1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại lợn của công ty TNHH MTV chăn nuôi hòa phát, xã long sơn, huyện sơn động, tỉnh bắc giang

76 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại Công ty TNHH MTV Chăn nuôi Hòa Phát Bắc Giang .... Tuy nhiên để thịt lợn trở thành

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

NGUYỄN VĂN HIỆP

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN CON GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI LỢN CỦA CÔNG TY TNHH MTV CHĂN NUÔI HÒA PHÁT,

XÃ LONG SƠN, HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2015 - 2019

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 2

XÃ LONG SƠN, HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Giảng viên hướng dẫn: TS PHẠM THỊ TRANG

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận của mình trước hết em xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,cô giáo hướng dẫn và các Thầy Cô giáo khoa Chăn nuôi -Thú y, công ty Chăn Nuôi Hòa Phát Bắc Giang đã tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu thực hiện chuyên đề Ngoài ra em cũng nhận được sự chỉ bảo hướng dẫn nhiệt tình của các kỹ sư, công nhân tại trại Nhân dịp hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này,

em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới:

Ban Giám Hiệu Nhà trường, các thầy, cô giáo khoa Chăn nuôi - Thú y tạo điều kiện tốt nhất giúp em thực hiện nghiên cứu chuyên đề và hoàn thiện khóa luận này

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn TS.Phạm Thị Trang đã dành nhiều công sức và thời gian hướng dẫn chỉ bảo tận tình, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành cuốn khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn trưởng trại là anh Nguyễn Văn Luận cùng toàn thể các cô, chú, anh, chị kỹ sư, công nhân trong trại đã tạo mọi điều kiện giúp

đỡ em trong quá trình học tập và làm việc tại trại

Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến gia đình, thầy cô và bạn bè đã giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian đi thực tập và hoàn thành khóa luận này

Em xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày…… tháng…… năm…

Sinh viên

Nguyễn Văn Hiệp

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Nhiệt độ úm lợn 34

Bảng 3.2 Thức ăn yêu cầu kích cơ hạt nghiền thức ăn lợn nái 37

Bảng 3.3 Khẩu phần ăn cho lợn nái (kg) 38

Bảng 3.3.Khẩu phần ăn của lợn con 39

Bảng 4.1 Số lợn con trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại trại trong 6 tháng thực tập 44

Bảng 4.2 Số lượng lợn con nuôi dưỡng giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại 45

Bảng 4.3 Kết quả thực hiện công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý đàn lợn 46

Bảng 4.4 Tỷ lệ nuôi sống lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi của trại 47

Bảng 4.5 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 50

Bảng 4.6 Chẩn đoán bệnh cho lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại 56

Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại 57

Bảng 4.8 Kết quả thực hiện những công việc khác tại trại 60

Trang 6

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.2 Kết quả sản xuất của trại trong 2 năm 9

2.3 Cơ sở khoa học của đề tài 9

2.3.1 Một số hiểu biết về lợn con 9

2.3.2 Kỹ thuật chăm sóc lợn con theo mẹ 11

2.3.3 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ 14

2.3.4 Cai sữa cho lợn con 17

2.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn con 19

2.4 Một số biện pháp phòng bệnh cho lợn con theo mẹ 21

2.5 Đề xuất các biện pháp phòng trị một số bệnh cho lợn con 24

2.5.1 Hội chứng tiêu chảy ở lợn con 24

2.5.2 Bệnh viêm khớp do Mycoplasma 24

2.5.3 Viêm rốn 25

2.6 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 26

2.6.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 26

2.6.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 27

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 29

3.1 Đối tượng nghiên cứu 29

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 29

Trang 7

3.3 Nội dung thực hiện 29

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 29

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 29

3.4.2 Phương pháp thực hiện 30

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 42

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 43

4.1 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại Công ty TNHH MTV Chăn nuôi Hòa Phát Bắc Giang 43

4.1.1 Số lợn con trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trong 6 tháng thực tập 43 4.1.2 Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn con theo mẹ trong 6 tháng thực tập 46

4.1.3 Tỷ lệ nuôi sống lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại 46

4.2 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho đàn lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 48

4.2.1 Công tác vệ sinh phòng bệnh 48

4.2.2 Phòng bệnh bằng vắc xin 50

4.3 Kết quả chẩn đoán và điều trị một số bệnh ở lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi trong 6 tháng thực tập 51

4.3.1 Kết quả chuẩn đoán bệnh cho lợn con trong 6 tháng thực tập tại trại 51

4.3.2 Kết quả điều trị bệnh cho lợn con trong 6 tháng thực tập tại trại 57

4.4 Kết quả thực hiện các công tác khác tại trại 59

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 61

5.1 Kết luận 61

5.2 Đề nghị 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 8

Phần 1 MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi đang là trọng tâm phát triển của toàn ngành nông nghiệp, nó chiếm phần lớn sản phẩm nông nghiệp Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung, ngành chăn nuôi nước ta không ngừng được nâng lên nhằm đáp ứng nhu cầu về thực phẩm ngày càng cao của người dân và giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước nhà Chăn nuôi lợn trở thành nguồn thu nhập quan trọng đối với các hộ nông dân và là ngành chăn nuôi quan trọng nhất của nước ta với sản lượng thịt đáp ứng tiêu thụ hàng năm lên tới 70 - 80% trên tổng số các loại thịt được tiêu thụ

Với xu hướng chăn nuôi lợn hiện nay ở nước ta đang dần chuyển dịch cơ cấu từ chăn nuôi truyền thống (chăn nuôi nhỏ lẻ, hộ gia đình) sang chăn nuôi quy mô trang trại Do vậy, số lượng lớn trang trại tăng lên một cách nhanh chóng cả về số lượng và quy mô

Nhưng trong vài năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta, đặc biệt là chăn nuôi lợn đã gặp phải rất nhiều khó khăn do việc chăn nuôi ồ ạt và bị ảnh hưởng lớn từ thị trường Trung Quốc dẫn đến tổn thất, thiệt hại nghiêm trọng cho người chăn nuôi Nhằm giải quyết vấn đề trên, các bộ, các ngành đã đưa ra rất nhiều hướng giải quyết Trong đó, việc tăng năng suất và chất lượng sản phẩm luôn được đặt lên hàng đầu

Tuy nhiên để thịt lợn trở thành món ăn có thể nâng cao sức khỏe cho con người, điều quan trọng là quá trình chọn giống, nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn từ lúc sơ sinh đến khi được xuất bán, đàn lợn phải luôn khỏe mạnh, sức đề kháng cao, các thành phần đinh dưỡng tích lũy vào thịt có chất lượng tốt và có giá trị sinh học cao

Trang 9

Xuất phát từ nhu cầu của sinh viên cũng như những đòi hỏi của thực tiễn

sảnxuất, em đã tiến hành thực hiện đề tài “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi

dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại lợn của Công ty TNHH MTV Chăn nuôi Hòa Phát, xã Long Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang”

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại

- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con từ sơ sinh đến 21 ngàytuổi tại trại

- Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn con, khẩu phần ăn và cách cho lợn con ăn qua từng giai đoạn

- Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn con và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất

1.2.2 Yêu cầu

- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại công ty TNHH MTV chăn nuôi Hòa Phát, Bắc Giang, áp dụng được các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi

- Xác định được tình hình về bệnh, biết các phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất của trại

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Trại nằm trên địa bàn thôn Hạ, thôn Đồng Chòi, thôn Bản Bầu, xã Long Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang với tổng diện tích là 67ha Khu vực trại cách Thị trấn An Châu, huyện Sơn Động khoảng 20km về phía Nam - Đông Nam Trại nằm gần Quốc lộ 279, tuyến đường liên tỉnh quan trọng của các tỉnh miền núi phía Bắc, nối Quốc lộ 31 với Tỉnh lộ 326, giúp thông thương giữa thị trấn An Châu, huyện Sơn Động và xã Tân Dân, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh.Trại có tổng diện tích là 67ha, được bao quanh bởi đồi cao, cách xa khu dân cư khoảng 2 km về phía Đông Bắc, cách UBND xã Long Sơn 2,5 km về phía Đông Bắc Điều kiện lý tưởng để đảm bảo ATSH trong chăn nuôi

- Vị trí địa lý của trại: Phía Tây Nam: Giáp đất canh tác của nhân dân thôn

Hạ, cách đường quốc lộ 279 khoảng 2,5 km Phía Đông Bắc: Giáp Sông Bè Phía Đông Nam: Giáp cánh đồng thôn Bản Bầu, huyện Sơn Động Phía Tây Bắc: Giáp rừng trồng sản xuất thôn Đồng Chòi, huyện Sơn Động - Huyện Sơn Động có diện tích 845,77km², dân số năm 2009 là 67.724 người

* Điều kiện khí hậu:

Trang 11

- Trại lợn nằm trong vùng khí hậu đặc trưng, hàng năm có bốn mùa xuân,

hạ, thu, đông Mùa xuân và mùa thu là 2 mùa chuyển tiếp, khí hậu ôn hòa, mùa

hạ nóng, mưa nhiều, mùa đông lạnh khô hanh, ít mưa

- Nhiệt độ trung bình: 22,6ºC

- Nhiệt độ trung bình cao nhất: 32,9ºC

- Nhiệt độ trung bình thấp nhất: 11,6ºC

- Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.564mm

2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại

- Trại hoạt động theo phương thức trại của công ty Cán bộ kỹ thuật của Công ty TNHH MTV Chăn nuôi Hòa Phát Bắc Giang chịu trách nhiệm và giám sát mọi hoạt động của trại

Cơ cấu tổ chức của trại gồm 2 nhóm gồm 79 cán bộ công nhân viên:

- Lao động gián tiếp có 16 người:

+ Tổng giám đốc công ty: 1 người

+ Kế toán: 1 người

+ Nhân viên hành chính: 2 người

+ Làm vườn, nấu ăn: 2 người

+ Vệ sinh: 2 người

+ Cơ điện: 4 người

+ Bảo vệ: 4 người

- Lao động trực tiếp gồm có 63 người:

+ Trưởng trại: 1 người

+ Phó trại: 1 người

+ Trưởng khu: 3 người

+ Kỹ sư chăn nuôi: 4 người

+ Công nhân 3 khu: 48 người

+ Sinh viên thực tập: 6 sinh viên

2.1.1.1 Cơ sở vật chất của trại

Trang 12

Trại lợn của công ty được xây dựng trên diện tích 67 ha, trong đó chuồng trại chăn nuôi 10 ha, 5 ha là nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn và các công trình phụ phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại và khu vực ngoài trại Diện tích còn lại là hệ thống các hạng mục đường giao thông nội bộ, cây xanh và hệ thống các công trình phụ trợ như hệ thống thoát nước,

hệ thống xử lý nước thải, phòng cháy chữa cháy

Hệ thống các công trình chuồng trại và các công trình phụ trợ được phân

bổ thành từng khu vực chuyên biệt trên khu đất Giao thông trong khu vực dự

án được bố trí liên hoàn đảm bảo thuận tiện cho quá trình hoạt động Ngoài ra, còn hệ thống cây xanh giúp tăng yếu tố cảnh quan và cải thiện điều kiện vi khí hậu cho khu vực dự án

Hệ thống cấp nước được bố trí đến từng trại, đảm bảo việc cấp nước đầy

đủ cho công tác chăm sóc lợn Đồng thời, để đảm bảo yếu tố môi trường chủ

dự án xây dựng hệ thống xử lý nước thải đảm bảo nước thải sau khi xử lý đạt Quy chuẩn Việt Nam trước khi thải ra nguồn tiếp nhận

Trại chuyên nuôi lợn nái sinh sản, con giống do Công ty cổ phần phát triển Chăn nuôi Hòa Phát cung cấp từ các trại giống trong hệ thống thuộc công ty Trại Bố trí thanh 3 khu riêng biệt đảm bảo an toàn sinh học trong chăn nuôi:

- Khu cách ly: Cách ly người vào trại trước khi vào khu sản xuất

- Khu sinh hoạt: Gồm nhà điều hành + nhà ở + nhà ăn và khu sinh hoạt chung

- Khu sản xuất gồm 4 khu chuồng: Chuồng cách ly - chuồng phối + mang thai - chuồng đẻ - chuồng cai sữa, trong đó có:

+ Chuồng cách ly: 1 chuồng

+ Khu chuồng phối + mang thai có: 2 chuồng phối, 3 chuồng mang thai,

1 chuồng phát triển hậu bị

+ Khu chuồng đẻ có: 3 chuồng đẻ mỗi chuồng có 184 ô chuồng

Trang 13

+ Khu chuồng cai sữa + chuồng thịt có: 4 chuồng cai sữa mỗi chuồng có

64 ô chuồng

+ Các chuồng đẻ và chuồng cai sữa có sàn đan bằng nhựa cứng để tiện cho việc rửa chuồng và sát trùng còn chuồng thịt và chuồng phối - mang thai nền được đổ bê tông và thiết kế bán hầm Trại phân ra nhiều khu chuồng trại liên hoàn nhau để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụng chế độ dinh dưỡng phù hợp cho từng loại lợn Lợn được nuôi trong chuồng kín có hệ thống quạt thông gió, giàn mát, hệ thống sưởi ấm đủ về yêu cầu nhiệt độ

- Trại áp dụng theo quy trình kỹ thuật cao từ khâu chọn giống, khẩu phần ănvà các quy trình chăm sóc lợn nái, lợn con do công ty đề ra

- Thức ăn cho mọi giai đoạn lợn là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao do công ty TNHH thức ăn chăn nuôi Hòa Phát Hưng Yên

- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng, hệ thống mương luôn được thông ra bể biogas để xử lý

- Hệ thống nước trong trại chăn nuôi cho lợn uống là nước giếng khoan Nước tắm cho lợn, nước xả gầm, rửa chuồng được bơm từ ao chứa nước trong trang trại lên bể chứa và theo hệ thống ống nước dẫn tới các chuồng khác nhau

+ Bên cạnh đó trại còn xây dựng 2 giếng khoan, 2 bể chứa để cung cấp nước sạch cho sinh hoạt của cán bộ công nhân viên trong trại

Trang 14

Trang trại đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong vùng còn nhiều khó khăn này Với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi của trại được thực hiện chủ động và tích cực Kỹ sư của trại đã chủ động tổ chức tiêm phòng đầy đủ cho đàn lợn Mỗi con lợn đều có một hồ sơ riêng cho việc phối tinh, đẻ, xuất chuồng, nhập chuồng…chính xác tới từng ngày Để phòng tránh dịch bệnh, khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Mọi nhân viên trong trại cho đến khách, muốn vào chuồng lợn đều phải đi qua hệ thống sát trùng, tắm rửa sạch sẽ, thay quần

áo và đi ủng chuyên dụng Trong các chuồng lợn, ngày vài lần, công nhân làm

vệ sinh cũng như phun thuốc sát trùng xuống nền chuồng Xung quanh trạng trại được trồng cây xanh để tạo môi trường tự nhiên thông thoáng cho lợn sinh trưởng và phát triển tốt nhất Hàng ngày, toàn bộ phân mà đàn lợn thải ra đều được đóng bao, chuyển ra khu tập chung xa khu sản xuất để bán ra cho người dân trồng rau, lúa quanh vùng Nhau thai và lợn bệnh chết được đeo đi tiêu hủy

ở nhà xác Nguồn nước thải được xử lý tại các khu dành riêng cho chất thải và thải xuống hầm biogas

2.1.1.2 Tình hình sản xuất của trại

* Công tác chăn nuôi

Trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản với nguồn giống cao sản nhập từ Đan Mạch, chăn nuôi theo chu trình khép kín công nghệ an toàn sinh học, cùng vào cùng ra Lợn con sau sinh, cai sữa ở 21 - 28 ngày tuổi, chuyển qua nuôi tại khu cai sữa và xuất sang trại thịt ở 11 tuần tuổi, khi trọng lượng đạt 30 - 34 kg

* Công tác vệ sinh tại trại

Chuồng trại được xây dựng thoáng mát vào mùa hè và ấm áp về mùa đông

Xung quanh trại đều trồng cây xanh tạo cho chuồng nuôi có độ thoáng mát

tự nhiên, hàng tuần định kỳ rắc vôi quanh trại và tổng vệ sinh toàn trại Các chuồng thì thường xuyên được rắc vôi, hành lang đi lại được quét vôi trắng

Trang 15

thường xuyên, hàng ngày thu gom phân, nước thải, khơi thông cống rãnh, phun sát trùng, phun thuốc ruồi Công nhân, kỹ sư, khách tham quan vào chuồng phải sát trùng sạch sẽ, thay quần áo, đi ủng theo quy định của trại

* Công tác phòng bệnh

Hạn chế đi lại giữa các chuồng, hành lang chuồng bên ngoài chuồng phải rắcvôi Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn đều có quy trình tiêm riêng từ lợn nái, lợn con, lợn hậu bị, lợn đực, lợn thịt Khi lợn ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm, bệnh mạn tính tạo trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ an toàn sau khi tiêm vắc xin luôn đạt 100%

* Công tác điều trị bệnh

Trại có đội ngũ các kỹ sư có trình độ chuyên môn cao, yêu nghề, ham học hỏi Các kỹ sư có nhiệm vụ kiểm tra, theo dõi tình trạng trên đàn lợn thường xuyên, nếu có dấu hiệu bệnh xảy ra thì có biện pháp điều trị cụ thể như cách ly, điều trị ở giai đoạn đầu nên tỷ lệ điều trị luôn đạt ở mức cao Nên không gây thiệt hại nhiều cho đàn gia súc

- Khó khăn:

+ Thời tiết diễn ra phức tạp chưa tạo được vành đai phòng dịch

Trang 16

+ Trang bị vật tư chưa đáp ứng được nhu cầu

2.2 Kết quả sản xuất của trại trong 2 năm

- Cơ cấu đàn lợn của trại từ năm 2018 đến nay như sau:

Bảng 2.1 Cơ cấu đàn lợn tại trại của Công ty TNHH MTV Chăn nuôi

Hòa Phát Bắc Giang từ năm 2018 đến nay

Số lợn nái sinh sản cũng tăng dần do trại mở rộng phát triển thêm chăn nuôi, năm 2018 là 875 con đến năm 2019 là 2.554 con Số lợn con cũng tăng theo là do nái tăng Cơ cấu trại tuy có sự thay đổi nhưng luôn ổn định do nhiều nguyên nhân khác nhau, bên cạnh đó trưởng trại đã đầu tư trang thiết bị hiện đại, bố trí đủ công nhân chăn nuôi cũng như chăm sóc, nuôi dưỡng lợn tốt Ngoài ra trại còn nhận được sự quan tâm của công ty, ban giám đốc luôn kiểm tra theo dõi mọi hoạt động của trại

2.3 Cơ sở khoa học của đề tài

2.3.1 Một số hiểu biết về lợn con

* Đặc điểm về sinh trưởng và phát triển của lợn con

+ Lợn con bú sữa sinh trưởng phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh nhất trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Sở dĩ có sự giảm này là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu vẫn là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm hàm lượng Hb trong máu lợn con giảm Thời gian bị giảm kéo dài khoảng

Trang 17

2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Để hạn chế chúng ta nên tập ăn sớm cho lợn con

Ví dụ: Lợn con 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14 gam protein/1 kg khối lượng cơ thể, mà trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 - 0,4 gam protein/1kg cơ thể

* Các thời kỳ quan trọng của lợn con

+ Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi: là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn về môi trường sống, bởi vì lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể lợn mẹ, chuyển sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không tốt lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp Mặt khác lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn Lợn mẹ vừa đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi,

đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa hồi phục, nên dễ đè chết lợn con Cần nuôi dưỡng chăm sóc chu đáo lợn con ở giai đoạn này

+ Thời kỳ 3 tuần tuổi: là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần từ sau đẻ

và đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi đó, nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng và phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu Để giải quyết mâu thuẫn này, cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi

+ Thời kỳ ngay sau khi cai sữa: là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn, do yếu tố cai sữa gây nên Măt khác, thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp Nên giai đoạn này, nếu nuôi dưỡng, chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ bị còi cọc, mắc bệnh đường hô hấp, tiêu hóa

Trang 18

- Trong chăn nuôi lợn nái ngoại, cai sữa bắt đầu lúc 21 ngày, kết thúc lúc

23 ngày thì thời kỳ khủng hoảng 2 và 3 trùng nhau, hay nói cách khác ta đã làm giảm được 1 thời kỳ khủng hoảng của lợn con

2.3.2 Kỹ thuật chăm sóc lợn con theo mẹ

Chăm sóc là khâu quan trọng nhất trong việc nuôi dưỡng lợn con ở thời

kỳ bú sữa vì đây là thời kỳ lợn con chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh Nếu điều kiện ngoại cảnh bất lợi sẽ rất dễ gây ra tỉ lệ hao hụt

+ Chuồng nuôi: Chuồng nuôi phải được vệ sinh trước khi lợn mẹ đẻ Nền chuồng phải luôn sạch sẽ và khô ráo, ấm về mùa đông, mát về mùa hè, đảm bảo nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho lợn con, vào ban đêm cần phải có đèn sưởi để đảm bảo chống lạnh cho lợn con Ngoài ra chuồng nuôi phải có máng tập ăn và máng uống cho lợn con riêng

+ Nền cứng hoặc sàn thưa không có độn khu vực cho lợn con mới sinh cần giữ ấm ở 32 - 35oC trong mấy ngày đầu, sau đó giữ 21 - 27oC cho đến lúc cai sữa 3 - 6 tuần tuổi Nhiệt độ, độ ẩm và tốc độ gió làm thành một hệ thống tác nhân stress đối với gia súc

+ Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [2], các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể còn rất yếu

+ Theo Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [4], nhiệt độ môi trường ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của lợn Nhu cầu nhiệt độ của lợn tùyvào từng giai đoạn sinh trưởng, lợn sữa giai đoạn 1 - 7 ngày tuổi cần nhiệt độ 30

- 31oC, lợn trên 20 ngày tuổi cần nhiệt độ 20 - 24oC Trong mùa đông ở các tỉnh phía Bắc nhiều ngày giá lạnh, nhiệt độ có thể hạ xuống dưới 10oC làm ảnh hưởng không tốt đến tỷ lệ sống và khả năng tăng trưởng của lợn con

Trang 19

+ Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [13], khi gia súc bị lạnh ẩm kéo dài

sẽ làm giảm khả năng phản ứng miễn dịch, giảm tác động thực bào, do đó gia súc dễ bị nhiễm khuẩn cường độc gây bệnh

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [11], bệnh phó thương hàn là bệnh truyền nhiễm chủ yếu xảy ra ở lợn con 2 - 4 tháng tuổi Đặc trưng của bệnh là

do vi khuẩn tác động vào bộ máy tiêu hóa gây nên triệu chứng nôn mửa, ỉa chảy, phân khắm, vết loét lan tràn ở ruột già

+ Tiêm phòng:

Khi lợn con được 20 ngày tuổi nên tiêm phòng những loại vắc xin:

- Myco - Circo (2 ml con) để chống hội chứng còi cọc và bệnh suyễn

- Salmonella (2 ml/con) phòng bệnh phó thương hàn

- Giai đoạn lợn được 45 ngày tuổi nên tiêm phòng vắc xin dịch tả

- Giai đoạn 60 - 70 ngày tuổi nên tiêm phòng vắc xin tụ huyết trùng và vắc xin đóng dấu

Quản lý lợn con: Đối với những lợn con có dự định chọn làm giống thì cần phải có kế hoạch quản lý tốt Những con này sẽ được cân và đánh số ở các giai đoạn sơ sinh, lúc cai sữa, lúc 50, 60 hay 70 ngày tuổi Đây chính là cơ sở giúp cho việc lựa chọn để làm giống sau này

* Giai đoạn từ sơ sinh đến 3 ngày tuổi

Bình thường khoảng thời gian giữa lợn con đẻ trước và lợn con đẻ liền

kề 15 - 20 phút, cũng có khoảng cách nái đẻ kéo dài hơn Lợn con đẻ ra phải được lau khô bằng vải màn xô mềm sạch theo trình tự miệng - mũi - đầu - mình - rốn - bốn chân, cho vào ổ úm sau khi nhiệt độ môi trường nhỏ hơn

35oC Lợn nái đẻ xong con cuối cùng tiến hành bấm nanh, cắt rốn, cắt đuôi, săm tai, cố định đầu vú cho lợn con mục đích là tạo điều kiện để đàn lợn con phát triển đồng đều và khỏe mạnh

Trang 20

* Giai đoạn 3 ngày tuổi đến 3 tuần tuổi

Trong thời gian này nói chung ổ lợn con đã bú thành thạo và rõ ràng đã bước vào giai đoạn khởi động tốt trong thời gian này việc chăm sóc quản lý rất quan trọng bao gồm cả phòng chống thiếu máu khống chế tiêu chảy, thiến lợn

và cắt đuôi Trong giai đoạn này sữa lợn mẹ đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con trong mọi vấn đề, trừ sắt Sắt cần thiết cho việc hình thành Hb trong máu nó vận chuyển oxygen đến các bộ phận cơ thể Thiếu sắt sẽ gây thiếu máu nhưng

có thể phòng ngừa bằng cách tiêm sắt

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [3], một trong các yếu tố làm cho lợn con dễ mắc bệnh đường tiêu hóa là do thiếu sắt Nhiều thực nghiệm đã chứng minh, trong cơ thể sơ sinh phải cần 40 – 50 mg sắt nhưng lợn con chỉ nhận được lượng sắt qua sữa mẹ là 1mg Vì vậy phải bổ sung một lượng sắt tối thiểu 200 – 250 mg/con/ngày Khi thiếu sắt, lợn con dễ sinh bần huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm nên dễ mắc hội chứng tiêu chảy

Nhu cầu sắt cho lợn con mỗi ngày cần 7 – 16 mg hoặc 21 mg/kg tăng khối lượng duy trì Hb (hồng cầu) trong máu, sắt dự trữ cho cơ thể tồn tại và phát triển Lượng sắt trong sữa mẹ không đủ cho nhu cầu sắt của nhu cầu lợn con, triệu chứng điển hình của thiếu sắt ở lợn con là thiếu máu, hàm lượng Hbgiảm,

da lợn con màu trắng xanh, đôi khi tiêu chảy, phân trắng, chậm lớn, có khi chết

* Từ 3 tuần tuổi đến cai sữa

Thời gian này lợn con đã lớn nhanh hơn, nó trở thành dẻo dai và có khả năng đương đầu tốt hơn với môi trường ngoại cảnh của nó Vào thời gian này, phần lớn lợn con theo mẹ đã được 3 - 4 tuần tuổi, chúng bắt đầu ăn thức ăn và lớn nhanh, sự tăng khối lượng này là tăng khối lượng có hiệu quả, do đó ta cần

cố gắng giảm thấp yếu tố stress cho lợn con Một cách để đạt năng suất tối đa

là lợn con bắt đầu ăn càng sớm càng tốt Yếu tố chăm sóc, quản lý chủ yếu cuối cùng của việc nuôi lợn con theo mẹ là cai sữa, tuổi cai sữa lợn con có thể thay đổi tùy theo đàn, tùy theo chuồng trại có sẵn Nói chung lợn con có thể cai sữa

Trang 21

bất cứ khi nào những lợn con càng bé càng đòi hỏi sự quản lý nhiều hơn Để thực hiện cai sữa được đảm bảo và đạt hiệu quả cao ta cần chú ý những điểm sau để giảm stress khi cai sữa lợn con:

+ Chỉ cai sữa cho những lợn cân năng trên 5,5 kg

+ Cai sữa trong thời gian trên 2 - 3 ngày, cai sữa trước cho những ổ đông con + Ghép nhóm lợn con theo tầm vóc cơ thể

+ Hạn chế số lượng trong 1 ngăn là 30 con hoặc ít hơn, nếu được

+ Hạn chế mức ăn, thức ăn vào trong vòng 48 giờ nếu có xảy ra tiêu chảy sau cai sữa

+ Cứ 4 - 5 lợn con thì đặt 1 máng ăn và cứ 20 - 25 lợn con thì lắp đặt 2 vòi nước uống

+ Cho thuốc vào nước uống nếu tiêu chảy

2.3.3 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ

* Cho lợn con bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con:

Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Thời gian tiết sữa đầu của lợn nái là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với lợn con là trong 24 giờ đầu Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì cho cả đàn con bú cùng lúc Nếu lợn mẹ chưa đẻ xong thì nên cho những con đẻ trước bú trước Theo Vũ Đình Tôn và cs (2006) [17], lợn con khi mới sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể Song lượng kháng thể trong máu lợn con được tăng rất nhanh sau khi lợn con bú sữa đầu

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [15], lợn con mới đẻ lượng kháng thể tăng nhanh ngay sau khi bú sữa đầu của lợn mẹ, cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ lợn mẹ

Theo Trần Thị Dân (2008) [1], lợn con mới đẻ trong máu không có globulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang qua sữa đầu Lượng globulin sẽ giảm sau 3 - 4 tuần, rồi đến tuần thứ 5 - 6

Trang 22

lại tăng lên và đạt giá trị bình thường 65 mg/100 ml máu Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu… được tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đăc hiệu của lợn con kém Vì vậy cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh nhất là hội chứng tiêu chảy

Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao Hàm lượng protein trong sữa đầu gấp 2 lần so với bình thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 1,5 lần Đặc biệt trong sữa đầu có hàm lượng globulin mà sữa thường không có, globulin có tác dụng giúp cho lợn con có sức đề kháng đối với bệnh tật Ngoài ra, Mg++ trong sữa đầu có tác dụng tẩy các chất căn bã (phân su) trong quá trình tiêu hóa phát triển thai để hấp thu chất dinh dưỡng mới Nếu không nhận được Mg++ thì lợn con sẽ bị rối loạn tiêu hóa, gây tiêu chảy, tỷ lệ chết cao

Việc cố định đầu vú cho lợn con nên bắt đầu ngay từ khi cho chúng bú sữa đầu, theo quy luật tiết sữa của lợn nái thì lượng sữa tiết ra ở các vú phần ngực nhiều hơn vú ở phần bụng, mà lợn con trong ổ thường con to, con nhỏ không đều nhau Nếu để lợn con tự bú thì những con to khỏe thường tranh bú ở những

vú trước con ngực có nhiều sữa hơn và dẫn tới tỷ lệ đồng đều của đàn lợn con rất thấp, có trường hợp có những con lợn yếu không tranh được bú sẽ bị đói làm tỷ lệ chết của lợn con cao Khi cố định đầu vú, nên ưu tiên những con lợn nhỏ yếu được bú phía trước ngực Công việc này đòi hỏi phải kiên trì, tỷ mỉ bắt từng con cho bú nhiều lần trong một ngày (7 – 8) lần, làm liên tục trong 3 - 4 ngày để chúng quen hẳn với vị trí mới thôi Cũng có trường hợp số lợn con đẻ

ra ít hơn số vú thì những lợn vú phía sau có thể cho mỗi con làm quen 2 vú, để vừa tăng cường lượng sữa cho lợn con, vừa tránh bị teo vú cho lợn mẹ

Theo Duy Hùng (2011) [6], vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng ngày bằng dung dịch sát trùng Bấm nanh cho lợn con mới sinh, nên cho lợn con bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn Tăng cường ăn uống đủ chất cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ nên giảm bớt chất đạm để hạn chế nguy cơ thừa

Trang 23

sữa Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở những vùng bị viêm Dùng các phương pháp chườm nóng, xoa bóp nhẹ nên vùng bị sưng Nếu ghép lợn con với lợn mẹ khác mẹ thì phun eryzel cho cả đàn con cũ và mới mới không

bị mẹ cắn, những con mới ghép cũng phải cố định vú bú

* Bổ sung sắt cho lợn con

Trong những ngày đầu, khi lợn con chưa ăn được, lượng sắt mà lợn con tiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ nhu cầu của cơ thể, vì vậy lợn con cần được bổ sung thêm sắt

- Cách 1: Chỉ tiêm 1 lần vào ngày thứ 3 sau khi đẻ, với liều lượng 200 mg sắt (Fe - Dextran) cho 1 lợn con

- Cách 2: Tiêm lần 2: lần thứ nhất 100mg vào ngày thứ 3 sau khi đẻ, lần thứ 2 (tiêm lăp lại) là 7 ngày sau khi tiêm lần thứ nhất Cũng với liều lượng 100

mg cho 1 lợn con

Để ngăn ngừa hiện tượng ngộ độc sắt cho lợn con, cần bổ sung thêm vitamin E vào khẩu phần ăn của lợn mẹ 1 ngày trước khi tiêm (khoảng 500 mg) Nếu thiếu vitamin E thì cần cung cấp 20 – 30 mg sắt vào ngày thứ 3 sau khi sinh cũng đã gây ngộ độc cho cơ thể lợn con

* Tập cho lợn ăn sớm:

- Mục đích:

+ Giúp lợn con làm quen với thức ăn sớm

+ Bù đắp phần dinh dưỡng thiếu hụt cho nhu cầu sinh trưởng phát triển của lợn con khi sản lượng sữa mẹ giảm sau 3 tuần tiết sữa

+ Rèn luyện bộ máy tiêu hóa của lợn con sớm hoàn thiện về chức năng, đồng thời kích thích bộ máy tiêu hóa phát triển nhanh hơn về kích thước và khối lượng

+ Giảm bớt sự nhấm nháp thức ăn rơi vãi của lợn con để hạn chế được các bệnh đường ruột của lợn con

Trang 24

+ Giảm bớt sự khai thác sữa mẹ kiệt quệ và giảm tỷ lệ hao mòn của lợn

mẹ, từ đó lợn mẹ sớm động dục trở lại sau khi cai sữa lợn con

2.3.4 Cai sữa cho lợn con

* Điều kiện cai sữa cho lợn con:

- Phải chủ động thức ăn, thức ăn cần phải có phẩm chất tốt, giá trị dinh dưỡng cao, cân đối

- Sức khỏe của lợn con và lợn mẹ phải tốt

- Lợn con phải ăn tốt và tiêu hóa tốt các loại thức ăn

- Cần phải có trang thiết bị đầy đủ, đúng kỹ thuật

- Người chăn nuôi phải có tay nghề, tinh thần trách nhiệm cao

* Các hình thức cai sữa:

- Cai sữa thông thường: Cai sữa từ 42 - 60 ngày tuổi

+ Ưu điểm: Lợn con biết ăn tốt, thức ăn yêu cầu không cao lắm, lợn con khỏe mạnh hơn, khả năng điều tiết thân nhiệt tốt hơn nên chăm sóc nhẹ nhàng hơn

+ Nhược điểm: Khả năng sinh sản thấp, chi phí cho 1kg khối lượng lợn con cao, tỷ lệ hao mòn lợn mẹ lớn hơn

Trang 25

- Cai sữa sớm: Cai sữa từ 21 đến 28 ngày tuổi

+ Ưu điểm: Nâng cao sức sinh sản của lợn nái (nâng cao số lứa đẻ lên 2,33 lứa so với 2,19 lứa), tránh được một số bệnh truyền nhiễm từ mẹ sang con, giảm chi phí thức ăn/1kg tăng khối lượng lợn con (20% so với cai sữa thông thường), giảm tỷ lệ hao mòn lợn mẹ

+ Nhược điểm: Đòi hỏi thức ăn phải có chất lượng tốt, người chăm sóc nuôi dưỡng phải nhiệt tình với công việc và có nhiều kinh nghiệm

* Kỹ thuật cai sữa:

- Trước cai sữa 2 - 3 ngày cần giảm số lần bú của lợn con

- Giảm thức ăn cho lợn mẹ trước khi cai sữa 1 - 2 ngày

- Chế độ ăn đối với lợn con:

+ Tỷ lệ sơ trong khẩu phần thấp: Khả năng tiêu hóa chất xơ ở lợn con còn kém, tỷ lệ xơ ở trong khẩu phần ăn cao thì lợn con sinh trưởng phát triển chậm, tiêu tốn thức ăn cao, lợn con dễ táo bón, viêm ruột và có thể dẫn đến còi cọc,

tỷ lệ thích hợp là 5 - 6% Xu hướng trong những năm gần đây ở các nước chăn nuôi tiên tiến người ta khuyến khích nâng cao tỷ lệ xơ trong khẩu phần ăn của lợn để nâng cao sức khỏe

+ Có tỷ lệ ăn thích hợp: Lợn con ở giai đoạn này cần có dinh dưỡng tốt cho phát triển bộ xương và cơ bắp là chủ yếu Nếu chúng ta cung cấp khẩu phần

ăn có lượng thức ăn tinh bột cao, lợn con sẽ béo sớm và khả năng tăng trọng sẽ

Trang 26

giảm, tích lũy nhiều mỡ sớm Tỷ lệ thức ăn tinh thích hợp cho lợn con trong giai đoạn này là 80% trong khẩu phần

+ Có tỷ lệ nước thích hợp: Nếu khẩu phần lợn con có tỷ lệ nước cao sẽ dẫn đến tiêu hóa kém, giảm khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng nhất là protein, thức ăn nhiều nước cũng gây nền chuồng bẩn, ẩm thấp và lợn con dễ nhiễm bệnh

Nếu tỷ lệ nước thấp sẽ gây nên thiếu nước cho nhu cầu sinh trưởng và phát triển của lợn con Tỷ lệ thức ăn tinh: thô phải thích hợp, cứ 1 kg thức ăn tinh trộn với 0,5 lít nước sạch, tối đa có thể là tỷ lệ 1:1, ngoài ra người chăn nuôi phải cho lợn con uống nước đầy đủ theo hình thức tự do Ngoài ra chúng ta còn bổ sung khoáng vi lượng như Mn, Co, Cu, Mg, Fe, và bổ sung cho lợn những chế phẩm vitamin - khoáng

+ Phương pháp cho lợn con ăn:

Cho ăn nhiều bữa trong ngày, 5 - 6 bữa/ngày thì có tốc độ tăng trọng cao hơn 3 bữa/ngày Tuy nhiên, cho ăn nhiều bữa trong ngày sẽ tốn công lao động trong chăn nuôi Từ đó người chăn nuôi cần lựa chọn số bữa thích hợp để cho lợn con ăn Cho lợn con ăn đúng giờ giấc quy định và tập cho lợn con những phản xạ có điều kiện về tiêu hóa Cho lợn con ăn từ từ để tránh vung vãi ra ngoài và hạn chế được lợn con mắc các bệnh về đường tiêu hóa Cho lợn con

ăn đúng tiêu chuẩn và khẩu phần ăn Theo dõi sức khỏe để điều chỉnh khẩu phần và tiêu chuẩn cho chúng

2.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn con

Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục của lợn gồm hai nhóm: các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài

* Yếu tố bên trong:

Yếu tố di truyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau

Trang 27

Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn là quá trình trao đổi chất trong cơ thể Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormon Hormon tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào

và giữ cân bằng các chất trong máu

* Yếu tố bên ngoài:

Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển cơ thể lợn bao gồm dinh dưỡng, nhiệt độ, môi trường, ánh sáng và các yếu tố khác + Dinh dưỡng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa nếu không

có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh Khi chúng ta đảm bảo đầy đủ về thức ăn bao gồm cả số lượng và chất lượng thức ăn thì sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của các cơ quan trong cơ thể + Nhiệt độ và độ ẩm môi trường: nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp thì sẽ không thể đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn ra bình thường cũng như cân bằng nhiệt của cơ thể lợn

Độ ẩm cũng khiến cho lợn con dễ lạnh và mắc tiêu chảy

+Theo Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) [5], lợn con sinh ra phải được sưởi ấm

ở nhiệt độ 34oC trong suốt tuần lễ đầu tiên, sau đó giảm dần xuống nhưng không được thấp hơn 30oC, như vậy lợn sẽ tránh được những stress lạnh ẩm

+Khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp lợn sẽ thất thoát nhiệt rất nhiều, lợn sẽ giảm khả năng tăng khối lượng và tăng tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng Nhiệt độ chuồng nuôi có liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm

độ không khí thích hợp cho lợn ở vào khoảng 70%

+Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [3], các yếu tố lạnh, ẩm ảnh hưởng rất lớn đến lợn sơ sinh, lợn con vài ngày tuổi Trong các yếu tố về tiểu khí hậu thì quan trọng nhất là nhiệt độ và độ ẩm Độ ẩm thích hợp cho lợn từ 75 -85% Vì thế việc làm khô và giữ ấm chuồng là vô cùng quan trọng

Trang 28

+ Theo Phan Địch Lân và cs (1997) [10], chuồng trại ẩm, lạnh tác động vào cơ thể lợn gây rối loạn thần kinh từ đó gây rối loạn tiêu hóa.Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy thay đổi theo sự biến đổi hàng tháng của nhiệt độ, độ

ẩm trung bình, cụ thể là có sự tương quan thuận với độ ẩm và tương quan nghịch với nhiệt độ không khí Do đó, để hạn chế tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy lợn con, thì ngoài các biện pháp về dinh dưỡng, thú y, cần đảm bảo tiểu khí hậu chuồng nuôi thích hợp

+ Ánh sáng: Ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển của lợn con, lợn hậu bị và lợn sinh sản hơn là lợn vỗ béo Khi không đủ ánh sáng sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của lợn, đăc biệt là quá trình trao đổi khoáng Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày tuổi, nếu không đủ ánh sáng thì tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 12%, tiêu tốn thức ăn giảm 8 - 9%

so với lợn con được vận động dưới ánh sáng măt trời

+ Các yếu tố khác: Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển lợn đã nêu trên còn có các yếu tố khác như vấn đề về chuồng trại, chăm sóc, nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi như không khí, tốc độ gió lùa, nồng độ các khí thải Nếu chúng ta cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo yêu cầu của từng loại lợn

sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng phát triển đạt mức tối đa

2.4 Một số biện pháp phòng bệnh cho lợn con theo mẹ

* Vệ sinh phòng bệnh:

- Khái niệm vệ sinh:

Vệ sinh thú y là việc đáp ứng các yêu cầu nhằm bảo vệ sức khỏe động vật, sức khỏe con người, môi trường và hệ sinh thái

- Vệ sinh chuồng trại:

+ Ngăn cách khu vực chăn nuôi lợn với các súc vật khác như: Chó, mèo… + Rửa và phun thuốc sát trùng chuồng trại sạch sẽ ít nhất 3 - 7 ngày trước khi thả lợn vào chuồng

+ Hàng ngày phải quét phân trong chuồng, giữ cho chuồng luôn khô ráo, sạch sẽ

Trang 29

+ Xử lý xác chết gia súc nghiêm ngặt: Chôn sâu, đốt

+ Nên có kế hoạch rửa chuồng, phun thuốc sát trùng và diệt ruồi, muỗi mỗi tuần 2 lần

- Vệ sinh thức ăn và nước uống:

+ Thường xuyên kiểm tra thức ăn trước khi cho lợn ăn, thức ăn phải đảm bảo chất lượng, không bị mốc

+ Nếu sử dụng thức ăn trộn thì định kỳ phải trộn kháng sinh để phòng bệnh cho lợn

+ Nước uống phải đủ, sạch, không bị nhiễm bẩn

Bảng 2.2 Lịch phun sát trùng toàn trại

Thứ

Trong chuồng

Ngoài chuồng

Ngoài khu vực chăn nuôi

Chuồng

Chuồng cai sữa

trùng

Phun sát trùng + rắc vôi hành lang

Phun sát trùng

Phun sát trùng đầu và cuối chuồng

Rắc vôi

Phun sát trùng

trùng

Phun sát trùng + rắc vôi hành lang

Xả vôi gầm

Phun sát trùng đầu và cuối chuồng

rắc vôi hành lang

Phun sát trùng

Phun sát trùng đầu và cuối chuồng

trùng

Phun sát trùng + rắc vôi hành lang

Phun sát trùng

Phun sát trùng đầu và cuối chuồng

Phun sát trùng

Phun sát trùng toàn

bộ khu vực chăn nuôi

trùng

Phun sát trùng + rắc vôi hành lang

Xả vôi gầm

Phun sát trùng đầu và

Trang 30

Lịch phun sát trùng tại trại được công nhân và sinh viên được thực hiệnđầy đủ và nghiêm túc, để phòng những mầm bệnh có thể phát sinh Đối vớichuồng đẻ công việc sát trùng được thực hiện 2 lần 1 ngày vào sáng và chiều

Công việc vệ sinh sát trùngđược thực hiện nhanh chóng với tỷ lệ phunhợp

lý, khi phun thuốc sát trùng, thuốc ruồi, các máng ăn của lợn được để ý đểkhông

bị dính thuốc vào

* Tiêm vắc xin phòng bệnh cho đàn lợn của trại

Bên cạnh công tác vệ sinh phòng bệnh, cần phòng những bệnh thông thường như dịch tả, cầu trùng, khô thai, giả dại… lịch tiêm phòng cụ thể như sau:

Bảng 2.3 Lịch tiêm vắc xin phòng bệnh cho trại

Liều lượng (ml/con)

Lợn

con

21 ngày

Suyễn và hội chứng còi cọc

3 tuần

sau đẻ

Suyễn và hội chứng còi cọc

Ingelvac Myco +

(Nguồn: Phòng kỹ thuật công ty Cổ phần phát triển chăn nuôi Hòa Phát)

Trang 31

Định kỳ hàng năm vào tháng 4, 8, 12 tiêm phòng bệnh tổng đàn cho lợn đực giống và lợn nái: vắc xin giả dại Begonia tiêm bắp 2 ml/con, vắc xin dịch tả Pestifa tiêm bắp 2ml/con, vắc xin trị nội ngoại ký sinh trùng Ivermecin 1ml/33kgTT, vắc xin lở mồm long móng Aftopor 2ml/con

2.5 Đề xuất các biện pháp phòng trị một số bệnh cho lợn con

2.5.1 Hội chứng tiêu chảy ở lợn con

+ Phòng bệnh

Nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái tốt, cung cấp đầy đủ vitamin, khoáng chất, đạm cho lợn mẹ Lợn con khi đẻ ra phải cho bú sữa đầu càng sớm càng tốt, đảm bảo đủ ấm cho lợn con mới sinh, chuồng trại sạch sẽ Tập cho lợn con

ăn sớm, lợn mẹ và lợn con được cho ăn uống, vận động hợp lý, đều đặn

+ Điều trị

- Cho lợn uống nước sắc của các lá, quả chát như lá ổi, búp sim, …

- Dùng các chế phẩm sinh học để tăng cường tiêu hóa hấp thu: như

Complexsubtilit, hoặc bột subtilit

- Bổ sung các nguyên tố vi lượng: bằng các chế phẩm Premix

- Dùng các thuốc kháng sinh diệt vi khuẩn bội nhiễm như: Colistin,

flumyquil, neomycin, antidia

- Kết hợp cho lợn uống đường gluco, chất điện giải, Sobiton chống

mất nước, tăng cường sức đề kháng cho lợn con

Ví dụ thuốc cụ thể là:

+ Fatra (dung dịch uống)

+Liều dùng: Lợn con (1 - 3kg) 1ml/con/lần, 2lần/ngày Lợn con (3 – 5 kg) 1ml/con/lần, 3 lần/ngày, dùng trong 3 ngày

+ Kết hợp với dùng B.complex, vitamin tổng hợp

2.5.2 Bệnh viêm khớp do Mycoplasma

+ Phòng bệnh

Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, định kỳ phun thuốc sát trùng để diệt mầm bệnh trong môi trường chăn nuôi, có thể sử dụng: Vimekon (pha 100gr với 20

Trang 32

lít nước) hay Iodine (pha 15 - 20 ml/4 lít nước) phun khắp chuồng, định kỳ 3 -

4 tuần sử dụng 1 lần

Hạn chế tối đa các yếu tố làm giảm sức đề kháng của lợn: thay đổi thức

ăn, môi trường nuôi đột ngột, chuyển đàn, nuôi nhốt quá chật, điều kiện vệ sinh thông thoáng kém…

Cho lợn ăn đầy đủ dưỡng chất, thường xuyên cung cấp vào thức ăn các dưỡng chất giúp cân bằng khẩu phần, hạn chế suy dinh dưỡng như: Vime -Amino: 100 gr/20 kg thức ăn; Vimix plus: 100 gr/120 lít nước, dùng hàng ngày; Biotin H AD: 100 gr/100 kg thức ăn

+ Điều trị

Trong bệnh viêm khớp do Streptococcus suis ở lợn con, điều trị sớm sẽ rất

hiệu quả Điều trị đúng liệu trình giúp lợn hồi phục tốt hơn, có thể sử dụng một trong các loại thuốc sau liên tục 3 - 5 ngày: Kampico: 1 ml/4 kg thể trọng; Procain Penicillin: 1 ml/10 kg thể trọng; Colamp: 1 ml/10 kg thể trọng Kết hợp Ketovet: 1 ml/15 kg thể trọng/ngày nhằm giảm đau, hạ sốt cho lợn Nên sung tiêm Vimekat: 1 ml/5 kg thể trọng, lặp lại sau 4 - 5 ngày giúp tăng cường trao đổi chất giúp lợn mau hồi phục sau bệnh

2.5.3 Viêm rốn

+ Phòng và cách xử lý

Khi cắt rốn cho lợn con sử dụng dao và kéo sắc, ngâm dụng cụ trong 1 lít nước sát trùng 30 phút trước khi sử dụng Sau khi cắt xong nhúng rốn vào cồn Iodine để sát trùng Ngày sau kiểm tra rốn khô hay không, nếu rốn không khô (nhìn như lúc mới cắt tức là rốn đang bị viêm) thì nhúng lại cồn Iodine thêm 1 lần nữa

+ Điều trị

Dùng panh kẹp vào cuống rốn bị viêm nặn mủ viêm ra bôi cồn Iodine vào cuống rốn và tiêm Vetrimoxin LA 0,5ml

Trang 33

2.6 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

2.6.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Việc nghiên cứu về giai đoạn lợn con theo mẹ và sau cai sữa được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm, giai đoạn lợn con theo mẹ có đăc điểm là lợn con sinh ra không được cung cấp nguồn dinh dưỡng trực tiếp như khi còn là bào thai Bộ máy tiêu hóa chưa hoàn thiện, môi trường sống thay đổi, lượng sắt do mẹ cung cấp giảm dần, lợn con dễ mắc bệnh đăc biệt là bệnh đường tiêu hóa

Theo Nguyễn Quang Linh (2005) [12], lợn con trong giai đoạn bú sữa đầu

có khả năng sinh trưởng phát triển mạnh Từ lúc sơ sinh đến cai sữa trọng lượng lợn con tăng 10 - 12 lần So với các gia súc khác thì sinh trưởng của lợn con tăng gấp nhiều lần

Theo Đoàn Thị Kim Dung (2003) [2], dùng Apramycin hoặc Apramycin phối hợp với Bioseptin có tác dụng tốt nhất với bệnh tiêu chảy ở lợn con dùng

riêng khỏi 80%, dùng phối hợp khỏi 98% Bên cạnh đó các phác đồ điều trị không thể thiếu được việc bổ sung các chất điện giải cho lợn bệnh vì nó nâng cao hiệu quả điều trị, rút ngắn thời gian điều trị

Theo Đinh Bích Thúy và Nguyễn Thị Thạo (1995) [18], sau khi thử 8 loại kháng sinh thường dùng nhất phòng, điều trị bệnh phân trắng lợn con như

trimethoprim/sulfamethoxazol, streptomycin, kanamycin cho biết: đây là thuốc

ít tác dụng nhất Tác giả cũng cho rằng tính kháng của một loại vi khuẩn đối với cùng một loại thuốc kháng sinh khác nhau giữa các vùng Vì vậy, khi lựa chọn kháng sinh điều trị nên theo kết quả thử kháng sinh đồ

Theo Lê Văn Tạo (1995) [16], đã nghiên cứu các yếu tố gây bệnh của các

chủng E.coli gây bệnh, chọn chủng E.coli để chế tạo vắc xin E coli cho uống

phòng bệnh phân trắng lợn con, vắc xin dùng cho lợn con sau đẻ 2 giờ, uống với liều 1ml/ con liên tục trong 3 - 5 ngày Kết quả làm giảm được tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng30 - 35% và giảm tỷ lệ chết do bệnh này 3,6 - 6,8%

Trang 34

Theo Đỗ Ngọc Thúy và cs (2002) [19], cho biết: 106 chủng vi khuẩn E

coli phânlập từ lợn con theo mẹ bị bệnh phân trắng có xu hướng kháng mạnh

với các loại kháng sinh thường dùng điều trị bệnh như: amjoxicillin,

cloramphenicol, streptomycin Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn với 3 loại

kháng sinh trên là phổ biến

Theo Lê Văn Năm (2003) [14], ở lợn con, bê, nghé non nhiễm cầu trùng,

có tới 30- 50% bị chết, số còn lại còi cọc, chậm lớn

Theo Lâm Thị Thu Hương (2004) [7], khi khảo sát heo nuôi ở một số trang trại khu vực TP Hồ Chí Minh thì số heo bị nhiễm cầu trùng chiếm tỷ lệ từ 7,53

- 44,47%

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2005) [9], khi kiểm tra 2002 con lợn tại tỉnh

Thái Nguyên cho kết quả: lợn bị nhiễm 7 loài Coccidia Kết quả kiểm tra tình

hình nhiễm cầu trùng lợn ở tỉnh Trà Vinh có ít hơn một loài so với Nguyễn Thị Kim Lan khi khảo sát ở tỉnh Thái Nguyên

2.6.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Theo Kolapxki và cs (1980) [8], heo nhiễm cầu trùng có thể giảm 12 - 13% trọng lượng và tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở heo con từ 30 - 92%, gây tổn thất kinh tế lớn

Theo Sokol (1981) [25], cho rằng vi khuẩn E.coli cộng sinh có mặt thường

trực trong đường ruột của người và động vật, trong quá trình sống vi khuẩn có khả năng tiếp nhận các yếu tố gây bệnh như: yếu tố bám dính (K88, K99), yếu

tố dung huyết (Hly), yếu tố cạnh tranh (Colv), yếu tố kháng kháng sinh (R) và các độc tố đường ruột Các yếu tố gây bệnh này không được di truyền qua DNA

của chromosome mà được di truyền qua DNA nằm ngoài chromosome là

plasmid Những yếu tố gây bệnh này đã giúp cho vi khuẩn E.coli bám dính vào

nhung mao ruột non, xâm nhập vào thành ruột, phát triển với số lượng lớn Sau

đó vi khuẩn thực hiện quá trình gây bệnh của mình bằng cách sản sinh độc tố, gây hội chứng tiêu chảy, phá huỷ tế bào niêm mạc ruột

Trang 35

Theo Purvis và cs (1985) [24], cho rằng phương thức cho ăn phù hợp là nguyên nhân quan trọng gây tiêu chảy ở lợn

Theo Glawischnig (1992) [23], xác định Clostridium perfringens type Avà

type C là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy và đã gây thiệt hại kinh tế lớn cho người chăn nuôi

Theo Fairbrother và cs (1992) [22], cho biết độc tố (Enterotoxin) do E.coli sinh ra Enterotoxinogenic Escheriachia coli (ETEC) gây ỉa chảy trầm trọng cho

lợn sơ sinh từ 1- 4 ngày tuổi

Theo Akita (1993) [21], đã nghiên cứu sản xuất kháng thể đặc hiệu qua lòngđỏ trứng gà dùng trong phòng và chữa bệnh tiêu chảy ở lợn con Cùng với

sự phân lập và nghiên cứu các yếu tố gây bệnh của E.coli, việc nghiên cứu và

sản xuất các chế phẩm phòng tiêu chảy ở lợn cũng được các nhà khoa học trên thế giới đặc biệt quan tâm

Trang 36

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đàn lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi

Phạm vi: quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị các bệnh gặp trên đàn lợn con giai đoạntừ sơ sinh đến 21 ngày tuổi

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm thực hiện: tại trang trại của công ty TNHH MTV Chăn nuôi Hòa Phát, xã Long Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang

- Thời gian: Từ 20/11/2018 - 20/05/2019

3.3 Nội dung thực hiện

- Thực hiện quy trình và đánh giá kết quả áp dụng quy trình chăm sóc,

nuôi dưỡng cho đàn lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại

- Thực hiện và đánh giá kết quả các biện pháp phòng và điều trị bệnh cho đàn lợn con giai đoạn từ sơ sinh dến 21 ngày tuổi tại trại

- Đánh giá kết quả chẩn đoán, điều trị một số bệnh cho lợn con giai đoạn

từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi

- Kết quả thực hiện một số công việc khác

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi

- Cơ cấu đàn lợn của trại trong 2 năm (2018 - 2019)

- Số lợn con trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng trong 6 tháng thực tập

- Công tác phòng bệnh bằng vệ sinh thú y

- Công tác phòng bệnh bằng vắc xin

- Tình hình mắc bệnh ở lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi

Trang 37

- Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh ở lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi

- Tỷ lệ mắc một số bệnh ở lợn con trong thời gian thực tập

- Hiệu quả điều trị của một số phác đồ điều trị hoặc các biện pháp can thiệp

- Thực hiện các công tác khác

3.4.2 Phương pháp thực hiện

3.4.2.1 Phương pháp đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại

Để đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại, em đã tiến hành thu thập thông tin từ trại kết hợp với kết quả điều tra, theo dõi của bản thân

3.4.2.2 Phương pháp áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại

Sử dụng quy trình đang được áp dụng cho đàn lợn nuôi tại trại và theo dõi, đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình

- Hằng ngày trước khi vào chuồng thì công nhân và sinh viên thực tập phải

đi qua phòng tắm sát trùng tắm rửa sạch sẽ và thay quần áo lao động, đi ủng thì mới được vào chuồng Thực hiện tốt các nội quy vệ sinh sát trùng của trại

- Thay nước sát trùng ngoài cửa chuồng

+ Đối với chuồng lợn con theo mẹ từ 1 - 3 tuần tuổi:

- Vào chuồng nhận giao ca, kiểm tra bóng úm, quạt thông gió, lợn con, lợn nái

- Đập lợn nái dậy cho đi vệ sinh và thu phân

- Vệ sinh máng ăn cho lợn mẹ và cho lợn nái ăn

- Bắt nhốt lợn con đẻ dưới 3 ngày tuổi vào lông úm để tránh bị lợn mẹ dẫm và đè

- Lau sàn nhựa bằng 2 chổi lau sàn 1 chổi lau sàn tiêu chảy, 1 chổi lau sàn sạch Lau sàn bằng nước sát trùng

- Thay thảm bẩn vào đầu buổi sáng và đầu buổi chiều

- Vệ sinh máng ăn của lợn nái và cho lợn nái ăn

Trang 38

- Vệ sinh máng tập ăn cho lợn con, và cho lợn con tập ăn bằng cám dạng viên hỗn hợp

- Rắc vôi đường hàng lang, đường tra cám, dưới gầm chuồng có những ô tiêu chảy

- Pha sữa bón cho đàn còi

- Điều trị bệnh cho lợn con

- Phun sát trùng theo định kỳ

- Pha điện giải cho nái

- Buổi chiều cho lợn ăn song ghi bảng và chỉnh bảng cám

- Ghi sổ theo dõi lợn con, sổ giao ca, sổ điều trị lợn con và lợn nái

- Thu phân ra ngoài

+ Đối với các chuồng đang đẻ:

- Lau mông, vú cho lợn nái sắp đẻ và sau đẻ 3 ngày

- Chuẩn bị dụng cụ đỡ và đẻ cho lợn nái

- Tiêm Oxytocin cho lợn nái sau đẻ trong 3 ngày sau đẻ

- Thụt rửa, đo thân nhiệt cho lợn nái

- Chăm lợn con còi

- Cho lợn con uống Octamix AC hoặc Bio - Aminozyme để phòng tiêu chảy cho lợn con sau sinh 1 đến 2 ngày tuổi

- Cho lợn con uống thuốc Diacoxin 5% phòng bệnh cầu trùng khi được 3 ngày tuổi

- Mài nanh, săm tai, cắt đuôi cho lợn con khi được1 - 2 ngày tuổi

- Thiến cho lợn con từ 5 - 7 ngày tuổi

- Ghi và đếm lợn con sau đẻ, báo đẻ, chỉnh cám cho lợn nái

- Dọn phân và nhau thai ra khu vực quy định

- Vệ sinh khu vực đỡ đẻ, vệ sinh nái và dụng cụ đỡ đẻ

- Bàn giao ca

Ngày đăng: 08/06/2020, 10:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w