1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

- ngan-sach-nha-nuoc-va-thuc-trang-tham-hut-ngan-sach-nha-nuoc-o-viet-nam

29 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 251,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ngan-sach-nha-nuoc-va-thuc-trang-tham-hut-ngan-sach-nha-nuoc-o-viet-nam

Trang 1

§Ò ¸n lý thuyÕt Tµi chÝnh tiÒn tÖ GV:ths ®oµn ph¬ng th¶o

LỜI MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG……… 3

Ch¬ng 1: Ng©n s¸ch nhµ níc vµ th©m hôt ng©n s¸ch nhµ níc 3

1.1 Ng©n s¸ch Nhµ níc 3

1.2 Thâm hụt ngân sách nhà nước 10

Ch¬ng 2: Gi¶i ph¸p KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG th©m hôt ng©n s¸ch NHÀ NƯỚC 13

2.1 Biện ph¸p "tăng thu, giảm chi" 13

2.2 Vay nợ trong nước (Vay d©n) : 16

2.3 Vay nợ nước ngo i:ài: 17

2.4 Vay ngân hàng (in tiền): 18

2.5 Sử dụng dự trữ ngoại tệ 18

2.6 Tăng cường vai trò quản lý nhà nước……….20

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 20

KÊT LUẬN

DANH MỤC THAM KHẢO

Trang 2

§Ò ¸n lý thuyÕt Tµi chÝnh tiÒn tÖ GV:ths ®oµn ph¬ng th¶o

LỜI MỞ ĐẦU

Như chúng ta điều biết, thâm hụt ngân sách là một vấn đề mà mọiquốc gia trên thế giới đều gặp phải Ngay cả một cường quốc kinh tế như Mỹcũng phải đau đầu và vật lộn với vấn đề này, và tất nhiên Việt Nam cũngkhông ngoại lệ Việc xử lý thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN) là một vấn

đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế màcòn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Trong bối cảnhnền kinh tế toàn cầu có những biến động lớn như: giá dầu tăng cao, khủnghoảng tài chính tại Mỹ, tình trạng lạm phát diễn ra nhiều nước trên thếgiới…, việc tìm ra giải pháp để điều chỉnh thâm hụt ngân sách ở các quốc giatrên thế giới nói chung và ở tại Việt Nam nói riêng là hết sức cấp bách vàcần thiết Ở nước ta, mức độ thâm hụt ngân sách ngày càng gia tăng và ngàycàng tác động tiêu cực tới đời sống nhân dân cũng như tới toàn bộ nền kinh

tế Đây chính là một trong những nguy cơ làm khủng hoảng nền kinh tế, giatăng lạm phát gây khó khăn cho chính phủ trong việc thực hiện các chínhsách tài khóa và tiền tệ Vậy các giải pháp khắc phục thâm hụt ngân sáchnhà nước Việt Nam hiên nay là gì ? Những ưu nhược điểm của các giải pháp

đó đối với sự pháp triển kinh tế Việt Nam hiên nay ? Vì vậy em chọn đề tàiphân tích những giải pháp khắc phục thâm hụt ngân sách nhà nước Việt Namhiện nay để trả lời cho những câu hỏi đó

Trang 3

§Ò ¸n lý thuyÕt Tµi chÝnh tiÒn tÖ GV:ths ®oµn ph¬ng th¶o Ch¬ng 1:NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1 Ngân sách nhà nước

1.1 Bản chất của ngân sách nhà nước:

Trong tiến trình lịch sử, ngân sách nhà nước (NSNN) với tư cách là mộtphạm trù kinh tế đã ra đời và tồn tại từ lâu Là một công cụ Tài chính quantrọng của Nhà nước, NSNN xuất hiện dựa trên cơ sở hai tiền đề khách quan

là tiền đề Nhà nước và tiền đề kinh tế hàng hoá- tiền tệ

Trong lịch sử loài người, Nhà nước xuất hiện là kết quả của cuộc đấutranh giai cấp trong xã hội Nhà nước ra đời tất yếu kéo theo nhu cầu tậptrung nguồn lực tài chính vào trong tay Nhà nước để làm phương tiện vậtchất trang trải cho các chi phí nuôi sống bộ máy Nhà nước và thực hiện cácchức năng kinh tế, xã hội của Nhà nước Bằng quyền lực của mình, Nhànước tham gia vào quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội Trong điềukiện kinh tế hàng hoá- tiền tệ, các hình thức tiền tệ trong phân phối như: thuếbằng tiền, vay nợ…được Nhà nước sử dụng để tạo lập quỹ tền tệ riêng có:NSNN Như vậy, NSNN là ngân sách của Nhà nước, hay Nhà nước là chủthể của ngân sách đó

NSNN là khái niệm quen thuộc theo nghĩa rộng mà bất kỳ người dânnào cũng biết được, song lại có rất nhiều định nghĩa khác nhau về NSNN:Theo quan điểm của Nga: NSNN là bảng thống kê các khoản thu và chibằng tiền của Nhà nước trong một giai đoạn nhất định

Một cách hiểu tương tự, người Pháp cho rằng: NSNN là toàn bộ tài liệu

kế toán mô tả và trình bày các khoản thu và kinh phí của Nhà nước trongmột năm

Có thể thấy rằng các quan điểm trên đều cho thấy biểu hiện bên ngoàicủa NSNN và mối quan hệ mật thiết giữa Nhà nước và NSNN

Trang 4

§Ò ¸n lý thuyÕt Tµi chÝnh tiÒn tÖ GV:ths ®oµn ph¬ng th¶o

Trong hệ thống tài chính, NSNN là khâu chủ đạo, đóng vai trò hết sứcquan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của bộ máy quyền lực Nhà nước TạiViệt nam, định nghĩa về NSNN được nêu rõ trong luật NSNN (20/3/1996):NSNN là toàn bộ các khoản thu và chi của Nhà nước trong dự toán đã được

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong mộtnăm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.(Điều1-luật NSNN)

Trong thực tiễn, hoạt động NSNN là hoạt động thu (tạo lập) và chi tiêu(sử dụng) quỹ tiền tệ của Nhà nước, làm cho nguồn tài chính vận động giữamột bên là các chủ thể kinh tế, xã hội trong quá trình phân phối tổng sảnphẩm quốc dân dưới hình thức giá trị và một bên là Nhà nước Đó chính làbản chất kinh tế của NSNN Đứng sau các hoạt động thu, chi là mối quan hệkinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể kinh tế, xã hội Nói cách khác, NSNNphản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể trong phânphối tổng sản phẩm xã hội, thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tậptrung của Nhà nước, chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của cácchủ thể đó thành thu nhập của Nhà nước và Nhà nước chuyển dịch thu nhập

đó đến các chủ thể được thực hiện để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ củaNhà nước

1.2 Đặc điểm của ngân sách Nhà nước:

Để hiểu thế nào là ngân sách Nhà nước thì có rất nhiều quan niệm khácnhau, hiện nay có hai quan niệm phổ biến về ngân sách Nhà nước Quanniệm thứ nhất cho rằng: ngân sách Nhà nước là bản dự toán thu chi tài chínhcủa Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.Quan niệm thứ hai cho rằng: ngân sách Nhà nước là quỹ tiền tệ của Nhànước Các quan niệm trên về ngân sách Nhà nước đã kootj tả được mặt cụthể, mặt vật chất của ngân sách Nhà nước, nhưng lại chưa thể hiện được nộidung kinh tế xã hội của ngân sách Nhà nước Tròn thực tế, nhìn bề ngoàihoạt động ngân sách Nhà nước là hoạt động thu chi tài chính của Nhà nước

Trang 5

§Ò ¸n lý thuyÕt Tµi chÝnh tiÒn tÖ GV:ths ®oµn ph¬ng th¶o

Hoạt động đó được biểu hiện một cách đa dạng và phong phú, được tiếnhành hầu hết trên các lĩnh vực văn hóa, chính trị xã hôi, kinh tế… nó tácđộng đến mọi chủ thể kinh tế xã hội Tuy vậy, nhưng chúng có những đặcđiểm chung sau:

Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ ngân sách Nhà nước luôn gắn

liền với quyền lực của Nhà nước và phuc vụ cho việc thực hiện các chứcnăng của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở luật định Đây cũngchính là điểm khác biệt gũa ngân sách Nhà nước với các khoản tìa chínhkhác Các khoản thu NSNN đều mang tính chất pháp lý, còn chi ngân sáchNhà nước mang tính chất cấp phát “ không hoàn trả trực tiếp” Do nhu cầuchi tiêu của mình để thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội Nhà nước đã sửdụng để quy định hệ thống pháp luật tài chính, buộc mọi pháp nhân và thểnhân phải nộp một phần thu nhập của mình cho Nhà nước với tư cách là mộtchủ thể Các hoạt động thu chi NSNN đều tiến hành theo cơ sở nhất định đó

là các luật thuế, cế độ thu chi…do Nhà nước ban hành, đồng thời các hoạtđộng luôn chịu sự kiểm tra của các cơ quan Nhà nước

Ngân sách Nhà nước nó luôn luôn chứa đựng nhựng lợi ích về mặt kinh

tế, chính trị, ngoại giao, xã hội… Nhưng lợi ích quốc gia, lợi ích tổng thểbao giờ cũng phải được đặt lên hàng đầu và chi phối các lợi ích khác

Thứ hai, ngân sách Nhà nước luôn gắn chặt vơi Nhà nước chưa đụng

những lợi ích chung và công, hoạt động thu chi của ngân sách Nhà nước làthể hiện qua các mặt kinh tế - xã hội của Nhà nướcNgân sách Nhà nước làquỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được chia ra làm nhiều quỹ nhỏ, mỗi mộtquỹ nhỏ có những tác dụng riêng rồi sau đó mới được chia dung cho nhữngmục đích

Thứ ba, cũng như các quỹ tiền tệ khác ngân sách Nhà nước cũng có đặc

điểm riêng của một quỹ tiền tệ, nó là quỹ tiền tệ tập chung của Nhà nướcđược chia ra thành nhiều quỹ nhỏ Mỗi quỹ có tác dụng riêng rồi sau đó mớiđược chia dung cho những mục đích

Trang 6

§Ò ¸n lý thuyÕt Tµi chÝnh tiÒn tÖ GV:ths ®oµn ph¬ng th¶o

Thứ tư, hoạt động thu cho ngân sách Nhà nước được thể hiện theo

nguyên tắc không hoàn trả lại trực tiêp đối với người có thu nhập cao nhằmmục đích rútruts ngắn khoản thời gian giữa người giàu và người nghèo nhằmcông bằng cho xã hội ví dụ: xây dựng đường xá, an ninh quốc phòng…”người chịu thuế sẽ được hưởng lợi từ hàng hóa này nhưng hoàn trả một cáchtrực tiếp Bên cạnh đó ngân sách còn chi cho các quỹ chính sách, trợ cấpthiên tai…

1.3 Vai trò ngân sách nhà nước:

a Ngân sách Nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.

Đây là vai trò truyền thống của ngân sách Nhà nước trong mọi mô hìnhkinh tế, nó gắn chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình tồn tại vàthực hiện nhiệm vụ của mình Ngân sách Nhà nước cung cấp nguồn kinh phí

để Nhà nước đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, sản kinh doanh, tạo tư liệu sảnxuất…

Nhà nước huy động nguồn tài thông qua công cụ như thuế, lệ phí, lợitức của Nhà nước, các khoản vay trong nước hoặc nước ngoài, viên trợ từcác nước tổ chức trên thế giới,…

b Ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Vai trò này xuất phát từ yêu cầu khắc phục những khuyết tật vốn có củanền kinh tế thị trường Vai trò này được thể hiện trên các mặt sau:

+ Thứ nhất, ngân sách Nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơcấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độcquyền

Để khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, Nhà nướcphải hướng những hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹđạo mà Nhà nước đã hoạch định, để hình thành nên cơ cấu kinh tế tố ưu, tạođiều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững Thông qua công cụ

Trang 7

§Ò ¸n lý thuyÕt Tµi chÝnh tiÒn tÖ GV:ths ®oµn ph¬ng th¶o

là ngân sách Nhà nước đảm bảo cung cấp kinh phí để Nhà nước đầu tư cho

cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các nghành thenchốt, trên cơ sở đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển cácdoanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Mặt khác, trong những điều kiện

cụ thể, nguồn kinh phí ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sựphát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo cho tính ổn định về cơ cấu hoặcchuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu kinh tế mới hợp

lý hơn

Bằng việc huy động nguồn tài chính thông thông qua các khoản thuế vàchính sách thuế sẽ đảm bảo vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạnchế sản xuất kinh doanh Việc đặt ra các loại thuế với thuế suất ưu đãi, cácquy định miễn thuế, giảm thuế có tác dụng kích thích mạnh mẽ đối với cácdoanh nghiệp Một chính sách thuế có lợi sẽ thu hút được doanh nghiệp bỏvốn đầu tư vào nơi cần thiết; ngược lại, một chính sách thuế khắt khe sẽgiảm bớt luồng di chuyển vốn vào nơi cần hạn chế sản xuất kinh doanh

Độc quyền, trong kinh tế học, độc quyền là trạng thái thị trường chỉ códuy nhất một người bán và sản xuất ra sản phẩm không có sản phẩm thay thếgần gũi Đây là một trong những dạng của thất bại thị trường, là trường hợpcực đoan của thị trường thiếu tính cạnh tranh Mực dù trên thực tế hầu nhưkhông thể tìm được trường hợp đáp ứng hoàn hảo hai tiêu chuẩn của độcquyền và do đó độc quyền thuần túy có thể coi là không tồn tại nhưng nhữngdạng độc quyền không thuần túy đều dẫn đến sự phi hiệu quả của lợi ích xãhội Độc quyền được phân loại theo nhiều tiêu thức: mức độ độc quyền,nguyên nhân của độc quyền, cấu trúc của độc quyền Độc quyền gây ra rấtnhiều tổn thất phúc lợi cho xã hội vì vậy, việc cấp vốn hình thành các doanhnghiệp là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ chothị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo, một trongnhững nguyên nhân kìm hãm phát triển nền kinh tế

Trang 8

§Ò ¸n lý thuyÕt Tµi chÝnh tiÒn tÖ GV:ths ®oµn ph¬ng th¶o

+ Thứ hai, ngân sách Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc điều tiếtthị trường, bình ổn giá cả và chống lạm phát

Trong nền kinh tế thị trường, sự biến động không ngừng của giá cả cónguyên nhân từ sự mất cân đối giữa cung và cầu Bằng công cụ thuế, phí, lệphí, vay và chính sách chi tiêu của ngân sách Nhà nước, Nhà nước có tácđộng vào khía cạnh cung hoặc cầu để bình ổn giá cả Đặc biệt sự hình thànhquỹ dự phòng trong ngân sách Nhà nước để đối phó với với sự biến động củathị trường đóng vai trò quan trọng để bình ổn giá cả:

Đối với thị trường hàng hoá: hoạt động điều tiết của Chính phủ đượcthực hiện thông qua việc sử dụng các quỹ dự trữ nhà nước ( bằng tiền, bằngngoại tệ, các loại hàng hoá, vật tư chiến lược, ) được hình thành từ nguồnthu ngân sách

Đối với thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường sức lao động hoạtđộng điều tiết của Chính phủ thông qua việc thực hiện một cách đồng bộgiữa các công cụ tài chính, tiền tệ, giá cả trong đó công cụ ngân sách vớicác biện pháp như phát hành công trái, chi trả nợ, các biện pháp tiêu dùngcủa Chính phủ cho toàn xã hội, đào tạo

Mặt khác, hoạt động thu chi của ngân sách Nhà nước có mối quan hệchặt chẽ với vấn đề lạm phát Lạm phát là căn bệnh nguy hiểm đối với nềnkinh tế và chống lạm phát là một nội dung quan trọng trong quá trình điềuchỉnh thị trường

Lạm phát (trong kinh tế học) là sự tăng lên theo thời gian của mức giáchung của nền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thịtrường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tếkhác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền

tệ khác Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát củađơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứhai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trườngtoàn cầu Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ đề gây

Trang 9

§Ò ¸n lý thuyÕt Tµi chÝnh tiÒn tÖ GV:ths ®oµn ph¬ng th¶o

tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô Ngược lại với lạm phát là giảmphát Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người

ta gọi là sự ổn định giá cả Lạm phát gây ra rất nhiều hiệu ứng tiêu cực chođất nước nói chung và cho nền kinh tế nói chung.Nguyên nhân gây ra vàthúc đẩy lạm phát có rất nhiều và xuất phát từ nhiều lĩnh vực, như: Lạm phátcho chi phí đẩy, lạm phát do cơ cấu đẩy, lạm phát do xuất nhập khẩu, lạmphát do tiền tệ… trong đó có lĩnh vực thu chi tài chính của Nhà nước Do đó,bằng các biện pháp đúng đắn, trong các quá trình thu chi của ngân sách Nhànước như: thắt chặt và nâng cao hiệu quả hiệu quả của các khoản chi tiêu củangân sách Nhà nước, tăng thuế tiêu dung, giảm thuế đối với đầu tư, thắt chặtchi tiêu của ngân sách Nhà nước Ngoài ra, để kiềm chế lạm phát, nhà nước

có thể tăng cường các khoản vay trong dân góp phần làm giảm lượng tiềnmặt trong nền kinh tế; triệt để không phát hành tiền tệ để bù đắp thiếu hụtngân sách , Nhà nước có thể hạn chế và kiểm soát lạm phát

c Ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết thu nhập giữa các thành phần kinh tế và các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo công bằng xã hội.

Từ năm 1968 nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi cơ chế kế hoạch hoá tậptrung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước với muạctiêu xây dựng một xã hội thịnh vượng, công bằng và văn minh Nhưng nềnkinh tế thị trường với những khuyết tật vốn có của nó là phân hoá giai cấp,phân hoá giàu nghèo, bất công bằng xã hội Do vậy, Nhà nước phải sửdụng công cụ ngân sách Nhà nước để điều tiết thu nhập, giảm bớt khoảngcách về thu nhập giữa các tầng lớp trong xã hội Việc điều tiết này được thựchiện thông qua hoạt động thu chi của ngân sách

Thông qua hoạt động thu ngân sách, dưới hình thức kết hợp thuế giảmthu và thuế trực thu Nhà nước điều tiết bớt một phần thu nhập của tầng lớp

có thu nhập cao trong xã hội, hướng dẫn tiêu dung hợp lý, tiết kiệm, đảm bảothu nhập chính đáng của người lao động Mặt khác, thông qua hoạt động chingân sách dưới các hình thức chứng khoán cấp phát, trợ cấp trong các chính

Trang 10

§Ò ¸n lý thuyÕt Tµi chÝnh tiÒn tÖ GV:ths ®oµn ph¬ng th¶o

sách về dân số kế hoách hóa gia đình về bảo trợ xã hội, việc làm Nhà nước

hỗ trợ để nâng cao đời sống của từng lớp người nghèo trong xã hội

2 Thâm hụt ngân sách nhà nước.

2.1 Khái niệm thâm hụt ngân sách nhà nước

Thâm hụt ngân sách (hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước) là tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước lớn hơn

các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách Trường hợp ngược lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản chi được gọi là

thặng dư ngân sách.

Để phản ánh mức độ thâm hụt ngân sách người ta thường sử dụng chỉ

tiêu tỉ lệ thâm hụt so với GDP hoặc so với tổng số thu trong ngân sáchnhà nước

VD: Thâm hụt NSNN năm 2009 là 155 900 tỷ đồng, tỉ lệ thâm hụt so với GDP là 6.9 % (theo cách tính của Việt Nam).

Theo thông lệ quốc tế, có thể tóm tắt báo cáo về NSNN hằng năm nhưsau:

Bảng: Tóm tắt nội dung cân đối ngân sách nhà nước hằng năm

D Chi thường xuyên

E Chi đầu tư

F Cho vay thuần (= cho vay mới – thu nợ gốc)

Trong đó: A + B +C = D + E + F Công thức tính thâm hụt NSNN của

một năm sẽ như sau:

Trang 11

§Ò ¸n lý thuyÕt Tµi chÝnh tiÒn tÖ GV:ths ®oµn ph¬ng th¶o

Thâm hụt NSNN = Tổng chi – Tổng thu = (D + E + F) – (A + B) = C

Các lý thuyết tài chính hiện đại cho rằng, NSNN không cầnthiết phải cân bằng theo tháng, theo năm Vấn đề là phải quản lý cácnguồn thu và chi sao cho ngân sách không bi thâm hụt qua lớn và kéodài Tuy vậy, trong nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển,các Chính phủ vẫn theo đuổi một chính sách tài khóa thận trọng, trong

đó chi ngân sách phải nằm trong khuôn khổ các nguồn thu ngân sách

để tránh tình trạng thâm hụt

2.2 Phân loại thâm hụt ngân sách

Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại:thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ

a Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi nhữngchính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm

xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,

b Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu

kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốcdân Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thungân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho cho trợ cấp thấtnghiệp tăng lên

Giá trị tính ra tiền của thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ được tínhtoán như sau:

Ngân sách thực có: Liệt kê các khoản thu, chi và thâm hụt tính bằngtiền trong một giai đoạn nhất định (thường là một quý hoặc một năm)

Ngân sách cơ cấu: tính toán thu, chi và thâm hụt của chính phủ sẽ là baonhiêu nếu nền kinh tế đạt mức sản lượng tiềm năng

Trang 12

§Ò ¸n lý thuyÕt Tµi chÝnh tiÒn tÖ GV:ths ®oµn ph¬ng th¶o

Ngân sách chu kỳ: Là chênh lệch giữa ngân sách thực có và ngân sách

cơ cấu

Việc phân biệt giữa ngân sách cơ cấu và ngân sách chu kỳ phản ánh sựkhác nhau giữa chính sách tài chính: chính sách ổn định tùy biến và chínhsách ổn định tự động

Việc phân biệt hai loại thâm hụt trên đây có tác dụng quan trọng trongviệc đánh giá ảnh hưởng thực sự của chính sách tài chính khi thực hiện chínhsách tài chính mở rộng hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sáchnhư thế nào giúp cho chính phủ có những biện pháp điều chỉnh chính sáchhợp lý trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế

Trang 13

§Ò ¸n lý thuyÕt Tµi chÝnh tiÒn tÖ GV:ths ®oµn ph¬ng th¶o

2.1 Biện pháp "tăng thu, giảm chi"

Đây là biện pháp mà Chính phủ bằng những quyền hạn và nhiệm vụđược giao, tính toán hợp lý để tăng các khoản thu như thu từ Thuế và cắtgiảm chi tiêu Tuy vậy, vấn đề đặt ra là phải tính toán số tăng thu và giảm chithế nào để gây ảnh hưởng ít nhất đến tăng trưởng kinh tế - hệ quả từ mô hình

số nhân:

m=1/(1-MPC) ; mt= -MPC/(1-MPC) ; m+mt = 1 (số nhân ngân sách cânbằng)

Ý nghĩa : Khi chính phủ tăng chi tiêu (G) và tăng thuế (T) một lượng

như nhau thì ngân sách không đổi và sản lượng cân bằng sẽ tăng một lượngtương ứng ΔY = ΔG = ΔT

Khi chính phủ tăng chi tiêu : ΔY = 1/(1-MPC ) x ΔG

Khi đồng thời tăng thuế : ΔY = 1/(1-MPC) x ΔG - MPC/(1-MPC) x ΔT

Mà ΔG =ΔT nên ta có ΔY = ΔG= ΔT

Từ lý thuyết trên, vì được đặt trong bối cảnh chống lạm phát nên chínhsách ngân sách (hay chính sách tài khóa) của Chính phủ trong thời gian quachỉ hướng đến mục đích giảm chi tiêu công (gồm đầu tư công và chi thườngxuyên) và qua đó giảm tổng cầu Cụ thể là Chính phủ chỉ thị: (i) Cắt giảmnguồn đầu tư từ ngân sách và tín dụng nhà nước; (ii) Rà soát và cắt bỏ cáchạng mục đầu tư kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước (DNNN); (iii)Cắt giảm chi thường xuyên của bộ máy nhà nước các cấp

Trang 14

§Ò ¸n lý thuyÕt Tµi chÝnh tiÒn tÖ GV:ths ®oµn ph¬ng th¶o

Tổng đầu tư của Nhà nước (từ ngân sách, tín dụng nhà nước và thôngqua DNNN) luôn chiếm trên dưới 50% tổng đầu tư của toàn xã hội Vì vậy,không nghi ngờ gì, nếu Nhà nước có thể cắt giảm một số khoản đầu tư kémhiệu quả và có thứ tự ưu tiên thấp thì sức ép gia tăng lạm phát chắc chắn sẽnhẹ đi Cũng tương tự như vậy, lạm phát cũng sẽ được kiềm chế bớt nếu các

cơ quan nhà nước có thể cắt giảm chi thường xuyên (chiếm 56% tổng chingân sách năm 2007)

Mặc dù chính sách cắt giảm chi tiêu công là hoàn toàn đúng đắn, songhiệu lực của những biện pháp cụ thể đến đâu thì còn chưa chắc chắn vì ítnhất có 4 lý do

Thứ nhất, việc cắt giảm, thậm chí giãn tiến độ đầu tư công không hề dễdàng, nhất là khi những dự án này đã được các cơ quan lập pháp các cấpquyết định; đã được đưa vào quy hoạch của các bộ, ngành, địa phương; đãđược triển khai; và nhất là khi chúng gắn với lợi ích thiết thân của những cơquan liên quan đến dự án

Thứ hai, Nhà nước hầu như không thể kiểm soát các khoản đầu tư củacác DNNN, một mặt là do chính sách phân cấp trong quản lý đầu tư, và mặtkhác là do một số tập đoàn lớn đã tự thành lập ngân hàng riêng

Thứ ba, với tốc độ lạm phát như hiện nay thì chỉ cần giữ được tổng mứcđầu tư công theo đúng dự toán cũng đã được coi là một thành tích đáng kể.Thứ tư, kinh nghiệm quốc tế cho thấy rằng vì việc giảm chi thườngxuyên rất khó khăn nên đây thường là hạng mục cuối cùng nằm trong danhsách cắt giảm Hơn thế, với thực tế ở Việt Nam thì phạm vi chi thường xuyên

có thể cắt giảm không nhiều Đầu tiên là phải trừ đi quỹ lương (chiếmkhoảng 2/3 tổng chi thường xuyên), sau đó phải trừ đi các khoản phụ cấp cótính chất lương, chi chính sách chế độ, tiền đóng niêm liễn cho các tổ chứcquốc tế, các khoản chi thường xuyên đã được thực hiện …

Ngày đăng: 08/06/2020, 09:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w