Phân tích thực trạng quan hệ kinh tế -thơngmại Việt Nam-Nhật Bản trong những năm Quan hệ giữa hai nớc Việt Nam-Nhật Bản thời kì từ sau chiến tranh thế giớithứ hai đến trớc năm 1987 có t
Trang 1Phân tích thực trạng quan hệ kinh tế -thơngmại Việt Nam-Nhật Bản trong những năm
Quan hệ giữa hai nớc Việt Nam-Nhật Bản thời kì từ sau chiến tranh thế giớithứ hai đến trớc năm 1987 có thể chia làm hai giai đoạn: trớc và sau khi ViệtNam thiết lập quan hệ ngoại giao với Nhật
1.1Thời kì tr ớc năm 1973.
Tháng 9-1951, Nhật Bản đã kí hiệp định hoà bình với 48 quốc gia, trong số
đó có chính phủ Bảo Đại do Pháp bảo trợ nhng không có đại diện nào từ chínhphủ của Việt Nam dân chủ cộng hoà Vào thời điểm này, Nhật Bản đã bình th-ờng hoá quan hệ với chính phủ Bảo Đại và chỉ có những mối quan hệ khôngchính thức với Bắc Việt Nam Đây là sự khởi đầu chính sách của Nhật Bản đốivới Việt Nam và kéo dài đến năm 1973 Ban đầu, buôn bán giữa Nhật Bản vớiViệt Nam phải thực hiện gián tiếp thông qua trung gian và đến năm 1958, chínhphủ Nhật mới cho phép buôn bán trực tiếp Bất chấp sự do dự hay cản trở củachính phủ Nhật và sức ép của Mỹ, những quan hệ thơng mại của Nhật với BắcViệt Nam vẫn đợc duy trì chủ yếu nhờ vào những cố gắng của chính phủ ViệtNam và của các công ty t nhân Nhật Bản thuộc hội mậu dịch Việt-Nhật Tổngkim ngạch buôn bán giữa hai nớc có xu hớng tăng vào đầu những năm 1960 doViệt Nam bắt đầu kế hoạch kinh tế 5 năm lần thứ nhất Giữa những năm 1960,việc Mỹ ném bom miền Bắc đã làm giảm phần lớn lợng hàng hoá buôn bán giữahai nớc Từ 1968 đến 1972, tổng kim ngạch ngoại thơng giữa hai nớc tăng giảmthất thờng do mỹ tiếp tục bắn phá miền bắc vào những năm 1970, 1972 Tuynhiên, thơng mại giữa hai nớc còn khiêm tốn cả về giá trị và qui mô
Trang 21.2 Thời kì từ năm 1973 đến năm 1987.
Việc kí kết hiệp định hoà bình Paris vào tháng giêng năm 1973 đã mở ra mộtthời kì mới trong chính sách của Nhật đối với các nớc Đông Nam á, trong đó cóViệt Nam Vào thời điểm nay, quan hệ hợp tác giữa Nhật Bản và Mỹ về vấn đề
Đông Dơng đã không còn tồn tại, cùng với xu thế chuyển sang đối thoại của cácnớc trên thế giới và trong khu vực, Nhật Bản chuyển sang bình thờng hoá quan
hệ với một số nớc ở Châu á và Việt Nam Nhật coi các nớc Châu á có tầm quantrọng hơn trong chính sách ngoại giao và thừa nhận rằng, ASEAN sẽ là một tổchức có vai trò quan trọng trong việc khuyến khích hợp tác khu vực
Ngày 21/ 9/1973 dã đánh dấu việc thiết lập mối quan hệ ngoại giao chínhthức giữa Việt Nam và Nhật Bản Quan hệ kinh tế giữa hai nớc phát triển mộtcách đáng kể trong thời kì 1973-1975 Sau một năm gián đoạn, tháng 4/ 1973,Nhật Bản lại tiếp tục nhập khẩu than Hòn Gai Việt Nam không chỉ quan tâm
đến hàng hoá mà cả công nghệ của Nhật Cùng với triển vọng phát triển về
th-ơng mại, nhu cầu trao đổi khoa học kĩ thuật giữa Nhật Bản và Việt Nam cũngtăng lên Năm 1976, nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật đã đứng thứ hai sau LiênXô trong số các nớc xuất khẩu vào Việt Nam Trong thời gian từ 1976 đến 1978,giữa hai nớc đã kí đớc những hợp đồng có giá trị lớn về các khoản cho vay củaNhật, hợp đồng nhập khẩu thép, mua máy kéo, động cơ thuyền và những mặthàng khác của Việt Nam Đây là thời kì đầy hứa hẹn và lạc quan về các quan hệthơng mại và kinh tế giữa Nhật Bản và Việt Nam
Đến những năm 1978-1980, do những bất đồng trong việc giải quyết các vấn
đề ở Đông Dơng và của số nớc trên thế giới đã ảnh hởng đến quan hệ ngoại giaocũng nh chính trị, kinh tế, thơng mại giữa hai nớc Tình hình buôn bán gặp một
số cản trở nên giảm mạnh cả về giá trị lẫn cơ cấu Kim ngạch ngoại thơng từnăm 1979 đến năm 1982 liên tục giảm từ 166 triệu USD năm 1979 xuống còn
128 triệu USD năm 1982
Vào những năm cuối của giai đoạn này, mặc dù hai nớc vẫn cha đạt đợc sựnhất trí trong lĩnh vực chính trị nhng quan hệ buôn bán có dấu hiệu khả quanhơn và bắt đàu tăng trở lại Các mặt hàng xuất nhập khẩu giữa hai nớc thời kìnày bao gồm lơng thực, nhiên liệu, nguyên liệu,sản phẩm công nghiệp nhẹ, máymóc, hàng hoá đã chế biến với tổng kim ngạch năm 1985 là 216 triệu USD vàtăng lên 272 triệu USD vào năm 1986
Nh vậy có thể thấy, trớc năm 1987 quan hệ thơng mại giữa hai nớc vẫn đợcduy trì nhng không ổn định và còn ở mức độ thấp Việt Nam đã cố thuyết phụccác nớc trong đó có Nhật Bản áp dụng nguyên tắc tách các vấn đề chính trị ra
Trang 3khỏi các vấn đề kinh tế nhng không đợc các nớc chấp thuận Vì vậy những bất
ổn về chính trị là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự không ổn định trong quan hệbuôn bán giữa Việt Nam và Nhật Bản Thời kì này, Việt Nam thờng bị thiếu hụttrong cán cân thơng mại với Nhật (trừ hai năm 1973 và 1974) bởi vì, Việt Namnhập khẩu từ Nhật Bản máy móc, thiết bị, thực phẩm, nhiên liệu, quần áo, quặngphi kim loại, hoá chất và các sản phẩm hợp kim trong khi đó chỉ xuất khẩu sangNhật các sản phẩm nông nghiệp với giá trị còn nhỏ bé, chất lợng cha cao
2 Thời kì từ 1987 đến nay
Quan hệ kinh tế Việt Nam-Nhật Bản trong thập kỷ 90 đã có sự gia tăng cả vềlợng cũng nh về chất Nhật Bản đã trở thành nhà cung cấp ODA và là bạn hàngthơng mại lớn nhất của Việt Nam, đồng thời là một trong ba nhà đầu t hàng đầu
ở Việt Nam Có đợc sự chuyển biến trên là do tác động tổng hợp của nhiều nhân
tố, trong đó phải kể đến các nhân tố nh sự chuyển đổi nền kinh tế của Việt Nam
từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa;
sự chuyển hớng trong chính sách kinh tế đối ngoại của Nhật Bản, ngày càngxem trọng khu vực Đông Nam á -nơi cung cấp nguyên nhiên vật liệu và là thịtrờng gần gũi của Nhật Bản; sự tác động của bối cảnh quốc tế, trong đó nổi bật
là xu thế toàn cầu hoá Có thể nói trớc cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu
á, quan hệ kinh tế Việt Nam-Nhật Bản ngày càng đợc mở rộng Sau cuộc khủnghoảng này, quan hệ kinh tế Việt Nam-Nhật Bản đã có biểu hiện chững lại, thậmchí suy giảm trong một số chỉ tiêu Điều này sẽ đợc phản ánh cụ thể trong phầnphân tích thực trạng quan hệ kinh tế-thơng mại Việt Nam-Nhật Bản
iI Phân tích thực trạng quan hệ kinh tế-thơng mại ViệtNam- Nhật Bản
1 Đầu t và chuyển giao công nghệ.
Đầu t nớc ngoài là một trong những hình thức quan trọng trong quan hệ kinh
tế đối ngoại giữa các quốc gia nói chung và trong quan hệ Việt Nam- Nhật Bảnnói riêng Do điều kiện kinh tế, khu vực t nhân của Việt Nam cha đủ tiềm lực để
đầu t sang thị trờng Nhật Bản, vì vậy, chúng ta chỉ đề cập đến quan hệ đầu t mộtchiều, từ Nhật Bản sang Việt Nam
Trong quan hệ kinh tế Việt Nam-Nhật Bản, đầu t trực tiếp ( FDI) từ Nhậtsang Việt Nam đợc bắt đầu từ năm 1989 So với các đối tác khác, Nhật Bản là
Trang 4ngời đầu t sau vào Việt Nam Tuy vậy mức đầu t của Nhật qua các năm đều tăng
và luôn đứng vào nhóm các quốc gia có lợng vốn đầu t lớn nhất ở Việt Nam
Đặc điểm chung
Nhờ thực hiện đờng lối đổi mới với chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá,
đa phơng hoá quan hệ quốc tế trên tinh thần muốn làm bạn với tất cả các nớc nêntrong những năm qua, Việt Nam đã tranh thủ đợc các nguồn lực từ bên ngoài phục
vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nớc, trong đó nguồn đầu t trực tiếp nớcngoài của Nhật Bản đã đóng góp đáng kể vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựngcác ngành công nghiệp của Việt Nam
Do tình hình kinh tế suy thoái sau một thời gian dài tăng trởng nhanh, nềnkinh tế Nhật Bản đã vấp phải rất nhiều khó khăn trong việc tiếp tục duy trì và ổn
định Điều này đã phần nào tác động đến tình hình đầu t ra nớc ngoài của NhậtBản nói chung Mặc dù có những khó khăn về nguồn vốn huy động cho đầu t vàsản xuất nhng trong giai đoạn 1991-1997, nhng trong tiến trình đầu t vào ViệtNam, lợng vốn và qui mô của các dự án vẫn ngày một tăng lên Thế nhng, nhìnchung đầu t của Nhật Bản vào Việt Nam vẫn cha tơng xứng với sức mạnh tàichính của Nhật Bản và nhu cầu phát triển kinh tế của cả hai quốc gia Nó khôngchỉ thấp về tổng số vốn đầu t mà còn nhỏ bé cả về số lợng dự án
Chẳng hạn, giai đoạn1991-1994, đầu t nớc ngoài của Nhật Bản vào Việt Namchỉ chiếm 5% so với tổng vốn FDI vào Việt Nam Các dự án đầu t thời kì nàymang tính chất thăm dò, khảo sát trong các ngành cơ khí, chế biến thực phẩm vàkhách sạn Nguyên nhân chính là Nhật Bản vẫn còn trong giai đoạn xem xét vàthăm dò thị trờng Việt Nam, đa số các dự án có vốn đầu t nhỏ nhng lại sử dụngnhiều lao động Điều này chứng tỏ các nhà đầu t Nhật Bản quan tâm rất nhiều
đến nguồn lao động rẻ và sẵn có của Việt Nam
Tháng 1/1992, một đoàn điều tra hợp tác kinh tế của chính phủ Nhật đã đợc
cử sang Việt Nam để góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế nói chung và đầu t nóiriêng Mặt khác, những thành tựu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam trongnhững năm trớc đó đã tạo thêm niềm tin cho các nhà đầu t Nhật Bản
Tính đến giữa năm 1992, đầu t của Nhật Bản vào Việt Nam với tổng số dự án
là 24 và tổng số vốn khoảng 160 triệu USD Trong giai đoạn 1992-1994, đã córất nhiều công ty của Nhật đăng kí xây dựng các nhà máy lọc dầu ở khu vựcphía Nam, dẫn đầu là công ty Teikoku Năm 1994, Nhật Bản đứng hàng thứ 5trong số các nớc đầu t vào Việt Nam với 69 dự án và tổng số vốn là 695,1 triệuUSD Có thể nói, bắt đầu từ năm 1994, đầu t vào khu vực sản xuất vật chất, nhất
là lĩnh vực công nghiệp ngày càng gia tăng, chiếm 2/3 tổng số vốn đầu t Cơ cấu
Trang 5đầu t đợc điều chỉnh theo hớng ngày càng hợp lí, tập trung vào các lĩnh vực sảnxuất hàng xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở và các cơ sở sản xuất côngnghiệp chủ chốt
Theo tinh thần mở rộng hơn nữa qui mô và số lợng các dự án đầu t vào ViệtNam, tháng 1/ 1995, một phái đoàn gồm 50 nhà đầu t Nhật Bản đã đến ViệtNam tìm hiểu, khảo sát các cơ hội tăng cờng đầu t ở Việt Nam Đến cuối năm
1995, Nhật Bản đã đầu t vào Việt Nam 127 dự án với tổng số vốn đầu t2.153,693 triệu USD, đứng thứ 3 sau Đài Loan (3.244,796 triệuUSD) và HồngKông (2.197,903 triệu USD)
Nhìn chung, FDI của Nhật Bản vào Việt Nam có xu hớng tăng nhng chậm vàkhông ổn định Điều này đợc thể hiện trong bảng dới đây
(Theo số liệu thống kê của Viện nghiên cứu Nhật Bản)
Đến giai đoạn từ 1997 đến cuối năm 2000, do ảnh hởng của cuộc khủnghoảng tài chính, tiền tệ, tình hình kinh tế Nhật Bản ngày càng lâm vào trì trệ,
đặc biệt là ở khu vực tài chính Trong những tháng đầu năm 1998, tốc độ và quimô đầu t của Nhật Bản vào Việt Nam có chiều hớng suy giảm So với các nămtrớc, số các dự án đầu t giảm Cho đến năm 1997, Nhật có 215 dự án (đứng thứ2) với tổng số vốn 3,5 tỷ USD (đứng thứ 3) Bớc sang năm 1998 Nhật chỉ có 17
dự án (đứng thứ 4) với số vốn 177,5 triệu USD
Nhìn chung việc thực hiện các dự án đầu t ở Việt Nam vẫn diễn ra khá tốt, tỉ
lệ dự án bị rút giấy phép thấp (trên 7% dự án và trên 4% vốn đầu t) Sở dĩ năm
1998 khối lợng vốn đầu t của Nhật Bản vẫn đổ vào Việt Nam là do các dự án dàihạn vẫn đang trong thời gian hoạt động và đơng nhiên Nhật Bản vẫn phải tiếptục theo đuổi các dự án đó đến cùng
Lĩnh vực đầu t
Lĩnh vực đầu t t của Nhật Bản vào Việt Nam rất đa dạng, nhièu nhất là vàocác ngành công nghiệp chế tạo Nhật Bản đầu t vào các ngành công nghiệp chế
Trang 6tạo chứ không phải là các ngành chế biến bởi vì Nhật Bản đã chú ý đến chuyểngiao công nghệ kết hợp với khai thác nguồn lao động dồi dào ở Việt Nam để sảnxuất các mặt hàng có giá trị có thể cạnh tranh đợc với hàng hoá các nớc tỏngkhu vực Có thể kể ra nh: các ngành lắp ráp điện tử, ôtô, xe máy, dệt may Bêncạnh đó, Nhật Bản cũng đã chú ý đầu t vào các dự án chế biến lâm, thuỷ sản,trồng và chế biến rau quả cùng các hạng mục đầu t vào các ngành nh dầu khí,xây dựng cơ sở hạ tầng các khu chế xuất, giao thông, bu điện, giáo dục, ytế, vănhoá Qui mô và cơ cấu đầu t này phản ánh rõ nét chiến lợc kinh tế đối ngoại củaNhật Bản , đặc biệt là trong lĩnh vực thơng mại và đầu t.Thứ nhất, việc đầu t vàoViệt Nam là chiến lợc mở rộng thị trờng của các doanh nghiệp Nhật Bản ViệtNam là thị trờng đang lên, rất thích hợp cho các nhà đầu t Nhật Bản trong cácsản phẩm nh xe máy, hàng điện tử dân dụng, vật liệu xây dựng Hơn nữa, để
đối phó với hàng rào thuế quan và phi thuế quan mang tính chất bảo hộ của ViệtNam đối với những mặt hàng này, đầu t là một công cụ hữu hiệu Thứ hai, vớichiến lợc chuyển cơ sở sản xuất ra nớc ngoài để tận dụng lợi thế về nhân công
rẻ, Việt Nam dờng nh đã trở thành “ phân xởng gia công” của Nhật Bản, đặc biệt
là trong ngành sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy, đồ điện tử dân dụng Những mặthàng nàykhi đợc sản xuất ở Việt Nam giá thành hạ hơn so với tại Nhật Bản nên
có thể cạnh tranh tốt hơn ở các thị trờng EU, Mỹ, các nớc NICs châu á hoặc
có thể đợc tái nhập trở lại Nhật Bản
Nhật Bản đã dần tập trung lợng vốn khá lớn đầu t vào Việt Nam, các tập đoànkinh tế lớn của Nhật Bản đã có mặt ở Việt Nam với các dự án đầu t có qui môlớn nh Sony,Mitsubishi , Toyota, Honda Trong số các tập đoàn lớn này phải kể
đến tập đoàn Mitsubishi với dự án xây dựng nhà máy xi măng Nghi Sơn với số ợng vốn 347 triệu USD, tập đoàn Toyota với dự án xây dựng nhà máy Toyota ở
l-Mê Linh, Vĩnh Phúc
Một số dự án đầu t của Nhật Bản tại Việt Nam ( Đơn vị triệu USD )
Tên dự án Địa phơng Mặt hàng sản xuất Vốn đầu t
Khu C N Bắc Thăng Long Hà Nội Xây dựng cơ sở hạ tầng 54
Liên doanh Thăng Long-Ton Hà Nội Xây dựng nền móng 3,5 Fujutsu Việt Nam Đồng Nai Linh kiện điện tử-máy tính 198,8
Hình thức đầu t
Hiện nay Nhật Bản đầu t vào Việt Nam chủ yếu dới ba hình thức, trong đóhình thức liên doanh chiếm 1/2 tổng số dự án và khoảng 2/3 vốn đầu t Hình
Trang 7thức này phổ biến trong lĩnh vực chế biến nông-lâm sản, trong công nghiệp nhẹ
và dịch vụ Hình thức thứ hai là loại hình doanh nghiệp 100% vốn của Nhật vớilĩnh vực chủ yếu là sản xuất hàng tiêu dùng Hình thức này chiếm tới 40% dự
án Do Việt Nam có những chính sách công bằng giữa các liên doanh với doanhnghiệp 100% vốn nớc ngoài, hơn nữa tình hình chính trị và môi trờng đầu t ởViệt Nam những năm gần đây có thể tăng ổn định và phát triển nên hình thức
đầu t bằng các doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài của Nhật Bản tăng lên Đây làhình thức có hiệu quả và đang đợc các doanh nghiệp của Nhật chú ý đến Hìnhthức thứ ba là hợp đồng kinh doanh, chủ yếu trong lĩnh vực đầu t khai thác tàinguyên và bu chính viễn thông
Quy mô và cơ cấu đầu t
Phần lớn các dự án đầu t của Nhật Bản có qui mô vừa và nhỏ, 55% số dự án
có vốn đầu t dới 5 triệu USD, 19,5% có vốn đầu t từ 5 đến 10 triệu và 25,5% cóvốn đầu t hơn 10 triệu USD Vốn bình quân của một dự án đầu t của Nhật Bản là13,2 triệu USD trong khi đó, mức bình quân chung của các dự án đầu t nớcngoài tại Việt Nam cao hơn nhiều Điều này là không tơng xứng với các nhà đầu
t Nhật Bản, thể hiện sự dè dặt của họ đối với thị trờng Việt Nam
Về mặt cơ cấu, đầu t của Nhật Bản vào Việt Nam phần nhiều tập trung vàolĩnh vực công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển nông thôn Riênglĩnh vực công nghiệp chiếm 64% tổng vốn FDI của Nhật
FDI của Nhật Bản theo ngành ở Việt Nam (tính đến hết năm 2000)
(triệu USD)
Vốn thực hiện( triệu USD)
Trang 8thành phố Hồ Chí Minh và các dự án khai thác đầu khí ở Vũng Tàu Đến nay,hầu hết các tỉnh, thành phố đều đã có rải rác các dự án đầu t nớc ngoài của NhậtBản Các tỉnh phía Bắc tập trung đợc 205 tổng số các dự án và chiếm khoảng40% trong tổng số vốn Đồng Nai là địa phơng đứng đầu về tỷ trọng FDI củaNhật : 22% với 27 dự án, Hà Nội giữ vị trí thứ 2 : chiếm 21% với 57 dự án.Thành phố Hồ Chí Minh tuy có nhiều dự án nhất, 106 dự án nhng chỉ đứng thứ 3
về lợng vốn với 19% (tính đến hết năm 1999)
Việt Nam vẫn đang tiếp tục nỗ lực cải thiện môi trờng đầu t, tạo điều kiệnthuận lợi cho các nhà đầu t Nhật Bản làm ăn lâu dài và ổn định ở Việt Nam ViệtNam mong muốn chính phủ Nhật Bản tăng cờng bảo hiểm đầu t và khuyếnkhích các công ty Nhật mở rộng qui mô đầu t, nhất là trong các lĩnh vực khaithác tài nguyên, đóng tàu, luyện thép, hoá dầu, vật liệu xây dựng Chúng tamong muốn phía Nhật Bản tăng cờng đầu t cho ngành nông nghiệp và phát triểnnông thôn và nâng cao hơn nữa tới lĩnh vực chuyển giao công nghệ
2 Viện trợ ODA của Nhật Bản cho Việt Nam.
Ngoài lĩnh vực đầu t, sự hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản còn đợcthể hiện ở lĩnh vực viện trợ phát triển chính thức( ODA) của Nhật Bản cho ViệtNam
Từ cuối những năm 80 Việt Nam tiến hành đổi mới kinh tế theo hớng mởcửa, thực hiện chính sách đối ngoại đa phơng hoá, đa dạng hoá nhằm hoà nhậpvào nền kinh tế khu vực và thế giới Thêm vào đó, những năm gần đây, thế giới
đã chứng kiến sự phát triển sôi động của khu vực châu á- Thái Bình Dơng, trong
đó có các nớc ASEAN.Nhằm phát huy ảnh hởng rộng lớn hơn, Nhật Bản đãkhông ngừng tăng cờng viện trợ cho các nớc trong khu vực và Việt Nam Giai
đoạn 1975- 1978, Nhật Bản viện trợ cho Việt Nam chủ yếu là hàng hoá; giai
đoạn 1978-1992, Nhật Bản ngừng viện trợ ODA cho Việt Nam ( chỉ viện trợnhân đạo); giai đoạn 1992 đến nay, Nhật Bản đã khôi phục và không ngừng tăngmức viện trợ cho Việt Nam Năm 1992, Việt Nam là một trong 10 nớc đứng đầudanh sách nhận ODA song phơng của Nhật Bản với số vốn là 281,24 triệu USD
Đến năm 1993 mặc dù Việt Nam không còn là một trong 10 nớc nhận ODA lớnnhất của Nhật Bản nhng vẫn tiếp tục xếp thứ 9 trong số các nớc nhận viện trợkhông hoàn lại lớn nhất của Nhật Bản với số tiền 6,72 tỉ Yên Năm1994, ViệtNam đứng thứ 12 trong số các nớc nhận viện trợ không hoàn lại của Nhật Bảnvới số tiền 58,76 triệu USD Nhật Bản còn viện trợ hợp tác kĩ thuật cho ViệtNam trị giá 26,46 triệu USD Trong năm 1995, Việt Nam và Nhật Bản đã kí kết
Trang 9hiệp định tín dụng trị giá 58 tỉ Yên cho 8 dự án của Việt Nam bao gồm: các dự
án xây dựng nhà máy nhiệt điện và thuỷ điện, cải thiện hệ thống cấp nớc Bêncạnh đó, hai nớc cũng đã kí một hiệp định viện trợ văn hoá để trang bị cácphòng học tiếng Nhật của đại học ngoại thơng, đồng thời, Nhật Bản cam kếtviện trợ không hoàn lại 3 tỉ Yên để hỗ trợ cho công cuộc cải cách ở Việt Nam.Ngày 27/7/1996, trong chuyến thăm hữu nghị chính thức của Bộ trởng ngoạigiao Nhật Bản, phía Nhật Bản cam kết viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam
3557 tỉ Yên cho các dự án xây dựng cầu nông thôn và miền núi phía bắc và45,1 triệu Yên viện trợ văn hoá nhằm cung cấp thiết bị nghe nhìn, dạy tiếngNhật cho trờng Đại học Ngoại ngữ Hà Nội Năm 1997, Việt Nam vẫn là nớcnhận ODA lớn thứ 6 của Nhật Bản với số tiền là 232,48 triệu USD, sau TrungQuốc, Inđônêxia, ấn độ, Thái Lan và Philipin
Có thể kể đến một số lĩnh vực đợc chính phủ Nhật Bản u tiên hỗ trợ cho ViệtNam nh: phát triển nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng kinh tế, phát triển nông thôn,phát triển giáo dục và ytế và bảo vệ môi trờng
Phần viện trợ khoông hoàn lại chủ yếu tập trung vào các dự án tăng cờngtrang thiết bị và cơ sở vật chất cho lĩnh vực ytế, giáo dục, công nghiệp, cấp thoátnớc, phát triển nông thôn, hỗ trợ ngân sách, nghiên cứu phát triển, đào tạo cán
bộ, cử chuyên gia
Phần vay tín dụng u đãi đợc dành cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng,trong đó phần quan trọng cho các dự án phát triển điện lực với tổng số 1727,26triệu USD Riêng 3 dự án lớn là Hàm Thuận-Dami với 486,81 triệu USD, Phú
Mỹ I với 488,06 triệu USD và Phả Lại II với 643,16 triệu USD, còn giao thôngvận tải là 1307,32 triệu USD, nông nghiệp là 97,76 triệu USD, giáo dục là 96,04triệu USD
Trong tơng lai, theo thảo luận giữa hai chính phủ nguồn vốn ODA của Nhậttiếp tục dành u tiên cho phát triển nguồn nhân lực và xây dựng thể chế và cải tạomạng lới giao thông và điện, phát triển nông nghiệp và nông thôn, chú ý đếngiáo dục -ytế-môi trờng
3 Thực trạng xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ của Việt Nam sang Nhật Bản và ngợc lại
Lĩnh vực phát triển mạnh nhất trong quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và NhậtBản là ngoại thơng Kể từ khi hai nớc thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay, quan
hệ thơng mại giữa hai nớc đã không ngừng phát triển, tăng hơn 100 lần, mặc dù
có những thời điểm bị giảm sút do những trở ngại về chính trị và ngoại giao
Trang 10Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam -Nhật Bản những năm đầu sau khi hainớc có quan hệ buôn bán chỉ ở mức độ khiêm tốn và nhập siêu luôn nghiêng vềphía Việt Nam Kể từ khi Việt Nam lần đầu tiên xuất khẩu dầu thô sang NhậtBản , Việt Nam đã có xuất siêu Đặc biệt kễ từ năm1989, với việc thực hiệnchính sách mở cửa nền kinh tế ,tự do hoá thơng mại và thu hút đầu t nớcngoài ,quan hệ thơng mại Việt Nam-Nhật Bản đã có những bớc tiến mới cả vềchiều rộng lẫn chiều sâu Sau sự tan rã của Liên xô và Đông âu, Nhật Bản đã trởthành đối tác thơng mại lớn của Việt Nam ,với tỉ trọng kim ngạch XNK ViệtNam -Nhật Bản trong tổng kim ngạch ngoại thơng của Việt Nam đạt trung bìnhgần 20%.
Kim ngạch ngoại thơng Việt Nam -Nhật Bản năm 1995-2000
1997, quan hệ thơng mại Việt Nam-Nhật Bản tiếp tục đợc đẩy mạnh Điều nàythể hiển trên tổng kim ngạch đạt đợc trong năm là 3550 triệu USD, tăng lên12,3% so với năm 1996 Bớc sang năm 1998, buôn bán Việt-Nhật có sự suygiảm, trở về mức năm 1996 Năm 1999, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nớctiếp tục giảm, đạt 3106 triệu USD So với năm 1998, chỉ số này giảm 3,8% Năm
Trang 112000, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nớc tăng mạnh, tăng 53,5% so vớinăm 1999 và đạt mức cha từng có trong lịch sử buôn bán giữa hai nớc.
Về tỷ trọng kim ngạch ngoại thơng với Nhật Bản trong tổng kim ngạchngoại thơng của Việt Nam có xu hớng giảm trong vài năm trở lại đây
Kim ngạch XNK Việt Nam
-Nhật Bản (triệu USD) Tổng kim ngạch XNK củaViệt Nam (triệu USD) Tỷ trọng
Trong những năm qua, chúng ta luôn có xuất siêu sang Nhật Bản Tuy nhiên,khi nhìn nhận, đánh giá hiện tợng này cũng có nhiều ý kiến khác nhau Thực tếcho thấy, xuất siêu ở đây không phản ánh thế mạnh trong hoạt động kinh doanhnói chung của các công ty Việt Nam Bởi vì, chúng ta cha tạo ra đợc nhữngnguồn hàng chủ lực có tính dài hạn mà chỉ tìm kiếm những cái có sẵn để xuấtkhẩu
Sự gia tăng nhanh chóng của thơng mại Việt Nam-Nhật Bản đã đóng góp rấtlớn vào mức tăng trởng kim ngạch XNK của Việt Nam Sau đây là những phântích cụ thể về hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam với Nhật Bản
3.1 Xuất khẩu của Việt Nam vào Nhật Bản.
3.1.1 Đặc điểm chung
Nhìn chung, tình hình xuất khẩu của Việt Nam vào thị trờng Nhật Bản có vẻkhả quan Kim ngạch xuất khẩu vào thị trờng này có xu hớng tăng trong nhữngnăm từ 1992 đến 1997 Riêng năm 1998, do những khó khăn của nền kinh tếkhu vực nói chung và khó khăn trong bản thân nền kinh tế Nhật Bản nói riêngnên xuất khẩu của Việt Nam sang thị trờng này giảm sút nghiêm trọng Nhngnhìn chung, Nhật Bản vẫn là một thị trờng quan trọng bậc nhất của Việt Nam,chiếm tới 30% trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ra nớc ngoài