1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận cao học, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước ở việt nam hiện nay

33 368 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 46,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. lý do chọn đề tài Việt Nam là một nước dân chủ, bao nhiêu quyền lực đều thuộc về nhân dân. Cán bộ hoạt động trong cơ quan chính quyền từ cấp xã đến trung ương đều do nhân dân bầu cử. Các đoàn thể từ trung ương đến địa phương do nhân dân lập ra. Như vậy, quyền hành chính trị đều ở trong tay nhân dân. Với luận điểm như vậy, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nghĩa là quyền lực nhà nước nằm trong tay nhân dân. Quyền lực nhà nước thể hiện ý chí của nhân dân và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của bộ máy nhà nước. Được sự ủy quyền của nhân dân, nhà nước trở thành bộ máy quyền lực lớn nhất, độc lập với xã hội. Trong xã hội có giai cấp, khi quyền lực nhà nước không được kiểm soát, nhà nước trở thành cơ quan đứng trên xã hội, biệt lập, xa lạ với xã hội, trở thành một lực lượng ăn bám xã hội. Trong nhiều thời kỳ lịch sử, nhà nước trở thành lực lượng cản trở sự phát triển xã hội. Ở Việt Nam hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, có một số nơi đã xuất hiện nguy cơ Đảng và Nhà nước không còn là của nhân dân với những biểu hiện như: một số cán bộ công chức nắm quyền lực nhà nước điều hành các hoạt động, chương trình phát triển lại xa rời với nhân dân, xa cấp dưới, xa cơ sở, không chủ động phục vụ nhân dân mà chỉ lo thăng quan tiến chức, đánh mất bản chất cách mạng chân chính của người cán bộ. Trong những năm gần đây, có những vụ ăn cắp tài sản quốc gia và nhân dân của những kẻ tham nhũng, vô trách nhiệm phần lớn là những người nắm quyền lực chiếm đoạt và thất thoát. Một bộ phận cán bộ không nhỏ đang bị suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống vẫn đang tiếp tục làm giàu bất chính, gây nhiều hậu quả xấu cho xã hội, làm suy yếu mối quan hệ giữa Đảng, nhà nước và nhân dân. Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng đó là do quyền lực nhà nước, cụ thể là một số kẻ có chức có quyền đã lạm dụng quyền lực nhà nước để mưu cầu lợi ích riêng. Nói cách khác, quyền lực nhà nước không được kiểm soát đầy đủ. Bên cạnh đó, khi bước vào quá trình hội nhập quốc tế, tổ chức và hoạt động của bộ máy quyền lực nhà nước nói chung, các thể chế kiểm soát quyền lực nhà nước nói riêng có nhiều điểm bất cập, trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của tập thể và cá nhân chưa được chế định cụ thể và chặt chẽ. Như vậy, quyền lực nhà nước ở Việt Nam có biểu hiện không được kiểm soát tốt ở tất cả các cấp. Do vậy, kiểm soát quyền lực nhà nước đang trở thành một yêu cầu cấp bách, đòi hỏi được giải quyết cả về mặt lý luận và thực tiễn. Chính vì vậy, em chọn đề tài “Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận kết thúc học phần quyền lực chính trị và cầm quyền.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 lý do chọn đề tài

Việt Nam là một nước dân chủ, bao nhiêu quyền lực đều thuộc về nhândân Cán bộ hoạt động trong cơ quan chính quyền từ cấp xã đến trung ươngđều do nhân dân bầu cử Các đoàn thể từ trung ương đến địa phương do nhândân lập ra Như vậy, quyền hành chính trị đều ở trong tay nhân dân Với luậnđiểm như vậy, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nướccủa nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Nghĩa là quyền lực nhà nước nằmtrong tay nhân dân Quyền lực nhà nước thể hiện ý chí của nhân dân và đượcđảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của bộ máy nhà nước

Được sự ủy quyền của nhân dân, nhà nước trở thành bộ máy quyền lựclớn nhất, độc lập với xã hội Trong xã hội có giai cấp, khi quyền lực nhà nướckhông được kiểm soát, nhà nước trở thành cơ quan đứng trên xã hội, biệt lập,

xa lạ với xã hội, trở thành một lực lượng ăn bám xã hội Trong nhiều thời kỳlịch sử, nhà nước trở thành lực lượng cản trở sự phát triển xã hội

Ở Việt Nam hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, có một số nơi đãxuất hiện nguy cơ Đảng và Nhà nước không còn là của nhân dân với nhữngbiểu hiện như: một số cán bộ công chức nắm quyền lực nhà nước điều hànhcác hoạt động, chương trình phát triển lại xa rời với nhân dân, xa cấp dưới, xa

cơ sở, không chủ động phục vụ nhân dân mà chỉ lo thăng quan tiến chức,đánh mất bản chất cách mạng chân chính của người cán bộ Trong những nămgần đây, có những vụ ăn cắp tài sản quốc gia và nhân dân của những kẻ thamnhũng, vô trách nhiệm phần lớn là những người nắm quyền lực chiếm đoạt vàthất thoát Một bộ phận cán bộ không nhỏ đang bị suy thoái tư tưởng chínhtrị, đạo đức lối sống vẫn đang tiếp tục làm giàu bất chính, gây nhiều hậu quảxấu cho xã hội, làm suy yếu mối quan hệ giữa Đảng, nhà nước và nhân dân

Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng đó là do quyền lựcnhà nước, cụ thể là một số kẻ có chức có quyền đã lạm dụng quyền lực nhà

Trang 2

nước để mưu cầu lợi ích riêng Nói cách khác, quyền lực nhà nước khôngđược kiểm soát đầy đủ Bên cạnh đó, khi bước vào quá trình hội nhập quốc tế,

tổ chức và hoạt động của bộ máy quyền lực nhà nước nói chung, các thể chếkiểm soát quyền lực nhà nước nói riêng có nhiều điểm bất cập, trùng lặp vềchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của tập thể và cá nhân chưađược chế định cụ thể và chặt chẽ Như vậy, quyền lực nhà nước ở Việt Nam

có biểu hiện không được kiểm soát tốt ở tất cả các cấp Do vậy, kiểm soátquyền lực nhà nước đang trở thành một yêu cầu cấp bách, đòi hỏi được giải

quyết cả về mặt lý luận và thực tiễn Chính vì vậy, em chọn đề tài “Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận kết

thúc học phần quyền lực chính trị và cầm quyền

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong chính trị học phương Tây, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước

là vấn đề rõ ràng cả về lý luận và thực tiễn Những nghiên cứu cụ thể nhằmtìm hiểu những phương thức kiểm soát cụ thể khác nhau Ở Việt Nam, đấyvẫn còn là một vấn đề mới, chưa có nhận thức thống nhất

Cho đến nay, các nghiên cứu chuyên sâu về kiểm soát quyền lực nhànước được thâu tóm trong các chương trình tổng kết từ các hoạt động giámsát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các hoạt động thanh tra, kiểm tra, Một số đề tài nghiên cứu có đề cập đến vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nướcnhư: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, “Tăng cường hoạt động giámsát của Quốc hội nước ta hiện nay”, Các nghiên cứu này xuất phát từ cáchtiếp cận và phương pháp luật học đã phân tích từng hoạt động cụ thể của các

cơ quan kiểm soát Tuy vậy, chưa có công trình nào đi sâu vào hệ thống tổchức và hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm soát quyềnlực nhà nước Qua khảo sát cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam,

Trang 3

đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm soát quyền lực nhànước ở Việt Nam hiện nay.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa một cách khái quát những khái niệm, các quan điểm,phạm trù về kiểm soát quyền lực nhà nước

- Làm rõ thực trạng kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt nam hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường kiểm soát quyền lực nhànước ở Việt Nam hiện nay

4 Kết cấu tiểu luận:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luậngồm 2 chương, 6 tiết

Trang 4

NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT

QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm quyền lực nhà nước

Nhà nước là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp Nhà nước xuất hiện

từ khi xã hội loài người có sự phân chia giai cấp thành những giai cấp đốikháng Quyền lực nhà nước là biểu hiện tập trung của quyền lực chính trị và

là trung tâm của quyền lực chính trị Quyền lực nhà nước được hình thànhthông qua cuộc đấu tranh chính trị, nhằm giành quyền tổ chức nhà nước vàthực hiện chức năng thống trị xã hội Quyền lực nhà nước được thực hiệnthông qua tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, trong đó bao gồm việc

tổ chức và thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Đồng thời cònđược bảo đảm bằng các phương tiện độc quyền như luật pháp, và bộ máycưỡng chế chuyên nghiệp quân đội, cảnh sát, nhà tù ở đây cần thấy rằng,quyền lực nhà nước mang tính chính trị, nhưng không phải mọi quyền lựcchính trị đều là quyền lực nhà nước

Sự thay đổi vai trò vị trí của các giai cấp trong đời sống sản xuất xã hội

sẽ dẫn tới việc chuyển chính quyền nhà nước từ tay giai cấp này sang tay giaicấp khác, dẫn tới thay đổi căn bản tính chất của quyền lực nhà nước, phươngthức cầm quyền, các quan hệ chính trị, các thể chế chính trị và hệ thống chínhtrị Các cơ quan nhà nước thực chất là các cơ quan thực thi quyền lực nhànước, được các giai cấp và lực lượng xã hội (còn gọi là nhân dân) trao quyềncho mà thôi Tuy nhiên, do những hình thức ủy quyền và kiểm soát quyền lựcnhà nước khác nhau, nên nhiều lúc quan hệ giữa người có chủ quyền và ngườiđược ủy quyền bị tha hóa, xuyên tạc

Quyền lực nhà nước dưới chủ nghĩa xã hội (CNXH) có những điểmkhác biệt so với quyền lực nhà nước trong các xã hội trước đó ở chỗ nhà nước

Trang 5

XHCN là nhà nước chuyên chính của giai cấp công nhân Nhưng lợi ích cănbản của giai cấp công nhân là thống nhất với lợi ích của đại đa số nhân dânlao động Nên quyền lực nhà nước dưới CNXH đã có sự thống nhất giữa tínhgiai cấp và tính xã hội, giữa tính chính trị với tính công quyền Trong các kiểunhà nước khác, đặc biệt là nhà nước quân chủ chuyên chế, giữa chức nănggiai cấp đối lập với chức năng xã hội, lợi ích của giai cấp thống trị đối lập vớilợi ích quảng đại quần chúng Trong nền dân chủ XHCN, chức năng giai cấp

và chức năng xã hội tạo thành một thể thống nhất, trở thành điều kiện và tiền

đề hoàn thiện cho nhau

Ở Việt Nam, các bản hiến pháp đều nhất quán khẳng định quyền lựcnhà nước thuộc về nhân dân Tại Điều 1 Hiến pháp 1946 của nước Việt Namdân chủ cộng hòa đã quy định rõ: "Tất cả quyền bính trong nước là của toànthể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo giaicấp, tôn giáo" Tư tưởng nhất quán này đều được thể hiện qua Hiến pháp

1959, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 Tại Điều 2 và Điều 6 Hiến pháp

1992 thì "Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, donhân dân vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nềntảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp tríthức", "nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hộiđồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhândân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân" Quyền lực nhànước bao giờ cũng được thực hiện bởi các cơ quan trong bộ máy, với nhữngcon người cụ thể trong bộ máy ấy Vì vậy, việc thực thi quyền lực cụ thể phụthuộc vào phương thức tổ chức bộ máy nhà nước và con người trong bộ máy

ấy Nếu như người cầm quyền được trao quyền, không biết thực thi quyền lựccho đúng, hoặc sử dụng quyền lực vì mục đích vụ lợi thì sức mạnh của quyềnlực nhà nước sẽ gây nguy hiểm cho xã hội Vì thế muốn có một xã hội tốtđẹp, quyền tự do con người được đề cao, xã hội không phải gánh chịu nhữnglộng hành sai phạm vô ý thức hoặc có ý thức của nhà nước thì phải có cơ chế

Trang 6

kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước, kiểm soát hoạt động của công chức,viên chức nhà nước Đây là một yêu cầu tất yếu trong tổ chức và hoạt động củamột nhà nước dân chủ, kể cả trong nền dân chủ XHCN của chúng ta.

1.1.2 Khái niệm kiểm soát quyền lực nhà nước:

Kiểm soát quyền lực nhà nước là hoạt động có chủ đích của nhà nước

và xã hội, với tổng thể những phương tiện tổ chức và pháp lý thông qua cáchình thức hoạt động như giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, kiểm toán, tàiphán nhằm hạn chế nguy cơ sai phạm cũng như những hành vi lộng quyền,chuyên quyền, độc đoán của cơ quan quyền lực nhà nước và của công chứcnhà nước Đảm bảo cho quyền lực nhà nước được thực hiện đúng mục đích,khoa học, hiệu lực và hiệu quả

Kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm đảm bảo cho quyền lực nhà nướckhông bị lạm dụng, ngăn chặn các hiện tượng, xu hướng, quan liêu, độc tài,chuyên quyền, độc đoán trong bộ máy nhà nước, không bị sử dụng trái với ýchí của nhân dân Khi quyền lực càng tập trung, thì khả năng kiểm soát nócàng khó Nếu không có sự kiểm soát tốt nó trở thành bức rào cản của tự do

và dân chủ, kìm hãm sự tiến bộ xã hội Xã hội càng phát triển, quyền lực củanhà nước càng lớn thì yêu cầu của kiểm soát quyền lực nhà nước tăng lên

Hiện nay trên thế giới đang tồn tại các hệ thống kiểm soát quyền lựckhác nhau đó là: Hệ thống kiểm soát quyền lực của nhà nước với tư cách làmột kết cấu phân cấp, phân quyền quyền lực công Hệ thống kiểm soátquyền lực nhà nước của các tổ chức, thiết chế chính trị xã hội Hệ thốngkiểm soát quyền lực nhà nước của các cá nhân công dân thành viên xã hội.Mỗi hệ thống trên có nhiều bộ phận khác nhau với những phương thức thựchiện khác nhau

Quyền lực nhà nước có thể được kiểm soát thông qua hai yếu tố: Quátrình tổ chức bộ máy nhà nước sao cho các bộ phận của nhà nước có khả năngkiểm soát lẫn nhau và hoạt động của các hệ thống kiểm soát quyền lực từ bêntrong và bên ngoài bộ máy nhà nước Tổ chức là cách thức tạo lập và xây

Trang 7

dựng hệ thống quyền lực, các bộ phận cấu thành quyền lực, giới hạn chứcnăng của từng bộ phận, mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận quyền lực, trình

tự, thủ tục thực hiện quyền lực Hệ thống kiểm soát quyền lực là hệ thốngkiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện quyền lực Các hình thức phảnbiện từ phía các chủ thể khác nhau của hệ thống chính trị, các biện pháp xử lýnhằm đảm bảo tính đúng đắn trong việc sử dụng quyền lực nhà nước Xét mộtcách tổng quát yếu tố tổ chức có ý nghĩa quan trọng nhất, bởi vì đây là khởiđiểm cho việc sử dụng cũng như kiểm soát quyền lực

Kiểm soát quyền lực từ tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc phânquyền có những ưu điểm sau đây:

Thứ nhất, Sự phân ra rành mạnh về chức năng và nhân sự, cùng với cơchế kìm chế, đối trọng vừa có tác dụng đề cao trách nhiệm cá nhân, tính độclập sáng tạo của cá nhân trong thực thi quyền lực nhà nước vừa hạn chế khảnăng lạm quyền và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát giác sự lạm quyền

Thứ hai, ở mức độ nhất định cơ chế phân quyền đảm bảo tính độc lậpcủa cơ quan xét xử

Thứ ba, Cơ chế kìm chế đối trọng là một trong những đảm bảo (ở mức

độ nhất định) hiệu lực của hiến pháp

Xuất phát từ ưu điểm trên đây, các nước tư bản hiện đại đã áp dụnghọc thuyết phân chia quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước của mình

và coi đó là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất, có ý nghĩa cơ sở

để đảm bảo dân chủ, tự do, bình đẳng xã hội Tuy nhiên cũng cần nói rằng,mặt trái của phân quyền là tranh giành, chia rẽ phân tán quyền lực nếukhông được kiểm soát tốt Vì vậy, phân quyền vừa có mục đích kiểm soátquyền lực vừa phải kiểm soát cả sự phân quyền và thực thi quyền lực trong

cơ chế phân quyền

Dưới chế độ XHCN, về nguyên tắc nhân dân có toàn quyền quyết địnhđối với quyền lực nhà nước, có toàn quyền kiểm soát quyền lực đó Thếnhưng các nguyên tắc đó chỉ có thể trở thành hiện thực khi có một cơ chế tổ

Trang 8

chức và thực hiện khả thi quyền lực nhà nước từ phía nhân dân Nhân dân, với

tư cách là người chủ của quyền lực, có quyền và cần thiết phải thực hiện sựkiểm soát như vậy nhằm đảm bảo quyền lực được thiết lập và thực hiện vì lợiích của nhân dân và xã hội Nhân dân kiểm soát quyền lực không chỉ nhằmđảm bảo quyền lực không bị lạm dụng, mà còn đảm bảo khả năng nhân dânthay đổi quyền lực đó cả về nội dung, hình thức, phương thức thực hiện nếuthấy cần thiết Việc yêu cầu nhân dân kiểm soát một cách toàn diện và ngàycàng đầy đủ hơn quyền lực nhà nước, đòi hỏi nhà nước XHCN phải đảm bảo

tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ Nguyên tắc này đảm bảo cho nhândân thông qua những người đại diện của mình có thể kiểm soát toàn bộ quyềnlực nhà nước

1.2 Tư tưởng về kiểm soát quyền lực nhà nước trong lịch sử tư tưởng chính trị

Việc kiểm soát quyền lực có thể được xem xét từ nhiều khía cạnh khácnhau, trong đó có ít nhất là hai xuất phát điểm cơ bản: từ lợi ích của nhữngngười nắm giữ quyền lực và từ lợi ích của những người chịu tác động quyềnlực Thực tiễn lịch sử cho thấy các chủ thể nắm quyền lực thường có xuhướng lạm quyền, sử dụng quyền lực được trao để mưu tính lợi ích khu biệt,

cá nhân Ngay từ thời cổ đại cho đến ngày nay việc nghiên cứu về kiểm soátquyền lực đã được đề cập đến ở các mức độ khác nhau trong lịch sử tư tưởngchính trị cả phương Đông và phương Tây Nhằm đưa ra những kiến giải đểkiểm soát quyền lực khi quyền lực được trao cho chủ thể nắm quyền

1.2.1 Các nhà tư tưởng cổ đại - Phương Đông

Tư tưởng về quyền lực chính trị và kiểm soát quyền lực cai trị đáng chú

ý nhất trong trường phái pháp trị Trung Hoa cổ đại, được biểu hiện trong tácphẩm của Hàn Phi Tử, một "Tập đại thành" gói trọn kinh điển pháp gia.Trong xã hội phong kiến chuyên chế phương Đông, vua thâu tóm mọi quyềnlực nhà nước cả quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp, tức vận mệnh của đấtnước đặt cược vào trong tay một con người Việc kiểm soát quyền lực từ trên

Trang 9

xuống của nhà vua là khá chặt chẽ, để chống lại sự phản kháng của dân chúng

và sự mưu lợi ích riêng của đội ngũ quan lại, nhằm mục đích bảo vệ chế độchính trị quân chủ chuyên chế, đem lợi ích cho vua và giai cấp thống trị

Thực hiện mục tiêu đó, các nhà pháp trị đặc biệt là Hàn Phi Tử đãkhông ngừng tìm tòi, khám phá kế thừa và phát triển những hạt nhân hợp lýtrong tư tưởng pháp trị, để hình thành những quan điểm và nguyên tắc pháp lýtương đối hoàn chỉnh thông qua hệ thống pháp luật nhằm kiểm soát việc thựcthi quyền lực của đội ngũ quan lại trong hệ thống chính quyền nhà nướcchuyên chế

Học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử là một hệ thống quan điểm về pháp

- thế - thuật, lấy pháp làm nội dung cai trị gồm những đặc trưng cơ bản: Pháp là pháp luật thành văn của quốc gia, gồm những điều luật, luật lệ, quyđịnh mang tính nguyên tắc được biên soạn rõ ràng minh bạch như khuôn mẫu,được chép trong đồ thư và bày ra ở nơi quan phủ, ban bố rộng rãi cho dânchúng biết việc gì làm được và việc gì không làm được 2- Nội dung và cáchình thức thưởng phạt 3- Mục đích thức hiện pháp là: Để chữa cái loạn củadân chúng, trừ cái họa trong thiên hạ Khiến cho kẻ mạnh không lấn át ngườiyếu, kẻ đông không xúc phạm số ít, người già được thỏa lòng, người trẻ và côđộc được trưởng thành, biên giới không bị xâm lấn, vua và tôi thân yêu nhau,cha con giữ gìn cho nhau, lại không mắc phải cái lo bị giết chóc hay bị giặcbắt cầm tù, đó cũng là cái công hết sức lớn Như vậy, pháp luật được Hàn Phixem là tiêu chuẩn để phân biệt đúng - sai, chính tà, là phương tiện của ngườicầm quyền dùng để điều khiển đất nước

1-Theo Hàn Phi chỉ có pháp luật mới làm cho nước trị: "Cái làm cho trị

an là pháp luật, cái gây ra loạn là sự riêng tư Pháp luật đã thiết lập rồi thìkhông ai có thể làm điều riêng tư được nữa" Điều này cho thấy, pháp luật trởthành công cụ hữu hiệu quan trọng nhất trong của bình ổn xã hội kể cả đối vớiđội ngũ quan lại không thể dùng quyền lực nhà nước do vua trao mà mưu lợiích riêng được Đây cũng là điểm rất quan trọng mà từ xưa đến nay nhân loại

Trang 10

vẫn chưa giải quyết được một cách thỏa đáng; mâu thuẫn công và tư, trungvới hiếu, danh và thực trong đời sống con người Cho nên trị nước phải coitrọng pháp luật, thưởng phạt phải nghiêm minh, pháp luật là công cụ của các

đế vương khi thực thi quyền lực, để cai trị đất nước và nó đã đáp ứng đượcyêu cầu xây dựng một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền mạnh

1.2.2 Các nhà tư tưởng cổ đại phương Tây

Không chỉ có trong các nhà nước đương đại mà đã xuất hiện ngay từthời cổ đại, ở Aten vào năm 461 TCN dưới chính quyền Pericles, Hội nghịnhân dân - cơ quan có chức năng tương tự như cơ quan lập pháp ngày nay,mỗi năm phải họp ít nhất 10 lần và trong hội nghị, theo thủ tục bao giờ dânchúng cũng được mời biểu quyết chấp thuận hay khiển trách các viên chứccủa họ Nếu khiển trách thì tiếp theo sẽ có cuộc truy tố trước tòa án; tương tựnhư một thủ tục bãi nhiệm; khi đến cuối năm mỗi viên chức phải tường trìnhtrước một ủy ban đặc biệt về tiền công quỹ mà họ là người thu, người giữ, hayngười chi tiêu Đây là hình thức ban đầu sơ khai của sự kiểm soát của nhândân đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước, sự kiểm soát của cơ quan lậppháp đối với các nhân viên nhà nước

Chuyển sang chế độ phong kiến cũng đồng thời đánh dấu sự thay đổi

cơ bản trong tổ chức quyền lực xã hội Toàn bộ quyền lực từ quyền lập pháp,hành pháp đến quyền tư pháp đều tập trung vào một người là nhà vua Dokhông có cơ chế kiểm soát, quyền lực xã hội phong kiến chìm đắm trong sựđộc đoán chuyên quyền, còn gọi là "đêm dài trung cổ"

Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến, quyền lực nhà nước(quyền hành pháp, quyền lập pháp, quyền tư pháp) đều nằm trong tay một nhàquân chủ Nhà nước quân chủ chuyên chế - quyền lực của nhà vua là vô hạn.Cách tổ chức quyền lực chuyên chế dẫn đến sự lạm quyền, và tùy tiện Trongđiều kiện đó, hệ tư tưởng giải phóng để phát triển của cuộc cách mạng tư sản

mà cốt lõi là học thuyết về quyền tự nhiên, chủ nghĩa lập hiến và chế độ đạinghị đánh dấu bước tiến mới trên con đường giành dân chủ

Trang 11

Các Mác có một nhận xét rất xác đáng về chế độ đó rằng: Sự tùy tiện làquyền lực của vua, hay quyền lực của vua là sự tùy tiện Để chống lại chế độchuyên quyền, độc đoán đó ngay từ thời cổ đại đã xuất hiện tư tưởng phânquyền ở những mức độ khác nhau Đại biểu của những tư tưởng ấy là Platôn(427 - 347 TCN) và Arixtôt (384 - 322 TCN)

Aristôt quan niệm hình thức nhà nước phụ thuộc vào cách tổ chứcquyền lực chính trị Nhà nước là một thể thống nhất được tạo bởi ba bộ phậnđộc lập Cơ quan nghị luận (làm luật), cơ quan chấp hành (hành chính), cơquan xét xử, trong đó cơ quan làm luật giữ vị trí vai trò chủ đạo, bởi lẽ ôngquan niệm luật thống trị tất cả, các cơ quan hành chính không có quyền đó màchỉ cụ thể hóa luật và thực thi pháp luật Như vậy, tư tưởng phân quyền thời

cổ đại chỉ là phân công lao động, phân công chức năng, thẩm quyền giữa các

bộ phận của bộ máy nhà nước Việc thực hiện nhiệm vụ nhà nước theo chứcnăng, tự nó đã có sự giám sát quyền lực

Platôn cho rằng, nguyên tắc cơ bản của xã hội lý tưởng là chính trịphân giải thành pháp lý, hành chính, tư pháp và ngoại giao Song tất cả cácyếu tố đó phải được thống nhất bởi chính trị Tức là phân công lao động trong

bộ máy nhà nước là cần thiết, hoạt động của nhà nước như lập pháp, hànhpháp, tư pháp cùng nhằm vào một đối tượng, nhưng đồng thời chúng có khácnhau Một nhà nước lý tưởng, nhà nước đó phải được cầm quyền bởi sự thôngthái; có sự phân công lao động giữa các tầng lớp người khác nhau Nhà nước

đó gồm ba tầng lớp (giai cấp) cơ bản: Tầng lớp các pháp quan là những người

có lý trí, có vai trò cai trị thành bang Tầng lớp chiến binh là những người cósức mạnh bảo vệ thành bang Tầng lớp nông dân, thợ thủ công là những ngườinặng về đời sống nhục cảm, có trách nhiệm cung cấp đồ ăn, vật dụng chothành bang

1.2.3 Các nhà tư tưởng thời cận đại

Các nhà tư tưởng thời cận đại đã kế thừa tư tưởng phân quyền về kiểmsoát quyền lực thời cổ đại, phát triển thành học thuyết "phân chia quyền lực"

Trang 12

vào thời kỳ cách mạng tư sản thế kỷ XVI - XVIII đại diện là Jon Lock và đỉnhcao là Mongtecxkiơ Theo Jon Lock (1632 - 1704), trong tác phẩm sự luậngiải về chính quyền, thì để bảo đảm quyền lực thực thi đúng quĩ đạo của nó;quyền lực nhà nước phải được hạn chế theo nguyên tắc phân chia quyền lực;tách hành pháp ra khỏi lập pháp và nhà làm luật cũng phải lệ thuộc vào luật,tuân theo luật, chia quyền lực nhà n ước thành: lập pháp, hành pháp, và quyềnlực liên bang Quyền lập pháp do nghị viện, cơ quan đại diện nhân dân thựchiện Quyền hành pháp và quyền liên bang cần trao cho một nhân vật - nhàquân chủ, nhưng người đó không được lạm quyền Còn quyền tư pháp chỉ làmột bộ phận của quyền hành pháp, nhưng khi xét xử phải có sự tham gia củanhân dân Jon Lock muốn trao từng bộ phận quyền lực cho những lực lượngchính trị xã hội khác nhau là tư sản và phong kiến.

Trong cơ cấu quyền lực, quyền lập pháp có vai trò chủ đạo, nhưngkhông tuyệt đối vì quyền lực tối cao thuộc về nhân dân Là người có thể giảitán hay thay đổi thành lập cơ quan lập pháp khi hoạt động không còn đủ tínnhiệm với nhân dân - Mongtexkiơ (1689 - 1775): Là nhà tư tưởng chính trịxuất sắc của pháp, người đề xướng học thuyết phân quyền; tư tưởng của ôngđược phản ánh trong tác phẩm "Tinh thần pháp luật" và "Những bức thưthành Ba Tư" Nghiên cứu lịch sử của chế độ chuyên chế, quyền lực nằmtrong tay một người, hay một tổ chức tất yếu dẫn đến lạm quyền và sử dụngquyền lực để mưu lợi ích riêng Tác giả cho rằng, để loại trừ khả năng lạmquyền thì cần phải thiết lập một trật tự trong đó - quyền lực lập pháp, hànhpháp, tư pháp phải độc lập, trở thành lực lượng kiềm chế nhau Quyền lậppháp được chia giữa tư sản và phong kiến Nghị viện có hai viện, Thượngviện đại diện cho quý tộc; Hạ viện đại diện cho dân Quyền hành pháp thuộcquý tộc, và thành lập chính phủ của nhà vua nhưng chịu trách nhiệm trướcnhân dân, tức là trước giai cấp tư sản

Thuyết phân chia quyền lực ra đời trở thành ngọn cờ tư tưởng của giaicấp tư sản tập hợp quần chúng chống chế độ phong kiến Khi giai cấp tư sản

Trang 13

giành được chính quyền, học thuyết này đã trở thành nguyên tắc căn bản về tổchức và hoạt động của nhà nước tư sản ý nghĩa lịch sử của học thuyết phânquyền là ở chỗ thấy được sức mạnh của quyền lực nhà nước (với tư cách làquyền lực của nhân dân ủy quyền) Vì thế nó không được trao cho một aihoàn toàn, mặt khác nó cho thấy sự nguy hiểm nếu quyền lực nhà nước khôngđược kiểm soát để rơi vào tay quý tộc hay tư sản Cũng cần thấy rằng, nguồngốc sâu xa của lý thuyết phân quyền là: ở chỗ nó đã thích ứng với tính khôngthuần nhất về lợi ích giữa các bộ phận khác nhau trong nội bộ giai cấp tư sản,thích ứng với tình trạng tranh giành quyền lực diễn ra liên tục giữa các bộphận đó Như vậy, về phương tiện chính trị trước đây phân quyền là cái cớ đểgiai cấp tư sản đòi chia quyền thống trị với giai cấp phong kiến, thì hiện giờ làgiải pháp tổ chức quyền lực thích ứng với mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản.Tuy nhiên bản thân học thuyết phân quyền ngoài việc phản ánh hiện tượngkhách quan của xã hội tư sản là có mong muốn một xã hội tốt đẹp, trong đóquyền tự do con người được đề cao, xã hội không phải gánh chịu những lộnghành của nhà nước, họ đã kỳ vọng chủ yếu vào sự kiểm soát quyền lực nhànước ngay trong hệ thống tổ chức quyền lực

1.2.4 Quan điểm của các nhà kinh điển mác-xít về kiểm tra - kiểm soát quyền lực nhà nước

* Quan điểm của Mác - Ăngghen

Qua di sản lý luận mà Mác - Ăngghen để lại, hầu như hai ông không đisâu bàn tới việc kiểm soát quyền lực một cách trực tiếp, mà bàn tới công táckiểm tra, kiểm soát của Đảng và Nhà nước Mặc dầu vậy chúng ta cũng có thểthấy rõ quan điểm của các ông về kiểm soát quyền lực Vì vậy, khi nghiêncứu Mác - Ăngghen chúng ta cần có cách tiếp cận rộng hơn các hình thứcgiám sát quyền lực

Trong bộ Tư bản, Mác đã đề cập đến công tác kiểm tra nói chung kiểm tra là một phương thức hành động để thực hiện mục đích Nó như là quyluật Như vậy theo quan điểm của Mác - Ăngghen thì kiểm tra là một tất yếu

Trang 14

-khách quan đối với hoạt động của con người và tổ chức Có hoạt động thìphải có kiểm tra Các Mác khẳng định rằng: Vào một thời kỳ ở một nước màthế lực vua chúa, giai cấp quý tộc và giai cấp tư sản tranh giành quyền thốngtrị, mà do đó quyền thống trị bị phân chia thì học thuyết phân quyền tỏ ra là tưtưởng thống trị, nó được người ta coi là quy luật vĩnh viễn mỗi điều khoảncủa hiến pháp đều chứa sẵn trong bản thân nó cái phản đề của bản thân nó, cáithượng viện và hạ viện của nó tự do trong câu nói chung chung, và xóa bỏ cái

tự do trong điều khoản kèm theo Hiến pháp đã được thảo ra sao cho nghịviện có thể gạt bỏ được tổng thống bằng con đường lập hiến, nhưng Tổngthống lại có thể gạt bỏ nghị viện bằng con đường không hợp hiến, bằng cáchthủ tiêu luôn cả hiến pháp Như vậy, bản thân hiến pháp lại đi thách thức thủtiêu mình bằng bạo lực Chẳng những nó thần thánh hóa chế độ phân quyền

mà nó còn mở rộng chế độ phân quyền đến chỗ mâu thuẫn không sao chịunổi Nếu hiến pháp giao cho tổng thống quyền thực tế thì nó lại cố gắng bảođảm cho nghị viện quyền tinh thần

Khi xem xét mối liên hệ giữa Thuyết phân quyền với sự phân công laođộng trong bộ máy nhà nước Ph Ăngghen đã viết "Phân quyền được xem như

là nguyên tắc thiêng liêng và không thể xâm phạm được trên thực tế, về thựcchất nó không có gì khác là sự phân công công việc lao động được áp dụngđối với bộ máy nhà nước nhằm đơn giản hóa và để kiểm tra" [43, tr 405] Cácông cho rằng, Thuyết phân quyền ở đó Nghị viện chỉ là nơi bàn cãi suông, tòa

án chỉ độc lập giả dối, còn toàn bộ quyền lực tập trung vào cơ quan hànhpháp Trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý của các học thuyết chính trịpháp lý, kể cả thuyết phân chia quyền lực Đồng thời, tổng kết kinh nghiệmđấu tranh giai cấp, Mác và Ăngghen đã cho ta thấy, trong xã hội có giai cấpđối kháng, quyền lực nhà nước nằm trong tay giai cấp thống trị; nếu chế độnhà nước đó bị đập tan thì quyền lực nhà nước trở về tay nhân dân, như chínhcội nguồn ban đầu của nó, nhân dân là gốc của quyền lực là chủ thể của quyềnlực Sự thay đổi về bản chất này cần có quan điểm mới về tổ chức và thực

Trang 15

hiện quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà nước khi nhà nước củanhân dân lao động được thành lập dưới CNXH

* Quan điểm của V.I Lênin

Về công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm kê kiểm soát, V.I Lênin bàn đếnrất nhiều, rất sâu (ở trong khoảng không dưới 150 tác phẩm) Nội dung quanđiểm của V.I Lênin được thể hiện rõ ở 4 vấn đề chủ yếu sau:

+ Tính tất yếu phải kiểm tra, kiểm kê, kiểm soát

+ Những nội dung cơ bản của kiểm tra, kiểm soát

+ Chủ thể kiểm tra, kiểm soát và đối tượng của nó

+ Tổ chức, hình thức, phương pháp tiến hành kiểm tra, kiểm soát Theo Lênin, những nội dung chủ yếu của kiểm tra, kiểm soát bao gồm:Một là, kiểm tra, kiểm soát việc sản xuất và phân phối những sản phẩm chủyếu nhất Hai là, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính và tiền tệ, nhất làhoạt động của ngân hàng, lưu thông tiền tệ, thu nhập, chi tiêu và nộp thuế củacác nhà giàu Ba là, kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyếtcủa Đảng, pháp luật của Nhà nước; việc thi hành các chức trách và chấp hành

kỷ luật lao động Bốn là, kiểm tra, kiểm soát để phát hiện kịp thời và đấutranh chống các hiện tượng tiêu cực Đây chính là những vấn đề kiểm soátquyền lực nhà nước, tuy nhiên ở các quy mô rất khác nhau

Nói một cách khái quát, theo V.I.Lênin, nội dung công tác kiểm tra baogồm: kiểm tra việc và kiểm tra người Nó bao trùm toàn bộ việc kiểm soátviệc thực thi quyền lực nhà nước, chứ không chỉ là một quá trình của công táclãnh đạo Khi giai cấp tư sản nắm quyền thống trị thì chủ thể kiểm tra, kiểmsoát thuộc về giai cấp tư sản Còn đối tượng (khách thể) kiểm tra, kiểm soát làgiai cấp vô sản và quần chúng lao động Khi giai cấp vô sản giành quyềnthống trị thì chủ thể kiểm tra, kiểm soát thuộc về giai cấp công nhân và toànthể dân cư tiến hành Nhà nước chuyên chính vô sản dựa vào quần chúng laođộng, trước hết là công nhân và nông dân, để tiến hành kiểm tra, kiểm soát.Đối tượng bị kiểm tra, kiểm soát lúc này bao gồm:

Trang 16

- Tất cả các đơn vị kinh tế, các ngành Bọn ăn cắp, đầu cơ, làm ăn giandối, nhận hối lộ, ăn bám, lưu manh, phá hoại ngầm, bọn "con ông cháu cha"

- Các biểu hiện của tính tự phát vô chính phủ

- Nhà nước và các tổ chức đảng vừa là chủ thể vừa là khách thể củacông tác kiểm tra, kiểm soát

Công tác tổ chức là công tác có ích nhất và cần thiết nhất cho nhân dân.Nếu quần chúng không có tổ chức thì không thể đảm bảo một sự kiểm tra,kiểm soát nghiêm chỉnh Cần đề bạt những người có tài tổ chức xuất thân từtất cả các tầng lớp dân cư, các giai cấp vào cương vị then chốt trong bộ máykiểm tra, kiểm soát Vấn đề cấp thiết nhất là tiến hành cải tiến bộ máy nhànước Xô viết theo nguyên tắc "Thà ít mà tốt" Cơ quan đầu tiên cần phải đượccải tiến là Bộ dân ủy Thanh tra công nông Phải chọn người đứng đầu có uytín, coi trọng chất lượng và tinh giảm biên chế của cơ quan này Riêng đối với

cơ quan kiểm tra của Đảng phải được củng cố, xây dựng đủ mạnh để thực thitốt chức năng, nhiệm vụ của nó Cần thiết lập ban kiểm tra song song với Banchấp hành Trung ương Thành phần của Ban này bao gồm những đồng chí có

uy tín nhất Các thành viên của Ban kiểm tra Trung ương có quyền tham dựcác kỳ họp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, có quyền đọc các tài liệu và có ýkiến Để nâng cao hiệu quả kiểm tra, kiểm soát cần thực hiện tốt nhữngphương pháp chủ yếu sau: Một là, phải tổ chức phối hợp việc kiểm tra, kiểmsoát từ dưới lên và từ trên xuống Nhất thiết phải đặt ra và chấp hành nhữngquy tắc về tiếp dân, tổ chức phòng tiếp khách sao cho việc lui tới cơ quanđược tự do, hoàn toàn không cần có giấy phép nào cả Hai là, phải công khaihóa việc kiểm tra, kiểm soát Ba là, kiểm tra phải thực sự, hình thức kiểm traphải linh hoạt Bốn là, kiểm tra và xử lý phải thật nghiêm minh, kiên quyết

Như vậy, tư tưởng kiểm soát quyền lực nhà nước trong lịch sử xuấthiện từ khi hình thành nhà nước và gắn liền với giai cấp thống trị trong xã hội.Các nhà tư tưởng chính trị đã luận giải vấn đề theo nhiều khía cạnh ở các góc

độ tiếp cận và hình thành các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nướckhác nhau

Ngày đăng: 08/06/2020, 01:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. Nxb. Chính trị Quốc gia. HN, 1996 Khác
2. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb. Chính trị Quốc gia. HN, 2001 Khác
3. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb. Chính trị Quốc gia. HN, 2006 Khác
4. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb. Chính trị Quốc gia. HN, 2011 Khác
5. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb. Chính trị Quốc gia. HN, 2016 Khác
6. JonMills. Luận về tự do, Nxb, Chính trị Quốc gia, H., 2005 Khác
7. Ngân hàng Thế giới (1998), Nhà nước trong một thế giới chuyển đổi, H., 1998 Khác
8. Hobbes. Leviathan, Harmondsworth, Penguin, 1968 Khác
9. Vũ Hoàng Công, Vài nét khái quát về các triết lý quyền lực và quyền lực nhà nước trong lịch sử tư tưởng phương Tây (2005) Khác
10. C.Mác – Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 1995, T.3; T.18; T.21 Khác
11. S.Môngtexkiơ (2006): Tinh thần pháp luật, Nxb Lý luận chính trị, HN Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w