Báo cáo kết quả nghiên cứu, ứng dụng sáng kiến kinh nghiệm lớp 4
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Ở bậc tiểu học, môn Tiếng Việt chiếm thời lượng nhiều nhất so với các môn học khác Tiếng Việt là môn học công cụ, là chìa khóa, là phương tiện để học sinh tiếp nhận tri thức loài người Trong đó, phân môn Tập đọc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong chương trình Tiểu học vì nó đảm nhiệm việc hình thành kĩ năng nghe - đọc - nói cho học sinh, những kĩ năng quan trọng hàng đầu trong quá trình tiếp nhận tri thức, cho nên đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản, đầu tiên đối với người học Còn kĩ năng đọc hiểu được xác định là cái đích mà học sinh cần hướng tới, đồng thời nó còn là bước đệm giúp cho học sinh đạt được yêu cầu cao nhất của việc đọc - đọc diễn cảm vì học sinh có hiểu nội dung bài văn, bài thơ thì mới có cách đọc đúng, đọc hay còn không chỉ là đọc “diễn” chứ không thể “cảm”
Trong các đề kiểm tra định kì của môn Tiếng Việt, phần kiểm tra đọc thì phần đọc hiểu chiếm số điểm khá lớn càng thêm khẳng định tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh Nhưng trên thực tế, chất lượng đọc hiểu vẫn chưa cao Các em quá lệ thuộc vào bài Tập đọc, thường chỉ diễn nôm từng câu chữ khi trả lời các câu hỏi tìm hiểu bài, thiếu tính sáng tạo, hoặc trình bày nguyên vẹn lại câu văn, câu thơ trong sách, chưa lựa chọn ra ý để trả lời, chưa cảm nhận được nội dung của văn bản, chưa vận dụng kiến thức vào cuộc sống Thời lượng cho việc dạy đọc đúng và luyện đọc diễn cảm thường chiếm gần cả tiết học, còn thời lượng cho việc hướng dẫn tìm hiểu bài giúp học sinh đọc hiểu chiếm thời lượng rất ít Trong khi đó, không ít giáo viên còn nói nhiều, giảng nhiều khiến cho phần tìm hiểu bài biến thành tiết giảng văn Hoặc giáo viên chỉ nêu câu hỏi trong sách giáo khoa để học sinh trả lời khiến tiết học nhàm chán, ít
cô đọng, chưa khắc sâu được nội dung bài học Điều đó dẫn đến hiệu quả của giờ Tập đọc không cao
Vậy làm thế nào để các em hiểu một cách chân thực và sâu sắc nội dung bài Tập đọc, để những gì đọc được tác động vào chính cuộc sống của các em? Vận dụng phương pháp nào để khắc phục những tồn tại nêu trên và nâng cao kĩ năng đọc hiểu phù hợp với đặc trưng môn học và trình độ nhận thức của các em?
Đó là những băn khoăn, trăn trở của tôi trong mỗi giờ dạy Tập đọc
Về vấn đề làm thế nào rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 4 (và cả lớp 5) đã có nhiều đề tài nghiên cứu Nhưng tôi thấy ngoài mục đích nâng cao kĩ
năng đọc hiểu cho học sinh cần giúp các em hứng thú hơn với bài học, giúp các
em nhớ bài học lâu hơn Vậy làm thế nào để giờ học nhẹ nhàng mà vẫn đạt được hiệu quả mong muốn?
Dùng sơ đồ để tóm tắt là hoạt động quen thuộc với cả thầy và trò ở tiểu học Phương pháp này thường được dùng trong các môn Toán, Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Lịch sử và Địa lí Còn phân môn Tập đọc thì rất ít hoặc không có
Trang 2kiến: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 rèn kĩ năng đọc hiểu qua việc sử
dụng sơ đồ trong dạy học Tập đọc”
2 Tên sáng kiến: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 rèn kĩ năng đọc hiểu qua việc sử dụng sơ đồ trong dạy học Tập đọc
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Tháng 8/2015
7 Mô tả bản chất của sáng kiến
7.1 Về nội dung của sáng kiến
7.1.1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
7.1.1.1 Cơ sở lí luận
Đọc là hoạt động tiếp nhận và thông hiểu các kí hiệu ngôn ngữ, những điều
đã được viết ra Trên cơ sở đó có thể chuyển thành lời nói có âm thanh (đọc thành tiếng) hoặc chỉ chuyển thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (đọc thầm)
Hiểu là quá trình vận dụng trí tuệ để nhận diện và giải thích các kí hiệu
ngôn ngữ, trên cơ sở đó kết nối và đánh giá thông tin, vận dụng thông tin vào giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống
Đọc hiểu là năng lực đọc văn bản đến cấp độ hiểu và năng lực hiểu thông qua
đọc văn bản Đối với học sinh tiểu học, đọc hiểu văn bản được chia thành hai cấp độ:
Trang 33
Đối với học sinh lớp 1, 2, 3, đọc hiểu là khả năng nhận biết và hiểu nghĩa của văn bản (từ, câu, đoạn, nội dung, ý nghĩa của văn bản); bước đầu kết nối, đánh giá thông tin (chủ yếu trong văn bản) và vận dụng những thông tin trong văn bản vào giải quyết những vấn đề đơn giản trong học tập và đời sống
Đối với học sinh lớp 4, 5, đọc hiểu là khẳ năng nhận biết và hiểu nghĩa của văn bản (từ, câu, đoạn, cấu trúc, các thông điệp chính và các chi tiết quan trọng, lập dàn ý, tóm tắt của văn bản); trên cơ sở đó kết nối, đánh giá thông tin (kết nối, đánh giá thông tin trong văn bản và bước đầu kết nối thông tin ngoài văn bản); vận dụng thông tin trong văn bản vào giải quyết một số vấn đề cụ thể trong học tập và đời sống
Trong cuốn Dạy học Tập đọc ở Tiểu học, tác giả Lê Phương Nga đã chỉ rõ Dạy đọc hiểu là hình thành kĩ năng để tiến hành những hành động đọc hiểu Tương ứng với các hành động đọc hiểu có các kĩ năng đọc hiểu sau:
a Kĩ năng nhận diện ngôn ngữ, bao gồm:
- Kĩ năng nhận diện từ mới và phát hiện các từ quan trọng trong văn bản;
- Kĩ năng nhận ra các câu khó hiểu, các câu quan trọng;
- Kĩ năng nhận ra các đoạn ý của văn bản;
- Kĩ năng nhận ra đề tài văn bản
b Kĩ năng làm rõ nghĩa văn bản, bao gồm:
- Kĩ năng làm rõ nghĩa từ;
- Kĩ năng làm rõ nội dung thông báo của câu;
- Kĩ năng làm rõ ý của đoạn;
- Kĩ năng làm rõ ý chính của văn bản;
- Kĩ năng làm rõ mục đích của người viết gửi vào văn bản, kĩ năng nhận biết những ẩn ý của tác giả
c Kĩ năng hồi đáp lại ý kiến của người viết nêu trong văn bản, bao gồm:
- Kĩ năng đánh giá tính đúng đắn của nội dung văn bản;
- Kĩ năng đánh giá tính đầy đủ của văn bản;
- Kĩ năng đánh giá nguyên nhân, hiệu quả của văn bản;
- Kĩ năng đánh giá tính cập nhật của nội dung văn bản;
- Kĩ năng đánh giá tính hấp dẫn, thuyết phục của nội dung văn bản;
- Kĩ năng liên hệ của cá nhân sau khi tiếp nhận văn bản
7.1.1.2 Cơ sở thực tiễn
Trang 44
Nội dung dạy học của phân môn Tập đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt
4 (hai tập) là sự cụ thể hoá những quy định trong Chương trình Tiểu học ban
hành kèm theo Quyết định số 43/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 9 tháng 11 năm
2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trước hết, phân môn Tập đọc củng cố, nâng cao kĩ năng đọc cho học sinh Thông qua 62 bài tập đọc thuộc các loại hình văn bản khác nhau (nghệ thuật, báo chí, khoa học, ) trong đó có 46 bài văn xuôi, 17 bài thơ (có 2 bài thơ ngắn được dạy trong 1 tiết), phân môn Tập đọc tiếp tục củng cố, nâng cao kĩ năng đọc trơn, đọc thầm được phát triển từ các lớp dưới, đồng thời rèn luyện một kĩ năng mới là đọc diễn cảm (thể hiện tình cảm, thái độ qua giọng đọc sao cho phù hợp với nội dung bài đọc và tình cảm, thái độ của tác giả) Bên cạnh
đó, qua phần hướng dẫn sư phạm cuối mỗi bài tập đọc (gồm các nội dung giải nghĩa từ, câu hỏi và bài tập tìm hiểu bài), phân môn Tập đọc còn giúp học sinh nâng cao kĩ năng đọc - hiểu văn bản, cụ thể là:
- Nhận biết được đề bài, cấu trúc của bài
- Biết cách tóm tắt, làm quen với thao tác đọc lướt để nắm ý
- Phát hiện giá trị của một số biện pháp nghệ thuật trong các văn bản văn chương Cùng với các phân môn Kể chuyện, Tập làm văn, phân môn Tập đọc còn xây dựng cho học sinh thói quen tìm đọc sách ở thư viện, dùng sách công cụ (từ điển, sổ tay từ ngữ, ngữ pháp) và ghi chép những thông tin cần thiết khi đọc
Một nội dung dạy học quan trọng nữa của phân môn Tập đọc là mở rộng vốn hiểu biết, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, nhân cách cho học sinh
Qua các nội dung dạy học trình bày ở trên, có thể thấy việc dạy tập đọc ở lớp 4 có một số điểm mới và cao hơn so với các lớp dưới như sau:
- Trên cơ sở củng cố, nâng cao kĩ năng đọc trơn, đọc thầm được phát triển
từ các lớp dưới, nội dung dạy học tập đọc ở lớp 4 hướng tới kĩ năng mới là đọc diễn cảm (đối với các văn bản nghệ thuật)
- Do kĩ năng đọc trơn, đọc thầm đã được phát triển và nâng cao, học sinh lớp 4 có khả năng hiểu – cảm nội dung và giá trị của bài tập đọc một cách sâu hơn Việc tìm hiểu, phát hiện giá trị của một số biện pháp nghệ thuật trong các văn bản văn chương vừa giúp học sinh trau dồi năng lực cảm thụ văn học, chuẩn
bị cho các lớp trên vừa trực tiếp phục vụ cho yêu cầu đọc diễn cảm ngay ở lớp 4 (Ví dụ: Qua việc phát hiện một số từ ngữ gợi tả sinh động sự vật trong bài, học
Trang 55
sinh có ý thức diễn tả bằng giọng đọc những từ ngữ đó sao cho truyền cảm được
đến người nghe những cảm nhận của bản thân, ) Đây là yêu cầu trọng tâm
Như vậy, nội dung dạy học Tập đọc ở lớp 4 đã được nâng lên một bước mới, đó là đọc có biểu cảm, bước đầu luyện đọc diễn cảm một đoạn văn, đoạn thơ trong các văn bản nghệ thuật để từng bước đáp ứng yêu cầu cao hơn ở lớp 5
Để luyện tập được kĩ năng này, học sinh cần đạt được những yêu cầu tối thiểu về trình độ đọc (đọc đúng, rõ ràng, rành mạch) và tìm hiểu bài, nắm được nội dung,
ý nghĩa của bài đọc Chúng ta đã thấy rõ tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng đọc hiểu trong phân môn Tập đọc đối với học sinh lớp 4
Trong quá trình dự giờ phân môn Tập đọc, tôi thấy phần tìm hiểu bài đa
số giáo viên đều trung thành với câu hỏi sách giáo khoa Phần nhiều các câu hỏi sách giáo khoa thường là câu hỏi khó và khái quát nên học sinh rất khó trả lời Phần lớn, giáo viên chưa quan tâm sâu phần đọc hiểu cho một bài Tập đọc, chưa vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Đối với học sinh, các em cứ đọc cứ trả lời các câu hỏi sách giáo khoa làm mất đi tính tích cực, chủ động và sáng tạo nên chưa tham gia hào hứng phần tìm hiểu nội dung bài
Tôi đã tiến hành khảo sát phân loại học sinh khối 4 trường tôi và một số trường tiểu học khác trong tỉnh Vĩnh Phúc theo khả năng đọc hiểu của các em Thời gian là đầu năm học 2015 - 2016 Kết quả cụ thể như sau:
BẢNG PHÂN LOẠI HỌC SINH THEO KHẢ NĂNG ĐỌC HIỂU
Số em đọc hiểu chậm
Số em chưa biết đọc hiểu
Trang 6Phương pháp dạy học đọc hiểu ở lớp 4 thường được sử dụng vẫn là phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp giao tiếp, phương pháp luyện theo mẫu Những năm gần đây, ở Tiểu học, đổi mới phương pháp dạy học diễn
ra khá mạnh mẽ Về cơ bản, những phương pháp dạy học truyền thống vẫn được
sử dụng Trong giờ Tập đọc, giáo viên đã sử dụng nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực Có thể kể đến kĩ thuật dạy học hợp tác nhóm, kĩ thuật “khăn trải bàn”, kĩ thuật mảnh ghép, kĩ thuật đặt câu hỏi,… Tuy nhiên do cả nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan, việc sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực mang nặng tính hình thức và vẫn còn nhiều điều đáng bàn
Ngay từ mầm non, trẻ đã được làm quen với một số loại sơ đồ Thực tế đã chứng minh, sơ đồ là một trong những phương tiện tiện ích Những đường nét kết hợp với từ ngữ, hình ảnh, màu sắc trong sơ đồ để khái quát hoá nội dung bài học sẽ gây hứng thú và góp phần nâng cao chất lượng đọc hiểu Không những thế, phương pháp sơ đồ hoá sẽ là sự tích hợp của các hoạt động rèn kĩ năng hiểu nghĩa của từ ngữ trong văn bản đọc; kĩ năng nhận diện sự kiện, tình tiết; kĩ năng nắm các ý và sắp xếp thành dàn ý; kĩ năng xác định các ý chính và tóm tắt; kĩ năng xác định chủ đề và kĩ năng suy luận để nắm ý của bài
Từ những cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn trên, đồng thời qua nghiên cứu
và áp dụng thực tế trong hai năm học 2015 – 2016 và 2016 – 2017, tôi xin đưa
ra các biện pháp mới để rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 4 như sau:
Trang 7
7
7.1.2 Các biện pháp rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 4 qua việc
sử dụng sơ đồ trong dạy học Tập đọc
Biện pháp 1: Sử dụng sơ đồ trong phần Tìm hiểu bài của phân môn Tập đọc
a Nhóm sơ đồ thích hợp cho các bài đọc thuộc thể loại miêu tả, tự sự
Khi Tìm hiểu bài, ta có thể sử dụng một số loại sơ đồ có dạng cấu trúc: một thành tố trung tâm và các thành tố phụ xung quanh Có các dạng sơ đồ sau:
Dạng 1 Sơ đồ cành cây (sơ đồ cây sự kiện)
Sơ đồ cành cây có hai dạng Một là dạng bảng (xem hình 1) trong đó từ trung tâm là thẻ từ chứa cụm từ biểu thị nội dung chính của bài đọc Vẽ các nhánh
có các thẻ từ biểu thị ý chính của các đoạn, phần Hai là có thể sử dụng “cây” làm trục chính biểu thị chủ đề chính của bài, các cành biểu thị nội dung chi tiết (hình 2)
Loại sơ đồ này là dạng cơ bản nhất và dễ sử dụng nhất Loại sơ đồ này nên dùng cho các bài tập đọc có nội dung thiên về miêu tả Ví dụ trong bài “Sầu riêng”
Hình 1 Sơ đồ cành cây
Trang 88
Hình 2 Sơ đồ cành cây (cây sự kiện)
Dạng 2 Sơ đồ vòng tròn trung tâm
Là loại sơ đồ mà trung tâm của nó là vòng tròn chứa đựng từ ngữ biểu thị chủ đề của đoạn, bài Xung quanh nó là các thẻ từ biểu đạt các tiểu chủ đề hay các ý chính của từng đoạn, từng phần Để tăng tính hấp dẫn, có thể nối từ trung tâm với các thẻ từ bằng những đường cong hoặc xiên theo kiểu tia mặt trời
Hình 3 Sơ đồ vòng tròn trung tâm
Loại sơ đồ này có thể áp dụng trong các bài tập đọc: Tre Việt Nam, Có chí thì nên, Trống đồng Đông Sơn, Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa, Tiếng cười là liều thuốc bổ,
Trang 99
Ta cũng có thể “biến tấu” loại sơ đồ này thành dạng sơ đồ Venn để so sánh các tiểu ý Chẳng hạn, bài Một người chính trực, có thể tạo hai vòng tròn trung tâm, mỗi vòng tròn trung tâm biểu thị một ý chính của bài Lấy cụm từ “Tô Hiến Thành chính trực” làm trung tâm, nằm ở phần giao nhau, phần còn lại hai bên, sẽ giúp tạo
ra sự so sánh cách xử trí của ông Tô Hiến Thành về hai sự việc này với nhau
Dạng 3 Sơ đồ mạng từ ngữ biểu thị hoạt động và đặc điểm của nhân vật
Dạng sơ đồ này phù hợp với văn bản đọc ở dạng biểu thị hoạt động hoặc miêu tả đặc điểm của đối tượng Giáo viên có thể tạo hứng thú cho học sinh bằng cách cho học sinh tìm hình ảnh hoặc vẽ phác hoạ về nhân vật, hoặc sưu tầm hình ảnh nhân vật và viết các từ ngữ biểu thị hành động, tính cách của nhân vật theo hệ thống lôgic ngữ nghĩa của bài đọc
Ta có thể sử dụng trong bài đọc: Tre Việt Nam, Trung thu độc lập, Trăng
ơi từ đâu đến?, Đường đi Sa Pa
Trang 1010
Hình 5 Sơ đồ mạng từ ngữ biểu thị đặc điểm của nhân vật
* So sánh giữa ba dạng sơ đồ
Xét cho cùng, về bản chất, sơ đồ cành cây, sơ đồ vòng tròn trung tâm hay
sơ đồ mạng từ ngữ không khác nhau trong cách thức biểu thị, đều có trung tâm
là nội dung chính (chủ đề) của bài học, còn các nhánh là những tiểu chủ đề hướng tới nội dung chính ở trung tâm Chúng chỉ khác nhau ở cách thức biểu thị Ưu điểm của những dạng sơ đồ này là có tác dụng rất lớn trong việc giúp ghi nhớ và giúp phát triển ý tưởng Song, chúng cũng có những hạn chế nhất định Chẳng hạn như dùng sơ đồ cành cây không thuận lợi trong việc tóm tắt những bài học có tính tiến trình và tiến trình đó được tác giả sử dụng làm phương tiện
để biểu thị một nội dung hàm ẩn của bài đọc Nhưng nếu dùng sơ đồ Venn hoặc
sơ đồ vòng tròn trung tâm tạo thành hai mảng đối xứng và so sánh có thể mang lại hiệu quả hơn so với sơ đồ cành cây Vì thế, giáo viên cần lựa chọn hoặc giúp học sinh lựa chọn loại sơ đồ cho phù hợp với bài đọc
b Nhóm sơ đồ thích hợp cho các bài tập đọc có tính chất tự sự hoặc có tính tiến trình (hay gặp nhất chính là những bài đọc thuộc thể loại văn kể chuyện)
Thường dùng các dạng sơ đồ sau:
Dạng 1 Sơ đồ mạng sự kiện
Ở dạng sơ đồ này, giáo viên dựa vào cốt truyện và dựa vào các các sự kiện, các tình tiết của câu chuyện để hướng dẫn học sinh tóm tắt bài đọc một cách dễ dàng và hứng thú
Chẳng hạn, với truyện Ngựa, thỏ và cọp:
Nhà nọ có con ngựa già Ông chủ không nỡ đuổi nó ra đường bèn nghĩ kế để nó
tự bỏ đi Một hôm, ông bảo:
Mẹ
Chú Cuội
Chú bộ đội
Trang 1111
- Ngựa à, nếu mày bắt về đây cho ta một con cọp, ta sẽ giữ mày lại
Ngựa già buộc phải vào rừng, nó lập cập vừa đi vừa khóc Trên đường đi, ngựa già gặp thỏ Sau khi nghe ngựa già kể rõ nguồn cơn, thỏ hứa giúp ngựa mang cọp về cho chủ Thỏ đến nhà cọp thầm thì:
- Có con ngựa già gần chết nằm bên đường Em buộc chân nó và chân bác, ta mang về nhé?
Cọp nghe bùi tai, bèn nhận lời Thỏ liền dẫn cọp đến chỗ ngựa Nó vờ vịt buộc luôn cả bốn chân cọp Ngựa chồm dậy, kéo cọp về nhà Ông chủ phục lăn Từ đó ngựa được giữ trong nhà
Ta có thể dùng sơ đồ mạng sự kiện để tóm tắt như sau:
Hình 6 Sơ đồ mạng sự kiện
Ta có thể dùng sơ đồ mạng sự kiện trong các bài: Những hạt thóc giống, Điều ước của vua Mi – đát, Dế Mèn bênh vực kẻ yếu, Chuyện cổ tích về loài người, Con sẻ, Bốn anh tài, Chú Đất Nung, Ông Trạng thả diều,
Dạng 2 Sơ đồ đường tròn
Loại sơ đồ này phù hợp với những bài Tập đọc có cốt truyện, các tình tiết,
sự kiện của câu chuyện diễn ra theo dạng tiến trình khép kín Khi vẽ loại sơ đồ này, cần có dấu hiệu biểu thị điểm xuất phát và đích đến
Ví dụ, câu chuyện Ngựa, thỏ và cọp ở trên, có các tình tiết diễn ra theo
dạng khép kín thì ta có thể sử dụng loại sơ đồ này
Trang 1212
Hình 7 Sơ đồ đường tròn
Dạng 3 Sơ đồ đường thẳng
Phù hợp với những câu chuyện mà nhân vật chính chỉ “đi theo” một tuyến
duy nhất Ví dụ bài Tập đọc Người mẹ có thể sử dụng loại sơ đồ này
Hình 8 Sơ đồ đường thẳng
Dạng 4 Bản đồ câu chuyện
Loại sơ đồ này cũng thường dùng cho các bài đọc dạng truyện kể Khi sử dụng, cần sắp xếp theo tiến trình của câu chuyện Giáo viên cần hướng dẫn học sinh xác định nhân vật, thời gian, nơi chốn và hành động của nhân vật trong bối cảnh thời gian, không gian đã xác định
Trang 1313
Hình 9 Bản đồ câu chuyện
Ngoài ra, loại sơ đồ này cũng có thể sử dụng trong các bài miêu tả có tính tiến trình như: Hội vật; Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân Khi đó, giáo viên cần hướng dẫn học sinh xác định được đối tượng miêu tả trong tiến trình tiến triển của nó Và cần xây dựng theo đúng trình tự diễn tiến của bài đọc
So sánh các loại sơ đồ
Nhìn chung, các loại sơ đồ này đều dùng chủ yếu trong các bài đọc là truyện kể hoặc một số ít bài miêu tả Tuy nhiên, như trên đã nói, sơ đồ vòng tròn chỉ nên dùng với bài đọc có các tình tiết diễn ra theo tiến trình khép kín và sơ đồ đường thẳng chỉ nên dùng khi mà nhân vật chính chỉ đi theo một tuyến duy nhất nên hai kiểu sơ đồ này khả năng sử dụng hạn chế hơn so với sơ đồ mạng sự kiện hay sơ đồ cành cây, sơ đồ vòng tròn trung tâm, bản đồ câu chuyện hay sơ đồ Venn Khi dùng sơ đồ vòng tròn và sơ đồ đường thẳng, giáo viên cần cân nhắc xem có thoả mãn các yêu cầu trên hay không thì mới sử dụng
* Cách thức tiến hành các sơ đồ trên khi dạy học
- Giáo viên cùng học sinh chuẩn bị các thẻ từ, các hình ảnh (nếu cần); Giáo viên vẽ phác thảo và chọn sẵn các hình minh hoạ cho các nội dung trong bài đọc
- Việc sơ đồ hoá nội dung bài học cần được thực hiện cùng với tiến trình dạy học; kết hợp với các phương pháp như giảng giải, phân tích ngôn ngữ, đàm thoại, vấn đáp, Nên ứng dụng sử dụng công nghệ thông tin để nội dung trình bày được đẹp hơn, gây hứng thú hơn với học sinh
- Cần và nên để học sinh tham gia quá trình sơ đồ hoá tóm tắt bài đọc, tuy bước đầu khá tốn thời gian và công sức, do cả thầy và trò chưa quen, do cách dạy bám sát sách hướng dẫn nhưng kiên trì một thời gian thì sẽ cho hiệu quả mong muốn
- Tuỳ theo nội dung của bài đọc để lựa chọn kiểu sơ đồ phù hợp
* Cách chọn từ khoá
Trang 1414
- Phần lớn các bài tập đọc trong sách giáo khoa tiểu học đều có tên bài đặt
theo kiểu khái quát nội dung văn bản (Như Phong cảnh đền Hùng, Quà của bố, Quang cảnh làng mạc ngày mùa, Chợ Tết ) nên khi tìm từ khoá biểu thị chủ đề
của bài đọc cần chú ý tựa đề
- Còn với từ khoá của biểu thị các tiểu chủ đề, cần chú ý câu mở đoạn/bài; câu kết thúc đoạn/bài; chú ý các động từ, tính từ biểu thị hoạt động, đặc điểm, quá trình của sự vật, sự việc được nói tới
Biện pháp 2: Sử dụng sơ đồ trong phần củng cố nội dung bài đọc
Bản đồ tư duy rất thích hợp cho việc hướng dẫn học sinh tìm ý và phát triển ý trong dạy học Tập làm văn Còn trong việc dạy đọc hiểu ở phân môn Tập đọc thì sử dụng bản đồ tư duy cho bước củng cố bài học sẽ rất hiệu quả
Biện pháp 3: Sử dụng sơ đồ khi tái hiện kiến thức bài đã học
Trang 15Ta có thể sử dụng linh hoạt một trong tám loại sơ đồ nói trên tuỳ vào nội dung bài
7.2 Về khả năng áp dụng của sáng kiến
Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 rèn kĩ năng
đọc hiểu qua việc sử dụng sơ đồ trong dạy học Tập đọc của tôi đã áp dụng hiệu
quả trong phạm vi tỉnh Vĩnh Phúc và có thể nhân rộng phạm vi áp dụng ra các tỉnh khác
8 Những thông tin cần bảo mật: (Không)
9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến
Đối với giáo viên
- Giáo viên phải nhuần nhuyễn về phương pháp giảng dạy từng phân môn Tiếng Việt; đồng thời nắm chắc chuẩn kiến thức, kĩ năng của từng bài học mà mình muốn vận dụng biện pháp mới
- Giáo viên phải mạnh dạn từ bỏ “lối mòn” trong các sách hướng dẫn, linh hoạt sử dụng phương pháp mới trong phần tìm hiểu bài, rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh
- Giáo viên phải sáng tạo trong việc tiếp thu và áp dụng cái mới phục vụ cho quá trình dạy học
- Có rút kinh nghiệm nghiêm túc sau mỗi lần thử nghiệm để hoàn thiện sáng kiến
- Giáo viên phải thường xuyên trau dồi kiến thức chuyên môn để kịp thời điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp
Đối với học sinh
- Học sinh cần chuẩn bị bài trước khi lên lớp; cần có đầy đủ các dụng cụ học tập: giấy, bút (bút dạ, bút màu, bút chì, ), thước,