Chú trọng kiểm toán ngoài chứng từ: Phương pháp quan trọng tạo ra bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính Phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ là một công cụ kiểm toán tối ưu
Trang 1Chú trọng kiểm toán ngoài chứng từ: Phương pháp quan trọng tạo ra bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
Phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ là một công cụ kiểm toán tối ưu để tạo ra bằng chứng trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính, khắc phục những nhược điểm của kiểm toán chứng từ trong trường hợp đơn vị được kiểm toán lập báo cáo tài chính giả
để hợp thức số liệu Phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ
được kiểm toán viên (KTV) thực hiện trên cơ sở tuân thủ quá trình chung của phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ theo
Trang 2chuẩn mực kế toán, kiểm toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán, kiểm toán thế giới được Việt Nam thừa nhận sẽ góp phần nâng cao chất lượng của báo cáo kiểm toán
Kiểm kê
Kiểm kê là phương pháp kiểm tra tại chỗ các loại tài sản để
chứng minh tính hiện hữu của tài sản đó trong doanh nghiệp Kiểm kê thường được thực hiện vào thời điểm khóa sổ kế toán
để xem đơn vị được kiểm toán có tuân thủ các quy định về kiểm
kê tài sản cố định, công cụ dụng cụ (TSCĐ, CCDC) hay không Công việc kiểm kê thường được tiến hành ở một số khoản mục chủ yếu sau:
Khoản mục vốn bằng tiền
Trang 3Chuẩn bị kiểm kê
- Niêm phong két: KTV tiến hành niêm phong két để bảo đảm tính trung thực cao của thủ quỹ cũng như các bộ phận liên quan Việc thực hiện niêm phong két phải đảm bảo có ít nhất 3 người tham gia (thủ quỹ, kế toán trưởng, nhân viên kiểm kê)
-Yêu cầu lập biên bản: Đây là công việc cần thiết để củng cố tính pháp lý của công việc kiểm kê và cũng là để cho công việc kiểm toán được dễ dàng trong việc quy trách nhiệm sau này:
Với thủ quỹ: Cam đoan tiền mặt có tại két là của đơn vị; cam kết
về biện pháp xử lý trong trường hợp thủ quỹ vi phạm để quy kết trách nhiệm và nó sẽ giúp kiểm toán viên trong việc xử lý các sai phạm do lỗi cố ý hoặc không cố ý của thủ quỹ
Với kế toán quỹ: Cam đoan thực hiện việc ghi chép đầy đủ và có
Trang 4đủ chứng từ hợp lý, hợp pháp nhằm chứng minh tính trung thực hợp lý và tránh tình trạng khai khống của kế toán công ty vì một mục đích nào đó
- Khóa sổ kế toán: Thường được thực hiện bởi một kế toán
Sau đó, KTV tiến hành chuẩn bị về hiện vật: sổ ghi chép trong quá trình kiểm kê, dụng cụ kiểm kê: máy đếm tiền, máy soi tiền, mẫu biểu báo cáo kiểm kê… và phân công nhân lực cho quá trình kiểm kê
Thực hành kiểm kê
- Mở niêm phong két: Công việc này thường được thực hiện bởi một nhân viên kiêm kê có sự chứng kiến của thủ qũy, kế toán trưởng hoặc giám đốc công ty và kiểm toán viên tiến hành mở niêm phong két và thực hiện công việc kiểm kê là phân loại tiền
Trang 5và đếm tiền
- Phân loại, đánh giá các loại tiền: Việc phân loại và đánh giá các loại tiền: Tiền mặt, trái phiếu chính phủ… được thực hiện ngay tại nơi kiểm kê dưới sự chứng kiến của kế toán trưởng (hoặc giám đốc), thủ quỹ và kiểm soát viên
- Đếm tiền: TIền được đếm theo từng loại và ghi chép theo từng loại riêng
Kết thúc kiểm kê
KTV ra biên bản kiểm kê quỹ tiền mặt tồn kho thực tế đến thời điểm kiểm toán cụ thể theo: Phiếu thu (đến số…, ngày…); Phiếu chi (đến số…, ngày…); tồn tiền mặt theo các sổ sách kế toán:
…VND; tồn tiền mặt theo thực tế (kiểm kê theo từng loại tờ tiền: 500.000,100.000,…, số tờ, thành tiền…), chênh lệch thực tế so
Trang 6với sổ sách, lý do…
Kiểm kê khoản mục TSCĐ
Chuẩn bị kiểm kê
- Về phương tiện, nhân sự: Việc phân bổ về nhân sự phụ thuộc chặt chẽ vào mô hình quản lý tài sản của doanh nghiệp (nếu doanh nghiệp quản lý tài sản một cách tập trung thì việc phân bổ nhân viên sẽ ít hơn và cũng tập trung hơn còn nếu doanh nghiệp quản lý tài sản một cách phân tán thì việc phân công nhân sự cũng cần sử dụng nhiều nhân viên kiểm kê hơn)
- Về các điều kiện khác:
Xem xét việc tách biệt giữa việc quản lý tài sản và việc ghi chép tài sản trong doanh nghiệp vì yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến tính trung thực của kế toán ghi sổ cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến
Trang 7tính trung thực của bộ phận quản lý tài sản
Chú ý đến việc doanh nghiệp có quy định rõ ràng về thẩm quyền của các cấp quản lý với việc phê chuẩn các nghiệp vụ kinh tế liên quan tới mua bán, thanh lý, điều chuyển … các tài sản của doanh nghiệp? Việc có quy định rõ thẩm quyền của việc phê chuẩn hay không sẽ tránh được tình trạng người bảo quản tài sản trong
doanhnghiệp cũng chính là người sử dụng và là người mua sắm tài sản trong doanh nghiệp
Tìm hiểu hệ thống bảo quản của tài sản trong doanh nghiệp ngân hàngất là đối với công cụ dụng cụ vì giá trị của CCDC thường lớn
và xem xét doanh nghiệp đặt ra định mức hao mòn có phù hợp với từng loại tài sản và phù hợp với từng môi trường bảo quản tài sản không
Trang 8Thực hiện kiểm kê
- Kiểm toán viên lựa chọn phướng thức tiến hành kiểm kê: theo
lô, khối hoặc theo vùng, điểm… TSCĐ được phân loại, thống kê, đánh số, dán tem kiêm kê TSCĐ như do viện trợ, biếu, tặng, đều phải được xác định nguyên giá lập hồ sơ quản lý
- Kiểm toán viên lựa chọn phương pháp ghi sổ và biên bản kiểm
kê cho phù hợp vơi điều kiện thực tế, ghi chép đầy đủ trong việc kiểm kê sẽ giảm thiều sai sót trong việc lập báo cáo kiểm toán
Kết thúc kiểm kê
- Kiểm toán viên tiến hành lập bảng kê các loại TSCĐ, CCDC trên
cơ sở ghi chép đầy đủ công việc hàng ngày chi tiết theop từng loại hình tài sản riêng biệt để có thể lập được bảng kê một cách chi tiết và chính xác (Xem bảng cuối trang)
Trang 9- Biên bảng kiểm kê được lập dưới sự chứng kiến của cả hai phía
là đơn vị được kiểm toán và KTNN lưu một bản để làm bằng
chứng kiểm toán cho công việc kiểm toán của mình Yêu cầu
chung của biên bản kiểm kê là phải chỉ rõ được số lượng tài sản thực tế có tại thời điểm kiểm kê, so với sổ sách đã ghi chép thì thực tế chênh lệch là bao nhiêu và lý do của sự chênh lệch đó để khi đối chiếu với với chứng từ kiểm toán viên có thể tìm ra
nguyên nhân và cách khắc phục sự chênh lệch (nếu có)
Khoản mục liên quan tới hàng tồn kho:
Hàng tồn kho có giá trị không lớn nhưng có số lượng các nghiệp
vụ phát sinh lớn, lặp đi lặp lại nhiều lần và được quản lý cả về giá trị và hiện vật Công việc kiểm kê hàng tồn kho là một trong
những bước để đánh giá sự tồn tại và hiện hữu của hàng tồn kho
Trang 10trong đơn vị
Chuẩn bị kiểm kê:
Về cơ sở vật chất kỹ thuật: có thể phải sử dụng máy móc thiết bị trong việc kiểm kê để đảm bảo độ chính xác cao, tránh nhầm lẫn…Về con người: Ngoài việc phân bổ nhân viên kiểm kê cho phù hợp, đôi khi kiểm toán viên phải sử dụng ý kiến của các
chuyên gia để kiểm kê tài sản vì có những loại hàng tồn kho
không thể cân, đo, đong, đếm được như khi kiểm kê một số loại hóa chất…
Thực hiện kiểm kê:
Khi tiến hành kiểm kê, kiểm toán viên phải lựa chọn tính trọng yếu để kiểm kê hàng nào trước, loại hàng nào sau để thuận tiện
Trang 11cho quá trình kiểm toán
Đối với những đơn vị được kiểm toán mà kiểm toán viên có
chứng kiến kiểm kê tại thời điểm khóa sổ kế toán thì kiểm toán viên thực hiện xác nhận những tài sản mà đơn vị nhận giữ hộ cho các đơn vị khacsm các TSCĐ chưa sử dụng, hư hỏng, chờ thanh lý…
Đối với những đơn vị được kiểm toán mà KTV không trực tiếp chứng kiến kiểm kê tại thời điểm khóa sổ kế toán thì kiểm toán viên phỏng vấn khách hàng về các thủ tục kiểm kê mà họ đã thực hiện để đánh giá mức độ tin cậy của tài liệu kiểm kê đã nhận
được
Kết thúc kiểm kê:
Trang 12KTV đưa ra biên bản kiểm kê hàng tồn kho tại đơn vị: Phương pháp kiểm kê, nội dung kiểm kê; số lượng hàng tồn kho thực tế tại thời điểm kiểm kê (tên hàng, đơn vị tính, số lượng, tổng số);
số lượng hàng hóa tồn kho theo sổ sách kế toán; chênh lệch; kết luận
Thực nghiệm
Thực nghiệm là phương pháp diễn lại hoặc nghiên cứu, phân tích từng yếu tố cấu thành của một tài sản, một quá trình đã có, đã diễn ra và cần xác minh lại để kiểm tra độ chính xác của các
thông tin tài chính đã được kế toán công ty ghi chép từ giai đoạn đầu tiên đến giai đoạn tạo ra sản phẩm mà kế toán đã ghi chép trong sổ sách kế toán
Do đặc thù riêng của nền kinh tế Việt Nam mà phương pháp thực
Trang 13nghiệm thường ít được tiến hành, nếu được tiến hành thì chỉ có thể tiến hành trong một số ngành mang tính chất đặc thù riêng và trong những trường hợp đặc biệt Trong từng trường hợp đặc biệt đó, tùy từng điều kiện cụ thể mà phương pháp thực nghiệm
là khác nhau không có tính bắt buộc chung