO, The World Bank (2012), UNICEF - WHO - The World Bank joint child malnutrition estimates: Levels and trends
in child malnutrition, UNICEF, New York; WHO, Geneva; The World Bank, Washington, DC
6 Wagstaff A, Claeson M, Hecht RM et al (2006), “Millennium Development Goals for Health: What Will It Take to Accelerate Progress?”, Disease Control Priorities in Developing Countries, The International Bank for Reconstruction and Development/The World Bank Group, Washington DC
7 WHO (2008), Millennium development goals, WHO, Regional office for South-East Asia, Newdelhi, pp.2-18
8 WHO (1995), "Physical status: the use and interpretation of anthropometry - Report of a WHO expert committee", WHO Technical Report Series, No 854, WHO, Geneva, Switzerland, pp.161-208
Ngày nhận bài báo: 15/8/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 16/9/2015 Ngày bài báo được đăng: 20/10/2015