Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh thờng xuyên trong suốtquá trình tồn tại và hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, nhng để phục vụcho quản lý và hạch toán kinh doanh, chi phí sả
Trang 1Phấn đấu hạ giá thành sản phẩm là nhiệm vụ cơ bản và LÂU DàI củA CáC DOANH NGHIệP hoạT Động trong cơ chế thị trờng
I Khái niệm và các phơng pháp phân loại chi phí trong giá thành
1 Khái niệm giá thành và các cách phân loại chi phí trong gía thành
a Khái niệm giá thành
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao độngsống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành các hoạt
động sản xuất trong một thời kỳ
Để tiến hành các hoạt động sản xuất, doanh nghiệp cần phải có 3 yếu tốcơ bản:
- T liệu lao động nh nhà xởng, máy móc, thiết bị và những TSCĐ khác
- Đối tợng lao động nh nguyên vật liệu, nhiên liệu
- Sức lao động của con ngời
Quá trình sử dụng các yếu tố cơ bản trong sản xuất cũng đồng thời làquá trình doanh nghiệp phải chi ra những chi phí sản xuất tơng ứng Tơngứng với việc sử dụng tài sản cố định là chi phí về khấu hao tài sản cố định, t -
ơng ứng với việc sử dụng nguyên vật liệu, nhiên liệu là những chi phí vềnguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, tơng ứng với việc sử dụng lao động là chiphí tiền công, tiền trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Trong điều kiệnnền kinh tế hàng hoá và cơ chế hạch toán kinh doanh, mọi chi phí trên điều
đợc biểu hiện bằng tiền, trong đó chi phí về tiền công, tiền trích bảo hiểm xãhội, bảo hiểm y tế là biểu hiện bằng tiền của hao phí về lao động sống, cònchi phí về khấu hao tài sản cố định, chi phí về nguyên liệu, vật liệu, nhiênliệu là biểu hiện bằng tiền của hao phí về lao động vật hoá
Một doanh nghiệp sản xuất ngoài những hoạt động có liên quan đếnhoạt động sản xuất ra sản phẩm hoặc lao vụ, còn có những hoạt động kinhdoanh và hoạt động khác không có tính chất sản xuất nh hoạt động bánhàng, hoạt động quản lý, các hoạt động mang tính chất sự nghiệp chỉnhững chi phí để tiến hành các hoạt động sản xuất mới đợc coi là chi phí sảnxuất
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh thờng xuyên trong suốtquá trình tồn tại và hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, nhng để phục vụcho quản lý và hạch toán kinh doanh, chi phí sản xuất phải đợc tính toán tậphợp theo từng thời kỳ: Hàng tháng, hàng quý, hàng năm phù hợp với kỳ báocáo Chỉ những chi phí sản xuất mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong kỳ mới đ-
ợc tính vào chi phí sản xuất trong kỳ
Trang 2Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cả những chi phí của doanh nghiệp về sử dụng t liệu sản xuất, trả lơng, phụ cấp ngoài lơng và những chi phí phục vụ khác để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Quá trình sản xuất ở một doanh nghiệp, một mặt doanh nghiệp phải bỏ
ra những chi phí sản xuất, mặt khác kết quả sản xuất doanh nghiệp thu đợcnhững sản phẩm, công việc, lao vụ nhất định đã hoàn thành, đáp ứng nhu cầutiêu dùng xã hội Những sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành gọichung là thành phẩm cần phải tính đợc gía thành tức là những chi phí đã bỏ
ra để sản xuất ra chúng
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lợnghoạt động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật t lao độngtiền vốn trong quá trình sản xuất, cũng nh các giải pháp kinh tế - kỹ thuật màdoanh nghiệp đã thực hiện, nhằm đạt đợc mục đích sản xuất đợc khối lợngsản phẩm nhiều nhất với chi phí sản xuất tiết kiệm và hạ gía thành Gíathành sản phẩm còn là căn cứ để tính toán xác định hiệu quả kinh tế các hoạt
động sản xuất của doanh nghiệp
Quan hệ giữa chi phí sản xuất với gía thành
Chi phí sản xuất và gía thành là 2 khái niệm riêng biệt có những mặtkhác nhau:
- Chi phí sản xuất luôn gắn với từng thời kỳ đã phát sinh chi phí, còngía thành lại gắn với khối lợng sản phẩm, công việc lao vụ đã sản xuất hoànthành
- Chi phí sản xuất trong kỳ bao gồm cả những chi phí sản xuất đã trả
tr-ớc trong kỳ nhng cha phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả kỳ trtr-ớcnhng kỳ này mới phát sinh thực tế, nhng không bao gồm chi phí trả trớc của
kỳ trớc phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả kỳ này nhng cha thực
tế phát sinh Ngợc lại giá thành sản phẩm lại chỉ liên quan đến chi phí phảitrả trong kỳ và chi phí trả trớc đợc phân bổ trong kỳ
- Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến những sản phẩm đãhoàn thành mà còn liên quan đến cả sản phẩm đang còn dở dang cuối kỳ vàsản phẩm hỏng còn giá thành sản phẩm không liên quan đến chi phí sản xuấtcủa sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng nhng lại liên quan đến chiphí sản xuất của sản phẩm dở dang kỳ trớc chuyển sang
Tuy nhiên giữa chi phí sản xuất và gía thành có mối quan hệ rất mậtthiết vì nội dung cơ bản của chúng đều là biểu hiện bằng tiền của những chiphí doanh nghiệp đã bỏ ra cho hoạt động sản xuất Chi phí sản xuất trong kỳ
là căn cứ là cơ sở để tính gía thành của sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoànthành, sự tiết kiệm hoặc lãng phí của doanh nghiệp về chi phí sản xuất có
Trang 3ảnh hởng trực tiếp đến gía thành sản phẩm hạ hoặc cao Quản lý gía thànhphải gắn liền với quản lý chi phí sản xuất.
Để làm rõ hơn bản chất của chi phí ta hãy xem xét nó trong mối quan
hệ với giá trị và giá cả hàng hoá
Quan hệ giữa chi phí sản xuất với giá trị
Về kết cấu cả chi phí và giá trị đều bao gồm ba bộ phận C - V và m.Tuy nhiên chi phí và giá trị có sự khác nhau cả về lợng lẫn chất Trớc hết,chi phí là biểu hiện bằng tiền của hao phí về lao động sống và lao động vậthoá mà doanh nghiệp đã chi ra trong kỳ kinh doanh Còn giá trị hàng hoá làlợng lao động xã hội của ngời sản xuất hàng hoá kết tinh trong sản phẩm,trong đo bằng lợng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hànghoá Chi phí là một đại lợng cụ thể còn giá trị mang tính trừu tợng
Mặt khác, chi phí chủ yếu bao gồm hai bộ phận đầu của giá trị sảnphẩm Các Mác viết : "Về mặt số lợng, chi phí sản xuất TBCN của hàng hoákhác với giá trị của hàng hoá vì rằng nếu V= K + m thì K = V - m Hao phí
về lao động trong chi phí chỉ là một phần của toàn bộ lợng lao động kết tinhtrong giá trị hàng hoá Điều đó có nghĩa là giữa giá trị và chi phí còn mộtkhoản chênh lệch - đó chính là phần giá trị thặng d do lao động mới sáng tạo
ra cho xã hội
Quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá cả
Giữa chi phí và giá cả có mối quan hệ mật thiết với nhau Chi phí sảnxuất là cơ sở để xây dựng chính sách giá cả của doanh nghiệp Các- Mác viết: "Giới hạn thấp nhất của giá bán hàng hoá là do chi phí sản xuất của nó quy
định" Hơn nữa chi phí lại bị ảnh hởng của sự thay đổi về giá cả thị trờng.Giá cả của sản phẩm này thay đổi kéo theo sự biến động về giá của các sảnphẩm khác Và nh vậy gián tiếp nó sẽ ảnh hởng tới chi phí sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa giá cả và chiphí, Các - Mác đã chỉ ra mức độ ảnh hởng lẫn nhau giữa chúng nh sau: "Giácả của hàng hoá đợc xây dựng trên chi phí Ngoài ra chi phí sản xuất chính
là giá mua mà bản thân nhà t bản đã bỏ ra để sản xuất hàng hoá, nghĩa là giámua do chính ngay quy trình sản xuất hàng hoá quyết định" Trong nền kinh
tế thị trờng thì giá cả do quan hệ cung - cầu quyết định Vì vậy, chi phí chỉcung cấp thông tin để nhà quản trị ra quyết định đúng đắn, linh hoạt và kịpthời
b ý nghĩa kinh tế của chỉ tiêu gía thành
Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá, phản ánh ợng giá trị của những hao phí lao động sống và lao động vật hoá đã thực sựchi ra cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Nó là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp,
Trang 4l-phản ánh chất lợng hoạt động sản xuất, l-phản ánh kết quả sử dụng các loại tàisản, vật t, lao động trong sản xuất, cũng nh trong các giải pháp kinh tế, kỹthuật mà doanh nghiệp đã thực hiện nhằm đạt đợc mục đích sản xuất, đợckhối lợng sản phẩm nhiều nhất với chi phí sản xuất tiết kiệm và hạ gía thành.
Nó thể hiện đợc trình độ tiến bộ của kỹ thuật - công nghệ sản xuất, trình độ
tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ý nghĩa của chỉtiêu gía thành sản phẩm đợc thể hiện trên các mặt sau đây:
- Giá thành sản phẩm là thức đo mức chi phí sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm, làm cơ sở để tính giá cả tiêu thụ và xây dựng chính sách giá cả củadoanh nghiệp đối với từng loại sản phẩm, tính lơi nhuận của doanh nghiệp và
do đó nó là căn cứ xác định các chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Từ đó doanh nghiệp đa ra các phơng án sản xuất, các quyết
định đúng đắn về chính sách sản phẩm, các biện pháp tổ chức sản xuất kinhdoanh sao cho hiệu quả nhằm mục tiêu thu lợi nhuận cao
- Giá thành sản phẩm là cơ sở chính sách để kiểm soát tình hình, chất ợng các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệptìm ra những nguyên nhân dẫn đến chi phí phát sinh không hợp lý để loại trừ.Mặt khác, các doanh nghiệp thấy rõ sự cần thiết và khả năng của doanhnghiệp trong việc giảm từng loại chi phí để có hớng đầu t tích cực, hạ thấp tốithiểu mức chi phí trong từng khoản mục cấu thành giá thành sản phẩm
l Giá thành sản phẩm có quan hệ chặt chẽ với các chỉ tiêu khác, nó vừa
là mục tiêu, vừa là kết quả của việc thực hiện các chỉ tiêu khác nh: tăng năngsuất lao động, giảm định mức tiêu hao nguyên vât liệu,nhiên liệu, năng lợng,chỉ tiêu về chất lợng sản phẩm, nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị,nâng cao hiệu quả của bộ máy quản trị
- Giá thành sản phẩm là một công cụ sắc bén trong việc hạch toán kinhdoanh, tính toán hiệu quả sản xuất kinh doanh và hạch toán kinh tế nội bộdoanh nghiệp
Với vai trò và ý nghĩa nh vậy, chỉ tiêu giá thành sản phẩm đòi hỏi phải
đợc tính toán chính xác Những chi phí đa vào gía thành sản phẩm phải phản
ánh đợc giá trị thực của các t liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ vàcác khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí lao
động sống Mọi cách tính toán chủ quan không phản ánh đúng các yếu tố giátrị trong gía thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hàng hoá - tiền
tệ, không xác định đợc hiệu quả kinh doanh và không thực hiện đợc tái sảnxuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
Chính vì vậy trong công tác quản lý doanh nghiệp, nhất là trong cơ chếthị trờng hiện nay, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế quan trọng luôn đợc
Trang 5các nhà quản lý quan tâm Thông qua những thông tin về chi phí sản xuất vàgiá thành sản phẩm, những quản lý doanh nghiệp nắm vững đợc chi phí sảnxuất và giá thành sản phẩm thực tế của từng hoạt động, từng loại sản phẩmcũng nh kết quả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, phân tích, đánh giá tình hình kế hoạch của doanh nghiệp, để có cácquyết định quản lý thích hợp.
c Các cách phân loại chi phí trong gía thành.
Chi phí sản xuất của các doanh nghiệp bao gồm nhiều loại có nội dungkinh tế khác nhau, mục đích và công dụng của chúng trong quá trình sảnxuất cũng khác nhau, để phục vụ cho công tác quản lý chi phí sản xuất và kếtoán tập hợp chi phí sản xuất, có thể tiến hành phân loại chi phí sản xuấttrong giá thành sản phẩm theo các tiêu thức khác nhau
Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế của chi phí và theocông dụng cụ thể của chi phí trong sản xuất
- Trớc hết, theo nội dung kinh tế của chi phí, chi phí sản xuất đợcphân thành tám yếu tố chi phí sản xuất Những yếu tố này đợc sử dụngkhi lập dự toán chi phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng vật t, kế hoạchquỹ tiền lơng, tính toán nhu cầu vốn định mức Phân loại theo nội dungkinh tế giữ đợc tính nguyên vẹn của từng yếu tố chi phí, mỗi yếu tố đều làchi phí ban đầu do doanh nghiệp chi ra và không phân tích đợc nữa Mốiyếu tố đều bao gồm mọi khoản chi có cùng nội dung và tác dụng kinh tếgiống nhau, không kể nó đợc chi ra ở đâu và quan hệ của nó với quá trìnhsản xuất nh thế nào
- Căn cứ vào công dụng cụ thể của chi phí trong sản xuất ngời ta chiacác chi phí thành những khoản mục nhất định Các khoản này đợc dùngtrong việc xác định giá thành đơn vị sản phẩm cũng nh giá thành sảnphẩm hàng hoá Ngoài ra, cách phân loại này còn cho thấy ảnh hởng củatừng khoản mục đến kết cấu và sự thay đổi của giá thành Qua đó nó cungcấp những thông tin cần thiết để xác định phơng hớng và biện pháp hạ giáthành sản phẩm
Những yếu tố chi phí sản xuất và những khoản mục chi phí để tính gíathành đối chiếu với nhau và đợc sắp xếp theo bảng sau:
Bảng 1: Nội dung của yếu tố chi phí sản xuất và khoản mục tính gía
thành sản phẩm Yếu tố chi phí sản xuất Khoản mục tính gía thành
1 Nguyên vật liệu chính mua ngoài
2 Vật liệu phụ mua ngoài
1 Nguyên vật liệu chính
2 Vật liệu phụ
Trang 63 Nhiên liệu mua ngoài
Phân loại chi phí sản xuất theo phơng pháp phân bổ chi phí vào giáthành, ngời ta chia ra: Chi phí trực tiếp và chi phí gián
- Chi phí trực tiếp là những chi phí sản xuất quan hệ trực tiếp với quátrình sản xuất ra từng loại sản phẩm và đợc tính trực tiếp vào giá thành của
đơn vị sản phẩm hay loại sản phẩm Chi phí trực tiếp bao gồm:
+ Tiền lơng và bảo hiểm xã hội của sản xuất
+ Nguyên vật liệu chính, phụ dùng vào sản xuất
+ Nguyên liệu, động lực dùng vào sản xuất
+ Công cụ lao động nhỏ dùng vào sản xuất
+ Chi phí trực tiếp khác bằng tiền
- Chi phí gián tiếp là những chi phí có quan hệ đến hoạt động chungcủa phân xởng, của doanh nghiệp và đợc tính vào giá thành một cách giántiếp bằng phơng pháp phân bổ: Kết cấu của chi phí gián tiếp cũng giống nhchi phí trực tiếp, nhng những khoản này đợc chỉ ra cho hoạt động quản lý củadoanh nghiệp hoặc các bộ phận khác của doanh nghiệp
Cách phân loại này không cứng nhắc, cố định mà tuỳ thuộc vào đặc
điểm của từng doanh nghiệp công nghiệp
Phân loại theo cách này có tác dụng trong việc tính toán giá thành kếhoạch cũng nh hạch toán giá thành thực tế của đơn vị sản phẩm và sản lợnghàng hoá
Phân loại chi phí căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí và tình hìnhtăng giảm sản lợng hàng hoá, ngời ta chia ra: Chi phí biến đổi (biến phí) vàchi phí cố định (định phí)
- Chi phí biến đổi là những chi phí có sự thay đổi về lợng tơng quan tỷ lệthuận với sự thay đổi của khối lợng sản phẩm sản xuất trong kỳ Thuộc loạichi phí này nh là chi phí vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp
Trong chi phí biến đổi ngời ta còn chi tiết hoá thành chi phí biến đổicùng tỷ lệ (là chi phí biến đổi cùng hớng và cùng mức độ với sự biến đổi củasản lợng sản phẩm làm ra) và chi phí biến đổi không cùng tỷ lệ (là những chi
Trang 7phí có thể tăng nhanh hơn kết quả sản xuất hoặc cũng có thể chậm hơn tốc
độ tăng của kết quả sản xuất)
- Chi phí cố định là những chi phí về nguyên tắc không thay đổi theo sảnlợng sản phẩm trong giới hạn đầu t Đó là những khoản chi mà doanh nghiệpphải ứng chịu trong mỗi đơn vị thời gian cho các đầu vào cố định Nói mộtcách khác, chi phí cố định là những khoản chi phí tồn tại ngay cả khi khôngsản xuất sản phẩm, nó hoàn toàn không chịu sự tác động của bất kỳ sự biến
đổi nào của việc thay đổi sản lợng sản phẩm trong một giới hạn quy mô nhất
định Ví dụ: Khấu hao TSCĐ, chi phí lãi vay ngân hàng (trung và dài hạn),chi phí bảo hiểm, tiền thuê đất đai, tiền lơng của những ngời quản lý
Thông thờng chi phí trực tiếp là chi phí biến đổi, còn một số bộ phậntrong chi phí gián tiếp thuộc chi phí cố định
Nhờ cách phân loại này ngời ta có thể đánh giá chính xác hơn tính hợp
lý của chi phí sản xuất chi ra Mặt khác đó là cơ sở quan trọng để xác địnhsản lợng sản phẩm tối thiểu và xây dựng một chính sách giá cả hợp lý linhhoạt đối với các doanh nghiệp trong cơ chế thị trờng
Ngoài việc phân loại chi phí theo các cách chủ yếu trên đây, trong thực
tế còn rất nhiều cách phân loại khác nữa, chẳng hạn nh căn cứ vào cấu thànhcủa chi phí, căn cứ vào quá trình luân chuyển của chi phí Bằng những tiêuthức phân loại khác nhau, cho phép nhà quản trị doanh nghiệp với nhữngmục tiêu cụ thể sẽ vận dụng ý nghĩa của từng phơng pháp vào quá trình phântích và quản lý chi phí, nhằm đạt hiệu quả cao hơn
2 Các nhân tố ảnh hởng đến gía thành sản phẩm
a Nhân tố công nghệ - kỹ thuật sản xuất
Giá thành sản phẩm phụ thuộc nhiều vào cấu trúc sản phẩm, quá trìnhcông nghệ sản xuất và máy móc thiết bị Sản phẩm thiết kế càng hợp lý thìvừa có chất lợng cao lại vừa giảm đợc chi phí nguyên vât liệu, năng lợng đểsản xuất ra sản phẩm Với công nghệ tiên tiến, khép kín, máy móc thiết bịhiện đại càng làm tăng năng suất lao động, giảm chi phí tiêu hao nguyên vâtliệu, nhiên liệu, năng lợng, là tăng sản lợng sản phẩm điều đó cho phép hạchi phí sản xuất, góp phần hạ giá thành sản phẩm
b Các định mức kinh tế - kỹ thuật
Định mức kinh tế - kỹ thuật là cơ sở cho việc tính các chi phí trong gíathành Đồng thời đó là chỉ tiêu để quản lý các chi phí trong sản xuất, đánhgiá kiểm tra chất lợng công tác
Nếu định mức xây dựng các chi phí cao, không hợp lý sẽ gây nên tìnhtrạng lãng phí Các đơn vị sản xuất do thực hiện các định mức dễ dàng nênkhông đầu t biện pháp để tiết kiệm các chi phí, sẽ không khuyến khích ngời
Trang 8lao động tìm các biện pháp để nâng cao năng suất lao động, giảm tiêu haonguyên vât liệu, từ đó dẫn đến không tiết kiệm các chi phí để hạ giá thànhsản phẩm.
Ngợc lại nếu định mức xây dựng các chi phí thấp hơn khả năng thực tế
có thể thực hiện đợc thì sẽ mất đi ý nghĩa thực tế của nó, các đơn vị sản xuất,ngời lao động đã cố gắng nhng không thực hiện đợc mức, sẽ gây chán nản,phát sinh t tởng Đồng thời gía thành kế hoạch sẽ không chính xác, dẫn đếncác chính sách giá không đúng gây bất lợi cho doanh nghiệp
c Tổ chức lao động và sử dụng con ngời
Tổ chức lao động khoa học sẽ tạo ra sự kết hợp các yếu tố sản xuất mộtcách hợp lý, loại trừ tình trạng lãng phí lao động, lãng phí giờ máy, thúc đẩytăng năng suất lao động Chất lợng lao động ảnh hởng trực tiếp tới chất lợngcông việc Ngời sử dụng lao động phải bố trí lao động hợp lý, đúng ngànhnghề, khơi dậy tiềm năng trong mỗi con ngời làm cho họ thực sự gắn bó,cống hiến hết tài năng sức lực cho doanh nghiệp, ngời sử dụng lao động phảibiết sử dụng đúng đắn các đòn bẩy kinh tế, khuyến khích và phát huy cao độkhả năng đóng góp của ngời lao động
d Tổ chức quản lý sản xuất và tài chính
Tổ chức quản lý sản xuất và tài chính là nhân tố tác động mạnh mẽ đếnviệc hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp Nhờ vào việc bố trí các khâusản xuất hợp lý, chặt chẽ có thể hạn chế lãng phí lao động, nguyên vât liệu,nhiên liệu, giảm tỷ lệ phế phẩm Trong cơ chế thị trờng vai trò tài chínhngày càng cao, nó có tác động không nhỏ trong việc hạ gía thành sản phẩm
Sử dụng vốn hợp lý, đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu cho việc mua sắm vật t
sẽ tránh đợc những tổn thất do ngừng sản xuất
e Nhân tố thị trờng
Trong nền kinh tế thị trờng, quan hệ cung cầu hàng hoá, dịch vụ trên thịtrờng quyết định giá cả thị trờng Vì vậy, thị trờng giá cả có ảnh hởng quantrọng đến giá thành sản phẩm
Đối với thị trờng đầu ra, nếu làm tốt công tác tiêu thụ sản phẩm, cónghĩa là doanh nghiệp tiêu thụ đợc nhiều sản phẩm, làm cơ sở cho việc doanhnghiệp tăng năng suất lao động, tăng thời gian sử dụng máy móc điều đó
đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã giảm đợc chi phí cho một đơn vị sảnphẩm
Đối với thị trờng đầu vào: nơi cung cấp các yếu tố đầu vào nh nguyênvât liệu, nhiên liệu để doanh nghiệp tiến hành sản xuất Sự biến động vàtính chất giá cả thị trờng có ảnh hởng đến giá thành sản phẩm Doanh nghiệp
Trang 9phải luôn chủ động tìm hiểu thị trờng, phán đoán khả năng, diễn biến của thịtrờng về giá cả và khối lợng vật t hàng hoá trên thị trờng, từ đó có những biệnpháp ứng phó thích hợp, nhằm tiết kiệm chi phí, góp phần hạ gía thành.
Trên đây là những nhân tố chủ yếu ảnh hởng đến giá thành sản phẩm.Các doanh nghiệp cần xem xét kỹ các nhân tố trên, tù đó xác định cho doanhnghiệp phơng hớng hạ thấp giá thành sản phẩm, thích ứng với điều kiện vàtình hình của doanh nghiệp mình
3 Cách phân loại giá thành sản phẩm
a Phân loại gía thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính gía thành.
Căn cứ vào thời gian và cơ sở số liệu tính gía thành, giá thành sản phẩmchia làm 3 loại:
- Gía thành kế hoạch
Gía thành kế hoạch là giá thành sản phẩm đợc tính trên cơ sở chi phí sảnxuất kế hoạch và sản lợng kế hoạch Việc tính toán gía thành kế hoạch do bộphận kế hoạch của doanh nghiệp thực hiện và tiến hành trớc khi bắt đầu quátrình sản xuất, chế tạo sản phẩm Giá thành kế hoạch của sản phẩm là mụctiêu phấn đấu của doanh nghiệp là căn cứ để so sánh, phân tích, đánh giá tìnhhình thực hiện kế hoạch gía thành và kế hoạch hạ gía thành của doanhnghiệp
- Gía thành định mức
Giá thành định mức là gía thành sản phẩm đợc tính trên cơ sở các địnhmức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm Việc tính gía thành
định mức cũng đợc thực hiện trớc khi tiến hành quá trình sản xuất, chế tạosản phẩm Gía thành định mức là công cụ quản lý định mức của doanhnghiệp, là thớc đo chính xác để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật t, lao
động trong sản xuất, giúp cho đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹthuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình hoạt động sản xuất nhằmnâng cao hiệu quả kinh doanh Gía thành định mức mang đặc trng của gíathành kế hoạch, nhng đợc xác định không phải trên cơ sở mức kế hoạch chocả kỳ kinh doanh (tháng, quý) Việc xây dựng gía thành này cho phép cácnhà quản lý xác định kịp thời những chênh lệch so với định mức, trên cơ sở
đó tìm ra biện pháp thích hợp để hạ gía thành sản phẩm
- Giá thành thực tế
Giá thành thực tế là gía thành sản phẩm đợc tính trên cơ sở số liệu chiphí sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp đợc trong kỳ và sản lợng sảnphẩm thực tế đã sản xuất ra trong kỳ Gía thành sản phẩm thực tế chỉ có thểtính toán đợc sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm Gíathành thực tế sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn
đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh tế - tổ
Trang 10chức - kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở để xác
định kết quả hoạt động của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
b Phân loại gía thành theo phạm vi tính toán và phát sinh chi phí.
Theo phạm vi tính toán gía thành, gía thành sản phẩm đợc chia làm 3loại:
- Gía thành phân xởng
Gía thành phân xởng bao gồm tất cả những chi phí trực tiếp, chi phíquản lý phân xởng và chi phí sử dụng máy móc thiết bị Nói cách khác, nóbao gồm những chi phí của phân xởng và tất cả những chi phí của phân xởngkhác nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm tại phân xởng đó
- Giá thành công xởng (gía thành sản xuất )
Gía thành công xởng bao gồm gía thành phân xởng và chi phí quản lýdoanh nghiệp Có thể nói gía thành công xởng (gía thành sản xuất) bao gồmtất cả những chi phí để sản xuất sản phẩm trong phạm vi toàn doanh nghiệp.Gía thành sản xuất của sản phẩm bao gồm các chi phí sản xuất: Chi phínguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuấtchung, tính cho những sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành Giá thànhsản phẩm của sản phẩm đợc sử dụng ghi sổ cho sản phẩm đã hoàn thànhnhập kho hoặc giao cho khách hàng Giá thành sản xuất của sản phẩm cũng
là căn cứ để tính toán giá vốn hàng bán và lãi gộp ở các doanh nghiệp sảnxuất
- Giá thành toàn bộ
Gía thành toàn bộ của sản phẩm bao gồm gía thành công xởng cộngthêm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm đó.Gía thành toàn bộ của sản phẩm chỉ đợc tính toán xác định khi sản phẩm,công việc hoặc lao vụ đợc tiêu thụ Gía thành toàn bộ của sản phẩm là căn cứ
để tính toán, xác định lãi trớc thuế lợi tức của doanh nghiệp
Gía thành phân xởng, công xởng hay toàn bộ đều đợc tính cho từng đơn
vị sản phẩm, loại sản phẩm, loạt sản phẩm và toàn bộ sản lợng hàng hoá tiêuthụ
II Cơ cấu gía thành và phơng pháp xác định các yếu tố chi phí trong gía thành.
1 Cơ cấu giá thành
Cơ cấu giá thành thể hiện tỷ trọng của từng khoản mục chi phí trongtổng giá thành (số tơng đối ) Từ đó giúp cho nhà quản lý biết đợc khoản mụcchi phí nào chiếm tỷ trọng lớn để có kế hoạch hạ thấp khoản mục chi phí đódẫn đến hạ thấp tổng giá thành chính là hạ thấp giá thành dơn vị sản phẩm
Từ đó nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp
Trang 11Ví dụ: Trong công trình trạm biến áp và đờng dây hạ thế khu Quyết
Thắng - Sơn La có cơ cấu giá thành nh sau:
Chi phíkhác
Giá thànhsản phẩmTBA và đờng dây hạ thế 351.687 57.106 10.090 59.461 478.314
Qua đó nhà quản lý biết đợc khoản mục chi phí nào chiếm tỷ trọng lớn
(CFVL hay CFNC hay CFTN+MTC hay CFSXC ) Từ đó có kế hoạch hạ
thấp giá thành
2 Phơng pháp tính gía thành đơn vị sản phẩm.
a Tính đúng, tính đủ chi phí vào gía thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lợng hoạt
động sản xuất của doanh nghiệp Nó là công cụ quan trọng để các nhà quản
lý nâng cao hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất, vì vậy cần thiết phải tính
đúng, tính đủ chi phí vào gía thành của các loại sản phẩm do doanh nghiệp
sản xuất
- Tính đúng là tính toán chính xác và hạch toán đúng nội dung kinh tế
của chi phí đã hao phí để sản xuất ra sản phẩm Muốn vậy phải định đúng đối
tợng tính gía thành, vận dụng đúng phơng pháp tính gía thành thích hợp Gía
thành phải đợc tính toán trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất đợc tập hợp một
cách chính xác, kịp thời
- Tính đủ là tính toán đầy đủ mọi hao phí đã bỏ ra trên tinh thần hạch
toán kinh doanh thực sự, loại bỏ mọi yếu tố bao cấp để tính đủ đầu vào theo
chế độ quy định Tính đủ cũng đòi hỏi phải loại bỏ những chi phí không liên
quan (trực tiếp) đến quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; những chi phí
mang tính chất tiêu cực, lãng phí, lãng phí, không hợp lý
Việc tính đúng, tính đủ chi phí vào gía thành sản phẩm sẽ làm cho gía
thành trở thành tấm gơng thật, phản ánh đúng đắn tình hình và kết quả hoạt
động sản xuất của doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh, xác định đúng đắn kết
quả tài chính, khắc phục đợc hiện tợng "lãi giả, lỗ thật" Chính vì vậy, tính
đúng, tính đủ chi phí vào gía thành sản phẩm là việc làm cấp bách và thiết
thực đối với các doanh nghiệp khi chuyển sang cơ chế thị trờng
b Đối tợng tính gía thành
Đối tợng tính gía thành là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ dodoanh nghiệp sản xuất ra, yêu cầu phải tính đợc tổng gía thành và gía thành
đơn vị
Xác định đối tợng tính gía thành là công việc cần thiết đầu tiên trong
toàn bộ công việc tính gía thành sản phẩm doanh nghiệp Đối tợng tính gía