NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG Á CHÂU – CHI NHÁNH SÀI GÒN Để góp phần giúp hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam có thể hạn chế rủi ro trong
Trang 1NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG Á CHÂU – CHI NHÁNH SÀI GÒN
Để góp phần giúp hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam có thể hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh và để hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam tồn tại, hoạt động và phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế thị trường, nhất là trong giai đoạn hiện nay, đất nước tài sản đang trong xu hứơng “khu vực hoá” “toàn cầu hoá” và chuần bị gia nhập WTO, những cơ quan hữu quan phải phát huy tích cực và nhanh chóng vai trò của mình tạo một môi trường pháp lý thông thoáng và mang tính hỗ trợ thuận lợi cho hệ thống ngân hàng Việt Nam trong hoạt động kinh doanh và cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài
3.1 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT THUỘC TẦM QUẢN LÝ VĨ MÔ
CỦA NHÀ NƯỚC.
_ Nhà nước cần sớm ban hành và hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động kinh doanh và phát triển nghiệp vụ của các ngân hàng thương mại Cụ thể là cần mở rộng việc cấp tín dụng cho hộ kinh tế tư nhân (KTTN) Vì kinh
tế tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, là bộ phận hợp thành hữu cơ quan trọng của nền kinh tế đất nước và ngày càng tỏ rõ sự năng động cũng như tính hiệu quả của nó trong nền kinh tế thị trường Năm
1995, khu vực kinh tế tư nhân chỉ mới nhận được vốn từ hệ thống ngân hàng là 18.198 tỉ đồng; đến năm 1999 lưu lượng vốn đạt được 44.873 tỉ đồng, tăng 146% so với năm 1995; trong khi đó, tín dụng cho doanh nghiệp Nhà nước chỉ tăng 73% Đến năm 1997, 1998, 1999 tỉ trọng vốn tín dụng cho khu vực KTTN trong tổng số vốn tín dụng cho các khu vực kinh tế khoảng 46% và từ năm 2000 - 2003 tỉ trọng này đã tăng lên đáng kể (năm 2000: 55,7%; năm 2001: 57,8%; năm 2002: 61,3%; năm 2003: 64,5% ; năm 2004 : 65,8%)
Tuy nhiên, hiện nay KTTN đang gặp phải một cản trở rất lớn đến sự phát triển sản xuất kinh doanh và là hiện tượng phổ biến đối với toàn bộ các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN đó là tình trạng thiếu vốn để sản xuất và
Trang 2mở rộng sản xuất Thực tế những năm gần đây, số doanh nghiệp có vốn sử dụng dưới 10 tỷ đồng chiếm 94,93%, bình quân vốn thực tế sử dụng một doanh nghiệp là 3,7 tỷ đồng Lao động bình quân của doanh nghiệp tư nhân
là 26 người Mức trang bị tài sản cố định trên 1 lao động của doanh nghiệp
tư nhân chỉ có 34,7 triệu đồng Chỉ tiêu hiệu quả của doanh nghiệp tư nhân rất thấp, tỷ suất lợi nhuận/ vốn rất thấp quá xa so với lãi suất ngân hàng, đặc biệt là của khu vực hộ cá thể còn thấp hơn nữa, chủ yếu là gia công (nếu sản xuất) hoặc đại lý (nếu bán hàng) nên lấy công làm lãi là chính Điều này chứng tỏ khả năng tích tụ và huy động vốn của KTTN trong toàn xã hội còn thấp
Lượng vốn tự có của các doanh nghiệp chỉ đáp ứng từ 20% đến 30% yêu cầu Các doanh nghiệp thiếu vốn dẫn đến việc họ không có điều kiện đầu tư khoa học công nghệ hiện đại Nhiều nhà doanh nghiệp ban đầu có ý định phát triển sản xuất nhưng do thiếu vốn nên đã gặp nhiều khó khăn lúng túng trong việc triển khai và nhiều khi họ phải hủy bỏ hợp đồng đã ký với đối tác Điều đó giải thích tại sao khu vực KTTN thường tập trung vào lĩnh vực thương mại dịch vụ, những ngành nghề đòi hỏi vốn ít, thời gian thu hồi vốn nhanh, thu lãi ngay chứ chưa đủ sức đầu tư vào những ngành nghề, lĩnh vực quan trọng đòi hỏi nhiều vốn, có công nghệ tiên tiến
Mặc dù khu vực kinh tế tư nhân vay vốn ngân hàng ngày càng tăng, nhưng nhìn chung việc tiếp cận vốn từ khu vực ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn còn không ít khó khăn
Một vấn đề cần quan tâm và lưu ý ở đây là Nhà nước chưa quan tâm
hỗ trợ đúng mức đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ; kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể còn khó tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước và vốn tín dụng của ngân hàng thương mại Nhà nước”
Để phần nào khắc phục được tình hình trên về tín dụng để khu vực KTTN phát triển, phát huy vai trò tích cực trong nền kinh tế nước ta thì theo
em cần có một số giải pháp như sau:
+Thứ nhất, phải xoá bỏ mặc cảm về thành phần kinh tế; nghiên cứu bỏ cụm từ: “thành phần kinh tế” Các đơn vị thuộc khu vực KTTN, đặc biệt là kinh tế hộ và cá thể phải tự mình tìm giải pháp thoát ra khỏi cảnh thiếu thốn,
Trang 3đói nghèo và thực hiện các biện pháp tạo vốn, đầu tư mở rộng sản xuất -kinh doanh theo hướng nâng cao năng suất và chất lượng
+Thứ hai, Nhà nước cần hoàn thiện cơ sở pháp lý để:
* Tạo sân chơi bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế, tạo cho khu vực KTTN (trong đó có các doanh nghiệp) được bình đẳng trong việc tiếp cận vốn, bình đẳng về lãi suất (trong đó có ưu đãi cho diện chính sách xã hội)
* Xem xét về chính sách thuế hiện tại, có thể áp dụng biểu thuế suất luỹ tiến từng phần, đối với thuế thu nhập doanh nghiệp Mở rộng diện ưu đãi đối với các doanh nghiệp mới thành lập; thực hiện chính sách thuế ưu đãi trong xuất khẩu; tiếp tục cải cách hành chính về thuế theo hướng đơn giản,
rõ ràng, tạo thuận lợi cho các đơn vị ngoài quốc doanh
* Tạo cơ sở pháp lý để khu vực KTTN đảm bảo các điều kiện vay vốn ngân hàng và trên cơ sở đó ngân hàng yên tâm cho vay vốn
* Tiến hành sắp xếp lại để các đơn vị thuộc khu vực KTTN, trong đó
có các doanh nghiệp vừa và nhỏ lành mạnh về tổ chức, về tài chính, đủ điều kiện về hạch toán kế toán, thống kê Thực hiện tốt việc kiểm soát nội bộ, tiến tới thực hiện kiểm toán độc lập theo định kỳ qua đó tạo sự minh bạch với
xã hội và lòng tin đối với ngân hàng và nhà đầu tư
* Có biện pháp giảm thiểu tối đa tình trạng hình sự hóa quan hệ tín dụng sẽ là điều kiện để các ngân hàng tăng cường cho các đối tượng của KTTN vay vốn có thế chấp hoặc tín chấp
+Thứ ba, các ngân hàng thương mại một mặt mở rộng kinh doanh đến mọi đối tượng thuộc khu vực KTTN, đặc biệt chú trọng khu vực nông nghiệp
và nông thôn; vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để mọi người, mọi đơn vị dễ tiếp cận với vốn ngân hàng Mặt khác, cần có chính sách đào tạo
và đào tạo lại nhằm cập nhật nâng cao kiến thức trình độ cho cán bộ, nhân viên Đặc biệt cần nâng cao trình độ thẩm định các dự án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó làm cơ sở để ngân hàng cho vay vốn có hiệu quả
+Thứ tư, làm mạnh mẽ hơn cải cách hành chính theo hướng đơn giản hóa thủ tục để các đối tượng có thể vay vốn một cách nhanh chóng, kịp thời
Trang 4triển khai các phương án hoạt động sản xuất kinh doanh Mặt khác, cần tăng cường các dịch vụ thanh toán, bảo lãnh, tư vấn cho KTTN
+Thứ năm, thúc đẩy nhanh việc triển khai hoạt động các quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
+Thứ sáu, hoàn thiện chính sách kế toán, kiểm toán như: xây dựng chuẩn mực kế toán doanh nghiệp Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế; bổ sung, sửa đổi để hoàn thiện Chế độ kế toán đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Việc dỡ bỏ những vướng mắc giữa ngân hàng và KTTN, khai thông thế bế tắc của tình trạng “đơn vị thiếu vốn, trong khi ngân hàng không cho vay được” sẽ là một yếu tố quan trọng thúc đẩy KTTN phát triển, đóng góp nhiều hơn nữa vào công cuộc CNH - HĐH của đất nước
Duy trì nền kinh tế phát triển ổn định, vững chắc;Khuyến khích việc hình thành và phát triển các thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán tạo tiền đề thúc đẩy cải tiến và đổi mới công nghệ ngân hàng Việt Nam, từng bước hội nhập vào nền tài chính thế giới
_ Thực tế có hiện tượng lập hồ sơ tài sản đảm bảo được công chứng giả để đi vay tiền ở nhiều ngân hàng khác nhau, đến khi sự việc đổ bể ngân hàng không thể thu hồi được vốn cho vay Bên cạnh đó là hiện tượng trốn thuế, gian lận thuế, nhất là thuế VAT, thuế xuất nhập khẩu…
Những hiện tượng trên sẽ là những rủi ro rất lớn cho ngân hàng nếu như những khách hàng vay vốn ngân hàng có dính liếu tới hiện tượng trên
Do đó, chính phủ, ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại phải phối hợp với nhau thực hiện công tác phòng chống nguy cơ rủi ro Có thể là các ngân hàng có biện pháp thống nhất như không chấp nhận cầm cố giấy
tờ công chứng làm biện pháp đảm bảo cho tài sản cho vay Hay có thể nghĩ đến việc thiết lập một hệ thống mạng vi tính liên thông giữa các ngân hàng với nhau nhằm loại trừ tất cả những tình huống gian lận của những chủ thể
đi vay Và nhà nước có thể ban hành một khung hình phạt nặng nề đối với những ai có hành vi cố tình lừa đảo để vay tiền ngân hàng
_ Cần ban hành chế độ kiểm toán bắt buộc, trước mắt là các doanh nghiệp lớn, các dự án lớn cần phải tiến hành công tác kiểm toán bắt buộc,
Trang 5cung cấp thông tin giữa ngân hàng và các cơ quan nhà nước, áp dụng kỷ luật trong lập báo cáo và cung cấp thông tin
_ Nhà nước nên tạo điều kiện tăng cường và mở rộng hoạt động của ngành bảo hiểm Cần phải đa dạng hoá các sản phẩm của ngành bảo hiểm góp phần hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, chẳng hạn như bảo hiểm tiền gửi, bảo hiểm tiền vay, bảo hiểm tài sản đảm bảo nợ vay
và bảo hiểm cho chính những khoản vay của các ngân hàng Mặt khác, phải
có những quy định bắt buộc các ngân hàng thương mại và khách hàng tham gia bảo hiểm cho những khoản tín dụng có rủi ro cao
_ Cho phép các ngân hàng tự bán các tài sản đảm bảo để xử lý nợ quá hạn không phải qua trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản khi có sự thoả thuận giữa ngân hàng và bên bảo đảm trong việc xử lý nợ quá hạn Dĩ nhiên
là sự cấp phép này vẫn phải đảm bảo được quyền lợi của khách hàng, có thể quy định là trong khoảng thời gian bao lâu sau khi người vay không thể hoàn trả món nợ thì ngân hàng mới được tự bán các tài sản đảm bảo để xử
lý nợ, tài sản đem bán phải được định giá một cách chính xác theo giá thị trường vào thời điểm đem bán
_ Chính phủ cần có chính sách khuyến khích và hỗ trợ các ngân hàng thương mại trong việc hiện đại hoá công nghệ ngân hàng nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới của nền kinh tế đất nước Chẳng hạn như nhà nước có những chính sách ưu đãi về đầu tư trong nước, về đầu tư hiện đại hoá kỹ thuật công nghệ để phát triển các dịch vụ ngân hàng quan trọng và cần thiết, cho ngân hàng thương mại vay vốn dài hạn để đầu tư, nâng cấp hệ thống thông tin liên thông giữa các ngân hàng, cho phép tăng vốn điều lệ hoặc cấp vốn cho ngân hàng thương mại đầu tư công nghệ hiện đại
3.2 ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC.
Ngân hàng nhà nước cần phải nhanh chóng hoàn thiện các quy chế, thể lệ cũng như những luật lệ liên quan đến các hoạt động của ngân hàng, phải tạo một môi trường pháp lý thuận lợi để các tổ chức tín dụng hoạt động
Trang 6Ngân hàng nhà nước cần giải quyết những vấn đề sau:
- Thống đốc ngân hàng nhà nước cần ban hành những chỉ thị để
bổ sung và khắc phục kịp thời một số điều cần sửa đổi liên quan đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhằm đáp ứng kịp thời nhanh chóng nhu cầu của khách hàng
- Củng cố, đồng thời tăng cường các quy chế quản lý kinh doanh tiền
tệ Đây là một việc rất cần thiết vì quy chế kinh doanh tiền tệ là một hệ thống đảm bảo an toàn cho vay, chúng quán triệt trong tất cả hoạt động của tất cả các ngân hàng, là định hướng cho các tác nghiệp của ngân hàng
- Hoàn thiện các quy chế về cầm cố, thế chấp, bảo lãnh vay vốn ngân hàng Quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan hành chính trong các công việc liên quan đến thế chấp,cầm cố như quản lý tài sản, quản lý đất đai, quản lý vốn…
- Đưa ra những chuẩn mực đánh giá chất lượng tín dụng,trong đó có tiêu chuẩn về đảm bảo tiền vay để từ đó đề ra mức rủi ro cho phép đối với mỗi ngân hàng
- Hình thành và sử dụng các quỹ dự phòng bù đắp rủi ro một cách hợp
lý và phù hợp với tình hình thực tiễn nước ta
- Đẩy mạnh hơn nữa hoạt động của Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) Sau hơn 10 năm thành lập, CIC đã đạt được một số thành tựu quan trọng, góp phần hạn chế được rủi ro tín dụng cho các ngân hàng thương mại, nhưng vẫn còn những mặt hạn chế cần khắc phục:
Tính chính xác, đầy đủ, kịp thời của thông tin chưa cao
Chưa thu thập được dư nợ của khách hàng vay tại các tổ chức như Kho bạc nhà nước, Quỹ hỗ trợ đầu tư
Việc thu thập thông tin tài chính của doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn
Để khắc phục những hạn chế, CIC cần phải:
Đẩy nhanh mạnh việc áp dụng khoa học công nghệ trong hoạt động thông tin tín dụng đối với tất cả các khâu: thu thập, xử lý, phân tích, dự báo và cung cấp thông tin
Trang 7 Hoàn thiện tổ chức bộ máy và cán bộ của Trung tâm thông tin tín dụng, tăng cường nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Phối hợp với Ngân hàng nhà nước và các tổ chức tín dụng, các tổ chức thông tin trong và ngoài nước để nâng cao chất lượng thông tin Ngân hàng nhà nước cần phải tăng cường kiểm tra, giám sát đối với các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng, thực hiện thường xuyên công tác thanh tra kiểm soát dưới nhiều hình thức để kịp thời phát hiện và ngăn chặn những vi phạm tiêu cực trong hoạt động tín dụng, kịp thời phát hiện và khắc phục rủi ro, lành mạnh hoá các ngân hàng thương mại, đưa hoạt động tín dụng của ngân hàng vào đúng quỹ đạo pháp luật
Mở rộng đối tượng cho vay ngọai tệ để thanh tóan hàng nhập khẩu,
mở rộng cho vay các doanh nghiệp xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước
có thanh tóan hàng hóa đối với các doanh nghiệp trong khu chế xuất Cần có
cơ chế cho vay đặc thù đối với các doanh nghiệp trong khu chế xuất – khu công nghiệp
Ngân hàng Nhà Nước nghiên cứư trình Quốc hội đưa vào luật các tổ chức tín dụng nội dung quyền được trực tiếp phát mãi tài sản của bên cho vay trong quá trình thu hồi nợ
Tóm lại, trong quá trình hội nhập của nước ta hiện nay Chính phủ và ngân hàng Nhà nước với vai trò và nhiệm vụ của mình phải kết hợp với nhau thành một thể thống nhất thực hiện các giải pháp trên nhằm góp phần hạn chế rủi ro trong họat động kinh doanh của hệ thống Ngân hàng thương mại đồng thời ghúp các Ngân hàng thương mại Việt Nam đứng vững trong cạnh tranh và ngày càng phát triển
3.3 NHỮNG GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU.
3.3.1.Tăng cường các biện pháp phù hợp để xử lý và thu nợ quá hạn, nợ có vấn đề:
Khi có khỏan nợ chuyển sang nợ qúa hạn, ngân hàng cần thường xuyên đôn đốc khách hàng trả nợ đồng thời tìm hiểu nguyên nhân tại sao khách hàng không trả được nợ đúng hạn và thái độ của khách hàng như thế
Trang 8nào? Biết được nguyên nhân, Ban xử lý nợ cần có những biện pháp phù hợp tạo điều kiện cho khách hàng khôi phục khả năng trả nợ:
Nếu khách hàng đang gặp tình trạng khó khăn tạm thời về tài chính hay tình hình họat động sản xuất kinh doanh, chẳng hạn như: thua lỗ do giá thị trường biến động ngòai dự kiến, sản lượng và doanh thu đạt mức thấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc do ngân hàng định kỳ hạn trả nợ không đúng với chu kỳ kinh doanh Ngân hàng có thể gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ, hay giản nợ cho khách hàng hoặc tham gia tư vấn góp phần giúp khách hàng tháo gỡ khó khăn Trong những trường hợp đặc biệt, Ngân hàng có thể “tiếp sức giúp khách hàng vượt cạn” Nhưng truờng hợp này, Ngân hàng phải hiểu rất rõ về tình hình hiện tại của khách hàng thì mới áp dụng cách xử lý này Sau khi thoát khỏi khó khăn, khách hàng sẽ khôi phục khả năng trả nợ và sẽ có mối quan hệ lâu dài với Ngân hàng – ân nhân của mình
Ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng gia tăng thêm tài sản đảm bảo Mặc dù tài sản đảm bảo không phải là nguồn thu nợ chính nhưng trong trường hợp không thu được nợ thì tài sản bảo đảm sẽ góp phần khắc phục những thiệt hại của ngân hàng Tuy nhiên việc thanh lý tài sản đảm bảo trên thị trường không phải là dễ, nhất là những tài sản có giá trị lớn
Khách hàng không trả được nợ do những nguyên nhân mất khả năng thanh tóan, có biểu hiện vi phạm pháp luật như lừa đảo, sản xuất kinh doanh trái ngành nghề đăng ký… thì ngân hàng cần phải có những biện pháp mạnh
để thu hồi nợ:
Phát mãi tài sản đảm bảo
Xem xét các yếu tố liên quan đến nguồn tiền mặt để có giải pháp thu nợ thích hợp Chẳng hạn, buộc khách hàng bán những sản phẩm hàng hóa dễ thu tiền mặt… tìm cách tăng khả năng thanh khỏan của khách hàng tạo điều kiện trả nợ cho ngân hàng
Ngân hàng tiến hành kiện ra tòa đối với những khỏan nợ không còn biện pháp thu hồi
Đối với những khỏan vay có vấn đề nghĩa là chưa đến hạn trả nợ nhưng ngân hàng phát hiện khách hàng có nguy cơ không trả được nợ
Trang 9thì ngân hàng cần tiến hành giám sát, theo dõi những khỏan vay ấy một cách thường xuyên, nhắc nhở và đôn đốc trách nhiệm trả nợ của khách hàng, yêu cầu tăng thêm vốn đầu tư của chủ sở hữư Trường hợp ngân hàng có bằng chứng chứng minh khách hàng không cón khả năng trả
nợ thì có thể áp dụng các biện pháp trên để thu hồi nợ
Những dấu hiệu mà cán bộ tín dụng có thể thấy rủi ro đang phát sinh đối với những khỏan vay đó:
• Khách hàng chậm trễ trong việc nộp các báo cáo tài chính
• Thay đổi kế họach kinh doanh một cách đột ngột
• Không thực hiện đúng các điều khỏan ký trong hợp đồng
• Liên tục yêu cầu ngân hàng hõan nợ
• Chậm trễ trong việc thanh tóan cho nhà cung cấp, cho các chủ
nợ khác, trả lương cho nhân viên
• Bán tài sản một cách bất thường
• Tránh gặp mặt nhân viên ngân hàng khi đến kỳ thu nợ
Khi ngân hàng phát hiện ra những dấu hiệu trên phải tiến hành kiểm tra, giám sát những khoản cho vay ấy kỹ càng đồng thời vạch ra biện pháp phù hợp và kịp thời để thu hồi nợ hạn chế rủi ro
3.3.2 Đa dạng hóa danh mục đầu tư tín dụng để phân tán rủi ro.
Đa dạng hóa danh mục tín dụng theo khách hàng, theo ngành nghề, theo sản phẩm tín dụng Vì khách hàng khác nhau, ngành nghề khác nhau, sản phẩm tín dụng khác nhau đều thể hiện mức độ rủi ro khác nhau
Ngân hàng cần so sánh danh mục tín dụng với chiến lược tín dụng cần đạt được Không thể nào triệt tiêu rủi ro vĩnh viễn, chỉ có thể chấp nhận rủi ro ở mức thấp nhất so với mục tiêu đề ra và phải đạt được
Ngân hàng phải giám sát và phân tích danh mục tín dụng để phát hiện xem có hiện tượng tập trung danh mục tín dụng hay không để có biện pháp phân tán nhằm giảm thiểu rủi ro Vì nếu danh mục tập trung càng nhiều khỏan tín dụng có rủi ro cao thì khả năng gây thất thoát cho ngân hàng càng lớn
Trang 10Ngân hàng có thể hạn chế rủi ro do tập trung tín dụng trong danh mục bằng cách đánh giá thường xuyên rủi ro trong từng thị trường , từng ngành nghề , từng vị trí địa lý, từng sản phẩm, hình thức thế chấp đảm bảo, lọai tiền tệ…để có được cái nhìn về mức độ rủi ro trong danh mục và có hướng đầu tư phù hợp đảm bảo duy trì một danh mục tín dụng đa dạng hóa hạn chế thấp nhất rủi ro phù hợp với mục tiêu cần đạt
Khi phát hiện có hiện tượng tập trung tín dụng, ngân hàng cần tiến hành một số biện pháp để giảm bớt sự tập trung:
Tăng lãi suất đối với khách hàng vay có tập trung tín dụng
Yêu cầu tăng thêm tài sản đảm bảo đối với khách hàng vay có tập trung tín dụng
Sử dụng biện pháp cho vay hợp vốn, cho vay đồng tài trợ để giảm bớt
sự tập trung vốn tín dụng vào một ngành nghề, một khu vực kinh tế, một nhóm khách hàng nhất định
Không tiếp tục cấp tín dụng, không gia hạn để giảm dần dư nợ cho vay ở lĩnh vực đang có hiện tượng tập trung tín dụng
3.3.3 Tăng cường công tác thẩm định khách hàng, thẩm địng tài sản đảm bảo nợ vay.
Ngân hàng cần nâng cao khả năng thu thập và phân tích thông tin của nhân viên tín dụng Khi thẩm định khách hàng, cán bộ tín dụng cần có một lượng thông tin đủ và chính xác để phân tích một cách chính xác về khách hàng Thông tin có thể lấy trực tiếp từ người vay, khách hàng của người vay, đối thủ cạnh tranh của người vay, từ hàng xóm láng giềng của người vay, từ CIC, …
Cán bộ tín dụng cần phải tới thăm trụ sở, nhà xưởng, cơ sở sản xuất của khách hàng để trực tiếp thấy được tình hình hiện tại, tiềm năng tương lai, nhu cầu tài chính và tư cách của khách hàng mà mình sẽ hoặc đang có quan hệ tín dụng Công việc này rất quan trọng và thiết thực vì nó giúp cho cán bộ tín dụng bằng khả năng nghiệp vụ của mình có thể cảm nhận được mức độ rủi ro của khỏan cho vay