1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chiến lược tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông Việt Nam trước xu thế hội nhập quốc tế

52 475 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chiến Lược Tự Do Hoá Và Mở Cửa Thị Trường Dịch Vụ Viễn Thông Việt Nam Trước Xu Thế Hội Nhập Quốc Tế
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 113,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thực tế việc tiếnhành cổ phần hoá đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Viễn thông còn gặp nhiềukhó khăn như việc xác định tài sản của doanh nghiệp và lĩnh vực nào sẽ tiến hành cổph

Trang 1

chiến lược tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông Việt Nam trước xu thế hội nhập quốc tế

Sau khi phân tích các xu hướng phát triển Viễn thông trên thế giới, hiện trạngViễn thông trong nước, kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới cũngnhư yêu cầu mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông Việt Nam của các tổ chức thươngmại quốc tế và khu vực, trong chương này sẽ đi vào tìm hiểu chiến lược tự do hoá và

mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông Việt Nam trong thời gian tới Đồng thời đưa racác biện pháp để thực hiện chiến lược này Chương III gồm 4 vấn đề chính sau:

định hướng đến năm 2020

Việt Nam

III Chiến lược tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông Việt Nam

IV Những kiến nghị và giải pháp chủ yếu thực hiện chiến lược

I - Mục tiêu phát triển của ngành Viễn thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

1 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 và chủ trương hội nhập khu vực, quốc tế của Đảng và Chính phủ.

Tại đại hội Đảng toàn quốc lấn thứ VIII vào tháng 6/1996, Đảng và Chính phủ

đã nêu lên mục tiêu tổng quát về phát triển kinh tế xã hội chi giai đoạn trước mắt

1996 - 2000 là: Tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩymạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh

tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trương có sự quản lý của Nhà nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu đạt và vượt mục tiêu được đề ra trong chiếnlược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000: Tăng trưởng kinh tế nhanh,hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc xã hội, bảo đảm

an ninh, quốc phòng, cải thiện đời sống của nhân dân, nâng cao tích luỹ từ nội bộ nềnkinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỷ sau

Nội dung cơ bản của các mục tiêu kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2000 là:+ Đẩy nhanh chương trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thúc đẩy quá trìnhhình thành cơ cấu kinh tế hợp lý và phát triển các ngành mũi nhọn để lôi kéo và thúcđẩy nền kinh tế - xã hội tăng trưởng với tốc độ cao và bền vững

+ Khai thác mọi tiềm năng trong nước, tranh thủ tối đa nguồn đầu tư nước ngoài

Trang 2

+ Tiếp tục đổi mới nền kinh tế, giải phóng mọi lực lượng sản xuất và phát triểnnền kinh tế nhiều thành phần.

+ Đảm bảo sự phát triển hài hoà với các mục tiêu khác của xã hội

Khi phân tích đặc điểm tình hình thế giới Đảng và Nhà nước nhận định trongquan hệ kinh tế quốc tế ngày nay, đã và đang nổi lên những xu thế chủ yếu sau:

+ Hoà bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bứcxúc của các dân tộc và quốc gia trên thế giới Các nước dành ưu tiên cho phát triểnkinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng trưởng sức mạnhtổng hợp của quốc gia

+ Các quốc gia lớn, nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác vàliên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh vực hoạt độngkhác Hợp tác ngày càng tăng nhưng cạnh tranh cũng rất gay gắt

Tiếp đến sau khi phân tích những thời cơ và thách thức đối với Việt Nam, Đạihội Đảng VIII cũng đề ra mục tiêu chủ yếu nhằm phát triển kinh tế xã hội đến năm

2020 như sau: Tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội

và bảo vệ tổ quốc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Mục tiêu của công nghiệphoá, hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất -

kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độphát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, anninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh Từ nay đến năm

2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp

Về lực lượng sản xuất đến lúc đó sẽ đạt trình độ tương đối hiện đại, phần lớnlao động thủ công được thay thế bằng lao động sử dụng máy móc, điện khí hoá cơbản được thực hiện trong cả nước, năng suất lao động xã hội và hiệu quả sản xuấtkinh doanh cao hơn nhiều so với hiện nay GDP tăng từ 8 đến 10 lần so với năm

1990 Trong cơ cấu kinh tế, tuy nông nghiệp tiếp tục phát triển mạnh, song côngnghiệp và dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng rất lớn trong GDP và trong lao động xã hội Đểthực hiện được điều đó Đại hội đã đề ra 10 định hướng phát triển các lĩnh vực chủ yếutrong đó mở rộng quan hệ đối ngoại Đó là tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độclập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá và đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tinhthần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vìhoà bình, độc lập và phát triển Hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương vớicác nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủquyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau,

2

Trang 3

bình đẳng cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tồn tại và các tranh chấp bằng thươnglượng.

Cuối năm 1997, chủ trương hội nhập lại được thể hiện một lần nữa tại Hộinghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoá VII: Chủ động chuẩn bị các điềukiện cần thiết về cán bộ, luật pháp và nhất là về những sản phẩm mà chúng ta có khảnăng cạnh tranh để hội nhập thị trường khu vực và thị trường quốc tế Tiến hành khẩntrương, vững chắc việc đàm phán hiệp định thương mại Việt Mỹ, gia nhập APEC vàWTO Có kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AFTA

2 Phương hướng, các mục tiêu chủ yếu phát triển Viễn thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

Xây dựng và phát triển mạng Viễn thông Việt Nam hiện đại, đồng bộ, vững

chắc và đều khắp, đủ sức đáp ứng được nhu cầu thông tin ngày càng tăng của xã hội.Các dịch vụ phong phú, đa dạng có chất lượng cao, tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng nhucầu của mọi đối tượng khách hàng của thị trường trong nước và quốc tế Xây dựng xa

lộ thông tin quốc gia, hình thành mạng trí tuệ và cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia.Mạng Viễn thông Việt Nam năm 2020 đạt trình độ công nghệ, chất lượng dịch vụ củacác nước phát triển và có vị trí tiên tiến trong khu vực

2.1 Giai đoạn 1998 - 2000.

- Mạng lưới:

+ Đến hết năm 2000 tổng số máy điện thoại trong cả nước là trên 3 triệu máy(hiện tại hết năm 1998 là 2008440 máy), đưa mật độ điện thoại bình quân đạt 4máy/100 dân Còn đối với hai thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đạt từ 15

- 20 máy/100 dân

+ Thực hiện cáp quang hoá mạng lưới, xây dựng thêm các tuyến cáp quangliên tỉnh có công nghệ SDH Phấn đấu đến năm 2000 có 90%- 95% tỉnh thành trêntoàn quốc có truyền dẫn liên tỉnh bằng cáp quang Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh vàmột số tỉnh, thành phố lớn khác có mạng truyền dẫn nội hạt được cáp quang hoá sửdụng các mạch vòng cáp quang

+ Thực hiện báo hiệu số 7 trên toàn mạng quốc tế và hầu hết các tuyến liêntỉnh để chuẩn bị cho việc triển khai mạng số liên kết đa dịch vụ ISDN cung cấp cácdịch vụ băng rộng và đa phương tiên

+ Xây dựng các trung tâm quản lý, điều hành quốc gia và từng bước tiến hànhnâng cấp cải tạo hệ thống mạng ngoại vi nâng cao chất lượng mạng nội hạt

Trang 4

+ Tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như chất lượng phục vụ.

Mở rộng và phát triển các loại hình dịch vụ trong nước và quốc tế, các dịch vụ

cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của người tiêu dùng.Đặc biệt chú ý đến việc đảm bảo cung cấp thông tin hiện đại cho các khu chế xuất,khu công nghiệp tập trung, khu đô thị mới phát triển

+ Thông tin di động tiếp tục phủ sóng cho các huyện thị còn lại, tăng cườngphủ sóng cho các trục lộ giao thông quan trọng, năm 2000 có khoảng 400000 -

500000 thuê bao Chuẩn bị đưa vào phục vụ thông tin di động vệ tinh mặt đất toàncầu GMPCS

+ Phát triển mạnh dịch vụ Internet, phục vụ nhu cầu thông tin kinh tế xã hội,khoa học giáo dục, đào tạo, y tế khám chữa bệnh từ xa , các dịch vụ mới như điệnthoại thấy hình, hội nghị truyền hình triển khai thử nghiệm các dịch vụ của mạngliên kết đa dịch vụ - ISDN

2.2 Giai đoạn 2001 - 2005.

- Mạng lưới: phát triển mới hơn 3 triệu máy điện thoại, đưa mật độ điện thoại

bình quân cả nước đạt 7 - 8 máy/100 dân

+ Đưa tín hiệu số 7 vào hoạt động ở hầu hết các cấp của mạng lưới Đưa côngnghệ ATM cùng với các dịch vụ băng rộng đa phương tiện của mạng B - ISDN vàokhai thác thương mại ở một số thành phố, tỉnh lỵ lớn

+ Hoàn thành việc xây dựng, các tuyến cáp quang đường trục, liên tỉnh 100%tuyến truyền dẫn liên tỉnh được cáp quang hoá, triển khai chiến lược cáp quang hoágiai đoạn 2 các tuyến truyền dẫn từ tỉnh xuống huyện thực hiện cáp quang hoá mạngtrung kế liên đài Nâng cấp, mở rộng cấu tạo hiện đại hoá hệ thống mạng ngoại vi

4

Trang 5

Triển khai cáp quang đến tại nhà thuê bao cho các thuê bao có nhu cầu lớn, băngrộng Phát triển thông tin di động sẽ hướng tới hệ thống thông tin di động thế hệ thứ3.

+ Hoàn thành các dự án trọng điểm: Phóng vệ tinh thông tin riêng của ViệtNam VINASAT phục vụ Viễn thông, phát thanh truyền hình phủ sóng vùng sâu, vùng

xa, truyền hình tận nhà Chuẩn bị xây dựng tuyến cáp quang biển nội địa có trạm cặp

bờ ở các tỉnh ven biển nhằm nâng cao năng lực truyền dẫn tuyến trục Xây dựng cáctrung tâm quản lý và bảo dưỡng vùng OMC

- Dịch vụ:

+ Phổ cập dịch vụ điện thoại đến 100% số xã toàn quốc, tăng cường phát triểnmáy điện thoại cho các vùng nông thôn, thị tứ, cụm văn hoá xã phục vụ sự nghiệpphát triển kinh tế xã hội vùng nông thôn, miền núi nâng cao dân trí

+ Phát triển mạnh các dịch vụ giá trị gia tăng hiện có nhằm nâng cao năng lựcphục vụ xã hội Các dịch vụ di động tiếp tục phát triển mạnh; đạt từ 1,2 - 1,5 máy/100dân Phổ cập dịch vụ Internet tới hầu hết các trường đại học, cao đẳng, viện nghiêncứu, bệnh viện trong cả nước

+ Điều chỉnh cơ cấu dịch vụ cho phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của các tầnglớp xã hội khác nhau Thực hiện công khai hoá các chỉ tiêu chất lượng dịch vụ đểngười tiêu dùng có sự lựa chọn thoả đáng trong quá trình sử dụng dịch vụ

+ Đưa các dịch vụ băng rộng đa phương tiện vào khai thác thương mại ở một

số tỉnh, thành phố lớn Triển khai các dịch vụ thương mại điện tử

2.3 Giai đoạn 2006 - 2010

- Mạng lưới: Năm 2010 có 11 - 14 triệu máy điện thoại, mật độ điện thoại

bình quân cả nước phấn đấu đạt 12 - 15 máy/100 dân, thành thị đạt bình quân mỗi hộgia đình có một máy điện thoại

+ Cơ bản hoàn thành xa lộ thông tin quốc gia, thực hiện cáp quang hoá hầu hếtcác tuyến truyền dẫn từ tỉnh xuống huyện Tiếp tục thực hiện nâng cấp hiện đại hoámạng thuê bao, đạt mức phấn đấu khoảng trên 30% thuê bao có khả năng truy cậpdịch vụ băng rộng Mạch vòng thuê bao vô tuyến băng rộng cũng được phát triển đểcung cấp dịch vụ cho các vùng nông thôn, vùng thưa dân và cả đô thị

+ Xây dựng và phát triển mạng số băng rộng liên kết đa dịch vụ, mạng thôngminh đảm bảo cung cấp các dịch vụ băng rộng, đa phương tiện theo yêu cầu củakhách hàng Xây dựng mạng với các nút sử dụng công nghệ ATM phương thứctruyền tải chung cho tất cả các loại hình dịch vụ (Viễn thông, tin học, truyền thông )

Trang 6

+ Mạng lưới và dịch vụ Viễn thông được phát triển trên cơ sở xu hướng hội tụcông nghệ: Viễn thông, tin học, truyền thông và phù hợp với xu hướng toàn cầu hoá,khu vực hoá các hệ thống thông tin Tham gia vào các đề án xây dựng cơ sở hạ tầngthông tin của khu vực cũng như trên thế giới: ASEAN II, AII (APT), APII (APEC) tiến tới hoà nhập cơ sở hạ tầng thông tin toàn cầu.

+ Xây dựng mạng lưới có cấu trúc tối ưu để có thể triển khai các dịch vụ mạngtiên tiến Thực hiện phát triển, quản lý mạng không theo địa giới hành chính mà theovùng và cấu trúc mạng để nâng cao hiệu quả hoạt động

- Dịch vụ: thực hiện hoàn toàn việc phổ cập dịch vụ, người dân trong cả nước

có quyền truy cập các dịch vụ Viễn thông ở bất kỳ mọi nơi, mọi lúc khi có yêu cầu

+ Mở rộng việc cung cấp dịch vụ băng rộng đa phương tiện tới tất cả các tỉnhthành trong cả nước Đối với khách hàng khu vực dân cư các dịch vụ phổ biến sẽ làthoại, video theo yêu cầu, mua bán từ xã, công nghiệp giải trí, giáo dục và chăm sócsức khoẻ từ xa Đối với khách hàng khu vực hành chính, thương mại sẽ là các dịchvụ: trao đổi dữ liệu điện tử KDI, thương mại điện tử, quản lý và điều hành cho khuvực công cộng sẽ là các Kiot thông tin, cung cấp thông tin theo yêu cầu, thư việnvideo phục vụ cả truyền hình số và truyền hình có độ phân giải cao

+ Dịch vụ Internet cung cấp rộng rãi tới các trường phổ thông trung học, phổthông cơ sở trong cả nước

+ Phấn đấu đến năm 2010 khách hàng Việt Nam được hưởng thụ thông tinngang mức người dân của các nước phát triển

2.4 Giai đoạn 2010 - 2020:

Hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia Phát triển khoảng 22triệu máy điện thoại, bình quân mật đố đạt 20 - 25 máy/100 dân Cơ bản đa dịch vụhoá mạng nội hạt: cáp quang và các phương thức truy nhập băng rộng khác được triểnkhai tới tận nhà thuê bao các dịch vụ băng rộng, đa phương tiện được cung cấp tới các

hộ dân cư theo yêu cầu

II - Các quan điểm về việc mở cửa và hội nhập quốc tế về dịch vụ Viễn thông.

1 Mở cửa và hội nhập dịch vụ Viễn thông phải gắn liền với lợi ích của dân tộc, chủ quyền và an ninh quốc gia.

Dịch vụ Viễn thông là một lĩnh vực rất "nhạy cảm" đối với tất cả các quốc giatrên thế giới Là một ngành thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế quốc dân; là phương

6

Trang 7

tiện thiết yếu phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước, góp phần đảmbảo an ninh quốc phòng, giữ vững chủ quyền quốc gia Do vậy trong quá trình mởcửa và hội nhập dịch vụ Viễn thông phải được gắn liền với lợi ích của dân tộc, chủquyền và an ninh quốc gia Phải cảnh giác các thế lực thù địch lợi dụng quá trình mởcửa và tự do hoá dịch vụ Viễn thông để thao túng thông tin nhằm hòng lật đổ chế độ.

Việc mở cửa cho phép cạnh tranh cần tiến hành từng bước, có giới hạn, với sựkiểm soát của Nhà nước Mặc dù xu hướng tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụViễn thông diễn ra hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới nhưng lợi ích thu đượclớn nhất vẫn là các quốc gia phát triển và công nghệ mới, còn đối với các quốc giađang phát triển đều nhận thấy rằng tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thôngmang lại nhiều nguy cơ hơn là ích lợi Hiện tại trình độ phát triển kinh tế của ViệtNam so với các nước trong khu vực và trên thế giới còn thua kém xa, quá trình mởcửa nền kinh tế hoà nhập với thế giới nói chung và dịch vụ Viễn thông nói riêng vấn

đề đầu tiên nghĩ tới đó là lợi ích kinh tế, xã hội mang lại từ quá trình này Phải xemxét một cách cẩn thận những lợi ích mang lại để tìm cách tận dụng, những bất lợi đểtìm cách hạn chế từ quá trình hội nhập và tự do hoá dịch vụ Viễn thông

2.Về cạnh tranh

Việc cho phép cạnh tranh phải được tiến hành bắt đầu từ dịch vụ Viễn thônggiá trị gia tăng (VAS ) (là những dịch vụ không cần thiết xây dựng mạng lưới, đầu tưthấp và dễ triển khai về mặt kỹ thuật) rồi mới đến các dịch vụ cơ bản - là những dịch

vụ liên quan mật thiết đến chủ quyền quốc gia và quyền lợi kinh tế Đây là nguyên tắc

mà hầu hết các nước trên thế giới đều thực hiện khi mở cửa và tự do hoá dịch vụ Viễnthông kể cả các nước công nghiệp phát triển như Anh, Pháp, Mỹ Trong dịch vụViễn thông cơ bản tuần tự mở cửa thị trường bắt đầu từ thị trường dịch vụ cố định nộihạt đến thị trường đường dài trong nước và cuối cùng là thị trường dịch vụ Viễnthông quốc tế Thực tế cho thấy, kinh doanh dịch vụ Viễn thông quốc tế đem lại lợinhuận lớn nhất sau đó đến dịch vụ đường dài và cuối cùng là nội hạt Nếu nguyên tắcnày mà thực hiện ngược lại thì hầu như tất cả các doanh nghiệp mới xâm nhập vào thịtrường sẽ kinh doanh dịch vụ Viễn thông quốc tế và đường dài Tạo ra sự mất cân đốitrong phát triển mạng lưới Viễn thông, các mạng lưới Viễn thông ở các vùng sâu,vùng xa sẽ không phát triển và ảnh hưởng đến việc thực hiện phổ cập các dịch vụ cơbản tới mọi người dân như điện thoại gọi số, điện thoại dùng thẻ , ảnh hưởng tớiphát triển kinh tế, xã hội, ngày càng tạo ra sự bất bình đẳng về mức sống, trình độphát triển giữa thành thị và nông thôn, vùng sâu, vùng xa

Trang 8

Đi đôi với việc cho phép cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ cơ bản, thì phảiđảm bảo khả năng kiểm soát của Nhà nước cũng như tính khả thi về pháp lý và kỹthuật như việc xây dựng ban hành một số các quy định quan trọng về kết nối, giácước, kế hoạch đánh số, các nguyên tắc về bảo vệ cạnh tranh lành mạnh

3 Về hình thức đầu tư,

Cần từng bước xem xét cho thêm các hình thức đầu tư khác ngoài hình thứchợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) đi đôi với việc nâng dần tỷ lệ vốn góp của nướcngoài nhằm tạo ra sức cạnh tranh và hấp dẫn về môi trường đầu tư đối với các công tynước ngoài

Từ nay đến năm 2000, hình thức đầu tư nước ngoài cao nhất áp dụng cho lĩnhvực khai thác dịch vụ Viễn thông là hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) Bắt đầu saunăm 2000 để thu hút được thêm nhiều vốn đầu tư cũng như tăng độ hấp dẫn, Chínhphủ cần xem xét cho thêm các hình thức đầu tư nước ngoài khác như BOT, BTO, liêndoanh Tuy nhiên, các hình thức đầu tư nước ngoài này được tiến hành bắt đầu từdịch vụ giá trị gia tăng - VAS sau đó mới đến các dịch vụ cơ bản, đồng thời tỷ lệ gópvốn của phía đối tác nước ngoài được nâng dần lên phù hợp với trình độ phát triểnViễn thông của Việt Nam

III - Chiến lược tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông Việt Nam.

1 Nội dung của chiến lược

Chiến lược tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông có liên quanđến nhiều nội dung khác nhau, nhưng trong đó có 3 nội dung lớn chủ yếu sau

1.1 Cho phép cạnh tranh về kinh doanh, khai thác dịch vụ Viễn thông.

8

Trang 9

Là một ngành vừa thuộc cơ sở hạ tầng của nền kinh tế quốc dân, vừa là mộtngành kinh doanh độc lập có liên quan đến an ninh quốc phòng Do vậy không giốngnhư các ngành sản xuất hàng hoá vật chất thuần tuý, việc tự do cạnh tranh trong dịch

vụ Viễn thông được xem xét một cách thận trọng, phù hợp với trình độ phát triểnViễn thông Việt Nam và nó liên quan đến 3 vấn đề sau đó là: Điều kiện cấp phép, đốitượng được cấp phép và lĩnh vực dịch vụ được cấp phép

+ Về điều kiện cấp phép: Đầu tiên dựa vào phương hướng, các mục tiêu chủ

yếu phát triển Viễn thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, kếhoạch quốc gia về phân bố các nguồn tài nguyên thiên nhiên khan hiếm như phổ tần số

vô tuyến điện, kho số, điều kiện kinh tế xã hội của đất nước để đặt ra các điều kiện cấpphép cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ Ngoài ra đối với các nhà cung cấp dịch vụcũng có thể đặt ra một số điều kiện về vốn, công nghệ, uy tín của Công ty, năng lực củađội ngũ cán bộ công nhân viên, kinh nghiệm trong khai thác dịch vụ Viễn thông

+ Đối tượng được cấp phép: Nguyên tắc cơ bản đặt ra khi xây dựng chiến lược

là đối tượng được cấp phép trong giai đoạn cạnh tranh ban đầu sẽ là các doanh nghiệptrong nước, sau đó mới mở dần ra cho các thành phần nước ngoài

+ Về dịch vụ được cấp phép: Việc cấp phép khai thác dịch vụ nếu xét về phạm

vi được thực hiện lần lượt là dịch vụ cố định nội hạt, đường dài và sau cùng là cácdịch vụ quốc tế Nếu xét về lĩnh vực dịch vụ được thực hiện bắt đầu từ các dịch vụ giátrị gia tăng (trong đó có Internet) và thông tin vô tuyến di động rồi đến các dịch vụ cơbản Tuy nhiên chỉ duy trì 3 đến 4 công ty được phép kinh doanh đa dịch vụ, còn cácdoanh nghiệp dịch vụ mới thành lập chỉ được phép kinh doanh một số dịch vụ để cóđiều kiện tập trung vốn, công nghệ, nhân lực theo hướng chuyên môn hoá nghiệp vụnhằm nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh và nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường

1.2 Thực hiện cổ phần hoá các công ty cung cấp dịch vụ Viễn thông.

Đa dạng hoá sở hữu và cổ phần hoá là chủ trương chung của Đảng và Nhànước nhằm các mục tiêu sau:

+ Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức

xã hội trong nước và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm,phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu doanh nghiệp Nhànước

+ Tạo điều kiện để người lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và nhữngngười đã góp vốn được làm chủ thực sự, thay đổi phương thức quản lý tạo động lực

Trang 10

thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sản Nhà nước, nâng cao thunhập của người lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước.

Quán triệt chính sách đó, trong thời gian qua ngành Bưu điện đã tiến hành cổphần hoá một số doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và có kế hoạch cổ phẩn hoá một

số doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Công ty cổ phần dịch vụ Bưu chính - Viễn thôngSài Gòn - SPT là công ty cổ phần, khi thành lập mới giới hạn cổ phần trong các doanhnghiệp Nhà nước song hiện nay đang có kế hoạch trình Chính phủ cho phép mở rộng

cổ phần cho các thành phần khác trong và ngoài nước nắm giữ Trên thực tế việc tiếnhành cổ phần hoá đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Viễn thông còn gặp nhiềukhó khăn như việc xác định tài sản của doanh nghiệp và lĩnh vực nào sẽ tiến hành cổphần hoá; trong khai thác còn chưa phân định rõ phần công ích và phần kinh doanh Trong thời gian tới, quá trình cổ phần hoá tiếp tục được đẩy mạnh được thể hiện trongchiến lược thông qua việc cho phép các thành khác trong nước và quốc tế nâng dầnmức vốn trong các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và tiến tới năm 2020 có thể sở hữukhông hạn chế trong các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, ngoại trừ các doanh nghiệpchủ đạo mà Nhà nước câng giữ cổ phần chi phối và cổ phần đặc biệt

1.3 Mở cửa thị trường và cho phép các tổ chức, các công ty nước ngoài tham gia vào thị trường cung cấp dịch vụ Viễn thông.

Trong thời gian vừa qua các tổ chức và Công ty nước ngoài tham gia cung cấpdịch vụ Viễn thông ở thị trường Việt Nam chỉ được dưới hình thức hợp đồng hợp táckinh doanh (BCC) Đây là một hình thức đầu tư nước ngoài trực tiếp Cho đến nay đã

có 7 BCC về khai thác dịch vụ Viễn thông đã được Chính phủ cấp phép Hình thứcnày đã huy động vốn rất có hiệu quả trong thời gian qua, tổng số vốn đầu tư của cácBCC khoảng hơn 1 tỷ USD Tuy nhiên chính sách đầu tư theo hình thức BCC chỉ phùhợp với giai đoạn đầu của quá trình phát triển cơ sở hạ tầng Viễn thông, khi mà Nhànước còn giữ vai trò độc quyền trong lĩnh vực dịch vụ Viễn thông Nhưng khi Chínhphủ cho phép cạnh tranh với nhiều nhà khai thác và tiến trình hội nhập quốc tế, việccạnh tranh ở mức độ cao làm cho mức độ rủi ro đầu từ vào lĩnh vực Viễn thông tănglên Mà hình thức BCC không thành lập một pháp nhân mới, phía đối tác nước ngoàikhông trực tiếp điều hành sẽ dẫn đến nhiều yếu tố rủi ro và trở nên kém hấp dẫn đốivới các nhà đầu tư nước ngoài Ngoài ra, việc chậm đổi mới các chính sách cho phépcác hình thức khác của đầu tư nước ngoài sẽ làm cho Viễn thông Việt Nam thua thiệttrong cuộc cạnh tranh với thị trường các nước khác về thu hút vốn đầu tư Do vậy để

có thể huy động được khối lượng vốn khổng lồ cho kế hoạch phát triển Viễn thông từnay đến năm 2020 đòi hỏi phải có hình thức hợp tác đầu tư khác phù hợp và hấp dẫn

10

Trang 11

hơn như liên doanh (JV), Xây dựng khai thác chuyển giao (BOT), Xây dựng chuyển giao - khai thác (BTO) Việc xem xét bổ sung thêm các hình thức đầu tư caohơn BCC một mặt tạo ra sự hấp dẫn hơn về môi trường đầu tư cho đối tác nước ngoài,tăng cường huy động vốn và kinh nghiệm cho phát triển Viễn thông Việt Nam, đồngthời về lâu dài thể hiện thiện chí hội nhập của Việt Nam, phù hợp với tiến trình vànhững yêu cầu của WTO/GATS.

Nam trong thời gian tới.

Tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông được trải qua nhiều giaiđoạn khác nhau phù hợp với quy hoạch phát triển Viễn thông được Chính phủ phêduyệt và phù hợp với chương trình tự do hoá của các tổ chức thương mại quốc tế nhưAPEC năm 2020, thực hiện chương trình AFTA của Việt Nam năm 2003, chươngtrình tự do hoá chung của WTO

Các giai đoạn đó bao gồm:

+ FPT là công ty trực thuộc bộ Khoa học công nghệ - môi trường

+ NETNAM là công ty trực thuộc viện công nghệ thông tin - trung tâm khoahọc công nghệ quốc gia

Đến năm 2000 Tổng cục Bưu điện sẽ cấp phép thêm 4 giấy phép thiết lậpmạng và khai thác dịch vụ Trong đó có 2 giấy phép được cung cấp dịch vụ điện thoại

cố định nội hát và 2 giấy phép cung cấp dịch vụ điện thoại đường dài trong nước Đốitượng được cấp phép có thể là các doanh nghiệp đã hoạt động trên thị trường Viễnthông (có thể là cấp thêm giấy phép cung cấp dịch vụ cho hai công ty - VIETEL vàSPT) hoặc các doanh nghiệp mới, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh và khả năng của doanhnghiệp xin cấp phép Việc tăng số doanh nghiệp được cấp phép nhằm tăng cường sự

Trang 12

tham gia của các thành phần kinh tế trong nước vào quá trình cạnh tranh, tạo động lựcthúc đẩy quá trình phát triển, đồng thời vẫn phải hạn chế số lượng nhất định nhằmđảm bảo sự quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước.

Trong giai đoạn này bắt đầu tiến hành cổ phần hoá trong nước đối với cácdoanh nghiệp Nhà nước cung cấp dịch vụ Viễn thông trừ các doanh nghiệp cung cấpdịch vụ đường dài trong nước và quốc tế Trong các doanh nghiệp này các thành phầnkinh tế trong nước có thể chiếm tối đa 49% cổ phần (mỗi pháp nhân được mua khôngquá 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp, mỗi cá nhân được mua không quá 5%tổng số cổ phần của doanh nghiệp) theo Nghị định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 ởđiều 8 phần 1 nhỏ về chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần Việctiến hành cổ phần hoá được tiến hành trên nguyên tắc thận trọng, vừa làm vừa rútkinh nghiệm và điều chỉnh các chính sách cũng như hệ thống pháp luật liên quan chophù hợp Đây cũng là giai đoạn ban đầu mở rộng sự tham gia của các thành phần kinh

tế trong nước nắm cổ phần trong các doanh nghiệp khai thác dịch vụ Viễn thông, đặcbiệt là đối với các dịch vụ giá trị gia tăng Các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ giátrị gia tăng sẽ cho phép tăng mức cổ phần của các thành phần trong nước lên tối đa100% vào năm 2000 Song song với quá trình cổ phần hoá là quá trình sắp xếp và đổimới doanh nghiệp cho phù hợp với cơ cấu sản xuất kinh doanh mới theo chỉ thị số20/1998/CT-TTg ngày 21/4/1998 về đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp Nhànước; góp phần nhất định cho quá trình thực hiện chiến lược, đặc biệt là trong việc cổphần hoá các doanh nghiệp trực thuộc Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông (VNPT)

là công ty hiện có 102 đơn vị trực thuộc, trong đó có 68 đơn vị hạch toán phụ thuộc

Việc tham gia của các thành phần nước ngoài trong giai đoạn này chỉ áp dụnghình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) Đối tác nước ngoài bỏ vốn, kỹ thuậtchuyển giao kinh nghiệm quản lý, khai thác mạng lưới, đào tạo cán bộ; ăn chia theodoanh thu hoặc lợi nhuận thu được Việt Nam là người quản lý và điều hành mạnglưới duy nhất

2.2 Giai đoạn từ 2001 - 2003.

Đây là giai đoạn hoàn thiện môi trường pháp lý với việc ban hành luật Viễnthông và các văn bản dưới luật khác Việc này nhằm hỗ trợ và đẩy mạnh việc tham giacủa các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vào thị trường cung cấp dịch vụ Viễnthông, và nhằm hỗ trợ cho việc quản lý và phát triển môi trường viễn thong cạnh tranh

Nhằm tăng cường cạnh tranh, cũng như tăng cường sự tham gia của các thànhphần kinh tế ngoài quốc doanh, trong giai đoạn này sẽ cấp thêm 2 giấy phép thiết lập

và khai thác dịch vụ Viễn thông quốc tế Lĩnh vực dịch vụ Viễn thông quốc tê là lĩnh

12

Trang 13

vực mang lại lợi nhuận cao nhất, do vậy trong quá trình cấp phép phải xem xét mộtcách cụ thể, các đối tượng được cấp phép nhất thiết phải thoả mãn đầy đủ các điềukiện mà Chính phủ đề ra Nếu các doanh nghiệp mới mà không thoả mãn được thì cấpphép sẽ chuyển giao cho các công ty đã hoạt động trên thị trường dịch vụ Viễn thông.

Việc cổ phần hoá các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trong giai đoạn này tiếptục được tăng cường Doanh nghiệp được cổ phần hoá sẽ được mở rộng sang cácdoanh nghiệp cung cấp dịch vụ Viễn thông đường dài và quốc tế, đến năm 2003 chophép các thành phần kinh tế trong nước nắm tới 40% cổ phần của các doanh nghiệpnày (mỗi pháp nhân không quá 20%, và mỗi cá nhân không quá 5%)

Việc tham gia của các tổ chức và công ty nước ngoài cũng được mở rộng vớiviệc cho phép đầu tư vào dưới hình thức liên doanh (JV) đối với các dịch vụ cơ bản(trừ dịch vụ điện thoại cố định nội hạt, đường dài và quốc tế) và dịch vụ giá trị giatăng vào năm 2003 Đối với vốn góp, các đối tác nước ngoài bị hạn chế 30% trongcác liên doanh Nhà nước khuyến khích phần vốn đóng góp của phía đối tác nướcngoài bằng tiền và công nghệ xây dựng mạng lưới khai thác dịch vụ Việc cho phépliên doanh với phần góp vốn hạn chế 30% của phía nước ngoài mục tiêu thu hút vốn,công nghệ phát triển Viễn thông còn có mục tiêu khác là nhằm giảm sức ép đối vớiyêu cầu mở cửa thị trường Viễn thông Việt Nam cho phía nước ngoài khi tiến hànhđàm phán hội nhập quốc tế

2.3 Giai đoạn từ 2004 - 2006:

Đây là giai đoạn có những biến chuyển căn bản về cơ cấu và thành phần kinh

tế (giữa quốc doanh và ngoài quốc doanh, giữa trong nước và nước ngoài) tham giatrên thị trường cung cấp dịch vụ Viễn thông Việt Nam, trong đó tuỳ vào hoàn cảnh cụthể sẽ cấp thêm giấy phép cung cấp các dịch vụ cơ bản và giá trị gia tăng

Về vấn đề cổ phần hoá, dự kiến đến năm 2006 các thành phần kinh tế trongnước được phép sở hữu 49% cổ phần trong các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Viễnthông đường dài và quốc tế, trong đó mỗi pháp nhân không quá 15%, mỗi cá nhânkhông quá 7% Đồng thời trong giai đoạn này cần thiết phải thúc đẩy nhanh hơn nữaquá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước Khuyến khích sự tham giacủa phía nước ngoài trong việc cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng với việc khônghạn chế phần vốn góp của nước ngoài trong các liên doanh cung cấp dịch vụ giá trị

Trang 14

gia tăng Đến năm 2006, phía nước ngoài bắt đầu được phép mua cổ phần trong cácdoanh nghiệp cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng với hạn chế tối đa là 49%.

2.4 Giai đoạn 2007 - 2010:

Giai đoạn này có thể coi là giai đoạn chuyển tiếp sang cạnh tranh quốc tế vềcung cấp dịch vụ Viễn thông Sự tham gia của các thành phần ngoài quốc doanh vàothị trường dịch vụ Viễn thông sẽ được mở rộng rất nhiều Về vấn đề cổ phần hoá, đếnnăm 2010 trừ các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đường dài và quốc tế do Nhà nướcnắm cổ phần không hạn chế hoặc đặc biệt, tư nhân trong nước có thể nắm một sốlượng cổ phần không hạn chế trong các doanh nghiệp còn lại Còn phía đối tác nướcngoài được phép sở hữu một số lượng cổ phần không hạn chế trong các doanh nghiệpcung cấp dịch vụ giá trị gia tăng - VAS và tối đa là 60% cổ phần trong các doanhnghiệp cung cấp dịch vụ Viễn thông cơ bản và 10% trong các doanh nghiệp chủ đạo(mỗi pháp nhân hoặc cá nhân sở hữu không quá 5% cổ phần) Việc hạn chế cổ phầncủa nước ngoài ở một mức % nhất định trong các doanh nghiệp cung cấp dịch vụViễn thông cơ bản nhằm mục đích đảm bảo vai trò tham gia chủ đạo của các thànhphần kinh tế trong nước

Về đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong giai đoạn này không hạn chế phần vốngóp của phía đối tác nước ngoài trong các liên doanh cung cấp dịch vụ Ngoài ra tuỳthuộc vào sự phát triển và yêu cầu cụ thể của thị trường có thể xem xét cho phép một

số hình thức đầu tư nước ngoài khác ngoài BCC, JV Ví dụ như: BTO, BOT,

2.5 Giai đoạn 2011 - 2012.

Đây là giai đoạn ngắn và có thể coi là giai đoạn bước đệm chuẩn bị về pháp

lý, tổ chức thị trường cho việc mở rộng sự tham gia sâu của các thành phần kinh tếngoài nước

Đến năm 2012 sẽ cho phép nước ngoài nâng mức vốn cổ phần trong các doanhnghiệp cung cấp dịch vụ cơ bản là 49% và trong các doanh nghiệp chủ đạo là 20%.Trong đó mỗi pháp nhân và cá nhân không qúa 10%

2.6 Giai đoạn 2013 - 2016.

Trong giai đoạn này có thể sẽ cho phép nâng cổ phần của nước ngoài trong cácdoanh nghiệp chủ đạo lên tối đa 30% Trong đó mỗi pháp nhân hoặc cá nhân sở hữukhông quá 10%

14

Trang 15

2.7 Giai đoạn 2017 - 2020:

Đây là giai đoạn cuối của chiến lược tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụViễn thông Kết thúc giai đoạn này bằng việc xoá bỏ hầu hết các hạn chế đối với cấpphép cung cấp dịch vụ và hình thức đầu tư trong khi vẫn đảm bảo sự quản lý của Nhànước đối với doanh nghiệp chủ đạo với việc Nhà nước nắm cổ phần khống chế hoặcđặc biệt, các thành phần kinh tế khác nắm tối đa số % cổ phần còn lại, trong đó mỗipháp nhân hoặc cá nhân nước ngoài nắm không quá 10% cổ phần

Đến năm 2020, Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam sẽ vẫn giữ vaitrò là doanh nghiệp chủ đạo

Trang 16

Tóm tắt chiến lược tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông của Việt Nam từ nay đến năm 2000.

Quyền khai thác dịch vụ Cổ phần hoá (Quyền sở hữu) Hình thức đầu tư trực tiếp

+ Điện thoại trung kế vô tuyến

b Các dịch vụ giá trị gia tăng - 1 IAP và 4

ISP

- Bắt đầu cổ phần hoá trong nước đối với các doanhnghiệp khai thác dịch vụ Viễn thông (trừ dịch vụđường dài trong nước và quốc tế, tư nhân trong nước

có thể chiếm tối đa 49% cổ phần trong đó mỗi phápnhân chiếm không quá 10%, cá nhân không quá 5%;

Chỉ cho phép hình thứcBCC trong khai thác dịchvụ

2000 Xem xét việc cấp thêm 2 giấy phép khai

thác dịch vụ cố định nội hạt

- Xem xét cấp thêm 2 giấy phép khai thác

dịch vụ điện thoại đường dài trong nước

(mảng riêng, truy nhập bình đẳng, có hiệu

lực sau 3 năm kể từ ngày cấp phép)

- Không hạn chế cấp phép đối với các nhà

cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng - VAS

- Không hạn chế % cổ phần của tư nhân trong nướctrong các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ giá trị giatăng VAS

2003 - Không hạn chế cấp phép J.V với nước

ngoài khai thác dịch vụ giá trị gia tăng - - Xem xét việc cổ phần hóa các doanh nghiệp cungcấp dịch vụ đường dài trong nước và quốc tế, trong đó - Cho phép liên doanh vớinước ngoài trong khai thác

Trang 17

- Xem xét cấp thêm 2 giấy phép khai thác

dịch vụ Viễn thông quốc tế (Mạng riêng,

truy nhập bình đẳng, có hiệu lực sau 2 năm

kể từ ngày cấp phép)

tư nhân trong nước nắm tối đa 40% mỗi pháp nhânkhông quá 10%, cá nhân không quá 5%

VAS và dịch vụ cơ bản (trừ

cố định nội hạt, đường dài

và quốc tế) Các liên doanhphải thuê kênh đường dài,quốc tế của nhà khai thácViệt Nam

- Hạn chế vốn góp nướcngoài trong các JV về VAS

và dịch vụ cơ bản là 30%

2006 - Xem xét cấp thêm giấy phép thiết lập

mạng và cung cấp các dịch vụ Viễn thông

nội hạt đường dài trong nước và quốc tế

- Tư nhân trong nước có thể chiếm tới 49% cổ phầntrong các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đường dài vàquốc tế,trong đó mỗi pháp nhân không quá 15% vàmỗi cá nhân không quá 7%

- Bắt đầu cho nước ngoài mua cổ phần trong cácdoanh nghiệp cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng VASvới hạn chế tối đa 49%

- Các liên doanh phải thuêkênh đường dài, quốc tế củanhà khai thác Việt Nam

- Không hạn chế vốn gópcủa nước ngoài trong cácliên doanh cung cấp dịch vụVAS

trong nước và quốc tế do nhà nước nắm cổ phầnkhống chế, tư nhân trong nước có thể nắm cổ phầnkhống chế trong các doanh nghiệp còn lại

- Không hạn chế cổ phẩn của nước ngoài trong cácdoanh nghiệp cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng VAS

- Nước ngoài nắm tối đa 30% cổ phần trong các doanhnghiệp cung cấp dịch vụ Viễn thông cơ bản và 10%

trong doanh nghiệp chủ đạo do nhà nước nắm cổ phầnkhông chế hoặc đặc biệt Mỗi pháp nhân và cá nhânkhông quá 5%

- Cho phép liên doanh đốivới tất cả các dịch vụ

- Xem xét cho phép cáchình thức đầu tư khác

- Không hạn chế số vốn gópcủa nước ngoài trong cácliên doanh

các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cơ bản và 20%

Trang 18

trong doanh nghiệp chỉ đạo (trong doanh nghiệp chỉđạo mỗi pháp nhân hoặc cá nhân không quá 10%S).

2016 - Nước ngoài có thể sở hữu tối đa 30% trong các

doanh nghiệp chủ đạo (mỗi pháp nhân hoặc cá nhânkhông quá 10%)

2020 Không hạn chế số lượng doanh nghiệp cung

cấp dịch vụ Viễn thông

- Nhà nước chiếm cổ phần khống chế hoặc đặc biệttrong doanh nghiệp chủ đạo, mỗi pháp nhân hoặc cánhân nước ngoài nắm không quá 10% cổ phần

- Không hạn chế sở hữu tư nhân và nước ngoài trongcác doanh nghiệp còn lại

- Không hạn chế hình thứcđầu tư

Trang 19

IV Những kiến nghị và giải pháp chủ yếu thực hiện chiến lược.

Qua nghiên cứu và tìm hiểu chiến lược tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụViễn thông từ nay đến năm 2020, chúng ta thấy chiến lược này liên quan đến nhiềuvấn đề khác nhau và có nhiều công việc phải làm Do vậy để thực hiện được chiếnlược này thì giữa Nhà nước và các doanh nghiệp phải có sự phối hợp, triển khai thựchiện các hành động sau:

1 Về Phía Chính phủ.

1.1 Đổi mới và tăng cường bộ máy quản lý Nhà nước về Bưu điện:

Sự phát triển nhanh chóng cơ sở hạ tầng thông tin có sự phối hợp Viễn thông điện tử - tin học cùng với việc mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông, mở rộng cạnhtranh trong nước, hội nhập quốc tế là điều kiện thuận lợi nhưng cũng đầy thử tháchđòi hỏi xây dựng bộ máy quản lý Nhà nước về Bưu điện mạnh, tập trung thống nhất,

-có đủ năng lực và thẩm quyền cùng với các cơ quan Nhà nước hữu quan giúp Chínhphủ:

+ Tạo môi trường pháp lý và các điều kiện cần thiết cho sự phát triển Bưuđiện, đảm bảo lợi ích quốc gia, lợi ích của người sử dụng Bưu điện và của các doanhnghiệp

+ Đảm bảo cho cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia phát triển vững chắc và cóhiệu quả

+ Đảm bảo phổ cập các dịch vụ cơ bản, phục vụ công ích và cung cấp rộng rãicác dịch vụ khác

+ Quản lý và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên quốc gia, đặcbiệt là tần số vô tuyến điện, kho số và thương quyền khai thác các dịch vụ, phát triểncông nghiệp Bưu chính - Viễn thông tương ứng với phát triển mạng lưới và dịch vụ

Kinh nghiệm của các nước cho thấy một mô hình quản lý Nhà nước phù hợp

về thông tin bao gồm Bưu điện, tin học, phát thành truyền hình có vai trò rất quantrọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội, chuẩn bị bước vào kỷ nguyên của xã hộithông tin Mô hình như trên áp dụng tại các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, đã thựchiển rất tốt chức năng quản lý vĩ mô, góp phần đưa ngành Bưu điện những nước nàyphát triển không ngừng, đạt được những thành tựu to lớn Mô hình này cũng đã đượcTrung Quốc áp dụng trong dịp sắp xếp lại cơ cấu Chính phủ mới đây, điều này cũngnói lên tính hợp lý của nó

Theo ý kiến đánh giá tổng quan của Ban chỉ đạo chương trình quốc gia vềcông nghệ thông tin thì: ở nước ta tin học là một ngành kinh tế kỹ thuật mới, đang

Trang 20

bước đầu hình thành và phát triển; Việc Chính phủ thành lập Ban chỉ đạo chươngtrình Công nghệ thông tin để tổ chức và chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ cấp báchtrong giai đoạn đầu là hợp lý, song đó chỉ là biện pháp tình thế, về lâu dài tổ chức nàykhông thể làm thay chức năng của quản lý Nhà nước đối với một ngành kinh tế kỹthuật, tin học ngày nay liên kết chặt chẽ với Viễn thông tạo ra nền tảng chung choviệc xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin của xã hội, cần có một cơ quan quản lý Nhànước chịu trách nhiệm về sự phát triên cơ sở hạ tầng thông tin này.

Từ tình hình trên, bộ máy quản lý Nhà nước về Bưu điện đề nghị cần được đổimới và tăng cường như sau:

1.1.1 Tổ chức lại Tổng cụ Bưu điện theo một trong 2 phương án sau:

Phương án 1: Nâng cấp Tổng cục Bưu điện thành Bộ Bưu điện và tin học Bộ

bưu điện và tin học có chức năng quản lý Nhà nước cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia,các dịch vụ Bưu chính, Viễn thông, tin học, truyền hình phát sóng phát thành truyềnhình hoạt động trên cơ sở hạ tầng này và quản lý Nhà nước về tầm số vô tuyến điện

Phương án 2: Giao cho Tổng cục Bưu điện quản lý thêm phần tin học và đổi tên

thành Tổng cục Bưu điện và Tin học Tổng cục Bưu điện và tín học có chức năng quản

lý Nhà nước cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia, các dịch vụ bưu chính Viễn thông và tinhọc hoạt động trên cơ sơ hạ tầng này và quản lý Nhà nước về tần số vô tuyến điện

1.1.2 Bổ sung, kiện toàn cơ cấu tổ chức của Tổng cục phù hợp với chức năng nhiệm vụ của Tổng cục theo các nội dung nói trên:

+ Để tăng cường việc nghiên cứu chính sách, pháp luật, chiến lược, quyhoạch cần tách các chức năng này ra khỏi các vụ và thành lập viện nghiên cứuriêng

+ Sắp xếp lại, đổi tên một số vụ hiện có, thành lập thêm một số vụ mới đểquản lý các lĩnh vực mới như tin học, thông tin vô tuyến điện Các vụ có nhiệm vụ

đề xuất và thẩm định các nội dung cần nghiên cứu ,thể chế hoá thành các văn bảnpháp quy để trình ban hành, hướng dẫn việc thực hiện, thực thi pháp luật thông quaviệc cấp phép, thẩm định dự án, giám sát, kiểm tra, thanh tra, để thực thi các vănbản pháp quy

+Để tăng cường chức năng thực thi luật pháp và thừa hành công vụ sát với cácđịa phương, đề nghị thành lập thêm một số Bưu điện khu vực phụ trách địa bàn cáctỉnh, thành phố đồng thời quy định phạm vì trách nhiệm, mối quan hệ giữa các cụcnày với các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh, thành phố trong công tác quản lýNhà nước về Bưu điện ở địa phương

Trang 21

1.1.3 Về mối quan hệ giữa Bộ/Tổng cục Bưu điện và tin học với các bộ ngành liên quan

Từ mô hình quản lý Nhà nước về Internet, có thể rút ra mô hình quản lý thíchhợp là có sự phân công các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan trong lĩnh vực thôngtin liên lạc (Bưu chính Viễn thông), thông tin dữ liệu và đa phương tiện (qua hệthống truyền thông máy tính) và thông tin quảng bá (phát thành, truyền hình) nhưsau:

- Bộ/ Tổng cục Bưu điện và tin học quản lý Nhà nước về mạng lưới và cungcấp dịch vụ

- Bộ Văn hoá thông tin quản lý Nhà nước về nội dung thông tin

- Bộ Công an quản lý Nhà nước về bảo vệ an ninh, an toàn thông tin

Mô hình này đồng thời thực hiện với việc bãi bỏ chế độ quản lý khép kín trongtừng ngành và chế độ chủ quản đối với các doanh nghiệp, các hãng hoạt động trong lĩnhvực thông tin Bưu điện, tin học, phát thành truyền hình; đảm bảo quyền tự chủ của cácđơn vị này trong việc trực tiếp quản lý mạng lưới và các cơ sỏ vật chất kỹ thuật của mình

và trong việc tổ chức hoạt động cung cấp các dịch vụ thông tin theo giấy phép do các cơquan Nhà nước có thẩm quyền cấp và theo các quy định của luật pháp

1.2 Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách xây dựng một môi trường pháp lý thuận lợi nhằm khuyến khích, thúc đẩy Viễn thông phát triển.

Hệ thống cơ chế, chính sách pháp luật, thể lệ quản lý dịch vụ Viễn thông đượcxây dựng mới hoặc sửa đổi bổ sung trên quan điểm đặt các doanh nghiệp trong môitrường cạnh tranh theo pháp luật, các cơ quan Nhà nước không can thiệp vào việcquản lý, điều hành sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đồng thời khuyếnkhích và thúc đẩy phát triển mạng lưới và dịch vụ trong điều kiện mở cửa thị trườngViễn thông trong nước và chuẩn bị mở cửa thị trường cho nước ngoài tham gia vào

1.2.1 Tiếp tục hoàn thiện luật Bưu chính Viễn thông

Luật Bưu chính - Viễn thông là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để thực hiệnđược chiến lược tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông Hệ thống pháp lýđiều chỉnh các hoạt động Viễn thông phải phù hợp với chiến lược đã đề ra:

+ Phát huy nội lực trên cơ sở đổi mới cơ cấu sở hữu và quản lý doanh nghiệpNhà nước Thực hiện thắng lợi chính sách cổ phần hoá doanh nghiệp để thu hút đượcnhiều thành phần kinh tế cùng tham gia thị trường dịch vụ Viễn thông

Trang 22

+ Tạo môi trường kinh doanh dịch vụ Viễn thông thuận lợi trên cơ sở tổ chứclại thị trường Viễn thông Thực hiện việc kiểm soát độc quyền và bảo đám sự cạnhtranh lành mạnh giữa các chủ thể tham gia thị trường theo sự quản lý của Nhà nước.

+ Tạo điều kiện thuận lợi cho Viễn thông Việt Nam hội nhập với Viễn thôngquốc tế theo một lộ trình phù hợp trong xu hướng toàn cầu hoá Viễn thông

+ Đổi mới tổ chức quản lý Nhà nước về Viễn thông trên cơ sở hội tụ cộngnghệ Viễn thông, tin học và phát thanh truyền hình

1.2.2 Xây dựng quy chế quản lý giá, cước Viễn thông phù hợp chiến lược đề ra.

Cũng giống như những ngành kinh doanh hàng hoá thuần tuý, các lĩnh vựckinh doanh dịch vụ khác Giá cả là một trong những vấn đề cơ bản để thúc đẩy và tạo

ra một môi trường kinh doanh lành mạnh Trong nền kinh tế thị trường giá cả một mặthàng hay dịch vụ nào đó không phải do Nhà nước quy định, quản lý, mà do chi phí,cung cầu…trên thị trường quyết định Nhưng đối với lĩnh vực Viễn thông, từ trướcđến nay Nhà nước xác định Viễn thông là một ngành kinh tế kỹ thuật thuộc kết cấu hạtầng của nên kinh tế, là công cụ thông tin liên lạc của Nhà nước, do Nhà nước độcquyền tổ chức và thống nhất quản lý Vả lại trong thời gian qua việc khai thác, kinhdoanh dịch vụ Viễn thông được thực hiện duy nhát bởi Tổng công ty Bưu chính -Viễn thông Việt Nam (VNPT), đồng thời thực hiện luôn nghĩa vụ công ích phục vụ

xã hội Do vậy hệ thống giá cước Viễn thông được quy định bởi Tổng cục Bưu điện

và được xây dựng theo nguyên tắc bảo đảm tổng chi phí bình quân và hiệu quả củaquá trình hoạt động kinh doanh phục vụ của Tổng công ty; bảo đảm có lãi và không

bị lỗ, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp ngân sách theo quy định của Chính phủ Hầu hếtmức cước các dịch vụ hiện nay đều thoát ly giá tại thực của nó, thậm chí còn để thựchiện việc bù lỗ cho những dịch vụ còn chưa có lãi trong quá trình hoạt động của Tổngcông ty Tuy nhiên để thực hiện được chiến lược tự do hoá và mở cửa thị trường dịch

vụ Viễn thông, khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước và ngoài nước thamgia vào thì việc Nhà nước còn can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh trựctiếp của doanh nghiệp, thể hiện qua việc quy định những mức giá cụ thể không cònphù hợp nữa Hệ thống giá này quá cứng nhắc, không khuyến khích được cạnh tranh,làm “xơ cứng” hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Tất cả các doanh nghiệp đềucung cấp dịch vụ Viễn thông với một giá như nhau thì còn gì là cạnh tranh, còn gì là tự

do hoá

Trang 23

Tất nhiên đối với một số dịch vụ mạng tính công ích và độc quyền thì Nhànước vẫn quy định mức cước Do vậy trong thời gian tới để đảm bảo thực hiện đượcchiến lược thì định hướng giá cước nên tập trung vào các vấn đề sau:

+ Nhà nước quản lý chặt chẽ giá những sản phẩm, dịch vụ còn độc quyền hoặcmang tính xã hội và công ích cao

+ Tuỳ thuộc vào chiến lược tự do hoá và mở cửa của thị trường mà Nhà nước

sẽ phân cấp mạnh quyền quyết định giá cước của dịch vụ có cạnh tranh cho các doanhnghiệp đặc biệt là các dịch vụ giá trị tăng Các dịch vụ có cạnh tranh hạn chế Tổngcục Bưu điện nên chuyển từ quy định giá cước cụ thể sang quy định khung giá cướclàm như thế thì các doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong việc đưa giá cước cạnh tranhtrong khung giá cước mà Nhà nước đã quy định

+ Bảo đảm nguyên tắc xây dựng giá cước xuất phát từ chi phí sản xuất khuyếnkhích cạnh tranh lành mạnh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động trong sản xuấtkinh doanh

+ Điều chỉnh quan hệ hợp lý giữa giá cước Viễn thông trong nước và cước điquốc tế Tránh tình trạng cước Viễn thông quốc tế thì quá đắt trong khi cước Viễnthông trong nước quá rẻ hoặc ngược lại

Ngoài ra các văn bản quản lý giá, cước Viễn thông phải đồng bộ và thốngnhất, và phải kịp thời điều chỉnh khi có những vấn đề mới phát sinh

1.2.3 Chính sách thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát độc quyền, cũng như cần tách bạch rõ mối quan hệ giữa cạnh tranh và độc quyền.

Việc tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông tất yếu sẽ thúc đẩycạnh tranh giữa các doanh nghiệp Nhưng trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh sẽxẩy ra hiện tượng "cá lớn nuốt cá bé", chèn ép, đưa ra các thủ đoạn để đánh gục đốithủ và tất yếu sẽ sinh ra độc quyền Chính vì vậy để đảm bảo quyền bình đẳng chocác doanh nghiệp trong việc khai thác và kinh doanh các dịch vụ Viễn thông mà Tổngcục Bưu điện cấp phép, Chính phủ cần ban hành các chính sách sau:

+ Tất cả các doanh nghiệp đều có quyền bình đẳng cho tham gia sử dụng hệthống đường trục Ban hành và quản lý các quy định về kết nối đảm bảo sự bình đẳnggiữa các doanh nghiệp

+ Nguồn tài nguyên quốc gia trong lĩnh vực Viễn thông như: Kho số, phổ tần

số vô tuyến điện quản lý một cách có hiệu quả Các kế hoạch đánh số cũng như quyhoạch sử dụng phổ tần số vô tuyến điện sẽ được thực hiện quản lý công khai hoá,công bằng khi phân bổ sử dụng

Trang 24

+ Và tất nhiên quy chế quản lý giá cước Viễn thông tốt cũng sẽ là công cụ củaNhà nước để chống độc quyền, đảm bảo cạnh tranh bình đẳng.

Song song với việc thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và chống độc quyền thìNhà nước cần xác định ngày trong thời gian tới những dịch vụ nào sẽ được tự do cạnhtranh, dịch vụ nào sẽ được độc quyền khai thác bởi các doanh nghiệp chủ đạo Có nhưvậy thì các doanh nghiệp mới trong và ngoài nước yên tâm khai thác và có kế hoạchđầu tư lâu dài phù hợp với lợi ích của các doanh nghiệp

1.3 Thực hiện việc phần định rõ giữa kinh doanh và công ích

Dịch vụ công ích (phục vụ và phổ cập) rất quan trọng trong cả môi trường độcquyền và cạnh tranh Nó đảm bảo phát triển kinh tế xã hội trong cả nước kể cả vùngsâu, vùng xa, đem lại những thông tin cơ bản nhất đến cho mọi người dân Do đặc thùcủa thị trường Viễn thông ở Việt Nam từ trước tới nay, nghĩa vụ thực hiện dịch vụcông ích đều do Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam thực hiện thông qua

cơ chế bao cấp chéo

Tuy nhiên với việc tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông thì cơchế đó không còn phù hợp nữa Tại vì Nhà nước quy định rằng tất cả các doanhnghiệp kinh doanh khai thác hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ Viễn thôngđều có nghĩa vụ cung cấp cho các vùng sâu, vùng xa đảm bảo phổ cập dịch vụ khi cóyêu cầu Do vậy việc phân định rạch ròi giữa kinh doanh và công ích là rất quantrọng, nó liên quan đến 2 vấn đề sau:

+ Xác định xem dịch vụ Viễn thông nào là loại hình dịch vụ phổ cập tới mọitầng lớp nhân dân Điều trước mắt điện thoại thuê bao cố định nội hạt và đường dàitrong nước phải được phổ cập Sau đó tuỳ thuộc vào sự phát triển của đất nước, thunhập của dân cư và xác định tiếp các loại dịch vụ cần phổ cập Hiện nay hay trongthời gian tới các dịch vụ có thuê bao cao hơn như Internet, điện thoại thấy hình cónên phổ cập hay không?

+ Các doanh nghiệp thực hiện dịch vụ công ích như thế nào, Chính phủ khôngthể để cho các doanh nghiệp tự thực hiện các dịch vụ công ích được, vì làm như thếthì tất cả các doanh nghiệp mới sau này sẽ chẳng có ai làm công việc đó, mà doanhnghiệp cuối cùng bị khó khăn nhất là Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông ViệtNam Do vậy để thực làm được việc này cũng như đảm bảo được một môi trườngcạnh tranh lành mạnh, khuyến khích được tự do hoá dịch vụ Viễn thông thì Nhà nướccần:

Trang 25

* Làm rõ hai nhiệm vụ kinh doanh và công ích bằng những cơ chế, chính sách

cụ thể Quy định rõ những hoạt động kinh doanh và những hoạt động công ích tronglĩnh vực dich vụ Viễn thông đối với tất cả các doanh nghiệp Hàng năm giao nhiệm

vụ thực hiện dịch vụ công ích (vĩ mô) cụ thể cho các doanh nghiệp

* Lập quỹ phổ cập dịch vụ, quỹ này sẽ do các doanh nghiệp cung cấp dịch vụViễn thông có trách nhiệm đóng góp, mức đóng góp sẽ do Nhà nước quy định phùhợp với quy mô hoặc loại hình doanh nghiệp Quỹ này sẽ được sử dụng để hỗ trợ chocác doanh nghiệp được giao trách nhiệm cung cấp các dịch vụ phổ cập hoặc công ích

mà giá cước của các dịch vụ đó sẽ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ấn đinh

1.4 Tăng cường, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế phục vụ cho phát triển Viễn thông.

Tiếp tục mở rộng quan hệ quốc tế, tăng cường các môi quan hệ quốc tế songphương, mở rộng hợp tác đa phương với các tổ chức quốc tế nhằm huy động mọinguồn lực để phát triển Thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế thu hút được cácnguồn lực tài chính, vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý đào tạo cán bộ

Đẩy mạnh hợp tác song phương nhằm thu hút mạnh mẽ được các nguồn đầu tưtài chính, chuyển giao công nghệ cao hiện đại, đồng thời tìm kiếm thị trường chuẩn

bị cho các công ty Viễn thông Viện Nam mở rộng hoạt động kinh doanh ra nướcngoài khi mà thị trường Viễn thông được tự do hoá, mở cửa cho nhiều công ty nướcngoài vào khai thác

Tích cực tham gia các tổ chức về Viễn thông quốc tế: Liên minh Viễn thôngquốc tế ITU, Liên minh Viễn thông khu vực châu á - Thái Bình Dương - APT, các tổchức vệ Intelsat, Intersputnik và các tổ chức phi Chính phủ khác về Viễn thông vàtần số vô tuyến điện tạo điều kiện pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp Viễn thôngcủa Việt Nam hoạt động trên trường quốc tế, nâng cao vị trí của Viễn thông ViệtNam

Tăng cường và mở rộng quan hệ với các tổ chức tài chính quốc tế và khu vựcnhư: IMF, WB, ADB để huy động vốn phát triển mạng lưới, dịch vụ tại các doanhnghiệp

1.5 Trao quyền đầy đủ hơn cho các doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh dịch vụ Viễn thông.

Trao cho các doanh nghiệp Nhà nước như VNPT, VIETEL, SPT những quyềnhạn đầy đủ trong kinh doanh trong khi vẫn bảo đảm sự kiểm soát của chủ sở hữu Nhànước là một trong những biện pháp giúp cho các doanh nghiệp này mạnh dạn đầu tư, mở

Trang 26

rộng kinh doanh, khuyến khích được sự cạnh tranh công bằng Cụ thể là các doanhnghiệp này phải được quyền quyết định và tự chịu trách nhiệm trong các vấn đề sau:

+ Quyền quyết định chiến lược phát triển; kế hoạch kinh doanh dài hạn vàhàng năm bao gồm cả quyền quyết định đầu tư

+ Quyền quyết định về tài chính, bao gồm quyền huy động vốn theo nguyêntắc tự vay, tự tra; quyền định đoạt tài sản theo nguyên tắc bảo toàn vốn; quyền trảcông và phân phối lợi nhuận sau thuế

+ Quyền quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ quản lý chủ chốt trongdoanh nghiệp

Đối với Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam trong thời gian trướcmắt khi chưa thực hiện cổ phần hoá thì:

* Bỏ hội đồng quản trị mà chỉ duy trì ban điều hành: Tổng giám đốc và cácphó tổng giám đốc thay mặt Nhà nước điều hành hoạt động kinh doanh của Tổngcông ty

* Nếu vẫn duy trì hội đồng quản trị, thì giao cho hội đồng quản trị có quyềnbầu ra tổng giám đốc hoặc thuê tổng giám đốc điều hành

Còn trong quá trình thực hiện chiến lược khi mà tổng công ty được cổ phầnhoá thì Nhà nước nắm cổ phần chi phối thì lúc đó hội đồng quản trị sẽ do đại hội cổđông bầu ra, và ban điều hành bao gồm tổng giám đốc và các phó tổng giám đốc sẽ

do hội đồng quản trị bầu ra hoặc là thuê ở các công ty quản lý

1.6 Tiếp tục khuyến khích thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ Viễn thông

Mở rộng các hình thức đầu tư nước ngoài khác hợp đồng hợp tác kinh doanhBCC như liên doanh JV,BOT, BTO trong lĩnh vực dịch vụ Viễn thông, đòi hỏi phảitạo ra môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư, để các nhà đầu tư tự hiểu đầu tư vàolĩnh vực dịch vụ Viễn thông là an toàn vốn và sinh lời từ vốn Để thực hiện được việchuy động vốn từ đầu tư trực tiếp nước ngoài với các hình thức nêu trên, điều đầu tiênphải xem xét các trở ngại, khó khăn để từ đó có những giải pháp khắc phục

Những trở ngại khó khăn:

+ Chưa có quy hoạch phát triển kinh tế tổng thể và dựa vào những luận cứ

khoa học thực tiễn đầy đủ Đến nay, chưa thể nói chúng ta đã nắm vững các nguồnlực phát triển của mình,nguồn lực được xem xét trong mối tương quan cần thiết giữakhối lượng cần thiết và tiềm năng, chất lượng, cơ cấu và mối ràng buộc giữa chúng

Ngày đăng: 04/10/2013, 13:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ III. cơ cấu tổ chức của Tổng công ty bưu chính Viễn thông Việt Nam (Tham khảo). - chiến lược tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông Việt Nam trước xu thế hội nhập  quốc tế
c ơ cấu tổ chức của Tổng công ty bưu chính Viễn thông Việt Nam (Tham khảo) (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w