1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP DỰ ÁN DẦU KHÍ TẠI TỔNG CÔNG TY THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ

20 571 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Công Tác Lập Dự Án Dầu Khí Tại Tổng Công Ty Thăm Dò Và Khai Thác Dầu Khí
Trường học Đại Học Dầu Khí Việt Nam
Chuyên ngành Kỹ thuật Dầu khí
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 36,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP DỰ ÁN DẦU KHÍ TẠI TỔNG CÔNG TY THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ 2.1 Định hướng phát triển của Tổng công ty Thăm dò & Khai thác Dầu khí trong thời gi

Trang 1

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

CÔNG TÁC LẬP DỰ ÁN DẦU KHÍ TẠI TỔNG CÔNG TY THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ

2.1 Định hướng phát triển của Tổng công ty Thăm dò

& Khai thác Dầu khí trong thời gian tới

2.1.1 Định hướng phát triển cụ thể theo từng giai đoạn

2.1.1.1 Tìm kiếm thăm dò

Ở trong nước:

Giai đoạn 2008-2010

- Lựa chọn một số vùng có triển vọng dầu khí cao ở các lô còn mở và vùng/ bể trầm tích mới để tự đầu tư và điều hành

- Tiếp tục tăng cường các hoạt đông tìm kiếm thăm dò nhằm gia tăng trữ lượng dầu khí tại cạc lô đã có hoạt động dầu khí và các lô còn mở ở các bể Sông Hồng, Phú Khánh, Tư Chính- Vũng Mây, Cửu Long, Nam Côn Sơn và Malay- Thổ Chu, đặc biệt ưu tiên cho các bể Sông Hồng, Phú Khánh, Tư Chính- Vũng Mây

Giai đoạn 2011- 2015

-Tiếp tục đẩy mạnh tìm kiếm thăm dò tại các lô đã có hoạt động dầu khí và còn mở/ đã hoàn trả lại các bể trầm tích trên TLĐ Việt Nam, ưu tiên các bể nước sâu, nhạy cảm; đồng thời triển khai công tác nghiên cứu và tìm kiếm thăm dò các bẫy phi cấu tạo ở các diện tích hoàn trả của bể Cửu Long

- Tiếp tục triển khai công tác nghiên cứu, khảo sát điều tra cơ bản của Tập Đoàn

Dự kiến tổng khối lượng thu nổ địa chấn 2008- 2015: 40000 km 2D và

30000 km 2 địa chấn 3D

Trang 2

Dự kiến số lượng giếng khoan thăm dò thẩm lượng 2008- 2015 là 250 giếng.

Giai đoạn 2016- 2025

- Tiếp tục chương trình thăm dò tìm kiếm từ giai đoạn 2008- 2015 kếp hợp lựa chọn một số vùng có triển vọng dầu khí cao ở các lô còn mở và vùng/ bể trầm tích mới

- Tiếp tục đẩy mạnh tìm kiếm thăm dò tại các lô đã có hoạt động dầu khí và còn mở/

đã hoàn trả lại các bể trầm tích trên TLĐ Việt Nam, ưu tiên các bể nước sầu nhạy cảm;

- Tiếp tục triển khai công tác nghiên cứu, khảo sát, điều tra cơ bản cho Tập đoàn, tập trung ở các khu vực xa bờ, chồng lấn, nhạy cảm và các vùng chồng lấn với các nước láng giềng

Dự kiến tổng khối lượng thu nổ địa chấn 2016- 2025: 30000 km 2 địa chấn 3D

Dự kiến số lượng giếng khoan thăm dò thẩm lượng 2016- 2025 là 180 giếng

Ở nước ngoài :

Giai doạn 2008- 2015: Được coi là giai đoạn tích luỹ nhanh quỹ trữ lượng

và được thực hiện thong qua;

 Mua tài sản gồm: các mỏ đang khai thác, các hợp đồng đã có phát hiện chuẩn bị phát triển;

 Tích cực farm-in vào các hợp đồng có tiềm năng cac trong giai đoạn thăm dò/ thẩm lượng;

 Đấu thầu, đàm phán trực tiếp để ký cá hợp đồng thăm dò khai thác;

Trong các giải pháp trên thì mua tài sản đặc biệt ưu tiên

STT Khu vực Thu nổ 2D

Km

Thu nổ 3D

Km 2

Số giếng khoan TD/ TL

Trang 3

1 Nam- Trung Mỹ

( chủ yếu trên biển)

(chủ yếu trên biển)

(chủ yếu trên biển)

4 Các nước Liên Xô

(Chủ yếu trên đất liền)

Tổng cộng 84.000 km 24.000 km 2 130 giếng

Bảng 9: Dự kiến khối lượng công tác thăm dò 2008- 2015 theo khu vực trọng điểm

Giai đoạn 2016- 2025: Trong giai đoạn này có thể có các diện tích thăm dò đã bị

thu hẹp cộng với rủi ro răng cao nên có nhiều khả năng tốc độ tăng trưởng của các

dự án thăm dò sẽ giảm với các giai đoạn trước Do vậy, để duy trì mức gia tăng trữ lượng dự trữ là 200 triệu tấn vào năm 2025 thì tiếp tục áp dụng các giải pháp hiệu quả ngoài ra còn cần phải triệt để áp dụng các tiến bộ khoa học để giảm thiểu rủi

ro và tăng hệ số thu hồi dầu khí

STT Khu vực Thu nổ 2D

Km

Thu nổ 3D

Km 2

Số giếng khoan TD/ TL

Trang 4

( chủ yếu trên biển)

(chủ yếu trên biển)

(chủ yếu trên biển)

4 Các nước Liên Xô

(Chủ yếu trên đất liền)

Tổng cộng 125.000

km

40.000 km 2 100 giếng

Bảng 10: Dự kiến khối lượng công tác thăm dò 2008- 2015 theo khu vực trọng điểm

2.1.2.2 Khai thác dầu khí

Khai thác dầu khí trong nước:

Giai đoạn 2008- 2010: Tích cực đưa them các mỏ mới vào khai táhc và

tăng cường các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác của các mỏ hiện tại để đảm bảo sản lượng khai thác dầu của PVEP tăng lên 5,1 triệu tấn/ năm (13,3 triệu tấn/năm tính cả dự án có sự tham gia của PVEP) vào năm 2010 Đông thời tích cực hoàn thành chương trình thẩm lượng và phát triển các mỏ khí, đảm bảo sản lượng khai thác khí PVEP đến năm 2010 đạt 1,5 tỷ m3/ năm (7,6 tỷ m3/ năm tính

cả dự án) Tổng sản lượng dầu/ khí đạt 20 triệu tấn quy dầu/năm 2010

Giai đoạn 2011- 2025: Tiếp tục đưa them một số mỏ dầu và khí mới vào

khai thác để bù đắp sản lượng suy giảm của các mỏ đã khai thác (khoảng 8%/ năm), đến năm 2015 sản lượng dầu khai thác trong nước của PVEP ở mức 5,5

Trang 5

triệu tấn dầu/ năm (15 triệu tấn/ năm tính cả dự án có sự tham gia của PVEP), sản lượng khí khai thác đạt 3,4 tỷ m3/ năm (15 tỷ m3/ năm tính cả dự án)

Giai đoạn 2016- 2025: Phấn đấu sản lượng của PVEP trên 12 triệu tấn quy

dầu/ năm vào năm 2025 Mặc dù sản lượng dầu bị suy giảm đáng kể trong thời gian này, nhưng nhờ vào việc đưa them một số mỏ khí đã được phát hiện vào năm 2011-2013 và các mỏ mới từ các trữ lượng mới được phát hiện sẽ bù đắp sản lượng dầu suy giảm

Để đảm bảo được mục tiêu sản lượng dầu khí trong nước được khai thác như dự báo chiến lược, cần phải đẩy nhanh đầu tư tìm kiếm thăm dò dầu khí để đạt trữ lượng phát hiện dự kiến trong những năm tiếp theo từ việc tim kiếm thăm dò cận mỏ, chi tiết ở bồn trũng Cửu Long và các phát hiện mới ở các bể trầm tích Nam Côn Sơn, Phú Khánh…

Khai thác dầu khí ở ngoài nước:

Dự kiến trữ lượng dầu khí được phát hiện trong công tác tìm kiếm thăm dò tiếp theo trong nước sẽ không đạt được như các năm trước đây do các bể trầm tích

có tiềm năng đã được tiến hành khá chi tiết Để gia tăng sản lượng dầu khí khai thác ở ngoài nước, cần phải tiến hành mua tài sản trong các năm từ 2008 đến 2015

Giai đoạn 2008- 2015: Sản lượng dầu ngoài nước dự kiến khai thác theo %

cổ phần PVEP tham gia trên 6,7 triệu tấn/ năm vào năm 2015, chủ yếu dựa vào sản lượng dầu khai thác các mỏ được mua cùng với việc dự kiên đưa mỏ Junon-2 vào khai thác năm 2012

Giai đoạn 2016- 2025: Sản lượng dầu khai thác từ ngoài nước tăng từ 6,7

triệu tấn/ năm năm 2015 lên khoảng 14 triệu tấn/ năm vào 2025 theo % cổ phần PVEP tham gia Sản lượng dầu được gia tăng đáng kể trong giai đoạn này phụ thuộc vào việc mua tài sản trong giai đoạn 2008- 2015 và đẩy mạnh đầu tư tìm kiếm thăm dò ngoài nước

Như vạy việc gia tăng và duy trì tổng sản lựong dầu khí khai thác của PVEP như chiến lược đề ra trong các năm 2015 đến 2025 phụ thuộc rất nhiều vào việc đầu tư thành công trong công tác tìm kiếm và thăm dò dầu khí ra nước ngoài Sản lượng PVEP phấn đầu đạt 1,4 triệu tấn quy dầu/ năm vào năm 2010, 6,7 triệu tấn vào nă, 2015 và 14 triệu tấn vào năm 2025

2.1.2 Số lượng cá dự án của PVEP qua các thời kỳ

Trang 6

Bảng 5: Số lượng dự án Thăm dò giai đoạn 2008- 2025

Năm 2007: Tổng số dự án của PVEP là 54 (24 TD, 20 PT và 10KT), trong

đó PVEP điề hành 22 dự án (7TD, 7 PT và 8 KT)

Giai đoạn 2008- 2010: Đến năm 2010 tổng số các dự án của PVEP tăng lên con số 70 dự án ( 38 TD, 12PT và 20KT), trong đó PVEP điều hành 27 dự án (13 TKTD, 8 PT và 6 KT )

Giai đoạn 2011- 2015: Đến năm 2015 tổng số dự án của PVEP tăng lên thành 108 dự án ( 50 TD, 20 PT và 38 KT), trong đó PVEP tự điều hành 39 dự án ( 16 TKTD, 7 PT và 16 KT)

Giai đoạn 2016- 2025: Đến năm 2025 tổng số dự án của PVEP tăng lên

137 ( 65 TD, 10 PT và 62 KT), trong PVEP điều hành 40 dự án (21 TD, 5 PT và

14 KT )

Trang 7

Gia tăng trữ lượng (tr Tấn quy dầu)

Dầu khí trong nước

Dầu nước ngoài

32 50

Sản lựong (tr Tấn quy dầu )

Dầu trong nước

Khí trong nước

Dầu nước ngoài

8,99 7,67 0,15

13,24 8,67 0,98

14,56 7,65 1,46

Doanh thu (tr USD)

Nộp ngân sách của PVEP

Nộp Tập đoàn

987,58 280,46

-1.506,09 546,23 77,23

1.876,68 705,32 88,90

Bảng 11: Kế hoạch phát triển giai đoạn 2008- 2010

2.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác lập dự án Dầu khí

Để công tác lập dự án Thăm dò và Khai thác Dầu khí dần đáp ứng được những yêu cầu thực tiên và đạt hiệu quả cao thì Tổn công ty phải phối hợp nhiều giải pháp khác nhau Từ quá trình phân tích thực trạng công tác lập dự án tại Tổng công ty Thăm dò và Khai thác Dầu khí, đồng thời rút ra được những tồn tại hạn chế và xem xét những nguyên nhân của nó, em mạnh dạn xin đưa ra một số nhóm giải pháp như sau:

2.2.1 Hoàn thiện quy trình, hệ thống tiêu chuẩn thống nhất cho công tác Lập dự án

Trang 8

2.2.1.1Hoàn thiện quy trình lập dự án

Đối với bất kỳ một dự án nào thì quy trình soạn thảo đều có ảnh hưởng lớn

đến chất lượng công tác lập dự án Hiệu quả của dự án phụ thuộc rất nhiều vào sự phối hợp, phân công, bố trí công việc giữa các phòng ban trong Tổng công ty Do vậy để công tác lập dự án ngày càng hoàn thiện hơn, thì quy trình thực hiên dự án của Tổng công ty cũng phải được đổi mới và hoàn thiện

Hiện nay, các phòng ban trong Tổng công ty Thăm dò và Khai thác Dầu khí hoạt động tương đối độc lập, sự phối hợp giữa các phòng ban là chưa thực sự cao, chưa tập trung năng lực làm việc của các cán bộ trong Tổng công ty khi hoạt động Làm việc phân tán cũng là một yếu tố cản trở tính hiệu quả của việc điều hành tập trung Điều này ảnh hưởng đến chất lượng công tác lập dự án Bởi một

dự án Dầu khí được lập cần phải trải qua sự phân tích của nhiều phòng, ban, bộ phận, từ ban bộ phận nghiên cứu và phân tích địa chấn, bộ phận phát triển mỏ tại Ban dự án mới, rồi đến ban Công nghệ mỏ, bộ phận kinh tế tại Ban dự án mới đánh giá, Ban Phát triển khai thác, Ban Sức khoẻ và an toàn môi trường, Ban Luật…nên nếu không có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban, thì thời gian lập dự án sẽ kéo dài và hiệu quả lập dự án không cao, gây nên sự tranh luận

thường xuyên giữa các phòng ban Do vậy Tổng công ty nên lập một ban chuyên môn, bao gồm các đại diện của các phòng, ban, và mỗi khi có dự án thì họp bàn phương hướng làm việc chung trước khi giao nhiệm vụ cụ thể cho đơn vị tiến hành Như vậy, vừa huy động đước năng lực làm việc sáng tạo của tất cả các cán

bộ chuyên môn giỏi, vừa phù hợp với phương hướng và mục tiêu phát triển của công ty Hơn nữa, nếu có vướng mắc hay sai sót trong quá trình tiến hành, thay vì chỉ một phòng ban tìm cách giải quyết, ý kiến của nhiều chuyên gia trong Tổng công ty sẽ giúp ích cho đơn vị tiến hành tháo gỡ vấn đề

Ngoài ra, cần tăng cường thực hiện công tác theo dõi giám sát viêc thực hiên quy trình lập dự án bởi vì trên thực tế do không có sự giám sát chặt chẽ của chủ nhiệm dự án nên một số bước trong quy trình lập dự án tiến hành không tốt hoặc có khi bị bỏ qua, hoặc mốt số bước làm chậm sẽ ảnh hưởng đến tiến độ của các bước tiếp theo Hiên nay, tại Tổng công ty vẫn còn có nhiều các dự án khi lập xong phải chỉnh sửa lại, hoặc gửi lên các cơ quan thẩm quyển phê duyệt bị gửi trả lại vì chưa đạt yêu cầu nên công tác kiểm tra đánh giá đôi khi còn xem nhẹ Do đó, sau khi hoàn thành dự án các cán bộ làm công tác lập dự án cần kiểm tra đánh giá lại xem có thiếu sót gì không sau dó trình trưởng ban của mình kiểm tra lại Để khắc phục vấn đề này thì trưởng các phòng ban cần quan tâm hơn nữa đến công tác lập dự án của từng thành viên trong ban mình, kiểm tra đôn đốc việc thực hiện

và có chế độ phạt thưởng thích hợp để có được một dự án hoàn chỉnh trình cơ quan thẩm quyền phê duyệt

2.2.1.2 Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn thống nhất cho việc đánh giá dự án :

Trang 9

Hiện nay, tại Tổng công ty vẫn chưa xây dựng được một hệ thống tiêu

chuẩn thống nhất cho việc đánh giá dự án Điều này gây khó khăn cho các cán bộ lập dự án, không biết phải dựa vào căn cứ, cơ sở nào cho chuẩn để đưa ra các quyết định cho đúng đắn, chính xác và phù hợp Vì vậy, Tổng công ty nên có kế hoạch thu thập ý kiến đánh giá, nghiên cứu của các chuyên gia đầu ngành có nhiều năm kinh nghiệm về các mảng công viêc trong công tác lập dự án, để xây dưng lên một hệ thống các tiêu chuẩn thống nhất chung cho việc so sánh, đánh giá các chỉ tiêu của dự án Đây là một công việc hết sức quan trọng mà Tổng công ty cần thực hiện

2.2.2 Hoàn thiện nội dung Lập dự án

Tuy các nội dung trong các dự án mà công ty đã lập đã khá là đầy đủ nhưng cũng

có nhiều nội dung phân tích chưa sâu, thậm chí còn chưa được quan tâm thoả đáng, trong đó đáng chú ý là nội dung phân tích môi trường đầu tư, phân tích hiệu quả tài chính, phân tích kĩ thuật, phân tích khía cạnh kinh tế xã hội Do đó, cần có những giải pháp để ngày càng hoàn thiện hơn nữa những khía cạnh nghiên cứu này Cụ thể phải hoàn thiện nội dung lập dự án như sau:

2.2.2.1 Nghiên cứu môi trường đầu tư

Đối với một dự án Thăm dò và Khai thác Dầu khí thì nội dung nghiên cứu môi trường đầu tư không thể thiếu được Nội dung này bao gồm các thông tin vê: vị trí địa lý, điều kiện chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội, công nghiệp dầu khí, cơ chế

tổ chức quản lý ngành dầu khí, pháp lý hợp đồng, đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong việc đầu tư tại nước diễn ra dự án Đây là những nội dung hết sức quan trọng liên quan đến việc triển khai và thực hiện dự án sau này, cũng như những rủi

ro mà dự án gặp phải trong đời dự án Qua tìm hiểu về công tác lập dự án tại Tổng công ty ta có thể thấy rằng, công tác này đã được quan tâm thực hiện những vẫn còn tồn tại một số bất cập Việc tìm hiểu thông tin về môi trường đầu tư vẫn dừng lại ở mức sơ sài, tìm hiểu thông tin chủ yếu từ mạng internet, một số sách báo, một

số dự án tương tự mà chưa có một kế hoạch cụ thể, chưa có một quá trình phân tích và xử lý thông tin một cách chính xác, chưa đưa ra được những nhận định và đánh giá sâu sắc về môi trường đầu tư Đôi khi, các phần trong nghiên cứu môi trường đầu tư còn xem nhẹ, không đầy đủ, nhất là đối với dự án đầu tư trong nước Như ví dụ minh họa dự án thăm dò và khai thác dầu khí lô 103- 107 , hoặc các lô 111-1, lô 31 Vĩnh Châu…thì phần tình trạng ngành công nghiệp dầu khí, cơ chế quản lý ngành, căn cứ pháp lý liên quan đến dự án không được đề cập đến

Trong thời gian tới, Tổng công ty cần phải lập ra một đội ngũ chuyên trách

về phân tích môi trường đầu tư của dự án, am hiểu về pháp lý tại nơi mà dự án diễn ra Có như vậy, việc phân tích sẽ có tính chuyên môn hoá và hiệu quả hơn Tăng cường hiệu quả hệ thống thu thập thông tin bằng cách hiện đại hoá máy móc

Trang 10

thiết bị, đầu tư mua các thông tin từ các công ty dịch vụ có uy tín, thu thập thông tin từ Đại sự quán, từ các tổ chức Chính phủ…để cung cấp nguồn số liệu đầu vào phong phú và chính xác cho việc lập dự án

2.2.2.2 Phân tích kĩ thuật

Nội dung phân tích kĩ thuật của một dự án Thăm dò và Khai thác Dầu khí được tiến hành nghiên cứu hết sức chi tiết và cụ thể Một trong những mục đích của việc nghiên cứu kỹ thuật của dự án dầu khí là nhằm xác định thông số kỹ thuật

từ đó làm tiền đề cho công tác nghiên cứu khía cạnh tài chính sau này Tuỳ theo từng dự án cụ thể mà các vấn đề nào được nghiên cứu chi tiết, cụ thể, cần phải xử

ký thông tin nhiều hơn, vấn đề nào chỉ cần xem xét sơ bộ

Qua nghiên cứu thực trạng công tác lập dự án ở phần trên, chúng ta có thể thấy được nội dung phân tích kỹ thuật tại Tổng công ty là những phần lớn như:

- Đánh giá tiềm năng dầu khí: Vị trí địa lý và lịch sử thăm dò; đặc điểm địa chất khu vực; hệ thống dầu khí; tiềm năng dầu khí; chương trình thăm dò/ thẩm lượng/ khai thác

- Công nghệ mỏ & ý tưởng/ kế hoạch phát triển mỏ: công nghệ mỏ;

phương án phát triển mỏ; hiện trạng khai thác và kế hoạch triển khai mỏ ( Khi áp dụng );dự kiến chi phí và tiến độ đầu tư

Đây là nội dung cần rất nhiều thông tin liên quan đến địa chất, lịch sử thăm

dò, đặc điểm địa tầng, trầm tích, cấu tạo đất đá, cấu tạo các mỏ…để xác định số giếng và chi phí liên quan giếng thăm dò, giếng thẩm lượng, giếng phát triển khai thác, mũi khoan…Việc phân tích, đánh gá các thông số kĩ thuật là hết sức khó khăn, do vậy các chuyên gia và các nhân viên lập dự án rất cần các phần mềm chuyên dụng cho việc phân tích địa chất, lập kế hoạch phát triển mỏ Do đó, giải pháp đưa ra là Tổng công ty cần đầu tư chi phí vào việc mua thông tin, mua các phần mềm chuyên dụng, bổ sung thêm đội ngũ kỹ sư khảo sát, kỹ sư phân tích địa chấn, kỹ sư phát triển khai thác…để tiến hành phân tích các nội dung kỹ thuật đầy

đủ và chính xác hơn Thêm vào đó, trong quá trình phân tích kỹ thuật nên đưa ra nhiều tình huống, nhiều phương án kỹ thuật để lựa chọn Nếu phân tích kỹ thuật tiến hành tốt sẽ loại bỏ được các phương án không khả thi về mặt kỹ thuật là tiền

đề cho bước nghiên cứu tiếp theo là nghiên cứu về kinh tế tài chính của dự án Nếu phương án kỹ thuật được lựa chọn ngay từ đầu là phù hợp và mang lại hiệu quả kinh tế cao thì sẽ tránh được các tổn thất sau này cho dự án

2.2.2.3 Phân tích chỉ tiêu tài chính

Đây có thể nói là một trong những nội dung quan trọng nhất trong quá trình soạn thảo các dự án đầu tư Mặt khác, phân tích tài chính dự án còn là cơ sở

Ngày đăng: 04/10/2013, 09:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 9: Dự kiến khối lượng công tác thăm dò 2008- 2015 theo khu vực trọng  điểm - MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP DỰ ÁN DẦU KHÍ TẠI TỔNG CÔNG TY THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ
Bảng 9 Dự kiến khối lượng công tác thăm dò 2008- 2015 theo khu vực trọng điểm (Trang 3)
Bảng 10: Dự kiến khối lượng công tác thăm dò 2008- 2015 theo khu vực trọng điểm - MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP DỰ ÁN DẦU KHÍ TẠI TỔNG CÔNG TY THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ
Bảng 10 Dự kiến khối lượng công tác thăm dò 2008- 2015 theo khu vực trọng điểm (Trang 4)
Bảng 11: Kế hoạch phát triển giai đoạn 2008- 2010 - MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP DỰ ÁN DẦU KHÍ TẠI TỔNG CÔNG TY THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ
Bảng 11 Kế hoạch phát triển giai đoạn 2008- 2010 (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w