1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Mối liên quan kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con của bà mẹ với tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ ở các trường mẫu giáo tại thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang năm học 20132014

6 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 322,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những nguyên nhân hàng đầu của suy dinh dưỡng (SDD) là do kiến thức và phương pháp nuôi con của các bà mẹ chưa đúng. Mục tiêu: Xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con của bà mẹ với tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ.

Trang 1

MỐI LIÊN QUAN KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH NUÔI CON

CỦA BÀ MẸ VỚI TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG

CỦA TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẪU GIÁO TẠI THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG NĂM HỌC 2013 – 2014

Trần Quang Dư*, Nguyễn Quang Ngọc**, Tạ Văn Trầm*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Một trong những nguyên nhân hàng đầu của suy dinh dưỡng (SDD) là do kiến thức và

phương pháp nuôi con của các bà mẹ chưa đúng

Mục tiêu: Xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con của bà mẹ với tình trạng suy

dinh dưỡng của trẻ

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Kết quả: Có mối liên quan giữa từng kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con của các bà mẹ với tình trạng

SDD của trẻ Có mối liên quan giữa kiến thức chung, thái độ chung, thực hành chung của bà mẹ với tình trạng SDD của trẻ

Kết luận: Có mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con của các bà mẹ với tình trạng SDD

của trẻ

Từ khóa: Suy dinh dưỡng, kiến thức, thái độ, thực hành

ABSTRACT

RELATIONSHIP BETWEEN MOTHERS’ KNOWLEDGE, ATTITUDE, PRACTICE

WITH MALNUTRITION STATUS OF THEIR CHILDREN IN NURSERY SCHOOL

IN MY THO CITY, TIEN GIANG PROVINCE IN 2013 – 2014

Tran Quang Du, Nguyen Quang Ngoc, Ta Van Tram

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 19 - No 5 - 2015: 21 - 26

Background: One of the leading causes of malnutrition is due to the knowledge and methods of mothers is

not right

Objectives: Determining the relationship between knowledge, attitude and practice of mothers in raising

children with malnutrition status of children

Methods: Cross-sectional descriptive

Results: Correlation between knowledge, attitudes and practices of mothers in raising children with

malnutrition status of children Correlation between general knowledge, general attitude, common practice of mothers of with their children’ malnutrition status

Conclusion: Correlation between knowledge, attitudes and practices of mothers in raising children with

malnutrition status of children

Key words: Malnutrition, knowledge, attitude, practice

* Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang ** Bệnh viện Đa khoa Phú Thọ

Tác giả liên lạc: PGS.TS Tạ Văn Trầm - ĐT: 0913771779 - Email: tavantram@gmail.com

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay SDD vẫn là vấn đề sức khỏe toàn

cầu Năm 2011 theo số liệu của Tổ chức Y tế

Thế giới (TCYTTG) và Quỹ Nhi đồng Liên

hiệp quốc (QNĐLHQ), số trẻ dưới 5 tuổi bị

SDD thể thấp còi là 165 triệu, SDD thể nhẹ cân

là 101 triệu và trong khoảng 3 triệu trẻ tử vong

trên toàn thế giới thì hơn một phần ba số

trường hợp liên quan đến SDD(5) Do đó

TCYTTG đã đưa ra mục tiêu giảm tỉ lệ SDD trẻ

em xuống dưới 15% vào năm 2015(6,7) Tuy

nhiên, mục tiêu này khó có thể đạt được một

cách dễ dàng vì giảm tỉ lệ SDD không chỉ phụ

thuộc vào tăng trưởng kinh tế, giảm bớt đói

nghèo mà còn phụ thuộc nhiều vào những nỗ

lực làm thay đổi nhận thức và hành vi của

cộng đồng Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra

của Viện Dinh dưỡng từ năm 1999 đến năm

2011 về tình trạng dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi

của cả nước thì tỉ lệ SDD thể nhẹ cân giảm từ

36,7% xuống 16,8% và thể thấp còi từ 38,7%

xuống còn 27,5% Trước tình hình này, ngày

22 tháng 2 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ

phê duyệt “Chiến lược Quốc gia về Dinh

dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến

năm 2030” với mục tiêu giảm tỉ lệ SDD thể

thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi xuống dưới 26%, tỉ lệ

SDD thể nhẹ cân dưới 15% vào năm 2015 và

tiếp tục giảm các tỉ lệ này lần lượt còn dưới

23% và dưới 12,5% vào năm 2020(1) Năm 2030

phấn đấu giảm SDD trẻ em xuống dưới mức

có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng (SDD thể thấp

còi dưới 20% và SDD thể nhẹ cân dưới 10%)

Một trong những giải pháp của chiến lược này

là tập trung giảm tỉ lệ SDD thể nhẹ cân, sớm

đưa chỉ tiêu giảm SDD thể thấp còi thành một

chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội của các địa

phương và của quốc gia Đồng thời tăng

cường nghiên cứu đề xuất chính sách hỗ trợ

dinh dưỡng học đường trước hết là ở lứa tuổi

mầm non và tiểu học Đặc biệt là lứa tuổi mầm

non, một trong những giai đoạn tăng trưởng

và phát triển quan trọng, làm nền tảng cho sự phát triển của trẻ về sau(1) Theo nhiều y văn, một trong những nguyên nhân hàng đầu của SDD là do kiến thức và phương pháp nuôi con của các bà mẹ chưa đúng(4,8) Mục tiêu của

“Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020” là nâng cao hiểu biết và tăng cường thực hành dinh dưỡng hợp lý, trong đó nâng cao tỉ lệ nữ thanh niên được huấn luyện

về dinh dưỡng và kiến thức cơ bản về làm mẹ đạt 60% vào năm 2015(1) Vì vậy trong những năm qua, kế hoạch dinh dưỡng quốc gia tập trung nhiều vào việc tuyên truyền, giáo dục kiến thức, thực hành về dinh dưỡng mà người dân có thể thực hiện được bằng khả năng và phương tiện sẵn có tại gia đình Mỹ Tho là thành phố trung tâm của tỉnh Tiền Giang, có điều kiện kinh tế, xã hội phát triển và được tập trung đầu tư nhiều nhất của tỉnh Năm 2013, thành phố Mỹ Tho hoàn thành chỉ tiêu phổ cập giáo dục mầm non Đây là một điều kiện rất tốt để thành phố triển khai các chương trình giáo dục, chăm sóc sức khỏe trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo có hiệu quả hơn Đồng thời đó cũng là điều kiện thuận lợi để việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức về y tế cho các bà

mẹ được tốt hơn

Theo điều tra của Viện Dinh dưỡng, tỉ lệ trẻ SDD thể nhẹ cân ở trẻ dưới 5 tuổi của tỉnh Tiền Giang năm 2012 là 13,9%, thể thấp còi là 26,4%(2) Mặc dù SDD trẻ em vẫn đang là vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng cần can thiệp tích cực nhưng từ trước đến nay, tại Tiền Giang nói chung và thành phố Mỹ Tho nói riêng, chưa có công trình nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con của các bà mẹ Do đó để tìm hiểu

về vấn đề này, từ đó làm cơ sở đề xuất những giải pháp thiết thực, hiệu quả trong công tác nâng cao kiến thức, thực hành nuôi con của người mẹ, góp phần giảm tỉ lệ SDD trẻ em trong tỉnh nên chúng tôi quyết định thực hiện đề tài nghiên cứu Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu là Xác định

Trang 3

mối liên quan kiến thức, thái độ, thực hành nuôi

con của bà mẹ với tình trạng suy dinh dưỡng của

trẻ ở các trường mẫu giáo tại thành phố Mỹ Tho

tỉnh Tiền Giang năm học 2013 - 2014

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dân số chọn mẫu

Trẻ đang học ở các trường mẫu giáo tại

thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang năm học

2013 - 2014 và bà mẹ của những trẻ này

Tiêu chí chọn mẫu

Trẻ đang học ở các lớp được chọn trong các

trường mẫu giáo tại thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền

Giang năm 2014 và các bà mẹ có con được chọn

Tiêu chí loại trừ

Trẻ có tên trong các lớp được chọn nhưng

không đi học vào thời điểm thực hiện nghiên

cứu; Bà mẹ không biết chữ; Bà mẹ không đồng ý

tham gia vào nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Xử lý và phân tích dữ liệu

Phần mềm SPSS 16.0

KẾT QUẢ

Liên quan giữa kiến thức của bà mẹ với

tình trạng SDD của trẻ

Liên quan giữa kiến thức của bà mẹ với SDD

thể nhẹ cân của trẻ

- Liên quan giữa từng kiến thức nuôi con của bà

mẹ với SDD thể nhẹ cân của trẻ (n = 1063)

Bảng 1: Liên quan giữa từng kiến thức nuôi con của

bà mẹ với SDD thể nhẹ cân của trẻ (n = 1063)

Thức ăn tốt nhất cho trẻ Phép kiểm

Fisher

p = 0,212

Thời điểm bú mẹ sau sinh

2 = 0,644

p = 0,422

Bú mẹ 6 tháng đầu

2 = 7,326

Thời điểm ăn dặm

2 = 1,709

p = 0,191

Thời điểm cai sữa mẹ

2 = 0,316

p = 0,574

Nhóm thức ăn

2 = 13,386

p < 0,001

Bổ sung vitamin A

Không xác định

Fisher

p = 0,452

Ảnh hưởng của SDD

2 = 0,810

p = 0,368

- Liên quan giữa kiến thức chung của bà mẹ với tình trạng SDD nhẹ cân của trẻ (n = 1063)

Bảng 2: Liên quan giữa kiến thức chung của bà mẹ

với tình trạng SDD nhẹ cân của trẻ (n = 1063)

Kiến thức chung

Tần

số

SDD nhẹ

Không đúng 317 19 (6,0) 5,882 < 0,001 Đúng 746 8 (1,1) (2,547 - 13,583)

Liên quan giữa kiến thức của bà mẹ với SDD thể thấp còi của trẻ

- Liên quan giữa từng kiến thức nuôi con của bà

mẹ với SDD thể thấp còi của trẻ (n = 1063)

Bảng 3: Liên quan giữa từng kiến thức nuôi con của

bà mẹ với SDD thể thấp còi của trẻ (n = 1063)

Thức ăn tốt nhất cho trẻ Phép kiểm

Fisher

p = 0,191

Thời điểm bú mẹ sau sinh

2 = 5,367

p = 0,021

Bú mẹ 6 tháng đầu

2 = 1,308

p = 0,253

Thời điểm ăn dặm

2 = 0,214

p = 0,644

Trang 4

Kiến thức Tần số SDD thấp còi

Thời điểm cai sữa mẹ

2 = 2,369

p = 0,124

Nhóm thức ăn

2 = 1,510

p = 0,219

Fisher

p = 0,674

Tẩy giun cho trẻ

2 = 589

p = 0,443

Ảnh hưởng của SDD

2 = 1,784

p = 0,182

- Liên quan giữa kiến thức chung của bà mẹ với

tình trạng SDD thấp còi của trẻ (n = 1063)

Bảng 4: Liên quan giữa kiến thức chung của bà mẹ

với tình trạng SDD thấp còi của trẻ (n = 1063)

Kiến thức

chung

Tần

số

SDD thấp còi

(1,216 - 3,858)

0,007

Liên quan giữa thái độ chung của bà mẹ với

tình trạng SDD của trẻ

- Liên quan giữa thái độ chung của bà mẹ với tình

trạng SDD của trẻ (n = 1063)

Bảng 5: Liên quan giữa thái độ chung của bà mẹ với

tình trạng SDD của trẻ (n = 1063)

n (%)

Đúng

(0,527 - 2,452) 0,744

Không SDD 428 (97,3) 608 (97,6)

(0,847 - 2,669) 0,161

Không SDD 415 (94,3) 599 (96,1)

Liên quan giữa thực hành của bà mẹ với tình

trạng SDD của trẻ

Liên quan giữa thực hành nuôi con của bà mẹ với tình

trạng SDD nhẹ cân của trẻ

- Liên quan giữa từng thực hành nuôi con

của bà mẹ với SDD thể nhẹ cân của trẻ

Bảng 6: Liên quan giữa từng thực hành nuôi con của

bà mẹ với SDD thể nhẹ cân của trẻ

Nuôi con bằng sữa mẹ (n = 1063)

Không xác định

Cho trẻ cai sữa mẹ (n = 1011)

2 = 1,442

p = 0,230

Cho trẻ ăn dầu ngày hôm qua

p < 0,001

Cho trẻ ăn rau ngày hôm qua

định

Tiêm ngừa cho trẻ (n = 1063) Phép kiểm

Fisher

p = 0,113

Tẩy giun cho trẻ (n = 1047)

2 = 21,139

p < 0,001

Theo dõi cân nặng của trẻ (n = 1024) Phép kiểm

Fisher

p = 0,522

- Liên quan giữa thực hành chung của bà mẹ với tình trạng SDD nhẹ cân của trẻ (n = 952)

Bảng 7: Liên quan giữa thực hành chung của bà mẹ

với tình trạng SDD nhẹ cân của trẻ (n = 952)

Thực hành

SDD nhẹ cân

n (%)

OR

10,987)

< 0,001

Liên quan giữa thực hành nuôi con của bà mẹ với

SDD thấp còi của trẻ

- Liên quan giữa từng thực hành nuôi con của bà

mẹ với SDD thể thấp còi của trẻ

Bảng 8: Liên quan giữa từng thực hành nuôi con của

bà mẹ với SDD thể thấp còi của trẻ

Nuôi con bằng sữa mẹ (n = 1063) Phép kiểm

Fisher

p = 0,735

Cho trẻ cai sữa mẹ (n = 1011)

2 = 2,291

p = 0,130

Cho trẻ ăn dầu ngày hôm qua

2

= 3,262

Trang 5

Thực hành Tần số SDD nhẹ cân

Cho trẻ ăn rau ngày hôm qua (n = 1055 Phép kiểm

Fisher

p = 0,654

Tiêm ngừa cho trẻ (n = 1063) Phép kiểm

Fisher

p = 0,287

Tẩy giun cho trẻ (n = 1047)

2 = 10,563

p = 0,001

Theo dõi cân nặng của trẻ (n = 1024)

2 = 0,031

p = 0,859

- Liên quan giữa thực hành chung của bà mẹ

với tình trạng SDD thấp còi của trẻ (n = 952)

Bảng 9: Liên quan giữa thực hành chung của bà mẹ

với tình trạng SDD thấp còi của trẻ (n = 952)

(1,361 - 4,733)

0,003

BÀN LUẬN

Đặc điểm kiến thức, thái độ, thực hành

chung của bà mẹ

Trong nghiên cứu này kiến thức nuôi con

của bà mẹ được đánh giá thông qua các kiến

thức cơ bản như vai trò của sữa mẹ đối với trẻ,

thời điểm cho trẻ bú mẹ sau sinh, bú mẹ hoàn

toàn trong 6 tháng đầu, thời điểm cho trẻ ăn

dặm, thời điểm cho trẻ cai sữa mẹ, thành phần

các nhóm chất trong bữa ăn của trẻ, bổ sung

vitamin A, cách tẩy giun cho trẻ, ảnh hưởng của

SDD đối với trẻ Bà mẹ được xem là có kiến thức

chung không đúng khi biết được ít hơn 7 nội

dung trong tổng số 9 nội dung khảo sát đó Kết

quả khảo sát trên 1063 bà mẹ cho thấy tỉ lệ các bà

mẹ có kiến thức nuôi con không đúng là 29,8%

Nhìn chung đây là một kết quả khả quan và có

đến 70,2% các bà mẹ có kiến thức đúng Đây là

một tỉ lệ khá cao và đạt được mục tiêu của

“Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn

2011 - 2020” (60% các nữ thanh niên có kiến thức

làm mẹ cơ bản vào năm 2015)(1) Kết quả này cũng cao hơn kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Lê Thành(3) Trong nghiên cứu đó, tỉ lệ

bà mẹ có kiến thức nuôi con đúng là 57,4% Tuy nhiên tác giả đánh giá kiến thức của bà mẹ thông qua các nội dung như thời gian cho trẻ bú mẹ sau sinh, bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu, thời điểm cho trẻ ăn dặm, thời điểm cho trẻ cai sữa mẹ, các nhóm chất trong bữa ăn

Thái độ của bà mẹ được đánh giá thông qua các nội dung như cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong

6 tháng đầu, cho trẻ cai sữa mẹ sau 24 tháng tuổi

và tiêm ngừa đầy đủ cho trẻ Bà mẹ được xem là

có thái độ chung đúng khi có thái độ đúng với cả

3 vấn đề khảo sát Kết quả cho thấy tỉ lệ bà mẹ có thái độ đúng là 58,6% và có thái độ không đúng

là 41,4%

Thực hành nuôi con của bà mẹ được đánh giá qua 7 nội dung như nuôi con bằng sữa mẹ, thời điểm cai sữa mẹ cho trẻ, bổ sung dầu ăn và cho trẻ ăn rau trong ngày hôm qua, tiêm ngừa cho trẻ, tẩy giun cho trẻ trong 6 tháng qua và theo dõi cân nặng của trẻ trong vòng 3 tháng qua Bà mẹ được xem là có thực hành chung đúng khi thực hiện đúng ít nhất 6 nội dung Kết quả điều tra trên 952 bà mẹ cho thấy tỉ lệ bà mẹ

có thực hành chung đúng là 72,7% và không đúng là 27,3%

Liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành chung của bà mẹ với tình trạng SDD của trẻ

Trong mẫu nghiên cứu này, khi xét mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành chung của bà mẹ với tình trạng SDD của trẻ (gồm SDD thể nhẹ cân và SDD thể thấp còi) thì kiến thức chung và thực hành chung của bà mẹ có liên quan với tình trạng SDD của trẻ Cụ thể, con của những bà mẹ có kiến thức chung không đúng có khả năng bị SDD nhẹ cân cao gấp 5,88 lần (p < 0,001), và khả năng bị SDD thấp còi cao gấp 2,16 lần (p = 0,007) so với con của những bà mẹ có kiến thức chung đúng

Trang 6

Con của những bà mẹ có thực hành chung

không đúng có khả năng bị SDD nhẹ cân cao gấp

4,50 lần (p < 0,001) và khả năng bị SDD thấp còi

cao gấp 2,53 lần (p = 0,003) so với con của những

bà mẹ có thực hành đúng

Kết quả này là hợp lý vì khi người mẹ không

có kiến thức đúng và không thực hành đúng thì

trẻ sẽ không được chăm sóc tốt, dễ bệnh tật hơn

nên nguy cơ bị SDD sẽ cao hơn Do đó việc nâng

cao kiến thức, thực hành nuôi con đúng cho bà

mẹ có vai trò quan trọng trong việc giảm thấp tỉ

lệ SDD ở trẻ em

KẾT LUẬN

Liên quan giữa từng kiến thức, thái độ, thực

hành nuôi con của các bà mẹ với tình trạng SDD

của trẻ

Đối với SDD thể nhẹ cân

- Những bà mẹ không có kiến thức đúng về

việc cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu

thì trẻ sẽ có tỉ lệ SDD nhẹ cân cao hơn (p = 0,007)

- Những bà mẹ không có kiến thức đúng về

thành phần các nhóm chất dinh dưỡng trong

bữa ăn của trẻ thì trẻ sẽ có tỉ lệ SDD nhẹ cân cao

hơn (p < 0,001)

- Những bà mẹ không bổ sung thêm dầu ăn

vào bữa ăn của trẻ thì tỉ lệ SDD của trẻ sẽ cao

hơn (p < 0,001)

- Những bà mẹ không tẩy giun cho trẻ trong

6 tháng qua thì tỉ lệ SDD nhẹ cân của trẻ sẽ cao

hơn (p < 0,001)

Đối với SDD thể thấp còi

- Những bà mẹ không có kiến thức đúng về

thời điểm cho trẻ bú mẹ sớm sau sinh thì trẻ sẽ

có tỉ lệ SDD thấp còi cao hơn (p = 0,021)

- Những bà mẹ không tẩy giun cho trẻ trong

6 tháng qua thì tỉ lệ SDD thấp còi của trẻ sẽ cao

hơn (p = 0,001)

Liên quan giữa kiến thức chung, thái độ

chung, thực hành chung của bà mẹ với tình

trạng SDD của trẻ

Đối với SDD thể nhẹ cân của trẻ

- Con của những bà mẹ có kiến thức nuôi con không đúng có tỉ lệ SDD nhẹ cân cao hơn gấp 5,88 lần so với con của những bà mẹ có kiến thức đúng (p < 0,001)

- Con của những bà mẹ có thực hành nuôi con không đúng có tỉ lệ SDD nhẹ cân cao hơn gấp 4,50 lần so với bà mẹ có thực hành đúng (p < 0,001)

Đối với SDD thể thấp còi của trẻ

- Con của những bà mẹ có kiến thức nuôi con không đúng có tỉ lệ SDD thấp còi cao hơn gấp 2,16 lần so với con những bà mẹ có kiến thức đúng (p = 0,007)

- Con của những bà mẹ có thực hành nuôi con không đúng có tỉ lệ SDD thấp còi cao hơn gấp 2,53 lần so với con của những bà mẹ có thực hành đúng (p = 0,003)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Y tế (2012), Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội

2 Cục thống kê tỉnh Tiền Giang (2013), Niên giám thống kê tỉnh Tiền Giang năm 2012

3 Nguyễn Lê Thành (2005), Tỉ lệ suy dinh dưỡng và mối liên quan giữa kiến thức dinh dưỡng của người mẹ với tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Dầu Tiếng tỉnh Bình Dương, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

4 Saadeh RJ, Labbok MH, Cooney KA et al (1993), Breast-feeding: The technical basis and recommendations for action, WHO, Geneva, Switzerland, pp.1-14

5 UNICEF, WHO, The World Bank (2012), UNICEF - WHO - The World Bank joint child malnutrition estimates: Levels and trends

in child malnutrition, UNICEF, New York; WHO, Geneva; The World Bank, Washington, DC

6 Wagstaff A, Claeson M, Hecht RM et al (2006), “Millennium Development Goals for Health: What Will It Take to Accelerate Progress?”, Disease Control Priorities in Developing Countries, The International Bank for Reconstruction and Development/The World Bank Group, Washington DC

7 WHO (2008), Millennium development goals, WHO, Regional office for South-East Asia, Newdelhi, pp.2-18

8 WHO (1995), "Physical status: the use and interpretation of anthropometry - Report of a WHO expert committee", WHO Technical Report Series, No 854, WHO, Geneva, Switzerland, pp.161-208

Ngày nhận bài báo: 15/8/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 16/9/2015 Ngày bài báo được đăng: 20/10/2015

Ngày đăng: 08/06/2020, 14:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w