Chẳng hạn Bộ Y tế đã cấp giấy phép sản xuất kinh doanh thuốc cảmDecolgen cho một đơn vị sản xuất dợc phẩm khi nhãn hiệu và kiểu dáng của loạithuốc này đã đợc đăng ký bảo hộ tại cục Sở hữ
Trang 1vấn đề về bản quyền sản phẩm và nhãn hiệu hàng hoá trong thực tiễn hoạt động xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp Việt Nam
1 Nhận thức của doanh nghiệp Việt Nam về vấn để bảo hộ sở hữu trí tuệ liên quan đến bản quyền sản phẩm và nh n hiệu hàng hoá.ã
1.1 Nhận thức của của toàn xã hội nói chung.
Mặc dù nói nền kinh tế Việt Nam đã chuyển sang nền kinh tế thị trờng
nh-ng cách thức tiến hành kinh doanh của các doanh nh-nghiệp Việt Nam còn bị ảnhhởng rất lớn bởi những t tởng cũ, bao cấp, lạc hậu Trong đó nhận thức của cácdoanh nghiệp nói riêng và toàn xã hội nói chung về các vấn đề pháp luật còn rấthạn chế, đặc biệt là hoạt động sở hữu công nghiệp liên quan đến bản quyền sảnphẩm và nhãn hiệu hàng hoá còn rất mới mẻ Hơn thế, nhiều cơ quan nhà nớc, tổchức kinh tế còn xem nhẹ vấn đề này
Trớc hết là các cơ quan nhà nớc Đối với lĩnh vực bảo hộ sở hữu trí tuệ,chúng ta có một hệ thống pháp luật khá đầy đủ và có hệ thống tổ chức chỉ đạo
sở hữu trí tuệ nhng kiến thức pháp luật và kiến thức nghiệp vụ về sở hữu trí tuệtrong các cơ quan trong hệ thống này cha cao Trong hệ thống tổ chức, chỉ đạo
có cơ quan nhà nớc đã không coi trọng và không có kiến thức cần thiết về sởhữu trí tuệ Chẳng hạn Bộ Y tế đã cấp giấy phép sản xuất kinh doanh thuốc cảmDecolgen cho một đơn vị sản xuất dợc phẩm khi nhãn hiệu và kiểu dáng của loạithuốc này đã đợc đăng ký bảo hộ tại cục Sở hữu công nghiệp Ngoài việc gâyhậu quả nh một hành vi vi phạm, thực trạng này còn cản trở không nhỏ đến côngtác bảo hộ ở nớc ta
Trong công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ, do tính đa dạng và phức tạpcủa đối tợng là các sản phẩm công nghiệp nên cần rất nhiều cơ quan nhà nớc cótrách nhiệm thực thi và phối hợp để đảm bảo công tác này có hiệu quả Thực tếcho thấy các cơ quan thực thi một mặt cha ý thức đợc trách nhiệm và và tầmquan trọng của bảo hộ sở hữu trí tuệ thể hiện ở việc xử lý trì trệ, không chủ động
điều tra giám sát Mặt khác cán bộ thực thi không đủ kiến thức cần thiết về sởhữu trí tuệ để giải thích, xử lý đúng hành vi vi phạm Thực trạng này là do sựgiáo dục về ý thức trách nhiệm, đào tạo, bồi dỡng kiến thức pháp luật và nghiệp
vụ cần thiết trong lĩnh vực này cha đợc tốt
Nhận thức cha cao của các cơ quan nhà nớc còn thể hiện ở sự không gơngmẫu trong việc tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của chính các cơ quan nhà nớc
Trang 2Chẳng hạn theo thống kê của Tập đoàn số liệu quốc tế IDC thì 97% phần mềmthông dụng của Microsoft đang sử dụng tại Việt Nam là vi phạm bản quyền, nhvậy hầu hết các cơ quan nhà nớc đều có sử dụng phần mềm không đăng ký.Nhận thức của công chúng về vấn đề này cũng rất thấp do đây là lĩnh vựcmới mẻ ở nớc ta Hơn nữa, việc phổ biến giáo dục pháp luật còn cha đợc quantâm chính đáng, nhiều ngời còn thờ ơ với vấn đề này Do vậy dẫn đến hiện tợngrất nhiều ngời vô tình xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Nổi bật là các cá nhân,cơ quan sử dụng các sản phẩm phần mềm máy tính không đăng ký nh mộtchuyện hết sức bình thờng Nhận thức xã hội về vấn đề còn rất yếu kém thể hiệntrong việc nhiều ngời không phân biệt đợc các hành vi xâm phạm, không có ýthức góp phần chống lại các hành vi đó.
1.2 Nhận thức của các doanh nghiệp.
Tổng số các đối tợng sở hữu công nghiệp đợc bảo hộ tại Việt Nam cho đếnthời điểm tháng 5 năm 2001 thì trong 2.070 sáng chế Việt Nam chiếm 8%; nớcngoài chiếm 92%; tơng tự trong 91.879 nhãn hiệu đăng ký tại Việt Nam thì chỉ
có 16% là của doanh nghiệp Việt Nam.1 Hằng năm, Cục sở hữu Công nghiệpViệt Nam nhận đợc hàng nghìn đơn trực tiếp hoặc thông qua thoả ớc Madrid củacác doanh nghiệp trong và ngoài nớc đăng ký nhãn hiệu tại Viêt Nam nhng chỉ
có khoảng hơn 100 đơn đăng ký của ngời Việt Nam ra nớc ngoài "Số đơnyờu cầu của người Việt Nam cũn quỏ ớt" ễng Phạm Ngõn Sơn,phú trưởng phũng sỏng chế đó nhận xột như vậy khi nờu tỷ lệ8,8% đơn yờu cầu của người Việt Nam trong tổng số đơn yờucầu cấp cỏc loại bằng độc quyền được gửi đến cục sở hữu cụngnghiệp suốt 9 thỏng đầu năm 2002 Con số này năm 2001 là6% trong số 9002 đơn sỏng chế và 746 đơn giải phỏp hữu ớch,cũn giai đoạn 1995-2000 chỉ cú 5%.2 Tỷ lệ này dẫu sao cũng cútăng chỳt ớt qua cỏc năm, nhưng thật sự hoàn toàn chưa cõnđối so với lượng đơn yờu cầu của người nước ngoài
Những con số trên cho thấy rằng các doanh nghiệp Việt Nam cha nhậnthức đầy đủ đợc tầm quan trọng của việc đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ cho sản
1 Theo báo cáo của ông Trần Việt Hùng, phó cục trởng cục Sở hữu công nghiệp Việt Nam- Báo cáo tập huấn nghiệp vụ quản lý sở hữu công nghiệp.
2 Quá ít doanh nghiệp Việt Nam quan tâm đến sở hữu trí tuệ, http://www.lacai.com/news/chitiet/php?
id=14109&cid=3.
Trang 3phẩm của mình Bà Dơng Thanh Bình, phó giám đốc công ty Phạm và Liêndoanh cho biết: “Cách tốt nhất là ngay khi tính đến việc làm ăn ở một thị tr ờngnào đó, các doanh nghiệp nên quan tâm đến việc đăng ký bản quyền sở hữucông nghiệp cho sản phẩm, hàng hoá của mình ở thị trờng đó”.3 Nhãn hiệu hànghóa là tài sản quý của doanh nghiệp nhng theo truyền thống kinh doanh của ViệtNam, các nhà kinh doanh khi xuất khẩu sản phẩm ra nớc ngoài thờng sử dụngnhãn hiệu sản phẩm để tiêu thụ sản phẩm cho đến khi ngời tiêu dùng đã quenthuộc rồi mới đăng ký nhãn hiệu.
Đa số nhãn hiệu đăng ký lại là của các doanh nghiệp t nhân, rất ít doanhnghiệp nhà nớc tham gia Các doanh nghiệp nhà nớc ỷ thế đợc bảo hộ mà khôngcoi trọng quyền sở hữu về sản phẩm của mình đặc biệt là nhãn hiệu hàng hoá.Nhiều trờng hợp doanh nghiệp nhà nớc, nhất là các tổng công ty, không thèm
đăng ký nhãn hiệu ngay cả trong nớc, đến khi doanh nghiệp muốn đăng ký nhãnhiệu ở nớc ngoài để xuất khẩu thì thờng đợc yêu cầu phải có đăng ký ở trong n-
ớc, lúc đó họ mới làm thủ tục đăng ký, thờng kéo dài hằng năm đến mất hết cơhội làm ăn với nớc ngoài
Các doanh nghiệp hiện nay, kể cả doanh nghiệp lớn cũng không ý thức đợctầm quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ Chẳng hạn, công ty Suzuki-Việt Nam
đã kiện các doanh nghiệp khác vi phạm quyền sử dụng nhãn hiệu Suzuki cho xegắn máy khi mình cha đăng ký bảo hộ tại Cục sở hữu Công nghiệp Việt Nam.Vấn đề nhận thức của các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng ở trong tình trạng “mất
bò mới lo làm chuồng” Các doanh nghiệp này đa phần khi bắt tay vào sản xuấtkhẩu sản phẩm, họ không lo đến việc đăng ký bảo hộ cho sản phẩm, nh đối vớiviệc đăng ký nhãn hiệu cho hàng hoá, chỉ khi sản phẩm đã nổi tiếng, có uy tínrồi mới đi đăng ký nhãn hiệu thì đã muộn Các nhà kinh doanh mới chỉ đặt ra kếhoạch phát triển trớc mắt, khi nhãn hiệu còn cha đợc biết tới tại thị trờng mới màkhông nghĩ tới lúc nhãn hiệu đã trở nên quen thuộc thì nguy cơ xâm phạm càngcao
Cũng có thể t tởng coi nhẹ việc đăng ký bảo hộ bản quyền cho hàng hoá,sản phẩm xuất phát từ tâm lý của các nhà doanh nghiệp khi đăng ký bảo hộ chosản phẩm, nghĩ rằng nếu họ không đăng ký chắc gì sản phẩm của họ đã bị ng ờikhác lấy mất quy trình công nghệ sản xuất, nhãn hiệu hàng hoá của họ chắc gì
đã bị ngời khác lấy cắp, mà trớc mắt nếu đăng ký thì họ phải mất công sức vàtốn khá nhiều chi phí Đặc biệt họ sẽ gặp khó khăn trong việc nghiên cứu phápluật nớc ngoài, nếu muốn tìm hiểu nhanh chóng thì họ phải thuê luật s rất tốn
3 Đăng ký bản quyền vào thị trờng Mỹ, Anh Thi, Thời báo kinh tế Việt Nam, số 30, 11/3/2002.
Trang 4kém, trong khi đó lợi ích trớc mắt cha thấy đâu Doanh nghiệp cha hiểu rằngviệc đăng ký bảo hộ bản quyền cho sản phẩm nói chung và cụ thể là đăng kýnhãn hiệu hàng hoá là một việc hết sức có ý nghĩa, nó đảm bảo quyền lợi lâu dàicho chủ sở hữu chứ không phải là đem lại quyền lợi trớc mắt Đến khi nhữngquyền lợi đó bị vi phạm thì chi phí bỏ ra để đòi lại những quyền lợi hợp pháp đócòn cao hơn nhiều lần so với chi phí đăng ký Bên cạnh đó, ở Việt Nam hiện naycha có nhiều tổ chức luật s chuyên về sở hữu trí tuệ, do đó, khi doanh nghiệpmuốn tìm hiểu luật nớc ngoài, họ sẽ khó tìm đợc sự trợ giúp cần thiết.
Bản thân doanh nghiệp cũng cha có ý thức bảo vệ quyền lợi của chínhmình Các doanh nghiệp Việt Nam hiện rất bị động trong việc đăng ký, bảo vệ
sở hữu trí tuệ cho các sản phẩm của mình; khi nào sản phẩm đó bị xâm phạmmới để ý đến nhãn hiệu, kiểu dáng sản phẩm Đa số các doanh nghiệp không lu
đầy đủ hồ sơ, giấy chứng minh nguồn gốc, công nghệ sản xuất sản phẩm củamình, cho nên khi có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, rõ nhất nh trờng hợp cácdoanh nghiệp có dây chuyền sản xuất mỳ ăn liền ở các nớc SNG, muốn chứngminh sản phẩm, công nghệ đó là của mình nhng đành chịu vì không đủ tài liệu
Đây là bài học cho các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.Nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về vấn đề bảo hộ sở hữu cònyếu kém thể hiện ở chỗ đa phần các doanh nghiệp cha có bộ phận quản trị nhãnhiệu để gìn giữ, bảo vệ và phát triển thơng hiệu lâu dài Do doanh nghiệp lo bánhàng mà cha lo xây dựng thơng hiệu Xây dựng đợc một sản phẩm có uy tín và
đợc ngời tiêu dùng tin dùng đã khó nhng để giữ đợc sự tin dùng đó còn khó hơn,thế nhng các doanh nghiệp đờng nh vẫn thờ ơ, mải lo tìm kiếm các hợp đồngmới hơn là giữ gìn những gì mình có
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, từ thực tế là hàng hoá của chúng ta bị
đánh cắp nhãn hiệu ở nớc ngoài đã làm cho các doanh nghiệp Việt Nam thay đổicách nhìn nhận về tầm quan trọng của bảo hộ sở hữu trí tuệ nói chung và đăng
ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá nói riêng Cục sở hữu công nghệ cho biết, sau khimột số nhãn hiệu nổi tiếng của doanh nghiệp bị các tổ chức, cá nhân nớc ngoài
đăng ký bảo hộ nh trờng hợp của PetroVietnam, các doanh nghiệp ồ ạt nộp đơnxin đăng ký bảo hộ nhãn hiệu Trong chín tháng đầu năm 2002, cả nớc có 5.355
đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu Trong đó, 3.889 đơn của doanh nghiệp trong
n-ớc, tăng gần 800 đơn so với năm 2001 Theo đánh giá của Cục sở hữu Côngnghiệp, nhận thức về lợi ích của doanh nghiệp đối với quyền đợc bảo hộ nhãn
Trang 5hiệu, kiểu dáng công nghiệp đã đợc cải thiện Đặc biệt, sau mỗi đợt xảy ra tranhchấp hoặc xử lý các doanh nghiệp vi phạm nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp.4
2 thực trạng của hoạt động sở hữu công nghiệp liên quan
2.1 Vấn đề vi phạm bản quyền sản phẩm và nhãn hiệu hàng hoá trên thế giới.
Hiện nay vấn đề vi phạm quyền sở hữu trí tuệ là vấn đề nhức nhối của hầuhết các nớc trên thế giơí, kể cả những nớc có nền hệ thống pháp luật tiến bộ cho
đến những nớc kém phát triển Việc buôn bán hàng giả chiếm gần 7% thơng mạiquốc tế, cuộc đấu tranh chống hàng giả trên thế giới ngày càng diễn ra quyết liệtnhng xu hớng vi phạm vẫn có xu hớng tăng lên Ngoài ra, việc ăn cắp bản quyền
về kiểu dáng, quy trình công nghệ sản xuất, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệphầm mềm máy tính đang làm cho các công ty hết sức lo lắng và làm xấu đithực trạng của nền kinh tế thế giới … Đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tếtoàn cầu hiện nay thì vấn đề vi phạm bản quyền càng trở nên vô cùng quan trọngkhi các tập đoàn lớn trên thể giới với những sản phẩm nổi tiếng mang tính quốc
tế lại càng có nguy cơ bị ăn cắp, nhái nhãn mác cũng nh kiểu dáng
“Tuần lễ Sở hữu trớ tuệ ở chõu Á” gồm hai hội thảo
“Quyền Sở hữu trớ tuệ ở chõu Á” và “Diễn đàn kinh tế Á –
Âu” diễn ra tại Hà Nội từ 13 đến 17-5-2002 với sự tham gia của
hàng trăm nhà quản lý phỏp luật, văn húa, hải quan, cảnh sỏt
và doanh nghiệp của nhiều nước chõu Á, chõu Âu Trong khuụnkhổ của hai hoạt động này, một số doanh nghiệp lớn của thếgiới đưa ra những vớ dụ cụ thể đầy sức thuyết phục về cỏc viphạm quyền sở hữu trớ tuệ đó được bảo hộ bản quyền Thực trạng
vi phạm quyền sở hữu trí tuệ cho thấy châu á là khu vực sản xuất hàng giảkhổng lồ nhất
Theo bà Salma Cassam Chenai - Trưởng phũng đấu tranhchống hàng giả của Fashion Group (Phỏp) khu vực chõu Á –Thỏi Bỡnh Dương cho biết, tập đoàn này cú trụ sở tại Hồng
4 Doanh nghiệp ồ ạt nộp đơn bảo hộ nhãn hiệu ở nớc ngoài,
http://www.vnn.vn/pls/news/ext_utls.htpage(7 )
Trang 6Cụng, cỏc hóng thời trang của tập đoàn này như Chanel,Christian Dior v.v… cú sản phẩm là nước hoa, quần ỏo, đồng
hồ, thời trang bằng da … đều bị làm hàng giả bỏn với giỏ rẻ hơnnhiều lần giỏ gốc của hàng thật Bà kờu gọi, cần phải duy trỡquan hệ với lực lượng cảnh sỏt, hải quan đồng thời cho phộpkhởi kiện ra tũa, bắt giữ lượng hàng giả sản xuất tại cỏc nước
Bà Vivian Wong đại diện tập đoàn thời trang Chanel (Phỏp) tạichõu Á – Thỏi Bỡnh Dương cho biết: Chanel vốn nổi tiếng vềthương hiệu thời trang mỹ phẩm, quần ỏo, giày dộp, tỳi xỏch …nhưng bị cỏc nước chõu Á làm tổn hại thương hiệu vỡ hàng giả,hàng nhỏi tràn lan trờn thị trường Bà Vivian Wong cho biết,năm 2001 tập đoàn thời trang Chanel đó cú hơn 3.000 cuộckiểm tra, càn quột hàng giả tại cỏc nước chõu Á, Trung Đụng,một số lần cú khởi kiện Trong đú, riờng khu vực chõu Á cú hơn
230 lần càn quột hàng giả ở Quảng Chõu, Hồng Cụng; 145 cuộc
ở Đài Loan; 295 cuộc ở Thỏi Lan v.v…5
Theo Bà Carlotta Graffina, cố vấn Tổ chức Sở hữu trớ tuệ thếgiới (WIPO) đỏnh giỏ: chõu Á cú tốc độ phỏt triển kinh tế khỏnhanh, mỗi nước lại cú một kiểu quản lý sở hữu trớ tuệ riờng chứchưa cú sự thống nhất Vớ dụ Thỏi Lan, Philippines quản lý sởhữu trớ tuệ khỏc hẳn cỏc nước Singapore, Malaysia Khu vực bị
ăn cắp sở hữu trớ tuệ nhiều nhất là ngành điện tử, cụng nghiệpdệt may, thực phẩm … Vừa qua, tại Thái Lan, cảnh sát đã tiến hành cuộckiểm tra tại Băngkok và các vùng lân cận, họ đã tìm thấy một số lớn các mặthàng đồng hồ, đồ da, dệt may…làm giả nhãn mác trong các cửa hàng, đại lý củacác nhà kinh doanh lớn Tại Bonkok hàng năm cảnh sát bắt giữ đợc 150 vụ làmhàng giả
5 Hàng giả, hàng nhái nối đau đầu của các tập đoàn doanh nghiệp nổi tiếng,
http://www.hochiminhcity.gov.vn/tintucsukien/tieudiem_20_5_tin1.htm
Trang 7Tại Mỹ, hiện tợng buôn bán hàng giả cũng hết sức phổ biến, đặc biệt là ởNew york (tại khu Chinatown), California, nơi kết nối nhiều cảng lớn (LosAngeles, San Francisco) với các khu vực sản xuất ở Châu á, và Florida với cáckhu chợ đen và dịch vụ tại nhà Sau đây là một vài số liệu về giá trị hàng giả doHải quan Mỹ bắt giữ trong những năm gần đây
Tổng giá trị hàng giả do Hải quan Mỹ bắt giữ: 6
Năm
199319941995199619971998
ở các khu vực khác trên thế giới tình hình vi phạm sở hữu trí tuệ liên quan
đến bản quyền sản phẩm và nhãn hiệu hàng hoá dù có “kém sôi động” hơn nhngcũng đang là vấn đề làm đau đầu các doanh nghiệp, nhất là các tập đoàn lớn nổitiếng
Quan chức Hải quan các nớc Liên minh châu Âu EU cho biết, trong năm
2001, họ đã tịch thu 95 triệu hàng giả và sản phẩm ăn cắp bản quyền Con sốnày đã tăng gấp 10 lần so với 3 năm trớc Uỷ ban châu Âu EC cho rằng những
kẻ sản xuất và buôn lậu hàng giả đang ngày càng chú ý đến những mặt hàng tiêudùng hàng ngày nh đĩa CD Hiện nay EU đang nghiên cứu để đa ra đạo luậtngăn chặn làm hàng giả và ăn cắp bản quyền ngày càng nghiêm trọng này.Những nhóm làm hàng giả và ăn cắp bản quyền chủ yếu thu lợi nhuận từ số lợngchứ không phải là chất lợng Vì thế số lợng hàng giả tăng rất nhanh trong mọilĩnh vực đặc biệt là các phầm mềm vi tính, thực phẩm, mỹ phẩm… làm cho ngờitiêu dùng hết sức lo lắng Nạn làm hàng giả và ăn cắp bản quyền gây thiệt hại tolớn cho thơng mại các nớc châu Âu
điển hình cho thực trạng ăn cắp bản quyền kiểu dáng sản phẩm là vụ tranhchấp khá nổi tiếng giữa hai hãng thực phẩm United Biscuits và asada Stores
6 Bảo vệ Hải quan, Phòng Sáng chế và Nhãn hiệu hàng hoá Hoa Kỳ, 2002.
Trang 8Hãng asada Stores đã tung ra thị trờng một loại bánh xốp có nhãn hiệu Puffinvới số lợng trong một gói với kiểu dáng giống nh loại bánh Penguin vốn nổitiếng và luôn chiếm vị trí đầu bảng trong thị trờng bánh kẹo của Anh Hãngasada Stores đã cố tình lập lờ về tên gọi, kiểu dáng, và cả logo (hãng UnitedBiscuits in hình chim cánh cụt còn hãng asada Stores in hình chim hải âu) đểgiành lợi thế cạnh tranh của United Biscuits do khách hàng rất có thể bị nhầmlẫn giữa hai nhãn hiệu nói trên Còn theo bộ tài chính Anh ớc tính, các sản phẩmthuốc lá nhập lậu vào Anh từ Trung Quốc chiếm tới 1/4 lợng thuốc lá tiêu thụ tạiTrung Quốc Gần đây, các cơ quan chức năng phát hiện hàng loạt tổ hợp sảnxuất thuốc lá nhái các nhãn hiệu nổi tiếng nh Regal và Silk Cut- hai nhãn hiệuthuốc lá chiếm thị phần lớn nhất ở Anh, tại các thôm xóm tại hai tỉnh Phúc Kiến
và Quảng Đông, Trung Quốc Thuốc lá giả đợc sản xuất có hình dáng giống nhhệt thuốc lá thật có in khuyến cáo của bộ Tài chính về sức khoẻ thế nhng cácbao thuốc là này có các thành phần độc hại quá mức cho phép, lợng hoá chấtkhuyến cáo cấm dùng trong đó quá cao
2.2.Thực trạng thực thi bảo hộ sở hữu công nghiệp liên quan đến bản quyền sản phẩm và nhãn hiệu hàng hoá tại Việt Nam.
2.1.1.Những dấu hiệu tích cực.
Trong thời gian gần đây, từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng, cáchthức tiến hành kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam cũng thay đổi rấtnhiều, trong đó thay đổi quan trọng nhất là các doanh nghiệp đã nhận thức đợcrằng sản phẩm của họ muốn có chỗ đứng trên thị trờng thì phải có sức cạnhtranh, uy tín của doanh nghiệp và sản phẩm là rất quan trọng.Vì thế các doanhnghiệp luôn củng cố và tìm mọi cách để quảng bá thơng hiệu của mình Tuynhiên cũng với quá trình đó là nạn làm hàng giả, vi phạm bản quyền sản phẩm
nh ăn cắp kiểu dáng, mẫu mã, nhãn hiệu xảy ra rất phổ biến Chính vì thế vấn
đề bảo hộ sở hữu trí tuệ cho những sản phẩm của mình đợc các nhà sản xuất, cácdoanh nghiệp chú ý hơn bao giờ hết và đây là vấn đề thực sự đáng đợc quan tâmhiện nay khi chúng ta đang chuẩn bị thực thi Hiệp định thơng mại Việt Mỹ cũng
nh đang trong tiến trình gia nhập WTO, các tổ chức quốc tế đa phơng và thiếtlập các quan hệ song phơng khác
Đó là nguyên nhân tại sao trong thời gian gần đây, các doanh nghiệp ViệtNam đã chú ý nhiều hơn đến bảo hộ sở hữu trí tuệ cho sản phẩm của họ, đặc biệt
là đã chú ý đến phát triển, bảo hộ thơng hiệu Vấn đề bảo hộ nhãn hiệu trớc đây
là xa lạ thì nay các doanh nghiệp đã biết bảo vệ nguồn tài sản vô giá này, càng
Trang 9ngày càng nhiều doanh nghiệp quan tâm đến đăng ký bảo hộ thơng hiệu hànghoá, từ con số 1614 nhãn hiệu đăng ký năm 1998 đã tăng gần 200% lên 3094nhãn hiệu năm 2001 đối với hàng hoá Việt Nam, và con số đó sẽ tăng đều quacác năm.
trên thực tế, Việt Nam hiện nay có rât nhiều nhãn hiệu nổi tiếng không chỉtrong nớc mà còn rất đợc yêu thích ở thị trờng nớc ngoài nh cà phê TrungNguyên, bánh kẹo Kinh Đô, Biti’s…Các công ty Việt Nam đã chý ý phát triểnthơng hiệu để xây dựng chiến lợc kinh doanh của mình Đây là điều đáng mừng
và là điều cần thiết để sản phẩm của Việt Nam có chỗ đứng không chỉ trên thị ờng nớc ngoài mà ngày cả trên thị trờng trong nớc
tr-Tuy nhiên đi cùng với ý thức xây dựng và bảo vệ thơng hiệu cho hàng hoácủa mình của các doanh nghiệp Việt Nam là nạn làm hàng giả, ăn cắp kiểu dángcông nghiệp cũng nh nhãn hiệu đang là vấn đề quốc nạn hiện nay
2.2.2 Thực trạng vi phạm bản quyền về sản phẩm nói chung và vi phạm bản quyền về nhãn hiệu hàng hoá nói riêng.
Thực tế là vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ vẫn đang là lĩnh vực mới mẻ ở n ớc
ta Trong một vài năm gần đây, tệ nạn hàng giả-xâm phạm quyền sở hữu côngnghiệp xảy ra ngày càng nghiêm trọng Theo hội nghị Việt- Mỹ về vấn đề bảo
hộ sở hữu trí tuệ của Việt Nam bắt đầu vào ngày 21 tháng 10 năm 2002 thì ViệtNam đang là quốc gia dẫn đầu khu vực về vi phạm bảo hộ sở hữu trí tuệ, màchâu á đợc đánh giá là khu vực sản xuất hàng giả khổng lồ nhất
Hàng giả luôn đa dạng về chủng loại, từ đơn giản rẻ tiền nh nơc chấm,bánh kẹo, nớc giải khát… cho đến những mặt hàng sản xuất tinh vi đắt tiền nh r-
ợu, hàng điện tử Hàng hoá bị làm giả chủ yếu là lơng thực, thực phẩm, đồ uống
và giày dép, dợc phẩm, mỹ phẩm, đồ điện, điện tử, vật liệu xây dựng Đối tợng
vi phạm chủ yếu là giả nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp Thông ờng bọn làm hàng giả thờng sử dụng bao bì mẫu mã, vỏ hộp của những sảnphẩm nổi tiếng rồi đóng hàng giả và đa đi tiêu thụ Hơn nữa, bằng kỹ thuật tinhxảo chúng còn in ấn các loại mẫu mã bao bì giống hệt hoặc tơng tự với các sảnphẩm có chất lợng, uy tín trên thị trờng Thậm chí chúng còn in cả biểu tợng
th-“Hàng Việt Nam chất lợng cao” Cùng với làm hàng giả chúng còn giả nhãnhiệu hàng hoá nổi tiếng đợc ngời tiêu dùng a thích.Chẳng hạn nh một số cơ sởsản xuất nhỏ đã sản xuất sữa cha theo phơng thức thủ công đã treo biển
“Vinamilk” để lừa khách hàng Sản phẩm La vie bị tới hơn 20 sản phẩm khácbắt chớc kiểu dáng chai nớc khoáng và mang nhãn hiệu dễ gây nhầm lẫn nh
Trang 10Lavie-Lavia-Lavire-Laville-Lavila-Lavide-Lavierge… Bên cạnh đó thuốc cảmDecolgen cũng bị rất nhiều xí nghiệp dợc phẩm địa phơng của Việt Nam bắt ch-
ớc nhãn hiệu, kiểu dáng và thậm chí cả hình thoi dập nổi trên bề mặt thuốc cũng
nh dải màu nâu in sau vỉ thuốc, các nhãn hiệu bắt chớc Decolgen là Decoagen-Decolmex-Dadecold Ngoài ra còn rất nhiều sản phẩm khác cũng bị
Deacolgen-vi phạm quyền sở hữu công nghiệp nh: Biti’s-Bisti’s; Vinacola; Pepsi-Festi; Coto-Cotto-Totto; Omo-Somo… Hiện tợng những cái tên
Cocacola-Haracola-na ná, giông giống với mẫu mã bao bì y nh các sản phẩm chính hiệu đợc bántràn lan trên thị trờng và trở nên khá phổ biến ngay sau khi các doanh nghiệptung ra sản phẩm mới Theo thống kê của Cục quản lý thị trờng thì cứ có 1 mặthàng mới ra đời sẽ có 10 mặt hàng cùng loại xuất hiện trên thị trờng với mẫu mãgiống hệt hoặc tơng tự nh thế với chất lợng thấp hơn rất nhiều và dĩ nhiên là giácả cũng thấp hơn
Trong nửa đầu tháng 9 năm 2002, lực lợng quản lý thị trờng thành phố HồChí Minh đã kiểm tra và phát hiện 9 cơ sở chuyên sản xuất và bán phụ tùng xemáy giả gắn nhãn mác những thơng hiệu nổi tiếng của nớc ngoài Nh cơ sở Nh
ý, Q11, cơ sở Nguyên Lợi, huyện Bình Chánh, chế tạo các loại nhông, đĩa,phanh, trên bao bì có ghi “For Honda”, “For Suzuki”…Trên thị trờng, phụ tùng
xe máy giả, nhái nhãn mác của những hãng nổi tiếng đợc bày bán tràn lan nênngời tiêu dùng rất khó phân biệt Theo các chuyên gia trong ngành và một số thợsửa xe thì có đến 80% phụ tùng xe máy là hàng giả, hàng nhái nhãn hiệu củanhững hãng nổi tiếng nh Suzuki, Honda…nên giá bán cũng ngang ngửa nh giáhàng thật Ngoài ra, giám đốc của các công ty khác nh: Mỹ Hảo, Mỹ phẩm SaìGòn, Cà phê Trung Nguyên…trong cuộc trả lời phỏng vấn của Thời báo kinh tếSài Gòn7 cho biết hàng giả bây giờ là quốc nạn và bất cứ sản phẩm nào của họxuât hiện là có ngay sản phẩm nhái, giả trên thị trờng Các đối tợng sản xuất,buôn bán hàng giả đã triệt để lợi dụng sự cạnh tranh của cơ chế thị trờng, nắmbắt kịp thời thị hiếu của ngời tiêu dùng để chọn những loại hàng khan hiếm, có
uy tín chất lợng cao và theo từng thời điểm để tiến hành sản xuất và tiêu thụ.Dovậy, trên thị trờng hiện nay tình hình hàng giả đang lu hành cạnh tranh ác liệtvới hàng thật Chẳng hạn có lúc mặt hàng ajinomoto giả chiếm tới 50% thị phầnthị trờng cả nớc, cá biệt có nơi nh Bà Rịa-Vũng Tàu, chỉ trong sáu tháng đầunăm 1999, bột ngọt ajinomoto giả chiếm tới 90% thị trờng8
7 Doanh nghiệp tự cứu, Chánh Khải ghi, Thời báo kinh tế Sài Gòn, số ngày 6/9/2001, tr15
8 Hàng giả còn lộng hành đến bao giờ, Chánh Khải, Thời báo kinh tế Sài Gòn, số 6/1/2001.
Trang 11Không chỉ có các sản phẩm hàng hoá mới bị làm giả mà ngay cả các sảnphẩm dịch vụ cũng bị làm nhaí Mới đây, hãng taxi Mai Linh (Thành phố HồChí Minh) đã gửi đơn kêu cứu đến các cơ quan chức năng, báo đài về việc taxiMai Linh bị nhái từ màu sơn thân xe đến màu sơn và kiểu dáng của hộp đèn Sự
vi phạm bản quyền này đã ảnh hởng không nhỏ đến uy tín và danh tiếng củahãng Theo ông Hồ Huy, chủ tịch Hội đồng quản trị công ty Mai Linh thì “hànggiả taxi Mai Linh đã khiến công ty thiệt hại đến 27 tỷ đồng một năm Khôngriêng gì taxi Mai Linh mà các hãng nổi tiếng khác cũng bị nhái nh Festival,Vina, Saigontourist…
Hàng giả ngày nay hầu nh đã len lỏi vào tận các ngóc ngách của xã hội haynói cách khác là không có lĩnh vực nào, ngành hàng nào mà không có đồ giả.Hàng giả ngày càng trở thành nỗi ám ảnh của các doanh nghiệp làm ăn chânchính, trở thành sự thách thức đối với bộ máy chính quyền Một quan chức trongngành thơng mại cho rằng: “những vụ việc rõ ràng đã nhiều không xuể thì nóichi đến những chuyện cha rõ ràng, còn phải điều tra theo dõi, thu thập chứngcứ”
Thực tế là xu hớng làm sản xuất và lu thông hàng giả vi phạm quyền sở hữucông nghiệp ngày càng gia tăng ở Việt Nam Trong 3 năm 1999-2001, cả nớc đãkiểm tra xử lý 9307 vụ sản xuất và buôn bán hàng giả, trong đó hơn 50% là viphạm quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến sản phẩm về nhãn hiệu, kiểu dáng côngnghiệp Đến tháng 5 năm 2002, có 666 vụ làm hàng giả đã bị phát hiện Đó làcòn cha có con số thống kê cho biết bao nhiêu cơ sở sản xuất và mặt hàng bị viphạm không bị phát hiện và xử lý
Cùng với nạn làm hàng giả, ở Việt Nam, nhiều vụ tranh chấp nhãn hiệu đểgiành lấy quyền chiếm hữu nhãn hiệu đã thực sự làm đau đầu các cơ quan chứcnăng Vụ án tranh chấp nhãn hiệu Trờng Sinh là một điển hình gây tranh cãi gaygắt trong giới chuyên môn về mức độ vi phạm và cách áp dụng những quy địnhpháp luật về sở hữu trí tuệ Sản phẩm Trờng Sinh ra đời năm 1997, là sản phẩmxuất hiện trớc, mà mãi đến tháng 12/1998 mới đăng ký bảo hộ nhãn hiệu trongkhi đó sữa đặc TRờng Sinh của Foremost đã đợc chấp nhận đăng ký trớc đó 6tháng Công ty Foremost đã khởi kiện công ty Trờng Sinh vì cho rằng công tynày đã vi phạm quyền sở hữu công nghiệp về sản phẩm Vụ án kéo dài hai năm,cuối cùng Foremost thắng kiện Đây là bài học cay đắng cho công ty Trờng Sinh
và là lời cảnh báo đối với các công ty đang không còn lơ là, thờ ờ với những vấn
đề bảo hộ sở hữu trí tuệ liên quan đến sản phẩm của mình
Trang 12Ngoài ra, ở Việt Nam hiện nay chuyện sử dụng các bản quyền sản phẩmphần mềm một cách bất hợp pháp đợc coi là chuyện hoàn toàn bình thờng Theokhảo sát của Liên minh phần mềm thơng mại (BSA), trong năm 2001, Việt Namvẫn đứng thứ 1 thế giới với 94% các chơng trình phần mềm bị sử dụng trái phép,giảm so với 97% của năm 2000 Chỉ có một số ít các tổ chức quốc tế và vănphòng đại diện nớc ngoài tại Việt Nam tuân thủ nghiêm ngặt các cam kết vềbản quyền sản phẩm của các công ty mẹ nên sử dụng bản quyền sản phẩm mộtcách hợp pháp Năm 1998, tập đoàn Microsoft đã phải chi 3,4 tỷ USD cho việcnghiên cứu và phát triển các chơng trình phần mềm của mình Chơng trìnhMicrsoft 2000 đợc chính thức đa vào Việt Nam tháng 9 năm 2000 nhng thựcchất nó đã có mặt trên thị trờng nớc ta hàng tháng trớc đó Đại diện của hãngMicrosoft cho biết: họ đã nhiều lần tiếp xúc trao đổi với các nhà lắp ráp máytính trong nớc về việc cài đặt bất hợp pháp các chơng trình phần mềm củaMicrosoft, nhng cho đến nay vẫn cha đạt một kết quả nào Họ cũng cho biếtthêm có 5 dạng vi phạm bản quyền sản phẩm phần mềm của hãng này là saochép, làm đĩa giả , cài trớc chơng trình vào máy, lấy phần mềm từ Internet và
đánh cắp bản quyền phần cứng Thực trạng đáng buồn này làm không nhữnglàm chững lại sự phát triển của ngành công nghệ thông tin của Việt Nam mà cònlàm hại đến môi trờng đầu t và nản lòng các nhà đầu t nớc ngoài vào lĩnh vựcnày
Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam đã chý ý phát triển sản phẩm đểhàng hóa Việt Nam có chỗ đứng trong lòng ngời tiêu dùng không chỉ trong nớc
mà còn có thị trờng xuất khẩu cũng nh họ đã chý ý phát triển thơng hiệu hàngViệt Nam nhng chính nạn hàng giả, nhái nhãn mác, ăn cắp kiểu dáng tràn lanhiện này lại đang giảm nỗ lực của chính của các doanh nghiệp Việt Nam trong
nỗ lực xây dựng hình ảnh đẹp về hàng Việt Nam cũng nh làm nản lòng các nhà
đầu t nớc ngoài Đây là thực trạng đáng lo ngại và đợc đa lên thành vấn đề quốcnạn đòi hỏi nhà nớc, các cơ quan ban hành thực thi pháp luật phải có những biệnpháp, đa ra những quy định cụ thể về sở hữu trí tuệ và thực thi bảo hộ sở hữu trítuệ Trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới và khu vc nh hiện nay nếu chúng
ta không giải quyết sớm vấn đề này thì sẽ làm ảnh hởng rất lớn đến môi trờng
đầu t kinh doanh, khiến cho các doanh nghiệp không muốn đầu t vào nhữngcông nghệ mới hoặc không muốn bỏ ra những chi phí lớn cho nghiên cứu vàphát triển vì bỏ ra một khoản phí lớn để rồi sản phẩm của mình bị làm nhái, giảcũng nh ăn cắp bản quyền một cách dễ dàng Để làm đợc điều này đòi hỏi phải
có cố gắng nỗ lực của doanh nghiệp cũng nh của nhà nớc trong thực thi bảo hộ
Trang 13sở hữu trí tuệ nói chung để bảo vệ bản quyền sản phẩm mà các doanh nghiệplàm ra.
2.3 Thực trạng bảo hộ bản quyền sản phẩm và nhãn hiệu hàng hoá Việt Nam ở nớc ngoài.
Trong thời gian gần đây, khi một loạt nhãn hiệu hàng hoá Việt Nam bị
đánh cắp ở nớc ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam mơí sửng sốt nhận ra tầmquan trọng của việc đăng ký bảo hộ cho sản phẩm của mình Thực trạng hànghóa Việt Nam bị vi phạm bản quyền sản phẩm ở nớc ngoài đang là vấn đề đáng
lo ngại cho các doanh nghiệp chúng ta hiện nay khi xuất khẩu hàng hoá ra thị ờng nớc ngoài hàng hoá Việt nam bị làm giả rất nhiều và gây thiệt hại khôngnhỏ cho các nhà sản xuất kinh doanh Hình thức vi phạm này là hoàn toàn bấthợp pháp, việc làm hàng giả gắn nhãn mác thờng diễn ra bí mật Các doanhnghiệp có thể kiện và mức độ xử lý thì tuỳ thuộc vào pháp luật từng nớc Bêncạnh đó, các doanh nghiệp của chúng ta phải đối mặt với hình thức khác côngkhai và có vẻ hợp pháp hơn, đó là việc các công ty nớc ngoài chiếm nhãn hiệubằng cách tớc quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hoá của Việt Nam tại cơ quan cóthẩm quyền theo nguyên tắc first-to –file, quyền sở hữu sẽ thuộc về ai đăng kýtrớc
tr-Một bài học đau xót nhng ít ai nhắc đến là chuyện sản xuất mì ăn liền, mặthàng bán rất chạy tại các nớc SNG Các doanh nghiệp Việt Nam đã để mất dâychuyền sản xuất mì ăn liền cũng nh thơng hiệu của chính mình về tay doanhnhân ngời Nga gốc Belarus Mặc dù các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu t tiềncủa, lập nhà máy, mở dây chuyền sản xuất và làm ăn khá phát đạt Nhng họ đãkhông đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp và doanh nghiệp ngời Nga này đãdùng quyền hợp pháp để ngăn chặn mọi hoạt động sản xuất mỳ ăn liền tại hai n-
ớc đó Hơn 10 doanh nghiệp của chúng ta ở đây đều phải chịu thiệt thòi, khôngnhững mất thị trờng mà nếu có sản xuất thì cũng bị coi là vi phạm quyền sở hữucông nghiệp
Tình trạng ăn cắp kiểu dáng của hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam hiệnnay rất đáng lo ngaị Thời gian qua, các doanh nghiệp, hộ gia đình làm hàng thủcông mỹ nghệ Việt Nam chủ yếu để xuất khẩu sản phẩm qua các công ty môigiới của nớc ngoài Các công ty này đã chọn kiểu dáng mẫu mã, để đặt cácdoanh nghiệp, các hộ gia đình Việt Nam sản xuất, rồi đi đăng ký, sau khi cóbằng độc quyền kinh doanh loại sản phẩm này, họ đã quay trở lại Việt Nam épgiá Các nhà sản xuất Việt Nam không tự xuất khẩu đợc và cắn răng chịu thiệt
Trang 14thòi chịu vai trò làm thuê trong khi các công ty môi giới nghiễm nhiên là ngời sởhữu chính sản phẩm và đợc hởng lợi
Thái Lan đang ráo riết mở chiến dịch trên nhiều mặt để chứng minh chothế giới thấy rằng xoài Hoà Lộc là một đặc sản của Thái Lan Đài Loan cũnglàm tơng tự nh vậy đối với thanh long, Trung Quốc thì mua trái cây Việt Nam vềdán mác “made in China” rồi xuất khẩu sang nớc thứ ba Thông tin này đã thực
sự khiến nhiều ngời hoang mang lo lắng Lo lắng ấy là hoàn toàn có cơ sở vìchuyện nớc ngoài cố ý “ăn theo” hay mợn danh tiếng đặc sản của Việt Nam, củamột địa phơng cụ thể của Việt Nam không còn phải là chuyệnlạ Thực tế lànhiều loại đặc sản của Việt Nam nh gạo “nàng thơm chợ đào”, nhãn Hng Yên…
đợc bàn bán công khai tại các siêu thị , cửa hàng nớc ngoài với nhãn hiệu “Made
in Thailand”, “Made in Hongkong”, “Made in Taiwan” Đặc biệt là dù cho hiệnnay chúng ta là nớc xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới nhng rất ít ngời tiêudùng trên thế giới biết đến gạo Việt Nam vì nhiều nớc nhập gạo của Việt Namnhng khi bán cho ngời tiêu dùng thì lại gọi đấy là gạo Thái Lan
Rất nhiều sản phẩm của các công ty khác nh Biti’s, Vinataba bị làm giả ởTrung quốc và nhiều nớc khác rồi nhập khẩu ngợc trở lại Việt Nam
Hiện nay, ngoài hiện tợng ăn cắp kiểu dáng, công nghệ hay dùng đặc sảncủa Việt Nam dán nhãn mác nớc thứ ba để xuất khẩu nh đã nói một số vụ tiêubiểu trên thì vấn đề bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở nớc ngoài đang là vấn đề làm
đau đầu các doanh nghiệp Sau khi một loạt nhãn hiệu hàng hoá Việt Nam bị
“ăn cắp” thì tình trạng đáng lo ngại nhất và là vấn đề nổi cộm nhất khi cácdoanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu ra thị trờng nớc ngoài không chỉ còn làtìm kiếm thị trờng cho sản phẩm mà còn là vấn đề làm sao để bảo vệ nhãn hiệuhàng hoá đó ở thị trờng xuất khẩu của mình Hàng loạt doanh nghiệp Việt Nam
đã chuẩn bị hàng hoá để xuất khẩu nhng việc xuất khẩu không tiến hành đợc vìnhãn hiệu nhãn hiệu đó đã bị các công ty nớc ngoài đăng ký trớc và nếu muốnnhập khẩu thì phải xin phép công ty nớc ngoài nếu không sẽ vi phạm quyền sởhữu công nghiệp
Điển hình là trờng hợp của Tổng công ty thuốc lá Việt Nam, nhãn hiệuVinataba là một nhãn hiệu thuốc lá rất quen thuộc ở Việt Nam Năm 2001, nhãnhiệu này đã đợc công ty P.T.Putrastrabat Industri của Indonesia đăng ký tại 12nớc, trong đó gồm 9 nớc ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản Đến đầutháng 3/2002, tại Malaisia, nhãn hiệu Vinataba đã đợc cơ quan quản lý sở hữucông nghiệp nhận hồ sơ và đang ở trong giai đoạn xét nghiệm cấp bằng chứng
Trang 15nhận, tại Trung Quốc đã qua giai đoạn xét nghiệm và chuẩn bị cấp bằng chứngnhận, còn tại Thái Lan và một số nớc khác, công ty trên đã đợc cấp bằng chứngnhận sở hữu nhãn hiệu thuốc lá Vinataba Việc mất quyền sở hữu tại các nớcnày đồng nghĩa với việc mất thị trờng Theo đó, khi thuốc lá Vinataba của Tổngcông ty thuốc lá Việt Nam nhập khẩu vào các nớc này sẽ bị coi là vi phạmquyền sở hữu nhãn hiệu hàng hoá của công ty P.T.Putrastrabat Industri.
P.T.Putrastrabat Industri là một công ty con thuộc tập đoàn t nhân có trụ sởtại Indonsia hoạt động trên nhiều lĩnh vực trong đó có sản xuất và bán thuốc lá.Theo bà Nguyễn Thị Loan, Phó tổng giám đốc Tổng công ty thuốc lá Việt Namthì đăng ký “trộm” nhãn hiệu là một “nghề” của công ty này Trớc đó, Vinataba
đã bàn hợp tác với công ty này về sản xuất thuốc lá Jet và Hero tại Việt Nam,nhng họ không chấp nhận mà cho sản xuất từ bên ngoài rồi tuồn vào Việt Nam.Theo bà Loan, trớc khi đăng ký nhãn hiệu Vinataba, Putrastrabat Industri đã sảnxuất tại một số nớc xung quanh rồi tuồn thuốc lá nhãn hiệu Vinataba giả vàoViệt Nam nhng do mẫu mã của Vinataba rất đặc thù và có dãn tem nên thuốc lálậu đã nhanh chóng bị phát hiện Không đợc thị trờng chấp nhận, PutrastrabatIndustri đã quay sang đăng ký nhãn hiệu Vinataba để nhằm hai mục đích: một
là để buộc Tổng công ty thuốc lá Việt Nam phải bỏ tiền ra mua lại thơng hiệuhoặc là sẽ lợi dụng giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hoá để sản xuất một cáchhợp pháp trên lãnh thổ nớc ngoài rồi tuồn vào Việt Nam nhằm chiếm lĩnh thị tr-ờng
Sau khi phát hiện ra, Tổng công ty thuốc lá Việt Nam đã tiến hành nhiềubiện pháp để đòi lại thơng hiệu của mình Đó không phải là vấn đề dễ dàng,công ty đã báo cáo sự việc đến các cơ quan chức năng đề nghị giúp đỡ đồng thờitiến hành nhiều biệp pháp để đòi lại thơng hiệu của mình Tổng công ty đã tiếnhành đăng ký nhãn hiệu Vinataba tại 20 nớc thuộc khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ
Để tăng cờng hiệu công tác quản lý nhãn hiệu sau sự kiện trên, Tổng công ty đãchỉ thị cho giám đốc các đơn vị thành viên chịu trách nhiệm theo dõi và đăng kýthơng hiệu của mình tại những thị trờng có tiềm năng Công ty cũng đã tiến
hành thơng thuyết với công ty Putrastrabat Industri đòi lại nhãn hiệu Các nhà
lãnh đạo Vinataba cũng đã nghĩ đến việc mua lại quyền sở hữu từ công tyIndonesia nói trên nhng chỉ với giá mà công ty này đã bỏ ra để đăng ký Hiệnnay, Tổng công ty thuốc lá Việt Nam đã đòi lại đợc thơng hiệu ở Cămpuchia vàtheo công ty Phạm và Liên doanh, công ty đại điện đứng ra đòi lại nhãn hiệuVinataba thì đây là điều kiện thuận lợi để cho Tổng công ty thuốc lá Việt Namgiành lại đợc thơng hiệu từ các thị trờng khác Hiện nay, Tổng công ty đã chọn