Mục tiêu chung - Đánh giá được hiệu quả kinh tế, mức độ thành công của việc trồng cây dược liệu Hoài sơn, xác định những thuận lợi và khó khăn làm cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao h
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Thái Nguyên - năm 2019
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô, gia đình, bạn bè
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt thành của các cô, chú, anh, chị tại HTX Đông Nam dược đã giúp đỡ tôi thực hiện tốt đề tài này
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên khích lệ trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này
Với thời gian và khả năng còn hạn chế, đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý chân tình từ các thầy cô và các bạn
Thái Nguyên, ngày 31 tháng 05 năm 2019
Sinh viên
Vũ Linh Chi
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài tốt nghiệp: “Đánh giá hiệu quả trồng cây dược liệu Hoài sơn (Dioscorea persimilis Prain et Burk.) tại Hợp tác xã Đông Nam dược xã
Hà Vị - Huyện Bạch Thông – Tỉnh Bắc Kạn”., chuyên nghành Nông Lâm
Kết Hợp là chuyên nghành của riêng bản thân tôi, đề tài đã được sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin có sẵn được trích rõ nguồn gốc
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu đã đưa trong đề tài nghiên cứu này là trung thực Các số liệu được trích dẫn rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2019
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
Đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, họ và tên)
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học, học tập 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
Phần 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học vấn đề nghiên cứu 4
2.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế 4
2.1.2 Khái quát về cây dược liệu Hoài sơn 6
2.1.2.1 Đặc điểm của cây Hoài sơn 6
2.1.2.2 Kỹ thuật trồng cây Hoài sơn 7
2.1.3 Các chính sách phát triển cây dược liệu tại Việt Nam 8
2.1.4.Sự cần thiết phát triển dược liệu 10
2.2.Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về cây dược liệu 12
2.2.1 Tình hình nghiên cứu cây dược liệu trên thế giới 12
2.2.2.Tình hình nghiên cứu cây dược liệu ở Việt Nam 14
2.2.2.1 Khái quát những nghiên cứu về cây dược liệu ở Việt Nam 14
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 22
2.3.1 Điều kiện tự nhiên của xã Hà Vị, huyện Bạch Thông 22
2.3.1.1 Vị trí địa lý 22
Trang 62.3.1.2 Địa hình - địa mạo 22
2.3.1.3 Khí hậu của khu vực 22
2.3.1.5 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên 23
2.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Hà Vị, huyện Bạch Thông 25
2.3.2.1 Điều kiện kinh tế 25
2.3.2.2 Điều kiện văn hóa - xã hội 26
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG: VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 29
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 29
3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 29
3.4 Phương pháp nghiên cứu 30
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu 30
3.4.1.1 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp 30
3.4.1.2 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 30
3.4.2 Phương pháp khảo sát thực địa 30
3.4.3 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu 30
3.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 30
3.5.1 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất 30
3.5.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất 31
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Khái quát một số dự án được triển khai ở tỉnh Bắc Kạn 32
4.1.1 Một số dự án nuôi trồng, bảo tồn, chế biến dược liệu trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 32
4.1.2 Khái quát về dự án: “Nghiên cứu phát triển trồng dược liệu tỉnh Bắc Kạn” tỉnh Bắc Kạn 35
4.2 Đánh giá thực trạng phát triển cây dược liệu tại HTX Đông Nam dược 36
Trang 74.2.1 Tình hình trồng cây dược liệu theo dự án tại HTX Đông Nam Dược 36
4.2.2 Định hướng phát triển cây dược liệu của HTX Đông Nam dược 37
4.3 Đánh giá hiệu quả mô hình trồng Hoài sơn tại HTX Đông Nam Dược 38
4.3.1 Chi phí đầu tư cho 1ha trồng cây Hoài sơn 38
4.3.1 Kết quả và hiệu quả kinh tế cho sản xuất 1 ha Hoài sơn tại HTX Đông Nam dược 39
4.3.2 So sánh hiệu quả kinh tế giữa sản xuất Hoài sơn và sản xuất lúa 41
4.4 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn khi trồng cây Hoài sơn 45
4.4.1.Thuận lợi 46
4.4.2.Khó khăn 46
4.5 Một giải pháp đề xuất cho phát triển cây dược liệu nói chung và cây Hoài sơn nói riêng tại HTX Đông Nam dược, xã Hà Vị 47
4.5.1 Những giải pháp chung 47
4.5.2 Các giải pháp cụ thể 48
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Kiến nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính của xã Hà
Vị huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn năm 2018 25
Bảng 2.2: Một số giống vật nuôi chính của xã Hà Vị năm 2018 25
Bảng 2.3: Dân cư xã Hà Vị 27
Bảng 4.1 Diện tích và cơ cấu cây dược liệu tại HTX Đông Nam dược 37
Bảng 4.2 Chi phí đầu từ mô hình trồng 1ha cây Hoài sơn 38
Bảng 4.3: Hiệu quả kinh tế cho 1 ha Hoài sơn tại HTX Đông Nam dược 39
Bảng 4.4: Chi phí sản xuất cho 1ha lúa theo số liệu điều tra tại một số hộ thành viên của HTX Đông Nam dược năm 2019 42
Bảng 4.5: Hiệu quả kinh tế của 1 ha lúa theo số liệu điều tra tại một số hộ thành viên của HTX Đông Nam dược năm 2019 43
Bảng 4.6: So sánh hiệu quả kinh tế giữa cây dược liệu Hoài sơn và cây lúa 44
Trang 9
DANH MỤC BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT
HĐND Hội đồng nhân dân
BVTV Bảo vệ thực vật
GACP Good Agricultural and Collection Practices
GAP Good Agricultural Practices
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 27-2-2015, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Dự án phát triển cây dược liệu gắn với xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới (NTM) Ngoài việc giúp người dân xóa đói, giảm nghèo, hoàn thành xây dựng NTM, cây dược liệu còn làm thay đổi cơ cấu cây trồng của vùng theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao trình độ sản xuất của người dân thông qua việc tăng cường khả năng trao đổi, liên kết giữa các vùng miền nhằm từng bước đưa kinh tế vùng núi phát triển bền vững
Bắc Kạn được biết đến là địa phương có nhiều cây dược liệu quý Tuy nhiên những năm gần đây, tình trạng khai thác tràn lan khiến diện tích cây dược liệu ngày càng bị thu hẹp, nhiều cây thuốc quý đứng trước nguy cơ bị tận diệt Cây dược liệu có ở hầu hết các địa phương trên địa bàn tỉnh, trong
đó tập trung nhiều ở các huyện Ba Bể, Pác Nặm, Chợ Đồn, Bạch Thông, Na
Rì Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nền y, dược cổ truyền ở địa phương, cũng là nền tảng phát triển kinh tế cho nhiều hộ dân khi mở rộng diện tích trồng các loại cây dược liệu có giá trị
Thấy được tiềm năng và giá trị của cây dược liệu, vừa qua UBND tỉnh ban hành kế hoạch phát triển y, dược cổ truyền trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020, trong đó có mục tiêu phát triển nguồn tài nguyên dược liệu của tỉnh Để thực hiện được những mục tiêu đó, thì cần có sự vào cuộc mạnh
mẽ của nhiều cấp, ngành trong việc quản lý, bảo tồn, phát triển cây dược liệu Đồng thời, cần chấn chỉnh hoạt động thu mua, khai thác cây dược liệu trong tự nhiên theo hướng bảo tồn và phát triển, có những chính sách ưu đãi đối với việc quy hoạch vùng chuyên canh, phát triển trồng cây dược liệu tại địa phương
Dự án: “Nghiên cứu phát triển trồng cây dược liệu tỉnh Bắc Kạn”
thực hiện trong giai đoạn 2016 – 2019 đã chọn Hợp tác xã Đông Nam dược
Trang 11xã Hà Vị, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn là điểm thử nghiệm trồng các
mô hình dược liệu với 04 loài cây: Hà thủ ô đỏ, Ban lá dính, Đẳng sâm và Hoài sơn Diện tích trồng cây Hoài sơn tại Hợp tác xã Đông Nam dược là 0,5 ha trong năm 2018, đây là cây dược liệu ngắn ngày được trồng thử nghiệm lần đầu tiên tại địa phương Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả của cây dược liệu Hoài sơn để từ đó có những định hướng và giải pháp cho phát triển mở rộng loại cây này là vô cùng cấp thiết
Để dự án có thể triển khai thành công, cần có những đánh giá để trả lời các câu hỏi như: Hiệu quả kinh tế cây Hoài sơn mang lại là như thế nào?
Có mang lại lợi ích kinh tế cao hơn các cây trồng khác hay không? Trong quá trình trồng Hoài sơn người dân gặp phải những khó khăn gì? Đề tài của tôi tập trung trả lời các câu hỏi nêu trên và từ đó đưa ra những giải pháp giải quyết những khó khăn phát sinh trong quá trình xây dựng và phát triển cây Hoài sơn tại vùng trồng dược liệu xã Hà Vị, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc
Kạn Xuất phát từ thực tiễn trên tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: ”Đánh giá hiệu quả trồng cây dược liệu Hoài sơn (Dioscorea persimilis Prain et Burk.) tại Hợp tác xã Đông Nam dược xã Hà Vị - Huyện Bạch Thông – Tỉnh Bắc Kạn”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
- Đánh giá được hiệu quả kinh tế, mức độ thành công của việc trồng cây dược liệu Hoài sơn, xác định những thuận lợi và khó khăn làm cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả việc trồng và bảo tồn cây dược liệu Hoài sơn tại HTX Đông Nam dược xã Hà Vị - huyện Bạch Thông - tỉnh Bắc Kạn
Trang 12- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc bảo tồn và phát triển cây dược liệu nói chung và cây Hoài sơn nói riêng tại HTX Đông Nam dược xã Hà Vị - huyện Bạch Thông - tỉnh Bắc Kạn
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học, học tập
- Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản
và những kiến thức đào tạo tại nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế
- Nghiên cứu đề tài là cơ sở cho sinh viên vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào thực tiễn và là tiền đề quan trọng để sinh viên thấy được những kiến thức cơ bản cần bổ sung để phù hợp với công việc thực tế sau này
- Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập, nghiên cứu của sinh viên Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Kết quả nghiên cứu của đề tài đưa ra những nhận xét về hiệu quả, tiềm năng, thế mạnh và những khó khăn, trở ngại trong quá trình phát triển cây Hoài sơn và đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả của cây Hoài sơn
- Kết quả nghiên cứu góp phần đảm bảo sản xuất cây dược liệu, đóng góp cho phát triển bền vững kinh tế xã hội vùng núi và có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các lớp khóa sau
Trang 13
Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học vấn đề nghiên cứu
2.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh tế, chất lượng của các hoạt động này chính là quá trình tăng cường khai thác hợp lý và khơi dậy tiềm năng sẵn có của con người, tự nhiên để phục vụ cho lợi ích của con người
Bản chất của hiệu quả kinh tế trong nền sản xuất xã hội là thực hiện những yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian lao động trong sử dụng các nguồn lực xã hội Điều đó chính là hiệu quả của lao động xã hội và được xác định bằng tương quan so sánh giữa lượng kết quả hữu ích thu được với lượng hao phí bỏ ra
Trên quan điểm toàn diện, có ý kiến cho rằng đánh giá hiệu quả kinh tế không thể loại bỏ mục tiêu nâng cao trình độ về văn hóa, xã hội và đáp ứng các nhu cầu xã hội ngày một tốt hơn cùng với việc tạo ra môi trường bền vững Điều đó thể hiện mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường hiện tại và lâu dài Đó là quan điểm đúng đủ trong kinh tế
vi mô và kinh tế vĩ mô phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế hiện nay
* Một số công thức nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế
+ Giá trị sản xuất: GO (Gross Output) là toàn bộ giá trị của cải và dịch
vụ được tạo ra trong một thời kì nhất định (thường là 1 năm), đây là tổng thu của hộ
Trong đó: Pi là đơn giá sản phẩm thứ i
Qi là khối lượng sản phẩm thứ i
Trang 14+ Chi phí trung gian: IC (Intermediate Cost) là toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất như: giống, phân bón, thuốc BVTV, dụng cụ rẻ tiền mau hỏng trong một vụ sản xuất
IC = Trong đó: Ci là khoản chi phí thứ i + Giá trị gia tăng: VA (Value Added) là phần giá trị tăng thêm của doanh nghiệp hay người sản xuất tính theo công thức:
VA = GO – IC Những trường hợp đi thuê lao động thì phải trừ khoản thuê mướn đó + Thu nhập hỗn hợp: MI (Mexid Income) là phần thu nhập thuần túy của người sản xuất bao gồm thu nhập của công lao động và lợi nhuận khi sản xuất một đơn vị diện tích trong một vụ rau
MI = VA – (A + T) Trong đó: VA là giá trị tăng thêm (gia tăng)
T là thuế nông nghiệp
A là phần khấu hao tài sản cố định và chi phí phân bổ
+ Lợi nhuận:
TPr = GO – TC Trong đó: GO là giá trị sản xuất
TC là tổng chi phí trong sản xuất + Giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích: là tỷ lệ giữa tổng khối lượng sản phẩm thu được chia cho một đơn vị diện tích (sào/ha)
GO/sào hoặc GO/ha + Giá trị sản xuất trên một đồng chi phí: GO/TC
+ Giá trị sản xuất trên một công lao động: GO/CLĐ
+ Giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích: VA/sào hoặc VA/ha
+ Giá trị gia tăng trên một đồng chi phí: VA/TC
+ Giá trị gia tăng trên một công lao động: VA/CLĐ
Trang 15* Một số công thức tính hiệu quả kinh tế
+ Công thức 1: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa giá trị kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Hiệu quả kinh tế = Kết quả thu được/Chi phí sản xuất hay H = Q/C Trong đó: H là hiệu quả kinh tế
Q là kết quả thu được
C là chi phí sản xuất + Công thức 2: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng hiệu số giữa giá trị kết quả thu được và chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó
Hiệu quả kinh tế = Kết quả thu được – Chi phí sản xuất hay H = Q – C
2.1.2 Khái quát về cây dược liệu Hoài sơn
2.1.2.1 Đặc điểm của cây Hoài sơn
Tên khoa học: Dioscorea persimilis Prain et Burk
Họ: Củ nâu - Dioscoreaceae.
Tên khác: Củ mài, Khoai mài
Là một loại cây thân leo, có củ Thân dài, nhỏ, chiều dài trên 3m, thân nhẵn không có lông, cây có thể mọc quấn vào các thân cây khác hoặc các vật khác, đến đầu mùa đông cây khô héo Lá mọc đối hình tim và hoặc hình mũi tên, đầu nhọn, cuống dài, xanh, gân lá hình lưới Mùa hè ở cuống lá mọc hoa trắng, đơn tính Giữa những cuống lá mọc những dái củ hình bầu dục hoặc hình quả trứng, loại dái củ này gọi là trứng củ mài, loại dái củ này có thể để gây giống Quả của củ mài là loại quả có góc khía như loại quả vừng có ba góc kín hình cánh chim Hạt có cánh hình bầu dục Dưới đất có củ, phần trên nhọn, phần dưới có hình chiếc dùi cui dài khoảng 30 - 65cm, đường kính từ 7 - 10cm
Vỏ ngoài màu nâu, vỏ mỏng và xù xì, mọc nhiều rễ phụ, mặt cắt ngang không đều, màu trắng hoặc trắng vàng, có nhựa, không mùi
Củ mài đòi hỏi về khí hậu không khắt khe, nói chung vùng núi không rét lắm đều có thể trồng Nhưng đòi hỏi về đất lại tương đối khắt khe, vì củ mài là loại rễ mọc sâu, mức chịu phân bón tương đối mạnh, thích nghi trồng ở nơi đất
Trang 16màu mỡ tầng đất sâu, hướng mặt trời ấm áp, kín gió, đất xốp, thoát nước tốt, đất trũng, đất lầy, đất kiềm đều không thích nghi, vì sức hút nước của củ mài yếu, nước nhiều dễ bị thối củ
Ở những nơi có sâu bệnh thì không thể trồng liên tục, nói chung sau khi trồng hai năm cần phải luân canh các loại cây khác một năm Và củ mài là loại
dễ mắc bệnh không nên luân canh những loại cây có bệnh như cây thuốc lá Ngoài ra ở loại đất có nguồn bệnh cũng không nên trồng củ mài, vì sau khi bị bệnh củ mài sẽ mọc không tốt, chế biến khó khăn, ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng
2.1.2.2 Kỹ thuật trồng cây Hoài sơn
* Thời vụ: Thời vụ trồng vào Xuân Hè (tháng 4 - 6) và mùa Thu (tháng
9 - 10) Vụ Xuân Hè tốt hơn vì có độ ẩm thích hợp, nhiệt độ vừa phải, cây chóng nảy mầm
* Mật độ: Trồng theo luống, khoảng cách hàng cách hàng 1,0 – 1,4m,
cây cách cây 0,4 – 0,5m
* Kỹ thuật trồng
- Làm đất: Chọn đất cao ráo, thoát nước, tơi xốp, nhiều mùn, giàu chất dinh dưỡng đất được cày bừa hay cuốc để ải, vơ sạch cỏ và rễ cây, đánh luống cao 25 - 30cm, rộng 40 - 60cm
- Bón phân: Hoài sơn là cây cho củ, nên cần nhiều tro mùn, phân chuồng mục có thể bón lót 20 - 30 tấn/ha + 800 -1000kg phân NPK (thành phần chủ yếu gồm lân, kali) trộn đều, không nên trồng chay Để bón thúc có thể hòa phân đạm (khoảng 200kg/ha) cùng với phân chuồng, nước giải pha loãng vào
tháng 6,7,8
- Giống: Cây giống từ đầu củ phải đạt chiều cao mầm (cây) trên 20cm,
có 4 – 5 lá Cây từ hạt: 2 – 3 tháng tuổi, cây cao 20 - 25cm, có 4 - 5 lá, cây sinh trưởng tốt
- Trồng: Có thể trồng bằng đầu củ đường kính 5 - 7cm hoặc cây con Đặt mầm củ hoặc cây con vào từng hốc, trên luống sau khi đã bón phân lót, rồi vùi đất cho thật chặt, khoảng cách 40 - 50cm Tưới nước
Trang 17Một số nơi, mùa đông hàng năm trước thu hoạch ngô, lấy cây ngô về chọn những cây ngô gốc to cắt ra từng đoạn dài 65 cm, bó 50 khúc thành một
bó đem ngâm vào nước phân Khi trồng củ mài lấy những bó đó ra, dùng cọc đóng một lỗ sâu 65 cm với khoảng cách 23×20 cm rồi bỏ từng đoạn thân cây ngô vào lỗ đó, đầu trên của cây ngô bằng với lòng rãnh, sau đó đặt giống ngang đầu đoạn cây ngô, rồi bón phân, mỗi mẫu bón 1.600 kg phân chuồng, cuối cùng phủ đất Trồng theo cách này không những sản lượng cao mà củ to, tròn, thẳng,
dễ chế biến, không tốn thêm nhiều công lắm
- Chăm sóc: Hoài sơn là dây leo, cho nên phải làm giàn Sau khi cây đã mọc được 33cm, mỗi cây cắm một cọc, cọc dài khoảng 2m và tụm đầu trên của bốn cọc gần nhau ở hai hàng lại để chống gió làm đổ Đồng thời đem quấn dây vào cọc, như vậy có thể tăng sản lượng của từng cây một Cùng với việc cắm cọc cần làm cỏ đợt một, làm cỏ với độ sâu khoảng 3 cm, giữa các hàng có thể dùng cuốc, nhưng giữa các cây không dùng cuốc để tránh tổn thương cho cây, nếu có cỏ thì dùng tay mà nhổ Đợt làm cỏ lần thứ hai vào trung hạ tuần tháng
6, đợt ba cuối tháng 7 đầu tháng 8, cách làm cũng như đợt một Nhưng cần chú ý khi làm cỏ không làm gãy cây, nếu thấy dây bò ra đất thì đem quấn ngay lên cọc
* Thu hái, chế biến
Mùa đào củ Hoài sơn tốt nhất là sau khi trồng 1 năm vào thu đông và đầu xuân khi cây đã lụi Củ mài đào về rửa sạch đất, gọt vỏ rồi cho vào xông lưu huỳnh trong 2 ngày 2 đêm, lấy ra phơi khô ta được Hoài sơn khô Chế biến Hoài sơn nên xay thành bột và đóng gói Khoai mài sau khi đào về phải chế biến ngay trong vòng 3 ngày nếu không sẽ bị hỏng
2.1.3 Các chính sách phát triển cây dược liệu tại Việt Nam
Thời gian qua, Đảng, Nhà nước rất quan tâm việc phát triển dược liệu, nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế của Việt Nam và coi đó là một trong các nhóm giải pháp của công tác xóa đói, giảm nghèo, nhất là vùng sâu, vùng
xa, vùng đặc biệt khó khăn, do giá trị thu nhập của dược liệu mang lại Ngày 30-10-2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1976/QĐ-TTg
về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định
Trang 18hướng đến năm 2030, với quan điểm phát triển bền vững nguồn tài nguyên dược liệu trên cơ sở sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng về điều kiện tự nhiên và xã hội, phát triển dược liệu theo hướng sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển dược liệu, đẩy mạnh xuất khẩu dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu
Phát triển bền vững nguồn tài nguyên dược liệu ở Việt Nam trên cơ sở
sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng về điều kiện tự nhiên và xã hội để phát triển các vùng trồng dược liệu, gắn với bảo tồn và khai thác hợp lý nguồn dược liệu tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường sinh thái
Phát triển dược liệu theo hướng sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường, gắn sản xuất nguyên liệu với tiêu thụ sản phẩm, xây dựng vùng trồng dược liệu gắn với công nghiệp chế biến, cơ cấu sản phẩm đa dạng bảo đảm an toàn và chất lượng, khả năng cạnh tranh cao, đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng dược liệu trong nước và xuất khẩu
Nhà nước hỗ trợ đầu tư về nghiên cứu và ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong việc bảo tồn nguồn gen, khai thác dược liệu tự nhiên, trồng trọt, chế biến dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu
Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển trồng dược liệu, đẩy mạnh xuất khẩu dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu, góp phần tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp dược trong tổng sản phẩm nội địa (GDP)
Ngày 19-12-2013, Chính phủ ban hành Nghị định số
210/2013/NĐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, trong đó có các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nói chung và gây trồng, thu hái cây dược liệu nói riêng
Quyết định số 68/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10 tháng 1 năm 2014 phê duyệt chiến lược quốc gia phát triển ngành dược liệu Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030
Trang 19Bộ Y tế ban hành ra nhiều nghị định, quyết định khuyến khích địa phương, các công ty, doanh nghiệp tập trung đầu tư vào phát triển ngành dược
Quyết định số 206/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 22 tháng 1 năm 2015
về việc ban hành về danh mục cây dược liệu ưu tiên phát triển giai đoạn 2015-2010 Nhiều địa phương trong cả nước như: Quảng Ninh, Hà Giang, Bắc Kạn, Bắc Giang, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Lâm Đồng, An Giang,… bước đầu đã xây dựng định hướng và triển khai các mô hình trồng dược liệu Hầu hết các mô hình dược liệu do các tỉnh triển khai chỉ là các mô hình thí điểm, khả năng nhân rộng còn hạn chế do chưa hình thành cụ thể những quy chuẩn, quy chế, những quy định về đầu tư và khuyến khích đầu tư
Từ chính sách đến thực tế phát triển các vùng trồng dược liệu trong những năm qua tại Việt Nam, đề tài này thấy rằng, quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 vẫn chỉ là kế hoạch, chưa được chú trọng đầu tư, bố trí nguồn kinh phí để phát triển dược liệu Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dược liệu còn thiếu, hoạt động kinh doanh, sản xuất dược liệu vẫn dựa theo các quy định về quản lý thuốc tân dược, cho nên, có nhiều bất hợp lý
Để nâng cao công tác quản lý chất lượng dược liệu và củng cố hệ thống cung ứng dược liệu, cần có cơ chế hỗ trợ, ưu tiên đối với dược liệu trồng trong nước, dược liệu khai thác hợp pháp, thuốc sản xuất từ dược liệu trong nước Tăng cường kiểm tra, ngăn chặn các dược liệu nhập khẩu không
rõ nguồn gốc xuất xứ
2.1.4.Sự cần thiết phát triển dược liệu
Theo suckhoevadoisong.vn [15], để kế thừa, bảo tồn và phát triển nền
y dược cổ truyền, chúng ta cần có nguồn dược liệu đảm bảo về chất lượng
và đa dạng về chủng loại
Việt Nam là nước có nền y dược cổ truyền lâu đời Nền y dược đó có tiềm năng và vai trò to lớn trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Tuy nhiên để kế thừa, bảo tồn và phát triển, không những chúng
Trang 20ta cần có một đội ngũ thầy thuốc giỏi mà còn phải có nguồn dược liệu đảm bảo về chất lượng và đa dạng về chủng loại
Hiện nay không chỉ Việt Nam mà trên thế giới, với xu hướng “Trở về thiên nhiên” thì việc sử dụng các thuốc từ dược liệu của người dân ngày càng gia tăng bởi nó ít có những tác động có hại và phù hợp với qui luật sinh
lý của cơ thể Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 80% dân số hiện nay trên thế giới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng Trong tuyên ngôn Alma Alta năm 1978 và “Hướng dẫn đánh giá y học cổ truyền” năm 1991, WHO luôn khuyến nghị dùng các thuốc cổ truyền vào chăm sóc sức khỏe ban đầu, đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả cũng như bảo đảm nguồn cung cấp những thuốc này
Dược liệu nói chung, cây thuốc nói riêng có giá trị kinh tế có thể cao hơn trồng cây lương thực, thực phẩm Trong mấy thập niên qua, hàng chục ngàn tấn dược liệu đã được khai thác tự nhiên và trồng trọt hàng năm, đem lại lợi nhuận lớn Cây thuốc được phát triển có thể giúp cho nhiều vùng nông thôn, miền núi xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh
xã hội, bảo vệ môi trường
Dược liệu nói chung, cây thuốc nói riêng tồn tại cùng với thế hệ sinh thái rừng, nông nghiệp và nông thôn, lại có mối tương quan chặt chẽ giữa đa dạng sinh học cây thuốc và đa dạng văn hóa, y học cổ truyền, gắn với tri thức y dược học của 54 dân tộc, là bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam Trong tình hình hiện nay chúng ta thấy tỷ lệ dược liệu nhập khẩu ngày càng nhiều, nhất là nhập qua đường tiểu ngạch, điều đó làm cho việc quản lý chất lượng dược liệu rất khó khăn, ảnh hưởng đến chất lượng điều trị và uy tín của y dược cổ truyền Việt Nam
Để chủ động trong lĩnh vực phát triển y dược cổ truyền và đảm bảo y dược cổ truyền giữ được thế mạnh của y học Việt Nam so với các nước trong khu vực và trên thế giới thì chúng ta phải chủ động được nguồn dược liệu Hơn bao giờ hết, lúc này phát triển dược liệu nên được coi là an ninh quốc gia
Trang 21Phát triển nuôi trồng dược liệu còn là giải pháp quan trọng hạn chế tối
đa việc khai thác tự nhiên, góp phần bảo vệ đa dạng sinh học và bảo vệ động, thực vật hoang dã đang có nguy cơ tuyệt chủng
2.2.Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về cây dược liệu
2.2.1 Tình hình nghiên cứu cây dược liệu trên thế giới
Từ ngàn xưa, trong quá trình hái lượm các loại cây cỏ để làm thức ăn, con người đã phát hiện ra những cây cỏ có độc thì tránh; những cây cỏ ăn được thì
sử dụng làm lương thực, thực phẩm; những loại cây cỏ ăn vào khỏi bệnh thì dần được tích lũy thành kinh nghiệm sử dụng làm thuốc và được truyền tụng từ đời này qua đời khác Cùng với sự tiến hóa và phát triển của xã hội, kho tàng kiến thức về cây thuốc của nhân loại ngày càng trở nên phong phú
Năm 2838 TCN, Thần Nông đã biên soạn cuốn sách “Thần nông bản thảo”.Cuốn sách có ghi chép về 364 vị thuốc và cách sử dụng.Đây là cuốn
sách nền tảng cho sự phát triển của nghành y học dược thảo Trung Quốc cho đến ngày nay
Năm 1595, Lý Thời Trân đã tổng kết tất cả các kinh nghiệm về cây
thuốc, kinh nghiệm sử dụng và soạn ra cuốn “Bản thảo cương mục” Đây là
cuốn sách vĩ đại nhất của Trung Quốc về lĩnh vực dược liệu, mô tả 1094 cây thuốc và vị thuốc từ cây cỏ
Năm 348 – 322 TCN , Aristote người Hy Lạp đã có những ghi chép về
cây cỏ của Hy Lạp Sau đó năm 340 Theophrate với tác phẩm “Lịch sử vạn vật” đã giới thiệu gần 480 loài cây cỏ và công dụng của chúng Tuy tác
phẩm chỉ mới dừng lại ở mô tả các đặc điểm của cây cỏ, nhưng nó đã đặt nền tảng cho các khoa học nghiên cứu về thực vật sau này
Năm 60 – 20 TCN, thầy thuốc Dioscorides người Hy Lạp đã mô tả 600 loài cây cỏ chủ yếu để chữa bệnh, ông cũng là người đặt nền móng cho y dược học Hy Lạp
Năm 79 – 24 TCN, nhà tự nhiên học Plinus người La Mã đã soạn thảo
bộ sách “Vạn vật học” gồm 37 tập, giới thiệu gần 1000 loài thực vật có ích
Trang 22Ngay từ những năm 1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc của Liên Xô đã có các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn Năm
1952 các tác giả A.I.Ermakov, V.V.Arasimovich, …đã nghiên cứu thành
công công trình “Phương pháp nghiên cứu hoá sinh – sinh lý cây thuốc”
Công trình này là cơ sở cho việc sử dụng và chế biến cây thuốc đạt hiệu quả tối ưu nhất, tận dụng tối đa công dụng của các loài cây thuốc.Các tác giả A.F.Hammerman, M.D.Choupinxkaia và A.A.Yatsenko đã đưa ra được giá trị của từng loài cây thuốc (cả về giá trị dược liệu và giá trị kinh tế) trong tập
sách “Giá trị cây thuốc” Năm 1972 tác giả N.G.Kovalena đã công bố rộng
rãi trên cả nước Liên Xô (cũ) việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích
cao vừa không gây hại cho sức khoẻ của con người Qua cuốn sách "Chữa bệnh bằng cây thuốc" tác giả Kovalena đã giúp người đọc tìm được loài cây
thuốc và chữa đóng bệnh với liều lượng đã được định sẵn (Dẫn theo Trần Thị Lan, 2005)[7]
Năm 1952, A.Petelot đã soạn thảo cuốn sách “Les plantes de médicinales du Cambodye, du Laos et du Vietnam” gồm 4 tập đã giới thiệu
về các loại cây thuốc và sản phẩm làm thuốc ở Đông Dương
Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1985, trong tổng
số khoảng 250.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao đã biết, khoảng 20.000 loài được sử dụng làm thuốc ở mức độ khác nhau Trong đó, Ấn Độ được biết trên 6000 loài; Trung Quốc trên 5000 loài; riêng về thực vật có hoa ở một vài nước Đông Nam Á đã có tới 2000 loài là cây thuốc
Năm 2004, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã có tài liệu hướng dẫn thực hành nông nghiệp tốt đối với cây thuốc (Good Agricultural and Collection Practices - GACP) Tài liệu đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể từ chọn cây thuốc, chọn vùng trồng trọt thích hợp, kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch Đây là một hướng dẫn và là thước đo chất lượng sản phẩm dược liệu khi trở thành sản phẩm hàng hóa trên Thế giới Trung Quốc và Nhật Bản là hai nước đã dựa trên tài liệu hướng dẫn
Trang 23này để xây dựng khung quy định chung cho sản xuất cây dược liệu, nhằm đưa cây dược liệu và các sản phẩm dược liệu trở thành sản phẩm hàng hóa trên toàn Thế giới [14]
Trong vài thập kỷ gần đây, các nước trên thế giới đã đẩy mạnh việc nghiên cứu các chế phẩm mới từ cây thuốc Ở Mỹ, 25% các đơn thuốc được pha chế tại các cửa hàng dược gồm các chất chiết từ cây cỏ, 13% từ các loài
vi sinh và 3% từ động vật với nhu cầu hàng tỷ USD/ năm Ở Trung Quốc, có
940 xí nghiệp và xưởng sản xuất thuốc từ cây cỏ với 6266 mặt hàng; doanh thu các thuốc từ cây cỏ chiếm 33,1% thị trường thuốc năm 1995; tổng giá trị xuất khẩu dược liệu và thuốc cổ truyền từ năm 1997 đạt 600 triệu USD Hiện nay, Trung Quốc có chủ trương đầu tư mạnh cho công tác nghiên cứu dược liệu, đã tự túc được khoảng 90% nhu cầu thuốc trong nước, trong đó thuốc sản xuất từ nguồn gốc thực vật chiếm ưu thế
Như vậy, con người đã nghiên cứu về các loại cây thuốc từ rất lâu đời Ban đầu, những nghiên cứu về cây thuốc chỉ dừng lại ở mức mô tả các đặc điểm và cách sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền Ngày nay, khi khoa học
kỹ thuật phát triển, đã có nhiều nghiên cứu sâu hơn về hoạt chất chính có tác dụng trong cây thuốc, tạo sự tin tưởng cho người bệnh khi sử dụng các sản phẩm thuốc có nguồn gốc từ cây cỏ
2.2.2.Tình hình nghiên cứu cây dược liệu ở Việt Nam
2.2.2.1 Khái quát những nghiên cứu về cây dược liệu ở Việt Nam
Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, nước ta có nguồn tài nguyênthực vật vô cùng phong phú và đa dạng Theo Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Nghĩa Thìn, số lượng thực vật bậc cao có mạch đã thống kê được ở nước ta khoảng 10.500 loài, dự đoán khoảng 12.000 loài Trong đó các loài cây được sử dụng làm thuốc khoảng trên 3.900 loài thuộc 307 họ thực vật (Dẫn theo Nguyễn Thị Ngọc Huê,2015)[6]
Trang 24Nền y học cổ truyền Việt Nam có lịch sử phát triển từ rất lâu đời.Cộng đồng các dân tộc Việt Nam có nhiều kinh nghiệm độc đáo trong việc sử dụng các loài cây cỏ để làm thuốc Từ xa xưa, ông cha ta đã biết sử dụng các loài cây thuốc sẵn có trong tự nhiên với các phương pháp bào chế khác nhau
để sử dụng chữa bệnh cho mọi người Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, từ thế hệ trước truyền cho thế hệ sau đã đúc kết được các kinh nghiệm từ thực tiễn lâm sàng, xây dựng nên lý luận về các phương pháp phòng và chữa bệnh Đồng thời còn dựa vào hệ thống Triết học phương Đông, vận dụng vào y học để chữa bệnh phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của con người Việt Nam
Từ thời Hồng Bàng và các Vua Hùng (2879 – 257 TCN), người dân đã
có tục ăn trầu và nhuộm răng đen với mục đích bảo vệ răng, làm chắc răng Việc sử dụng gừng, tỏi, ớt, sả làm gia vị trong các bữa ăn hàng ngày giúp tiêu hóa tốt, phòng trừ các bệnh đường ruột
Cuối thế kỷ III TCN, ở Nam Việt Giao Chỉ đã phát hiện và sử dụng các loại cây thuốc để chữa bệnh như sắn dây, gừng, riềng, đậu khấu, ích trí,
lá lốt, sả, quế, vông nem…
Dưới các thời phong kiến, các ty Thái y, viện Thái y đã hình thành để chữa bệnh cho vua, quan và nhân dân Dưới triều Trần, danh y Tuệ Tĩnh
(Nguyễn Bá Tĩnh) đã nói “Nam dược trị Nam nhân”, ông cũng đề xuất việc
trồng cây thuốc và chữa bệnh trong nhân dân Ông đã biên soạn cuốn sách
“Nam dược thần hiệu”, mô tả 499 vị thuốc và các phương thuốc để chữa 184 bệnh Năm 1717, “Nam dược thần hiệu” đổi tên thành “Hồng nghĩa giác lĩnh tư y thư” gồm 590 vị thuốc
Dưới triều đại nhà Lê, nổi bật trong nền y học nước nhà là danh y Hải Thượng lãn ông – Lê Hữu Trác Ông đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu
trong sử dụng các loại dược liệu chữa bệnh trong bộ sách “ Hải Thượng y tông tâm lĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển
Trang 25Theo kết quả điều tra của Viện dược liệu Bộ Y tế năm 1985, nước ta có
1863 loài cây thuốc thuộc 236 họ thực vật.Theo giáo sư Võ Văn Chi trong
cuốn “Từ điển cây thuốc” số loài cây thuốc ở Việt Nam là trên 3000 loài
Trên 3/4 cây trong số này là những cây mọc tự nhiên, phần lớn sinh sống ở rừng.Kết quả điều tra sơ bộ ban đầu ở rừng một số tỉnh miền bắc cho thấy tỷ
lệ cây làm thuốc thường chiếm khoảng 25-55% số cây điều tra và vùng có xen núi đá vôi thường có tỷ lệ cây làm thuốc rất cao[3]
Ở nước ta số loài cây làm thuốc được ghi nhận trong thời gian gần đây không ngừng tăng lên:
Năm 1952: Toàn Đông Dương có 1.350 loài
Năm 1986: Việt Nam đã biết có 1.863 loài
Năm 1996: Việt Nam đã biết có 3.200 loài
Năm 2000: Việt Nam đã biết có 3.800 loài
(Nguồn: Lã Đình Mỡi, 2003)[8]
Trong nền y học cổ truyền hiện đại, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến Y học cổ truyền trong hệ thống các bệnh viện và cơ sở khám chữa bệnh Điều 49, chương III, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam (1992) đã nêu rõ “Phát triển và hoàn thiện hệ thống bảo vệ sức khỏe cho người dân trên cơ sở kết hợp y học, dược học hiện đại với y học cổ truyền”
Ngày 4/11/1955, Bộ y tế có công văn 9126 YD/PBCB hướng dẫn các địa phương khai thác và sử dụng các loại thuốc Nam để chữa bệnh trong nhân dân
Nghị định 238/TTg về việc thành lập Viện nghiên cứu Đông y; Thành lập các vườn thuốc mẫu y học cổ truyền từ Trung ương cho đến các địa phương với mục đích giúp cho sinh viên, học viên học tập, người dân biết cách nhận biết và sử dụng một số cây thuốc Nam để chữa bệnh
Trên cơ sở chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, có nhiều công trình nghiên cứu về các loài cây dược liệu trong nhân gian để phục vụ công tác chữa bệnh, bảo tồn và phát triển các loại cây thuốc, bài thuốc quý
Trang 26Năm 1963, Hội đồng Dược điển Việt Nam được thành lập để tổ chức công tác xây dựng Dược điển Việt Nam và tiêu chuẩn hóa thuốc; Hội đồng Dược điển đã biên soạn, trình Bộ y tế ban hành 04 bộ Dược điển Việt Nam, xuất bản vào các năm 1979, 1990, 2002 và 2009 Dược điển Việt Nam xuất bản lần thứ 4 (năm 2009) gồm 314 chuyên luận dược liệu và thuốc từ dược liệu
Khoa học ngày càng phát triển, con người ngày càng đi sâu khám phá thế giới tự nhiên, trong đó nghiên cứu các loại cây thuốc có tầm quan trọng đặc biệt GS.TS Đỗ Tất Lợi là một nhà nghiên cứu cây thuốc nổi tiếng ở nước ta; sau nhiều năm nghiên cứu và sưu tầm các loại dược liệu, ông đã
biên soạn cuốn sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, mô tả đặc
điểm hình thái và cách sử dụng gần 800 loài cây thuộc 164 họ thực vật có tác dụng chữa 60 nhóm bệnh Đây là một công trình nghiên cứu rất có giá trị trong nước cũng như trên thế giới Trên cơ sở cuốn sách này, năm 1968 Hội đồng chứng chỉ tối cao Liên Xô đã công nhận học vị tiến sĩ cho Dược sĩ Đỗ Tất Lợi Năm 1980, ông được Chính phủ phong học hàm Giáo sư đại học Đến năm 1996, Đỗ Tất Lợi vinh dự được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học kỹ thuật
Theo thống kê, ở nước ta hiện có 3.948 loài cây được dùng làm thuốc với khoảng trên dưới 300 loài thường xuyên được khai thác sử dụng cho thị trường trong và ngoài nước Nhu cầu về thị trường dược liệu ở nước ta hiện nay khoảng 50.000 - 60.000 tấn dược liệu mỗi năm, trong đó khoảng 2/3 được khai thác tự nhiên và trồng trọt Có khoảng 20.000 - 30.000 tấn dược liệu cho nhu cầu thuốc y học cổ truyền, bao gồm cả số lượng nhập khẩu qua nhiều con đường Mặc dù Việt Nam là một nước có tiềm năng lớn về nguồn nguyên liệu làm thuốc nhưng theo điều tra của Viện dược liệu, nhiều loài cây thuốc có giá trị chữa bệnh và kinh tế cao trước đây có trữ lượng lớn cho khai thác thì nay đã bị giảm sút và trở nên hiếm như: Hà thủ ô đỏ, Vàng đắng, Hoàng liên, Ngũ gia bì gai, Ba kích, Cốt toái bổ, Đảng sâm, Hoàng tinh… Đã có 123 loài thuộc 53 họ được đưa vào Danh lục đỏ, Sách Đỏ Việt
Trang 27Nam và Danh mục thuộc Nghị định 48 CP/2002 của Chính phủ Trong đó có tới 55 loài được phân hạng theo IUCN ở mức bị đe dọa tuyệt chủng Nhiều cây thuốc trước những năm 90 đã di thực thành công và đã trồng đáp ứng đủ cho nhu cầu sử dụng trong nước thì nay đã phải nhập lại như: Đương quy, Bạch truật, Xuyên khung, Ngưu tất, Huyền sâm… Đây là những vị thuốc chiếm một tỷ trọng rất lớn trong điều trị bằng y học cổ truyền Chỉ tính riêng mức sử dụng một vị dược liệu của một bệnh viện y học cổ truyền cũng phải tới 4 - 5 tấn mỗi năm Mặc dù hiện nay, thuốc tân dược được phát triển mạnh ở hầu khắp các nước trên Thế giới nhưng 18 đại bộ phận dân cư các nước đang phát triển vẫn ưa sử dụng thuốc cổ truyền, đặc biệt trong chăm sóc sức khỏe ban đầu Cùng với sự phát triển không ngừng của những tiến
bộ khoa học, người ta càng nhận biết nhiều hơn những giá trị của thảo dược trong phòng và chữa bệnh
Theo đánh giá của WHO, có khoảng 70 - 80% dân số các vùng nông thôn các nước đang phát triển (Ethiopia 90%, India 70%, Tanzania 60%, Uganda 60%) dựa chủ yếu vào sử dụng thuốc cổ truyền cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe Với dân số chiếm tới hơn 1/6 nhân loại, thị phần thuốc có nguồn gốc tự nhiên của Trung Quốc cũng vào khoảng 30 - 50% Doanh thu
từ sản xuất thuốc Đông dược đạt 1,8 tỷ USD mỗi năm Ngay tại một số quốc gia phát triển, nhu cầu chăm sóc sức khỏe bằng thảo dược cũng tăng lên nhiều trong hơn thập niên trở lại đây Nhật Bản có tổng giá trị thuốc từ thảo dược trong năm 2000 là 2,4 tỷ USD Mỹ thu khoảng 1,5 tỷ USD lợi nhuận mỗi năm từ thảo dược Các nước phát triển khác như Canada, Đức, Pháp,
Úc, Bỉ…cũng ngay càng tăng xu thế sử dụng thuốc có nguồn gốc tự nhiên như là các liệu pháp bổ trợ (Canada là 70%, Úc là 48 %, Pháp 49%, Mỹ 42%, Bỉ 31%)
Theo đánh giá của WHO tổng giá trị dược liệu và thuốc từ dược liệu sử dụng hiện nay vào khoảng 80 tỷ USD mỗi năm.Các nước phát triển đồng thời cũng là những nước có những tập đoàn dược phẩm hàng đầu thế giới
Trang 28Họ đang tìm cách khai thác triệt để những thế mạnh của tiềm năng dược liệu phương Đông để tạo nên những sản phẩm đặc biệt có giá trị trong việc bảo
vệ và nâng cao sức khoẻ
Việt Nam với dân số trên 90 triệu người như hiện nay, theo thống kê, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong năm 2011 là 2,4 tỷ USD, trong đó thuốc sản xuất trong nước đạt 1,15 tỷ USD Và Việt Nam cũng đang được nhìn nhận như là một thị trường dược phẩm có sức hấp dẫn lớn đối với các doanh nghiệp dược phẩm cả trong và ngoài nước.Thế giới biết đến Việt Nam là một quốc gia giàu tiềm năng dược liệu Làm sao để phát huy thế mạnh của dược liệu để đưa nền công nghiệp dược Việt Nam trở thành nền kinh tế mũi nhọn trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước và bảo vệ sức khoẻ nhân dân đã trở thành mục tiêu có tính chiến lược của quốc gia
Ngày 15/8/2002, đã có Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược phát triển ngành dược đến năm 2010 trong đó đã đặc biệt nhấn mạnh đến thế mạnh của nguồn tài nguyên cây thuốc Việt Nam Trong đề án “Phát triển công nghiệp dược và xây dựng mô hình hệ thống cung ứng thuốc của Việt Nam giai đoạn 2007 - 2015 và tầm nhìn đến năm 2020” đã khẳng định: Xây dựng cơ sở chiết xuất hoạt chất tinh khiết từ dược liệu để đáp ứng 20% nhu cầu cho sản xuất thuốc vào năm 2015 và 30% vào năm 2020 Chủ động nguồn thuốc sản xuất trong nước và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc Việt Nam chính là mục tiêu cũng như điều kiện tiên quyết trong chiến lược phát triển ngành dược Việt Nam Khảo sát thị trường dược liệu, thuốc từ dược liệu của cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng để nắm rõ nhu cầu sử dụng dược liệu, góp phần định hướng cơ cấu cây trồng dược liệu của Việt Nam là hết sức cần thiết và là mục tiêu cần được đưa ra Đối tượng và phương pháp nghiên cứu - Thị trường dược liệu trong nước - Nhu cầu sử dụng dược liệu của các bệnh viện y học cổ truyền (Dẫn theo Nguyễn Thị Minh Tâm) [9]
Trang 29Theo Ninh Khắc Bản (2003), khi điều tra về nguồn thực vật phi gỗ tại Hương Sơn - Hà Tĩnh bước đầu đã xác định được khoảng 300 loài cây có thể sử dụng để làm thuốc Tuy nhiên trong quá trình điều tra thấy có khoảng
25 loài cây được sử dụng làm thuốc chữa bệnh như: Hà thủ ô, Thiên niên kiện, Thạch xương bồ, Ngũ gia bì, Sa nhân [1]
Năm 2006 nhóm tác giả thuộc Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản – Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp với Viện Dược liệu đã tổ chức điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc tại xã Đồng Lâm, huyện Hoành
Bồ, tỉnh Quảng Ninh và đã ghi nhận được có 288 loài thuộc 233 chi, 107 họ
và 6 ngành thực vật Tất cả đều là những cây thuốc mọc hoang dại trong các quần xã rừng thứ sinh và đồi cây bụi.Trong đó có 8 loài được coi là mới (chưa có tên trong danh lục cây thuốc Việt Nam)[10]
Theo Trương Thị Tố Uyên (2010), khi nghiên cứu tính đa dạng thực vật và tài nguyên cây thuốc ở xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện 56 họ, 107 chi, 135 loài và phân loại được 13 nhóm cây thuốc Trong đó có 28 cây thuốc thông tiểu, thông mật; 27 cây thuốc chữa tê thấp; 22 cây thuốc chữa bệnh tiêu hóa; 21 cây thuốc chữa ho hen; 16 cây thuốc có tác dụng cầm máu; 17 cây thuốc có tác dụng giải độc; 16 cây thuốc chữa cảm sốt; 14 cây thuốc chữa mụn nhọt, mẩn ngứa; 9 cây thuốc chữa bệnh dạ dày; 6 cây thuốc trị giun sán; 3 cây thuốc giúp hạ huyết áp; 3 cây thuốc chữa bệnh về mắt và 2 cây thuốc có tác dụng chữa ung thư[13]
Báo cáo khoa học “Tài nguyên cây thuốc ở Sơn La và kết quả nghiên cứu trồng thử nghiệm một số cây thuốc có giá trị tại Chiềng Sinh, thị xã Sơn
La “ (1994) đã công bố 500 loài cây thuốc ở Tây Bắc Riêng Sơn La có 70
họ, 109 chi và 249 loài cây thuốc Trong đó : Nhóm cây 2 lá mầm gồm 54
họ, 159 chi và 203 loài; nhóm cây 1 lá mầm gồm 10 họ, 27 chi và 31 loài nhóm cây hạt trần gồm 2 họ, 2 chi và 2 loài; nhóm thông đất gồm 1 họ, 1 chi
và 1 loài; nhóm dương xỉ gồm 3 họ, 9 chi và 12 loài [4]
Trang 30Theo Nguyễn Tập và Ngô Văn Trại đã điều tra đánh giá hiện trạng và tiềm năng về y học cổ truyền trong cộng đồng các dân tộc tỉnh Bắc Kạn, kết quả đã thu thập được nhiều cây thuốc, bài thuốc các thầy lang trong cộng đồng thường sử dụng, nhằm kế thừa và quảng bá rộng rãi những tri thức bản địa này của địa phương Nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để duy trì, bảo tồn và khai thác được vốn kinh nghiệm quý báu này[12]
Cùng với các công trình nghiên cứu về đặc điểm, công dụng của các loại cây thuốc trong tự nhiên.Để cây thuốc sử dụng rộng rãi, trở thành sản phẩm hàng hóa, đồng thời bảo vệ các nguồn gen cây thuốc ngoài tự nhiên đang bị cạn kiệt dần.Các cơ sở nghiên cứu và các nhà khoa học đã nghiên cứu biện pháp kỹ thuật gây trồng các loài cây thuốc
Năm 2005, Bộ y tế, Viện y học cổ truyền biên soạn cuốn sách “Cây hoa cây thuốc”, hướng dẫn cách sử dụng 29 loài cây hoa cây cảnh có tác
dụng chữa bệnh thông thường Cuốn sách sau khi xuất bản đã được đông đảo cán bộ và nhân dân tìm đọc, trở thành nhu cầu cần thiết đối với cộng đồng
Bảo Thắng (2003) đã xuất bản cuốn sách “Kỹ thuật trồng, chế biến và
sử dụng cây thuốc nam” Cuốn sách đã trình bày chi tiết kỹ thuật trồng trọt,
chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch, bảo quản đối với 38 cây thuốc thông dụng; đồng thời cũng mô tả đặc điểm, cách sử dụng 124 vị thuốc chữa bệnh phụ khoa, 10 loại rau, 21 loại quả và một số loại hạt có tác dụng chữa bệnh [11]
Nguyễn Bá Hoạt đã hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt sử dụng và chế biến
30 cây thuốc có nhu cầu lớn làm nguyên liệu cho sản xuất quốc phòng, chữa bệnh, xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu sản xuất đại trà trên diện tích lớn, xây dựng vùng dược liệu theo hướng an toàn theo tiêu chuẩn GAP (Good Agricultural Pratice) Cuốn sách còn cung cấp một số thông tin cơ bản về giá trị của từng cây nhằm quảng bá, xây dựng thương hiệu sản phẩm Trong phần chế biến, các tác giả giới thiệu một số phương pháp chế biến theo y
Trang 31học cổ truyền, giúp cho cơ sở trồng trọt đầu tư làm tăng chất lượng của sản phẩm và dễ bảo quản hơn[5]
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên của xã Hà Vị, huyện Bạch Thông
2.3.1.1 Vị trí địa lý
Xã Hà Vị nằm ở phía nam của huyện Bạch Thông, cách trung tâm huyện lỵ khoảng 12 km, có diện tích tự nhiên 1.251,17 ha, chiếm 2,37% diện tích tự nhiên huyện Bạch Thông, bao gồm 9 thôn bản
- Phía Bắc giáp xã Lục Bình
- Phía Đông giáp xã Cẩm Giàng và xã Quân Bình
- Phía Tây giáp xã Đôn Phong
- Phía Nam giáp thị xã Bắc Kạn
Với vị trí giáp với thị xã Bắc Kạn, thị tứ Cẩm Giàng, trung tâm cụm xã Lục Bình, có đường quốc lộ 3 chạy qua tạo tạo điều kiện cho việc giao lưu phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội với các xã trong huyện và thị xã Bắc Kạn - Trung tâm Kinh tế, xã hội trong tỉnh
2.3.1.2 Địa hình - địa mạo
Hà Vị nằm trong khu vực có vị trí phức tạp bị chia cắt bởi sông suối và núi đá với 2 dạng địa hình chính:
- Địa hình đồi núi chiếm diện diện tích của xã khá lớn phân bố ở khu vực phía tây của xã Độ dốc trung bình phổ biến là 400 m - 600 m
- Địa hình thung lũng phân bố ở khu vực trung tâm xã theo tuyến đường liên huyện từ quốc lộ 3 giáp xã Lục Bình và dọc theo suối Tà Liềng tạo nên những cánh đồng bậc thang màu mỡ
2.3.1.3 Khí hậu của khu vực
Xã Hà Vị mang khí hậu đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng núi phía Bắc Mùa đông khô lạnh, mùa hè nóng, mưa nhiều Khí hậu ở
xã chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa nóng ẩm có từ tháng 5 đến tháng 9 và mùa đông hanh, khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau
Trang 32- Nhiệt độ:
+ Nhiệt độ trung bình năm 20,20C;
+ Nhiệt độ cao tuyệt đối 38,50C;
+ Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 300C;
- Lượng mưa bình quân trong năm khoảng 1.410 mm, tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9
- Độ ẩm không khí trung bình trong năm là 82% tháng 7,8,9 có độ ẩm tương đối cao 84,85% và tháng 11,12,01 có độ ẩm tương đối thấp 78%
- Lượng bốc hơi trung bình hàng năm 1.070 mm, biến động trong các tháng giới hạn 73.6 - 113.5 mm/ tháng Lượng mưa bốc hơi vào các tháng 2,
8 và cao vào các tháng 5,10,11 với nhiệt độ cao
2.3.1.4 Điều kiện về thủy văn
Xã Hà Vị có mạng lưới thuỷ văn gồm mạng lưới sông suối khá dày chảy trên địa bàn gồm: Suối Tà Liềng, suối Khau Mạ, suối Khuổi Thiêu, suối Cốc Xả chảy theo hướng Đông Tây chảy vào suối Hoa Sơn ở Lục Bình Tuy nhiên, do điều kiện địa hình phức tạp và lượng mưa phân bố không đều; hầu hết các sông, suối có độ dốc lớn, vào mùa khô một số khu vực thường bị thiếu nước, đặc biệt cho sản xuất nông nghiệp
2.3.1.5 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất: Theo bản đồ thổ nhưỡng trên địa bàn xã đất được phân bố thành các loại đất chính sau đây:
- Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến chất: Tầng đất dày, tơi
xốp, tỷ lệ sét cao, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng Mùn
và đạm tổng số giàu, Kali và Phân lân nghèo, Cation trao đổi giảm dần theo chiều sâu, đất có phản ứng chua Loại đất này phù hợp để phát triển trồng cây lâu năm và hoa màu
- Đất Feralit màu vàng đỏ, phát triển trên đá phiến thạch sét: Thành
phần cơ giới nặng, đất phân bố tập trung, tỷ lệ mùn phụ thuộc vào độ che
Trang 33phủ rừng Phần lớn diện tích loại đất này nằm trên địa hình hiểm trở chỉ phù hợp cho trồng cây lâu năm và trồng rừng
- Đất Feralit màu vàng đỏ trên núi cao: Là loại đất phát triển trên nhiều
loại đá mẹ khác nhau, chủ yếu là Granite và biến chất, địa hình hiểm trở, độ
ẩm 26 cao, tầng đất mỏng, tỷ lệ mùn cao, thành phần cơ giới thịt nặng Phần lớn loại đất này phù hợp cho phát triển rừng
- Đất Feralit biến đổi do trồng lúa: Là loại đất do san đồi thành ruộng
bậc thang để trồng lúa Tầng đất mỏng, đạm, mùn tổng số khá; Kali, lân tổng số trung bình; các chất dễ tiêu nghèo, đất rất chua, khả năng giữ nước kém Loại đất này phù hợp cho trồng lúa, màu
- Đất phù sa: Bao gồm 2 loại đất chính là đất phù sa không được bồi
đắp và đất phù sa ít được bồi đắp hàng năm ở ven các suối Đất có thành phần cơ giới nhẹ, cấp hạt lớn, địa hình bậc thang, có hàm lượng mùn trong đất trung bình, đạm tổng số và đạm dễ tiêu khá, đất có phản ứng chua, chất dinh dưỡng trung bình, lượng sắt, nhôm di động cao Loại đất này thích hợp cho trồng lúa và rau màu
Tài nguyên rừng
Địa hình và thổ nhưỡng của xã rất thích hợp với phát triển Lâm nghiệp Toàn xã hiện có 944,39 ha đất lâm nghiệp, chiếm 75,48% tổng diện tích tự nhiên, trong đó chủ yếu là rừng sản xuất với các cây nguyên liệu giấy như: Mỡ, Keo, Bạch đàn,
Nhìn chung, rừng xã Hà Vị có trữ lượng gỗ ít, động thực vật quý hiếm gần như không có Tuy nhiên với trữ lượng rừng hiện tại cùng với rừng non đang phát triển, nếu được đầu tư khai thác hợp lý cũng như nỗ lực, tích cực tham gia bảo vệ rừng của chính quyền địa phương và nhân dân thì đây là một thế mạnh của địa phương, do vậy cần chú trọng phát triển trong tương lai
Trang 342.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Hà Vị, huyện Bạch Thông
2.3.2.1 Điều kiện kinh tế
Sản xuất nông nghiệp:
- Về trồng trọt
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính của xã
Hà Vị huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn năm 2018
(Ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản Lượng (Tấn)
Bảng 2.2: Một số giống vật nuôi chính của xã Hà Vị năm 2018