1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng tài chính quốc tê

216 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 216
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm, đặc điểm vai trò và sự hình thành của tài chính quốc tế 1.2 Nội dung của tài chính Quốc tế Chương 2: THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI 2.1 Tổng quan về thị trường ngoại hối 2.2 Những vấn

Trang 1

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOA NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH

-

BÀI GIẢNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

Người biên soạn: THS NGUYỄN QUANG HUY

NĂM, 2013

Trang 2

Nội dung Trang

LỜI NÓI ĐẦU

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

1.1 Khái niệm, đặc điểm vai trò và sự hình thành của tài chính quốc tế

1.2 Nội dung của tài chính Quốc tế

Chương 2: THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

2.1 Tổng quan về thị trường ngoại hối

2.2 Những vấn đề cơ bản trong kinh doanh ngoại hối

2.3 Các nghiệp vụ giao dịch trên thị trường ngoại hối

Chương 3: CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ

3.1 Khái niệm và các thuật ngữ

3.2 Kết cấu và các cán cân bộ phận của cán cân thanh toán quốc tế

3.3 Lập, đọc hiểu cán cân thanh toán quốc tế

3.4 Hạch toán cán cân thanh toán quốc tế

3.5 Tác động của cán cân thanh toán quốc tế đến kinh tế

Chương 4: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

4.1 Các khái niệm

4.2 Tác động của tỷ giá tới nền kinh tế

4.3 Chính sách tỷ giá và vai trò của ngân hàng trung ương trong các vấn

đề tỷ giá

4.4 Chính sách tỷ giá hối đoái

4.5 Những mặt trái khi định giá cao nội tệ

4.6 Đánh giá hoạt động của các chế độ tỷ giá

4.7 Hệ thống chế độ tỷ giá ngày nay

Chương 5: HỌC THUYẾT NGANG GIÁ SỨC MUA

5.1 Khái niệm ngang giá sức mua

5.2 Quy luật ngang bằng sức mua – The Law of PPP

5.3 Các dạng biểu hiện của PPP

5.4 Định giá thực cao và định giá thực thấp

Trang 3

5.5 Nguyên nhân làm cho tỷ giá lệch khỏi PPP

Chương 6: HỌC THUYẾT NGANG GIÁ LÃI SUẤT

6.1 Cơ sở hình thành ngang giá lãi suất

6.2 Các dạng biểu hiện của ngang giá lãi suất (IRP)

6.3 Hiệu ứng Fisher Quốc tế

6.4 Những nhân tố làm cho CIP không được duy trì

Chương 7: THỊ TRƯƠNG TIỀN TỆ VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU

CHÂU ÂU

7.1 Thị trường tiền tệ châu Âu Eurocurencies

7.2 Thị trường vốn quốc tế và trái phiếu Châu Âu

Chương 8: HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ

8.1 Hệ thống tiền tệ quốc tế

8.2 Chế độ bản vị vàng (1867 – 1914)

8.3 Hệ thống Giơ - Noa

8.4 Hệ thống Bretton Woods

8.5 Lĩnh vực tài chính – tiền tệ quốc tế thời kỳ hậu Bretton Woods

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

Lời nói đầu

Tài chính quốc tế là một lĩnh vực rộng lớn bao gồm tài chính quốc tế vĩ mô

và tài chính quốc tế vi mô Tài chính quốc tế vĩ mô nghiên cứu các mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau trong lĩnh vực tiền tệ và chính sách kinh tế vĩ mô giữa các quốc gia như lạm phát, lãi suất, tỷ giá, cán cân thanh toán quốc tế và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ - ngân hàng Tài chính quốc tế vi mô nghiên cứu những ảnh hưởng của tài chính quốc tế vĩ mô tới các hoạt động kinh doanh của các công ty và cá nhân, đặc biệt là các công ty đa quốc gia Nhìn chung do quy mô rộng lớn và có tính độc lập tương đối, giữa tài chính quốc tế

vĩ mô và quản trị tài chính quốc tế cho nên người ta thường thiết kế thành hai học phần Đối với chúng ta, tài chính quốc tế đã trở thành môn học độc lập ở các trường đại học khối kinh tế, do đó chúng ta không tách tài chính quốc tế thành tài chính quốc tế vĩ mô và quản trị tài chính quốc tế Trong bài giảng này được viết để giảng dạy cho chuyên ngành tài chính ngân hàng, là môn học nghiệp vụ bắt buộc nên tập trung vào nội dung chủ yếu và cơ bản nhất về tài chính quốc tế như một môn học nghiệp vụ, ở đó trình bày có hệ thống những nội dung cơ bản về lý luận và nghiệp vụ của hoạt động tài chính quốc tế

Trang 5

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

1.1 Khái niệm, đặc điểm vai trò và sự hình thành của tài chính quốc tế

1.1.1 Khái niệm

Đứng trên góc độ từng quốc gia để nhìn nhận thì hoạt động tài chính gồm có: hoạt động tài chính đối nội, hoạt động tài chính đối ngoại và hoạt động tài chính thuần túy giữa các quốc gia Hoạt động tài chính thuần túy giữa các quốc gia lại bao gồm hoạt động tài chính của các công ty đa quốc gia và hoạt động tài chính của các tổ chức quốc tế Theo cách nhìn này, thì hoạt động tài chính quốc

tế được quan niệm bao gồm hoạt động tài chính đối ngoại và hoạt động tài chính thuần túy

Đứng trên góc độ toàn cầu để nhìn nhận thì hoạt động tài chính quốc tế được quan niệm chỉ bao gồm các hoạt động tài chính quốc tế thuần túy, bởi vì hoạt động tài chính của mỗi quốc gia đã bao gồm hoạt động tài chính đối nội và hoạt động tài chính đối ngoại; chỉ những hoạt động tài chính chung trên phạm vi toàn cầu mới là tài chính quốc tế

Như vậy quan niệm về tài chính quốc tế nhìn nhận ở các quốc gia đang phát triển, mức độ hội nhập còn hạn chế không hoàn toàn đồng nhất với các nước phát triển có mức độ hội nhập cao Khái niệm tài chính quốc tế được trình bày trong bài giảng này đó là: Tài chính quốc tế là hoạt động tài chính diễn ra trên bình diện quốc tế Đó là sự di chuyển các luồng tiền vốn giữa các quốc gia gắn liền với các quan hệ quốc tế về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quân sự, ngoại giao, giữa các chủ thể của các quốc gia và các tổ chức quốc tế thông qua việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ ở mỗi chủ thể nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể đó trong các quan hệ quốc tế

1.1.2 Đặc điểm tài chính quốc tế

Các quan hệ tài chính quốc tế mang các đặc điểm chung của quan hệ tài chính thì nó còn có những đặc điểm riêng

+ Phạm vi, môi trường hoạt động của các nguồn tài chính trong lĩnh vực tài chính quốc tế rất rộng lớn, phức tạp, nhiều rủi ro

Trang 6

+ Lĩnh vực tài chính quốc tế chịu sự chi phối của nhiều yếu tố chính trị, nhiều hệ thống pháp lý khác nhau

+ Xu hướng phát triển của lĩnh vực tài chính quốc tế làm cho hoạt động này ngày càng đa dạng, phong phú, phức tạp

1.1.3 Vai trò của tài chính quốc tế

+ Tài chính quốc tế là công cụ quan trọng khai thác các nguồn lực quốc tế phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia

Thông qua các hoạt động tài chính quốc tế nguồn lực cho sự phát triển được phân phối lại trên phạm vi thế giới Mỗi quốc gia phải cân nhắc để có thể khai thác sử dụng nguồn lực của các quốc gia khác và sử dụng nguồn lực của mình để tham gia hợp tác quốc tế một cách có hiệu quả

+ Tài chính quốc tế thúc đẩy các nền kinh tế quốc gia nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế thế giới

Việc mở rộng các hình thức tín dụng quốc tế, đầu tư quốc tế, tham gia các thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thị trường ngoại hối, mở rộng thương mại và dịch vụ quốc tế vừa góp phần phát triển kinh tế trong nước vừa thúc đẩy hoàn thiện chính sách và thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế theo yêu cầu của các tổ chức quốc tế và khu vực

+ Tài chính quốc tế tạo cơ hội nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính nội tại của từng quốc gia

Sự mở rộng và phát triển của tài chính quốc tế cho phép các nguồn tài chính có khả năng lưu chuyển dễ dàng, thuận lợi và mạnh mẽ giữa các quốc gia

đã tạo điều kiện cho các chủ thể ở mỗi quốc gia có cơ hội giải quyết những khó khăn tạm thời về nguồn tài chính và nâng cao hiệu quả của các nguồn lực tài chính được đưa vào sử dụng cả trên vị trí nhà đầu tư hay người cần vốn

1.1.4 Cơ sở hình thành và phát triển của tài chính quốc tế

+) Các quan hệ quốc tế giữa các quốc gia về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, quân sự, ngoại giao, đòi hỏi phải có và làm xuất hiện quan hệ tài chính quốc tế

Trang 7

+) Cùng với sự xuất hiện của tiền tệ như một vật trao đổi trung gian, tiền tệ dần dần đã có đầy đủ các chức năng trong trao đổi, trong thanh toán, trong dự trữ và chức năng tiền tệ thế giới Chính chức năng trao đổi và thanh toán quốc tế của tiền tệ đã là cơ sở cho việc hình thành và thực hiện các quan hệ tài chính quốc tế

+) Phân công lao động quốc tế cùng với lợi thế so sánh tuyệt đối và lợi thế

so sánh tương đối của mỗi quốc gia đã làm xuất hiện các quan hệ thương mại quốc tế Trong một thời kỳ dài của lịch sử thương mại quốc tế cùng với sự phát triển của các phương tiện thông tin, vận tải và sự phát triển của hệ thống tiền tệ quốc tế nên ngày nay thanh toán quốc tế trong các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, người ta sử dụng nhiều đồng tiền của những quốc gia có nền kinh tế mạnh làm thước đo để tính toán Trong quá trình xác định phương tiện dùng trong thanh toán quốc tế và xử lý mối quan hệ giữa các đồng bản tệ, các quốc gia khác nhau có thể lựa chọn các chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau Các quan hệ kinh tế càng phát triển, càng đa dạng thì các quan hệ tài chính quốc tế cũng càng phát triển; ngày nay tài chính quốc tế còn có các công

cụ tài chính cho phép thúc đẩy các quan hệ kinh tế quốc tế

+) Thương mại quốc tế càng phát triển thì cũng xuất hiện ngày càng nhiều những người mua, bán chịu làm xuất hiện những tổ chức trung gian thực hiện cho vay quốc tế

+) Trong điều kiện hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng, điều kiện sống ngày càng nâng cao và phương tiện giao thông ngày càng phát triển thì hoạt động hợp tác lao động, hoạt động du lịch quốc tế ngày càng phát triển làm cho các hoạt động tài chính quốc tế trong các lĩnh vực này trở nên sôi động

1.2 Nội dung của tài chính Quốc tế

Nội dung của các quan hệ tài chính quốc tế có thể xem xét theo các bộ phận cấu thành khác nhau dưới đây

1.2.1 Theo các quan hệ tiền tệ

Theo các quan hệ tiền tệ, tài chính quốc tế được chia thành:

Trang 8

a) Các quan hệ thanh toán quốc tế: Thanh toán gắn với thương mại quốc

tế, gắn với hợp tác quốc tế về văn hóa, du lịch, lao động quốc tế; gắn với hợp tác quốc tế về chính trị, ngoại giao

Chủ thể tham gia thanh toán là các ngân hàng thương mại, các cá nhân, tổ chức, Chính phủ ở các nước

b) Viện trợ quốc tế không hoàn lại: Đây là hình thức đầu tư quốc tế gián

tiếp bao gồm viện trợ song phương, viện trợ đa phương, viện trợ của các tổ

chức phi chính phủ

Chủ thể nhận viện trợ có thể là chính phủ, tổ chức kinh tế - xã hội hoặc địa phương Chủ thể cho viện trợ là chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ

c) Quan hệ tín dụng quốc tế Chủ thể tham gia có thể là tất cả các chủ thể

kinh tế xã hội của mỗi quốc gia và các tổ chức quốc tế, chủ yếu là các tổ chức tài chính – tín dụng quốc tế Tín dụng nhà nước quốc tế là hình thức mà trong

đó nhà nước là một bên của quan hệ tín dụng

d) Quan hệ đầu tư chứng khoán quốc tế Là một hình thức đầu tư quốc tế

gián tiếp, các chủ thể có nguồn tài chính đầu tư dưới hình thức mua chứng khoán trên thị trường tiền tệ, thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu quốc tế

để hưởng lợi tức nhưng không tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu

e) Quan hệ đầu tư quốc tế trực tiếp Là hình thức đầu tư mà chủ thể đầu

tư ở một nước bỏ toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn đầu tư vào một quốc gia khác để nắm một phần hay toàn bộ một doanh nghiệp ở quốc gia đó Có rất nhiều hình thức đầu tư trực tiếp khác nhau Chủ thể tham gia có thể là một tổ chức kinh tế, cá nhân, công dân của các quốc gia

1.2.2 Theo các qũy tiền tệ

a) Các quỹ tiền tệ trực thuộc các chủ thể của từng quốc gia

b) Các quỹ tiền tệ trực thuộc các tổ chức khu vực

c) Các quỹ tiền tệ thuộc các tổ chức quốc tế toàn cầu

Trang 9

1.2.3 Theo chủ thể tham gia hoạt động tài chính quốc tế

a) Hoạt động tài chính quốc tế của các tổ chức kinh tế

b) Hoạt động tài chính quốc tế của các ngân hàng thương mại

c) Hoạt động tài chính quốc tế của các công ty kinh doanh bảo hiểm d) Hoạt động tài chính quốc tế của các công ty chứng khoán

e) Hoạt động tài chính quốc tế của Chính phủ

f) Hoạt động tài chính quốc tế của các cá nhân, hộ gia đình

1.2.4 Căn cứ vào các yếu tố kinh tế vĩ mô

+) Tỷ giá hối đoái và các vấn đề về chế độ tỷ giá, cơ chế xác định tỷ giá và các nhân tố quyết định tỷ giá, chính sách tỷ giá của Chính phủ các nước

+) Cán cân thanh toán quốc tế với các vấn đề về lý thuyết, chính sách, các nhân tố ảnh hưởng, nội dung và vai trò của cán cân thanh toán quốc tế

+) Hệ thống tiền tệ quốc tế và các thị trường tiền tệ quốc gia chủ yếu

+) Nợ nước ngoài

Trang 10

Chương 2 THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI 2.1 Tổng quan về thị trường ngoại hối

2.1.1 Khái niệm và đặc điểm

lý, có các loại chủ thể khác nhau tham gia và thường thực hiện một số loại giao dịch nhằm mục tiêu lợi nhuận dựa trên sự biến động của tỷ giá hối đoái Thị trường ngoại hối cũng tạo ra cơ chế để các doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro hối đoái, thực hiện các hoạt động tín dụng có hiệu quả nhất

2) Phạm vi địa lý của thị trường ngoại hối

Thị trường ngoại hối có phạm vi toàn cầu với các trung tâm giao dịch trên thế giới Tuy nhiên thị trường ngoại hối phụ thuộc vào múi giờ nên chu kỳ mở của và đóng của theo trật tự từ Đông sang Tây ( Sơ đồ 2.1)

Wellington và Sydney Totyo, Hongkong, Singapore Bahrain

Frankfurt, Zurich, London New York, San Francico, Los Angeles

Sơ đồ 2.1 : Trật tự mở và đóng của của các trung tâm giao dịch ngoại hối

Do khác biệt về múi giờ nên các thị trường ở các múi giờ khác nhau thường không cùng phiên giao dịch, điều này cho phép các thị trường có thể trở thành thị trường chuyển tiếp, thị trường vận động từ Đông sang Tây nên các trung tâm giao dịch ngoại hối có thể nối kết với nhau 24 giờ/24 giờ

Chúng ta biết rằng, một trong những điểm khác nhau cơ bản

3) Đặc điểm của thị trường ngoại hối

Trang 11

1 Thị trường ngoại hối không nhất thiết phải tập trung tại một vị trí địa lý hữu hình nhất định, mà là bất cứ đâu diễn ra hoạt động mua bán các đồng tiền khác nhau, do đó nó còn được gọi là thị trường không gian (Space market)

2 Đây là thị trường toàn cầu hay thị trường không ngủ Do sự chênh lệch múi giờ giữa các khu vực trên thế giới nên các giao dịch diễn ra suốt ngày đêm Thị trường bắt đầu hoạt động từ Australia, Nhật, Singgapore, Hongkong, Châu

ÂU, New York và cứ như vậy khi thị trường khu vực châu Á đóng của thì thị trường châu Mỹ bắt đầu, hoạt động theo một chu kỳ khép kín toàn cầu

3 Trung tâm của thị trường ngoại hối là thị trường liên ngân hàng với các thành viên chủ yếu là các ngân hàng thương mại, các nhà môi giới ngoại hối và các ngân hàng trung ương Doanh số giao dịch trên liên ngân hàng chiếm tới 85% tổng doanh số giao dịch ngoại hối toàn cầu

4 Các nhóm thành viên tham gia thị trường duy trì quan hệ với nhau liên tục thông qua điện thoại, mạng vi tính, telex và fax Do thông tin được truyền đi rất nhanh và hiệu quả, cho nên tuy các thành viên tham gia thị trường ở rất xa nhau nhưng họ vẫn có cảm giác đang cùng hoạt động dưới một mái nhà chung

5 Do thị trường có tính toàn cầu, thông tin cân xứng, khối lượng giao dịch cực lớn, công nghệ hoàn hảo, hàng hóa ( ngoại tệ) đồng chất ( Không có rủi ro

về bản thân hàng hóa), dẫn đến chi phí giao dịch rất thấp và hoạt động của thị trường trở nên hiệu quả Điều này được thể hiện ở chỗ các tỷ giá niêm yết trên các thị trường hầu như là thống nhất với nhau Nghĩa là mức chênh lệch tỷ giá giữa các thị trường là không đáng kể

6 Đồng tiền được sử dụng nhiều nhất trong giao dịch là USD, chiếm 41,5% trong tổng số các đồng tiền tham gia ( điều này cũng có nghĩa là có tới 83% các giao dịch trên thị trường ngoại hối là có mặt của USD) Như vật, USD đóng vai trò là đồng tiền trung gian trong trao đổi trên thị trường ngoại hối, các giao dịch mua bán hầu hết phải qua USD

7 Đây là thị trường rất nhạy cảm với các sự kiện chính trị, kinh tế, tâm lý, nhất là với các chính sách tiền tệ của các nước phát triển

Trang 12

8 Doanh số mua bán ròng toàn cầu, tại thời điểm năm 2000 ước tính vào khoảng 1500 tỷ USD/ngày; thị trường hoạt động tích cực nhất là London, sau

đó là New York, Tokyo, Singapore, Frankfurt, Đây là thị trường lớn nhất và

có doanh số giao dịch cao nhất

2.1.2 Chức năng của thị trường ngoại hối

Thị trường ngoại hối ngoài những chức năng của thị trường tiền tệ, có ba chức năng cơ bản trong thương mại quốc tế

1 Chuyển đổi sức mua của đồng tiền: Các doanh nghiệp và cá nhân thường nắm giữ các loại tiền khác nhau và khi tham gia thị trường, nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ là rất lớn Chẳng hạn một nhà xuất khẩu của Nhật Bản có thể bán ô tô Toyota cho một nhà nhập khẩu Brazil, nhà xuất khẩu có thể yêu cầu nhà nhập khẩu thanh toán bằng đồng Yên Nhật Bản, đồng Cruso (Cuzeiros) Brazil hoặc đồng tiền của nước thứ ba như Đô la Mỹ Để thanh toán được nhà nhập khẩu phải tham gia thị trường ngoại hối để chuyển đổi tiền tệ

2 Cung cấp tín dung: Nhu cầu về tín dụng luôn tồn tại do sự không cân bằng cung cầu về vốn và các nhân tố khác trong quá trình sản xuất kinh doanh,

do đó, cung cấp tín dụng và sử dụng tín dụng là tất yếu Hầu hết các khoản tín dụng đều thực hiện dưới hình thức tiền tệ nên cần phải thông qua thị trường ngoại hối

3 Giảm thiểu rủi ro hối đoái: Thị trường ngoại hối cung cấp những kỹ thuật " Tự bảo hiểm" (Hedging) để giảm thiểu rủi ro do biến động tỷ giá Thị trường ngoại hối cũng cung cấp các phương thức giao dịch để giảm thiểu rủi ro đối với các khoản ngoại tệ đã nhận được hoặc sẽ nhận được của doanh nghiệp

4 Thị trường ngoại hối là nơi để ngân hàng trung ương tiến hành can thiệp

để tỷ giá biến động theo chiều hướng có lợi cho nền kinh tế

2.1.3 Những thành viên tham gia thị trường ngoại hối

1 Nhóm khách hàng mua bán lẻ (Retail Clients)

Nhóm khách hàng mua bán lẻ bao gồm các công ty nội địa và đa quốc gia, những nhà đầu tư quốc tế và tất cả những ai có nhu cầu mua bán ngoại hối

Trang 13

- Thứ nhất: Chuyển đổi tiền tệ

- Thứ hai: Phòng ngừa rủi ro tỷ giá

Ví dụ: Nhà nhập khẩu cần mua ngoại tệ để thanh toán hóa đơn nhập khẩu khi bằng ngoại tệ; nhà xuất khẩu cần bán ngoại tệ khi nhận được hóa đơn xuất khẩu ghi bằng ngoại tệ; khách du lịch có nhu cầu bán ngoại tệ lấy đồng nội tệ để chi tiêu,

Như vậy, nhóm khách hàng mua bán lẻ có nhu cầu mua bán ngoại tệ để phục vụ cho mục đích hoạt động của mình chứ không nhằm mục đích kinh doanh ngoại hối ( kiếm lãi khi tỷ giá thay đổi) Thông thường, nhóm khách hàng mua lẻ không giao dịch trực tiếp với nhau mà thường mua bán thông qua các ngân hàng thương mại

Lý do mà các nhà mua bán lẻ không giao dịch trực tiếp với nhau để giảm chi phí chênh lệch tỷ giá so với giá mua bán qua ngân hàng là vì:

- Không khớp với nhau về mặt thời gian

- Không khớp với nhau về mặt không gian

- Không khớp với nhau về mặt tiền tệ

- Không khớp với nhau về mặt số lượng

- Rủi ro trong thanh toán

- Rủi ro trong tín dụng

Ngoài ra, các ngân hàng thương mại phải cạnh tranh với nhau trong mua bán ngoại tệ nên chênh lệch tỷ giá mua bán là rất nhỏ, do đó, nếu mua bán không chuyên nghiệp (mua bán không qua ngân hàng) thì có thể phát sinh lỗ so với mua bán qua ngân hàng

2 Các ngân hàng thương mại ( Commercial Banks)

Các ngân hàng thương mại tiến hành giao dịch ngoại hối nhằm hai mục đích:

Thứ nhất: Cung cấp dịch vụ cho khách hàng, bằng cách mua hộ và bán hộ cho nhóm khách hàng mua lẻ Vì là mua bán hộ nên ngân hàng không phải bỏ vốn, không chịu rủi ro tỷ giá và không làm thay đổi kết cấu bảng cân đối tài sản

Trang 14

nội bảng Thông qua dịch vụ mua bán hộ, ngân hàng thu một khoản phí phổ biến ở dạng chênh lệch tỷ giá mua bán

Thứ hai: Kinh doanh cho chính mình, tức là mua bán ngoại hối nhằm kiếm lãi khi tỷ giá thay đổi Hoạt động kinh doanh này tạo ra trạng thái ngoại hối, do

đó ngân hàng phải bỏ vốn, chịu rủi ro tỷ giá và làm thay đổi kết cấu bảng cân đối nội bảng hoặc ngoại bảng của ngân hàng

Trên hệ thống liên ngân hàng, các ngân hàng giao dịch với nhau theo hai phương thức:

- Giao dịch trực tiếp giữa ngân hàng với nhau

- Giao dịch gián tiếp với nhau qua môi giới

3 Những nhà môi giới ngoại hối (foreign exchange brokers)

Ngày nay, ngoài hình thức mua bán ngoại hối trực tiếp giữa các ngân hàng với nhau, thì hình thức giao dịch gián tiếp thông qua nhà môi giới ngoại hối cũng rất phát triển Phương thức giao dịch qua môi giới có ưu điểm ở chỗ: Nhà môi giới thu thập hầu hết các lệnh đặt mua và lệnh đặt bán ngoại tệ từ các ngân hàng khác nhau, trên cơ sở đó cung cấp tỷ giá chào mua và tỷ giá chào bán cho khách hàng một cách nhanh chóng, rộng khắp với giá tay trong (inside rate) Tuy nhiên, giao dịch qua môi giới cũng có những nhược điểm là: Các ngân hàng phải trả cho nhà môi giới một khoản phí (gọi là brokerage fee), làm cho chênh lệch tỷ giá mua bán hẹp lại

Những ai muốn hành nghề môi giới ngoại hối phải có giấy phép Tại mỗi trung tâm tài chính quốc tế thường có một số nhà môi giới chuyên nghiệp nhất định để giúp các ngân hàng thực hiện các lệnh mua bán ngoại hối Điểm cần lưu

ý là các nhà môi giới chỉ cung cấp dịch vụ môi giới, chứ không được mua bán cho chính mình

4 Các ngân hàng trung ương (Central Banks)

Ngân hàng trung ương tham gia thị trường ngoại hối với ba mục đích sau: Thứ nhất: Can thiệp lên tỷ giá Nhìn chung, các ngân hàng trung ương không thờ ơ trước sự biến động của tỷ giá với đồng tiền do mình phát hành

Trang 15

từ năm 1973, nhưng trên thực tế, các ngân hàng trung ương vẫn thường xuyên can thiệp bằng cách mua và bán ra nội tệ trên thị trường ngoại hối nhằm ảnh hưởng tới tỷ giá theo hướng mà ngân hàng trung ương cho là có lợi cho nền kinh tế

Trong chế độ tỷ giá cố định, can thiệp của ngân hàng trung ương lên thị trường ngoại hối là bắt buộc nhằm duy trì tỷ giá trong một biên độ nhất định Ngân hàng trung ương tiến hành mua nội tệ vào khi cung nội tệ lớn hơn cầu nội tệ; và tiến hành bán nội tệ ra khi cầu nội tệ lớn hơn cung nội tệ trên thị trường ngoại hối, nhờ đó tỷ giá được duy trì cố định

Thứ hai: Mua bán, chuyển đổi tiền tệ nhằm bảo toàn và gia tăng giá trị dự trữ ngoại hối quốc gia Ngày nay, các ngân hàng trung ương trên thế giới luôn duy trì một lượng dự trữ ngoại hối nhất định Do tỷ giá của các đồng tiền dự trữ thường xuyên biến động, nên các ngân hàng trung ương một mặt phải đa dạng hóa cơ cấu dự trữ, mặt khác có thể tận dụng các cơ hội biến động tỷ giá nhằm gia tăng giá trị dự trữ ngoại hối của mình

Thứ ba: Ngân hàng trung ương còn làm đại lý trong việc mua hộ, bán hộ ngoại tệ cho chính phủ

Căn cứ vào hình thái tổ chức tham gia thị trường ngoại hối, mối quan hệ giữa các thành viên tham gia thị trường ngoại hối được biểu diễn bằng sơ đồ (hình 2.2 )

Hình 2.2 Mối quan hệ giữa các thành viên tham gia thị trường ngoại hối

2.1.4 Phân loại thị trường ngoại hối

NHTW

Môi giới

KH mua bán lẻ

Đặt lệnh

Đặt lệnh

Đặt lệnh giá tay trong

Đặt lệnh giá tay trong

Đấu giá mở

Hai chiều

Trang 16

Có nhiều tiêu chí phân loại thị trường ngoại hối

1 Căn cứ vào tính chất nghiệp vụ ta có

- Thị trường giao ngay

- Thị trường kỳ hạn

- Thị trường hoán đổi

- Thị trường tương lai

- Thị trường quyền chọn

2 Căn cứ vào tính chất kinh doanh ta có

- Thị trường bán buôn

- Thị trường bán lẻ

3 Căn cứ vào địa điểm giao dịch ta có

- Giao dịch tập trung trên sở giao dịch ( Exchange)

- Giao dịch phi tập trung (OTC)

4.Căn cứ vào tính chất pháp lý ta có

- Thị trường chính thức (thị trường hợp pháp)

- Thị trường phi chính thức (thị trường ngầm, chợ đen)

5 Căn cứ vào quy mô thị trường

- Thị trường ngoại hối quốc tế

- Thị trường ngoại hối nội địa

6 Căn cứ vào phương thức giao dịch ta có

- Thị trường giao dịch trực tiếp

- Thị trường giao dịch qua môi giới

2.2 Những vấn đề cơ bản trong kinh doanh ngoại hối

2.2.1 Các khái niệm

1 Tỷ giá trong kinh doanh (Exchange Rate)

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng Thương mại, đầu

tư và quan hệ tài chính quốc tế, đòi hỏi các quốc gia phải thanh toán với nhau Thanh toán giữa các quốc gia dẫn đến việc mua bán các đồng tiền khác nhau, đồng tiền này lấy đồng tiề kia Hai đồng tiền được mua bán vớia nhau theo một

Trang 17

tỷ lệ nhất định, tỷ lệ này được gọi là tỷ giá Vậy có thể định nghĩa: Tỷ giá: "là

giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác"

Ví du: 1 USD đổi lấy 21.890 VND, có nghĩa là 1 USD có giá là 21.890 Việt Nam Đồng

Ký hiệu tỷ giá: Tùy theo tính chất nghiệp vụ, mà tỷ giá được ký hiệu thích hợp Cụ thể là:

- Tỷ giá chung được ký hiệu là chữ "E" – Echange

- Tỷ giá giao ngay được ký hiệu là chữ "S" – Spot

- Tỷ giá kỳ hạn được ký hiệu là chữ "F" – Forward

- Tỷ giá quyền chọn được ký hiệu là chữ "X" – eXercise

2 Đồng tiền yết giá, đồng tiền định giá

Trong tỷ giá có hai đồng tiền, một đồng tiền đóng vai trò là đồng tiền yết giá, còn đồng tiền kia đóng vai trò là đồng tiền định giá

- Đồng tiền yết giá (Commodity Currency – ký hiệu là "C"): là đồng tiền

có số đơn vị cố định và bằng 1 đơn vị

- Đồng tiền định giá (Terms Currency – ký hiệu là "T"): Là đồng tiền có số

đơn vị thay đổi, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường

Ví dụ: 1USD = 21.890 VND, trong đó USD là đồng yết giá; VND đồng tiền định giá

3 Ngân hàng yết giá và ngân hàng hỏi giá

Trên thị trường liên ngân hàng, trong mói giao dịch có hai đối tác tham gia đều là ngân hàng, đó là ngân hàng yếta giá và ngân hàng hỏi giá

- Ngân hàng yết giá (Quoting bank): là ngân hàng thực hiện niêm yết tỷ

giá mua vào và tỷ giá bán ra Với tỷ giá được yết, ngân hàng yết giá phải luôn sẵn sàng mua vào hay bán ra vô điều kiện khi các ngân hàng khác (là đối tác, là khách hàng) muốn giao dịch

- Ngân hàng hỏi giá (Asking bank): Là ngân hàng liên hệ với ngân hàng

yết giá để hỏi giá Với giá được yết, nếu chấp thuận, ngân hàng hỏi giá sẽ tiến hành giao dịch, ngược lại thì giao dịch không xảy ra

Trang 18

- Một ngân hàng có thể đồng thời là ngân hàng yết giá và ngân hàng hỏi giá trên hệ thống liên ngân hàng

4 Yết tỷ giá hai chiều (two – way quotation)

Trong kinh doanh ngoại hối, các ngân hàng luôn yết giá hai chiều, bao gồm: chiều mua vào (tỷ giá mua) và chiều bán ra (tỷ giá bán) Tỷ giá mua đứng trước, còn tỷ giá bán đứng sau Tỷ giá mua thấp hơn tỷ giá bán Chênh lệch giữa chúng là thu nhập gộp của ngân hàng, bao gồm: chi phí hoạt động và phần lợi nhuận của ngân hàng

2.2.2 Phân loại tỷ giá

- Tỷ giá mua vào – Bid Rate : Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua vào đồng tiề yết giá

- Tỷ giá bán ra – Offer Rate: Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá

- Tỷ giá giao ngay ( tỷ giá cơ sở) – Spot Rate: Là tỷ giá được hình thành theo quan hệ cung cầu trực tiếp trên thị trường ngoại hối và luôn có sẵn, được thỏa thuận ngay hôm nay, và việc thanh toán xảy ra sau hai ngày làm việc tiếp theo

- Tỷ giá phái sinh – Derivative Rate: Gồm các tỷ giá áp dụng trong các hợp đồng: kỳ hạn, hoán đổi, tương lai và quyền chọn Tỷ giá phái sinh không được hình thành theo quan hệ cung cầu trực tiếp trên thị trường ngoại hối, mà là kết quả tính toán từ các thông số có sẵn trên thị trường như: Tỷ giá giao ngay, mức lãi suất của hai đồng tiền, Tỷ giá phái sinh thuộc loại tỷ giá có thời hạn, nghĩa

là được thỏa thuận ngay hôm nay, nhưng việc sử dụng thanh toán xảy ra sau đó

từ ba ngày làm việc trở lên

- Tỷ gía mở cửa – Opening Rate: Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng giao dịch đầu tiên trong ngày

- Tỷ giá đóng của – Closing Rate: Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng cuối cùng được giao dịch trong ngày Thông thường ngân hàng không công bố tỷ giá của tất cả các hợp đồng đã được ký kết trong ngày, mà chỉ công bố tỷ giá đóng

Trang 19

cửa Tỷ giá đóng của là một chỉ tiêu chủ yếu về tình hình biến động tỷ giá trong ngày Tỷ giá đóng của hôm nay không nhất thiết là tỷ giá mở cửa hôm sau

- Tỷ giá chéo – Crosed Rate: Là tỷ giá giữa hai đồng tiền được suy ra từ đồng tiền thứ ba (gọi là đồng tiề trung gian)

- Tỷ giá chuyển khoản – Transfer Rate : Tỷ giá chuyển khoản áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ là các khoản tiền tiền gửi tại ngân hàng

- Tỷ giá tiền mặt – Bank Note Rate: Tỷ giá tiền mặt áp dụng áp dụng cho ngoại tệ kim loại, tiền giấy, séc du lịch và thẻ tín dụng Thông thường tỷ giá mua tiền mặt thấp hơn và tỷ giá bán tiền mặt cao hơn so với tỷ giá chuyển khoản

- Tỷ giá điện hối: Là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện Ngày nay do ngoại hối được chuyển chủ yếu là bằng điện nên tỷ giá niêm yết nên tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng là tỷ giá điện hối

- Tỷ giá thư hối: Là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư ( Không phổ biến và ngày nay hầu như không dùng)

2.2.3 Các phương pháp yết tỷ giá

1 Yết tỷ giá trực tiếp

Về mặt nguyên lý thì yết tỷ giá trực tiếp không khác gì với yết giá hàng hóa thông thường trực tiếp Nếu lấy Việt Nam làm ví dụ, thì VND đóng vai trò

là tiền tệ còn các ngoại tệ đóng vai trò là hàng hóa, do đó yết giá trực tiếp hàng hóa thông thường và yết giá trực tiếp ngoại tệ là như nhau Ví dụ 1Kg gạo = 10.000 VND và 1 USD = 21.890 VND

Như vậy, phương pháp yết giá trực tiếp là phương pháp yết giá ngoại tệ xét

từ góc độ quốc gia, trong đó:

- Ngoại tệ, với vai trò là hàng hóa (Commodity Currency), là đồng tiền yết giá, có số đơn vị cố định bằng 1 đơn vị

- Nội tệ, với vai trò là tiền tệ ( Terms Currency), là đồng tiền định giá, có

số đơn vị thay đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối

2 Yết giá gián tiếp

Trang 20

Về mặt nguyên tắc, nếu xét từ góc độ quốc gia thì yết giá gián tiếp không khác gì yết giá gián tiếp hàng hóa thông thường Nếu xét từ gốc độ quốc giá là Việt Nam ta có:

3 Yết tỷ giá trong thực tế

a/ Về đồng tiền yết giá và đồng tiền định giá:

Cho đến nay chưa có văn bản pháp lý bắt buộc nào quy định một đồng tiền

cụ thể nào đó phải đóng vai trò là đồng yết giá hay định giá Tuy nhiên, thực tế với vai trò nổi bật của nền kinh tế Mỹ, cho nên thị trường liên ngân hàng, các tỷ giá đều được yết với giá USD, trong đó:

Bảng 2.1 Biểu diễn quan hệ yết tỷ giá

Đồng tiền trung gian Các đồng tiền còn lại

Trang 21

- USD đóng vai trò là đồng tiền yết giá đối với tất cả các đồng tiền khác ( trừ 5 đồng tiền dưới đây)

- USD đóng vai trò là đồng tiền định giá đối với 5 đồng tiền là: GBP, AUD, NZD, EUR và SDR

Chính vì vậy khi yết giá, ngân hàng thương mại cũng như màn hình Reuter người ta không thể hiện USD, mà vẫn không có sự nhầm lẫn nào

Ví dụ: JPY = 121,23 VND = 21.890 EUR = 1,2485

b/ Về tỷ giá trực tiếp và tỷ giá gián tiếp

- Tất cả quốc gia trên thế giới đều áp dụng phương pháp yết tỷ giá trực tiếp ( ngoại trừ 4 trường hợp dưới đây)

- Các nước Anh, New Zealand, Úc và các nước đồng tiền chung EURO là dùng phương pháp yết tỷ giá gián tiếp

- Riêng nước Mỹ vừa áp dụng phương pháp yết tỷ giá trực tiếp và gián tiếp, trong đó:

+ Trực tiếp với các ngoại tế GBP, AUD, NZD, EUR, và SDR

+ Gián tiếp với tất cả các ngoại tệ còn lại

Trang 22

2.2.4 Điểm tỷ giá, cách đọc và cách viết tỷ giá

1 Điểm tỷ giá

Trong giao dịch mua bán ngoại tệ, đối với người mua ngoại tệ, thì số chữ

số thập phân được yết càng ít càng giảm được chi phí; ngược lại đối với người bán thì số chữ số thập phân được yết càng nhiều càng có lợi

Ví dụ: 1USD = 21890,123456 VND

Điều này cho thấy, đối với người mua USD, thì càng lấy nhiều chữ số thập phân thì càng tăng chi phí; còn đối với người bán càng lấy nhiều chữ số thập phân thì càng có lợi Do đó phát sinh mâu thuẫn quyền lợi về số chữ thập phân được yết trong tỷ giá là bao nhiêu? Để cả người mua người bán chấp nhận được, và mỗi lần mua bán không phải thỏa thuận lại, thì số chữ thập phân trong

tỷ giá phải dung hòa được quyền lợi của hai bên Trong thực tế, số chữ số trong một tỷ giá được hình thành theo thông lệ đó, và là một số cố định, và thường bao gồm 5 chữ số ý nghĩa từ trái qua phải

Điểm tỷ giá là đơn vị (thông thường là đơn vị thập phân) cuối cùng của tỷ giá được yết theo thông lệ trong các giao dịch ngoại hối

Vì tương quan giá trị giữa các đồng tiền là khác nhau, nên các tỷ giá khác nhau có chữ số thập phân được yết cũng khác nhay, Ví dụ:

1EUR = 1,2309 USD -> 1 điểm có nghĩa là 0,0001 USD

1USD = 127,62JPY -> 1 điểm có nghĩa là 0,01 JPY

Đối với các đồng tiền chính, thông thường được yết với 4 chữ số thập phân, cho nên số thập phân thứ 4 (0,0001) gọi là điểm tỷ giá của các đồng tiền này

Đối với những nhà kinh doanh chuyên nghiệp, trong một số trường hợp khi giao dịch với khối lượng lớn thì họ có thể thỏa thuận thêm một chữ số sau điểm

tỷ giá, chữ số đứng sau Points gọi là Pips

Đối với tỷ giá nghịch đảo thì số chữ số thập phân sau dấu phảy của tỷ giá nghịch đảo bằng số chữ số trước dấu phải của tỷ giá nghịch đảo cộng với 3

2 Cách đọc và cách viết tỷ giá

Trang 23

Khi đọc một tỷ gia ta chia tỷ giá thành nhiều cụm để đọc, hai chữ số cuối đọc là điểm (points), hai chữ số tiếp theo đọc là số (feagurs) Ví dụ AUD/USD

= 0,6667 đọc là sáu sáu số - sáu bảy điểm

Tỷ giá có nhiều cách viết:

- Cách viết đầy đủ : 1USD = 21.890 VND

- Cách viết gọn: USD/VND = 21.890

- Cách viết chuyên nghiệp: VND = 21.890

Nếu là tỷ giá mua và tỷ giá bán:

- Cách viết đầy đủ: USD/VND = 21.890 – 21.980

hay VND =21.890 – 21.980

- Cách viết gọn: USD/VND = 21.890/980 hay VND = 21.890/980

- Cách viết chuyên nghiệp USD/VND = 890/980

hay VND = 890/980

Trong cách viết này, các nhà kinh doanh chỉ yết điểm tỷ giá, còn các số đứng trước ít biến động đã được thị trường ngầm hiểu và chấp nhận Tuy nhiên, nếu thị trường biến động, làm thay đổi ba chữ số đứng trước thì phải yết đầy đủ

để tránh hiểu lầm

2.2.5 Tỷ giá mua, bán và lãi kinh doanh ngoại hối

Có rất nhiều sự nhầm lẫn giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán, vì trong mỗi giao dịch ngoại hối có hai đối tác, hai tỷ giá và hai đồng tiền Những nhà kinh doanh chuyên nghiệp sử dụng tỷ giá mua và tỷ giá bán nhằm kiếm lợi nhuận thông qua việc tạo thị trường và kinh doanh chênh lệch giá mỗi khi có cơ hội phát sinh

1 Tỷ giá mua và tỷ giá bán

Tỷ giá mua là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua đồng tiền yết giá Tỷ giá bán là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán đồng tiền yết giá Với cách viết hai chiều, thì tỷ giá đứng trước gọi là tỷ giá mua và tỷ giá đứng sau gọi là tỷ giá bán

Ngân hàng hỏi giá sẽ tiến hành giao dịch ngược lại với ngân hàng yết giá Nếu ngân hàng yết giá mua USD thì ngân hàng hỏi giá bán USD và ngược lại

Trang 24

Nếu ngân hàng hỏi giá muốn mua USD từ ngân hàng yết giá thì phải trả cho ngân hàng yết giá theo tỷ giá bán Nếu ngân hàng hỏi giá muốn bán USD cho ngân hàng yết giá, sẽ được ngân hàng yết giá thanh toán theo giá mua

2 Chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán

Chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ bán gọi là spread Để có được thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối, ngân hàng yết tỷ giá sao cho tỷ giá mua vào thấp hơn tỷ giá bán ra

Chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán được xác định bằng số tuyệt đối bằng

tỷ giá bán trừ đi tỷ giá mua ví dụ : chênh lệch tỷ giá của USD của ngân hàng ngoại thương Việt Nam bằng = 21.980 – 21880 = 10VND tức là 10 điểm Điều này có nghĩa là nếu ngân hàng yết giá đồng thời vừa mua vừa bán 1 USD thì tiền chênh lệch sẽ là 10 VND

Chênh lệc tỷ giá được tính theo số tương đối (%) =(Tỷ giá bán – tỷ giá mua)/tỷ giá mua *100%

Tỷ lệ này không cố định cho tất cả các giao dịch và cho mọi đồng tiền mà phụ thuộc vào

- Số lượng ngoại tệ trong giao dịch: số lượng giao dịch ngoại tệ càng lớn thì chênh lệch tỷ giá càng nhỏ

- Tầm cỡ cũng như sự nổi tiếng của trung tâm tài chính càng lớn thì chênh lệch tỷ giá càng nhỏ

- Tính ổn định khoặc không ổn định của các đồng tiền tham gia giao dịch Các đồng tiền có giá trị ổn định thì giao dịch với chênh lệch tỷ giá càng nhỏ, càng bất ổn định thì chênh lệch tỷ giá càng lớn

- Tỷ trọng của đồng tiền trong giao dịch: những đồng tiền được giao dịch nhiều như EUR, GBP, thì chênh lệch nhỏ hơn

- Phương tiện giao dịch là tiền mặt, hối phiếu, séc, kỳ phiếu, thẻ tín dụng hay chuyển khoản

Nếu ngân hàng đồng thời mua và bán một số lượng như nhau, thì ngân hàng sẽ thu được lợi nhuận mà không cần bỏ một đồng vốn nào Nếu ngân hàng

Trang 25

nhiên, mở rộng chênh lệch tỷ giá không phải là việc làm tùy tiện, khi mở rộng chênh lệch tỷ giá sẽ không hấp dẫn khách hàng Do đó để nâng cao năng lực cạnh tranh các ngân hàng thường có xu hướng là thu hẹp chệnh tỷ giá mua bán ngoại tệ Như vậy, một ngân hàng muốn tăng doanh số giao dịch thì một trong các yếu tố quyết định là thu hẹp chênh lệch tỷ giá

3 Lãi (Lỗ) trong kinh doanh ngoại hối

Lãi (Lỗ) trong kinh doanh ngoại hối phát sinh thông qua việc mua và bán các đồng tiền tại các mức tỷ giá khác nhau Nếu lượng mua vào và bán ra của đồng tiền là không đổi, thì Lãi (Lỗ) trong kinh doanh ngoại hối là chênh lệch của đồng tiền định giá trong giao dịch

Đối với ngân hàng yết giá, việc đồng tiền mua vào và bán ra đồng tiền yết giá hay đồng tiền định giá đều thu được lãi do chênh lệch tỷ giá, còn đối với ngân hàng hỏi giá, thì việc đồng thời mua vào và bán ra một đồng tiền nhất định

sẽ bị lỗ

2.2.6 Tỷ giá nhà môi giới

Nhà môi giới là những người tạo điều kiện để người mua và người bán gặp nhau ở mức giá mà cả người mua và người bán cùng chấp nhận Nhà môi giới giới thiệu giá chào mua cao nhất và giá chào bán thấp nhất, trên cơ sở đó thiết lập cơ chế yết giá hai chiều tốt nhất cho ngân hàng hỏi giá Quy tắc về tỷ giá giao dịch qua môi giới:

- Một ngân hàng có thể chỉ đặt lệnh mua, chỉ đặt lệnh bán hay đồng thời

Trang 26

Bằng cách liên lạc với nhà môi giới để hỏi giá, các nhân hàng có được tỷ giá nhà môi giới một cách nhanh chóng so với việc các ngân hàng giao dịch trực tiếp với nhau Các nhà môi giới thu một khoản phí thông qua các dịch vụ của mình gọi là phí môi giới Tỷ giá nhà môi giới còn gọi là giá tay trong, vì thông qua nhà môi giới biết được giá tỷ giá chào mua và tỷ giá chào bán cạnh tranh nhất Tỷ giá nhà môi giới chỉ nêu ra tỷ giá tốt nhất mà không cho biết đó là tỷ giá đặt mua hay đặt bán của khách hàng nào

2.2.7 Mua bán hộ, đầu cơ và kinh doanh chênh lệch tỷ giá

1 Dịch vụ mua hộ và bán hộ cho khách hàng

Mua hộ là việc ngân hàng dùng tiền của khách hàng để mua một loại tiền

mà khách hàng có nhu cầu Ví dụ nhà nhập khẩu Việt Nam có nhu cầu về USD

để thanh toán tiền hàng nhập khẩu, đã nhờ ngân hàng mua hộ USD theo tỷ giá của thị trường

Bán hộ là việc ngân hàng bán hộ khách hàng một đồng tiền nhất định để lấy một đồng tiền khác Ví dụ nhà xuất khẩu Việt Nam muốn bán USD để có tiền VND thanh toán tiền hàng

Mua hộ, bán hộ là dịch vụ hai chiều diễn ra liên tục đối với một ngân hàng thương mại, do đó ngân hàng thương mại không cần ký hợp đồng với khách hàng về nội dung mua hộ và bán hộ, mà ngân hàng thương mại chỉ ký hợp đồng mua bán với khách hàng Nếu việc mua và bán diễn ra đồng thời với số lượng bằng nhau, thì ngân hàng không cần bỏ vốn, không chịu rủi ro tỷ giá, thu nhập của ngân hàng chính là chênh lệch tỷ giá mua vào và bán ra

2 Hành vi đầu cơ tỷ giá

Đầu cơ là hành vi mua vào mà chưa bán ra, hoặc bán ra mà chưa mua vào, nghĩa là hành vi mua và bán diễn ra tại hai thời điểm khác nhau nhằm có được chênh lệch tỷ giá Vì mua và bán tại hai thời điểm khác nhau, nên hành vi đầu

cơ phải chịu rủ ro tỷ giá và phải bỏ vốn kinh doanh

3 Kinh doanh chênh lệch tỷ giá

Là việc mà tại cùng một thời điểm mua một đồng tiền ở nơi giá thấp và

Trang 27

diễn ra tại cùng thời điểm, nên về mặt lý thuyết thì kinh doanh chênh lệch tỷ giá không chịu rủi ro và không phải bỏ vốn kinh doanh

Khi các ngân hàng đã nhận ra việc tỷ giá không thống nhất, thì ngay lập tức hoặc cả hai ngân hàng sẽ điều chỉnh tỷ giá mua của mình, điều này làm cho

cơ hội kinh doanh chênh lệch tỷ giá sẽ không còn

2.2.8 Tỷ giá chéo và kinh doanh tỷ giá chéo

1 Khái niệm

Khi nhận được yêu cầu của một doanh nghiệp xuất nhập khẩu muốn mua hoặc bán USD đối ứng bằng VND, cán bộ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng bạn chỉ việc sử dụng tỷ giá niêm yết có sắn giữa USD với VND trên FOREX để phục vụ khách hàng

Khi một khách hàng đến bán 1 USD, ngân hàng sẽ trả cho khách hàng 21.880 VND, còn khi khách hàng đến mua 1 USD ngân hàng sẽ nhân về 21.890 VND Vấn đề đặt ra là, khách hàng đến ngân hàng để mua hay để bán một đồng tiền nào đó không phải là USD, mà trên thị trường chỉ có sẵn tỷ giá của các đồng tiền với USD, mà không có sẵn tỷ giá giữa các đồng tiền khác nhau Do đó

để phục vụ khách hàng ngân hàng phải phải tính tỷ giá chéo Ví dụ: Nhà nhập khẩu đến mua JPY bằng VND trong khi trên FOREX chỉ có sẵn tỷ giá:

Tỷ giá chéo giữa hai đồng tiền bất kỳ trong đó không có USD được gọi là

tỷ giá chéo Tỷ giá chéo giữa hai đồng tiền bất kỳ được suy ra từ tỷ giá giữa chúng với USD; USD luôn đóng vai trò là đồng tiền trung gian, hay đồng tiền thứ ba

2 Lý do phải tính tỷ giá chéo

- Tồn tại đồng tiền ngang giá chung

Trang 28

Hiện nay có khoảng 180 đồng tiền khác nhau, nên trên thị trường ngoại hối, đồng tiền này đổi lấy đồng tiền kia một cách trực tiếp thì phải niêm yết tới 180x179 = 32.220 tỷ giá Một thị trường như vậy sẽ không hiệu quả, để thị trường giao dịch có hiệu quả nên thị trường đã hình thành nên đồng tiền ngang giá chung nhằm giảm số lượng tỷ giá phải nêm yết Giống như thị trường hàng hóa, đồng tiền ngàng giá chung USD nằm một bên, còn các đồng tiền khác một bên Tất cả các đồng tiền đều yết giá với USD, trong đó USD luôn đóng vai trò đồng yết giá từ 5 đồng tiền mạnh Để đơn giản coi E là tỷ giá của 1 USD

Tỷ giá của các đồng tiền với USD được hình thành theo quan hệ cung cầu khách hàng và luôn có sẵn trên thị trường, không cần phải tính toán Trong trường hợp muốn tính tỷ giá trực tiếp giữa hai đồng tiền bất kỳ E(C1/C2) là bao nhiêu thì ta phải tính tỷ giá chéo, suy ra từ giá cả của chúng tính bằng USD

- USD là đồng ngang giá chung

Nền kinh tế nước Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới, thương mại quốc tế của Mỹ cũng đóng vai cho chính trong việc chu chuyển vốn USD là đồng tiền vừa có chức năng nội địa và vừa có chức năng quốc tế nên nó đóng vai trò đồng tiền ngang giá chung Nó hội đủ các tiêu chí:

+ Là đồng tiền được tin tưởng làm phương tiện cất trữ giá trị

+ Là đồng tiền có khả năng thực hiện chức năng đơn vị tính toán và thanh toán trong thương mại Quốc tế

+ Là đồng tiền có thể sử dụng như một phương tiện trung gian trong chao đổi

Đồng tiền như vậy phải là đồng tiền luôn có sẵn và không hạn chế đối với người mua và người bán Thị trường mua và bán đồng tiền này luôn sẵn sàng ở bất cứ thời điểm nào và bất cứ đâu Đồng USD hội đủ các yết tố trên trong suốt thế kỷ 20 và cả hiện nay Các ngân hàng trung ương trên thế giới, bên cạnh dự trữ vàng, luôn duy trì dự trữ ngoại hối bằng mấy loại ngoại tệ khác nhau, nhưng USD luôn chiếm một tỷ trong nhất định Hầu hết các hàng hóa cơ bản trên thế giới đều được yết giá thông qua USD Đồng USD được sử dụng nhiều nhất

Trang 29

năng được chấp nhận rộng dãi nhất trên thị trường bán lẻ ở mọi nơi Giá trị của hầu hết các đồng tiền trên thế giới đều được biểu thị qua USD

3 Phương pháp xác định tỷ giá chéo

Trong trường hợp không có chênh lệch tỷ giá mua bán thì gọi là tỷ giá chéo gian đơn

Ví dụ: Nếu E(USD/VND) = 21.980 và E(USD/SGD) = 5,1324 Vậy tỷ giá chéo của E(SDG/VND) được tính như sau:

E(USD/VND) = 21.980 => 1USD = 21.980 VND

E(USD/SGD) = 5,1324 => 1USD = 5,1324 SGD

 5,1324 SGD = 21.980 VND

 1 SGD = 4.282 VND hay E (SGD/VND) = 4.242

2.2.9 Ngày giá trị trong giao dịch ngoại hối

Trong các hợp đồng ngoại hối, ngày ký kết hợp đồng và ngày các bên tham gia thực sự thanh toán cho nhau thường là khác nhau Ngày mà các bên thanh toán thực sự cho nhau gọi là ngày giá trị

Ngày giá trị quan trong nhất trên thị trường ngoại hối là ngày giá trị giao ngay Theo thông lệ, thì ngày giá trị giao ngay là ngày làm việc thứ hai sau ngày

ký hợp đồng Nếu gọi ngày ký hợp đồng là T, ngày giá trị giao ngay là T + 2 Ngoài ngày giá trị giao ngay trên thị trường ngoại hối có có các loại ngày:

- Ngày giá trị kỳ hạn: Những giao dịch ngoại hối có ngày giá trị xa hơn ngày giá trị giao ngay gọi là giao dịch kỳ hạn Theo thông lệ, ngày giá trị kỳ hạn

là ngày làm việc thứ hai sau hợp đồng kỳ hạn đến hạn Nếu hợp đồng kỳ hạn có thời hạn là n ngày (n lớn hơn hoặc bằng 1), thì ngày giá trị kỳ hạn là (T+n) +2

- Ngày giá trị ngày mai: Những giao dịch ngoại hối có ngày giá trị là là một ngày sau ngày ký hợp đồng gọi là ngày giá trị ngày mai ( T+1)

- Ngày giá trị hôm nay: Những giao dịch ngoại hối có ngày giá trị trùng với ngày ký kết hợp đồng gọi là ngày giá trị hôm nay = T

2.2.10 Trạng thái luồng tiền và rủi ro lãi suất

1 Khái niệm

Trang 30

- Luồng tiền dương: Các khoản thu nhận tiền từ người khác, không kể nguyên nhân phát sinh, gọi là luồng tiền dương hay luồng tiền vào Luồng tiền dương được tính cho một khoảng thời gian nhất định

- Luồng tiền âm: Các khoản tiền chi trả cho người khác, không kể nguyên nhân phát sinh gọi là luồng tiền âm Luồng tiền âm được tính cho một khoảng thời gian nhất định

- Trạng thái luồng tiền ròng: là chênh lệch giữa luồng tiền dương và luồng tiền âm tại một thời điểm Do đó nó phản ánh số dư tại một thời điểm

Từ các khái niệm này cho thấy: giao dịch trên thị trường tiền ( đi vay và cho vay) làm phát sinh luồng tiền dương và âm của một đồng tiền tại các thời điểm khác nhau Giao dịch trên thị trường ngoại tệ làm phát sinh luồng tiền dương và âm của hai đồng tiền tại cùng một thời điểm

2 Xác định trạng thái luồng

- Luông tiền ròng là chênh lệch giữa luồng tiền dương và âm tại một thời điểm Nếu gọi kỳ thanh toán luồng tiền là t0 –t1, trong đó:

+ Điểm xuất phát của kỳ tính toán là t0

+ Điểm kết thúc của kỳ thanh toán là t1.

Thì công thức tinhd trạng thái luồng tiền ròng tại thời điểm t1 là:

NETCF(t1) = PCF(t0 –t1) – NCF(t0-t1)

Trong đó:

PCF(t0 –t1) - Tổng luông tiền vào trong lỳ thanh toán (t0 –t1)

NCF(t0-t1) - Tổng luông tiền ra trong lỳ thanh toán (t0 –t1)

NETCF(t1) – Trạng thái luồng tiền ròng tại thời điểm (t1)

Nếu NETCF(t1) >0 là trạng thái luồng tiền ròng dương Trạng thái luồng tiền ròng dương phản ánh luồng tiền vào lớn hơn luồng tiền ra trong kỳ thanh toán Lượng tiền lớn hơn phát sinh có thể sử dụng để trả nợ hay đầu tư Nếu lãi suất thị trường tăng sẽ làm phát sinh lãi và nếu lãi suất giảm sẽ phát sinh lỗ Nếu NETCF(t1) < 0 là trạng thái luồng tiền ròng âm Trạng thái luồng tiền ròng âm phản ánh luồng tiền ra lớn hơn luồng tiền vào trong kỳ tính toán Nếu

Trang 31

lãi suất thị trường tăng sẽ phát sinh lỗ và nếu lãi suất thị trường giảm sẽ phát sinh lãi

Nếu NETCF(t1) = 0 là trạng thái luồng tiền cân bằng Trạng thái luồng tiền cân bằng xẩy ra khi luồng tiền vào bằng vơid luồng tiền ra trong kỳ tính toán Những thay đổi lãi suất thị trường không làm phát sinh lỗ hay lãi

- Trong thực tế luồng tiền ròng thường được tính tại thời điểm cuối mỗi ngày giao dịch, không tính riêng cho từng kỳ tính toán Công thức tính luồng tiền ròng cuối ngày giao dịch (t) là:

NETCF(t) = NETCF(t-1) + PCF(t) – NCF(t)

Trong đó:

NETCF(t-1): Trạng thái luồng tiền ròng cuối ngày (t-1)

PCF(t): Tổng luồng tiền vào trong ngày giao dịch (t)

NCF(t): Tổng luồng tiền ra trong ngày giao dịch (t)

NETCF(t): Trạng thái luồng tiền ròng cuối ngày giao dịch (t)

Như vậy, khi có luồng tiền ròng khác 0, thì doanh nghiệp phải chịu rủi ro lãi suất, khi lãi suất thị trường thay đổi sẽ làm phát sinh lỗ hay lãi

2.2.11 Trạng thái ngoại tệ và rủi ro tỷ giá

- Doanh số ngoại tệ âm: Các giao dịch làm giảm quyền sở hữu về một ngoại tệ làm phát sinh doanh số âm của ngoại tệ đó Doanh số âm (SFC) được tính cho một thời kỳ nhất định, do đó nó phản ánh doanh số giảm quyền sở hữu ngoại tệ trong kỳ tính toán

- Trạng thái ngoại tệ ròng: Là chênh lệch giữa tài sản nội bảng và tài sản ngoại bảng của một ngoại tệ tại một thời điểm Nếu tài sản nội bảng lớn hơn tài

Trang 32

sản ngoại bảng thì ngoại tệ ở trạng thái ròng dương; ngược lại, ngoại tệ ở trạng thái ròng âm Vì là trạng thái tại một thời điểm nên trạng thái ngoại hối ròng của một ngoại tệ phản ánh số dư của ngoại tệ đó tại thời điểm tính toán

- Thời điểm phát sinh trạng thái ngoại tệ: Là ngay tại thời điểm ký hợp đồng, chứ không phải tại thời điểm thanh toán Tương tự các giao dịch mua bán ngoại tệ kỳ hạn cũng tạo ra trạng thái ngoại tệ ngay lập tức sau khi ký hợp đồng chứ không phải tại thời điểm thanh toán

2 Phương pháp xác định trạng thái ngoại tệ

Trạng thái ngoại tệ ròng của ngoại tệ (F) tại thời điểm (t) được xác định như sau:

- Bằng chênh lệch giữa doanh số phát sinh doanh số ngoại tệ dương và doanh số ngoại tệ âm của ngoại tệ F trong một thời kỳ nhất định

NEPF(t) = LFCF(t0-t) – SFCF(t0 –t)

Trong đó:

NEPF(t) : Trạng thái ngoại tệ ròng của ngoại tệ F tại thời điểm t

LFCF(t0-t): Doanh số phát sinh dương ngoại tệ F trong kỳ

SFCF(t0 –t): Doanh số phát sinh âm ngoại tệ F trong kỳ

- Trong thực tế trạng thái ngoại tệ thường được tính tại thời điểm cuối mỗi ngày giao dịch, không tính riêng cho từng thời kỳ Cách tính như sau:

NEPF(t) = NEPF(t-1) + LFCF(t) – SFCF(t)

Trong đó:

NEPF(t): Trạng thái ngoại tệ ròng của ngoại tệ F cuối ngày giao dịch t NEPF(t-1):Trạng thái ngoại tệ ròng của ngoại tệ F cuối ngày giao dịch (t -1)

LFCF(t): Doanh số phát sinh dương ngoại tệ F trong ngày t

SFCF(t): Doanh số phát sinh âm ngoại tệ F trong ngày t

- Xét từ góc độ kế toán, trạng thái ngoại tệ ròng của ngoại tệ F tại thời điểm t được xác định như sau:

NEPF(t) = TSCF(t) – TSNF(t) ( bao gồm cả tài sản nội và ngoại bảng)

Trang 33

TSCF(t) : Tài sản có của ngoại tệ F tại thời điểm t

TSNF(t) : Tài sản nợ của ngoại tệ F tại thời điểm t

Thông thường, trạng thái của mỗi ngoại tệ được quy định bằng tỷ lệ % nhất định trên vốn tự có của ngân hàng thương mại

3 Trạng thái ngoại tệ và rui do tỷ giá

Khi có trạng thái ngoại tệ ròng khác 0 thì ngân hàng thương mại sẽ đối mặt với rủi co tỷ giá như: Nếu NEPF(t)> 0 thì ngoại tệ F ở trạng thái ròng dương Với tỷ giá được niêm yết sao cho ngoại tệ đống vai trò là đồng yết giá và nội tệ đong vai trò đồng định giá, thì khi tỷ giá tăng sẽ tạo ra lãi ngoại hối, và khi tỷ giá giảm sẽ phát sinh lỗ đối với ngân hàng thương mại Nếu NEPF(t) < 0, trạng thái ròng ngoại tệ ở trạng thái âm Trong trường hợp này tỷ giá tăng sẽ tạo lỗ, tỷ giá giảm sẽ phát sinh lãi ngoại hối cho ngân hàng thương mai Còn NEPF(t) = 0 thì ngoại tệ F ở trạng thái cân bằng, tỷ giá thay đổi không ảnh hưởng gì đến lỗ, lãi của ngân hàng thương mại

Trong số các giao dịch làm chuyển giao quyền sở hữu về ngoại tệ, thì hoạt động mua bán ngoại tệ của các ngân hàng trên thị trường ngoại hối là chủ yếu, nên người ta thường coi trạng thái ngoại tệ chỉ gồm trạng thái mua bán ngoại tệ của ngân hàng

4 Phân biệt trạng thái ngoại hối và trạng thái luồng tiền

Thường có nhiều nhầm lẫn giữa trạng thái ngoại tệ và trạng thái luồng tiền, nên cần có những tiêu chí để phân biệt hai trạng thái này

- Giao dịch trên thị trường tiền tệ làm phát sinh luồng tiền dương và âm của một đồng tiền tại thời điểm khác nhau; trong khi giao dịch trên thị trường ngoại hối làm phát sịnh luồng tiền dương và âm của hai đồng tiền tại cùng một thời điểm

- Giao dịch trên thị trường tiền tệ không tạo ra trạng thái ngoại tệ, vì hoạt động đi vay và cho vay bằng ngoại tệ không làm phát sinh sự chuyển giao quyền sở hữu về ngoại tệ Trong khi các hoạt động mua bán ngoại tệ tạo ra trạng thái ngoại tệ vì nó làm phát sinh sự chuyển giao quyền sở hữu về ngoại tệ

Trang 34

- Giao dịch mua bán ngoại tệ làm phát sinh đồng thời cả trạng thái ngoại tệ

và trạng thái luồng tiền Trạng thái luồng tiền ròng có thể làm cân bằng thông qua các giao dịch trên thị trường tiền tệ hay trên thị trường ngoại hối Nhưng trạng thái ngoại tệ ròng chỉ có thể làm cân bằng thông qua các giao dịch mua và bán ngoại tệ

2.3 Các nghiệp vụ giao dịch trên thị trường ngoại hối

Giao dịch trên thị trường ngoại hối có thể thực hiện theo phương thức giao dịch ngay, giao dịch có kỳ hạn và giao dịch hoán đổi Giao dịch ngay đòi hỏi việc chuyển giao ngoại tệ ngay lập tức Giao dịch có kỳ hạn đòi hỏi việc chuyển giao kỳ hạn nào đó trong tương lai Giao dịch hoán đối là hình thức đồng thời mua và bán ngoại tệ Ngoài ba phương thức giao dịch cơ bản, các phương thức kinh doanh ngoại hối khác như giao dịch quyền chọn, giao dịch tương lai, đầu

cơ ngoại hối và kinh doanh dựa vào chênh lệch lãi suất đều dựa trên ba loại giao dịch cơ bản

2.3.1 Nghiệp vụ giao ngay ( Spost Transaction)

Giao dịch ngay trên thị trường liên ngân hàng là phương thức mua bán ngoại tệ mà việc chuyển giao và thanh toán giữa hai ngân hàng sẽ được thực hiện, thông thường vào ngày thứ hai tiếp theo sau ngày giao dịch Chẳng hạn, một ngân hàng Mỹ ký hợp đồng vào thứ 2 bán 10.000.000 GBP cho một ngân hàng London Nếu tỷ giá giao ngay là 1,6984 USD/GBP thì ngân hàng Mỹ sẽ giao 10.000.000 GBP cho ngân hàng London vào thứ 4 và đồng thời ngân hàng Lodon sẽ chuyển 16.984.000USD cho ngân hàng Mỹ Tuy nhiên, giao dịch giữa ngân hàng với khách hàng thương mại sẽ không cần phải chờ đợi 2 ngày mà có thể thực hiện ngay vào ngày tiếp theo của ngày giao dịch Giao dịch ngay hiện nay chủ yếu được thực hiện trên thị trường liên ngân hàng

Tại Việt Nam, giao dịch giao ngay được thực hiên theo quyết định 17/1998/QĐ – NHNN ngày 10 tháng 01 năm 1998 Theo đó, giao dịch hối đoái giao ngay là giao dịch mua bán một số lượng ngoại tệ giữa hai bên theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong vòng 2 ngày làm

Trang 35

dụng yết tại thời điểm giao dịch, nằm trong biên độ giao động hiện hành do ngân hàng nhà nước quy định

Chi phí giao dịch giao ngay giữa ngân hàng và khách hàng do ngân hàng quy định Tuy nhiên, do giao dịch giao ngay giữa ngân hàng và khách hàng là nhằm tìm kiếm lợi nhuận cho ngân hàng và đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho các hoạt động kinh doanh hàng hóa dịch vụ của khách hàng nên các ngân hàng thường không thu riêng khoản phí giao dịch mà đưa phí giao dịch vào khoản chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán Do đó, chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán phải bù đắp được chi phí giao dịch, tạo lợi nhuận cho ngân hàng và phòng ngữa rủi ro Căn cứ để xác định chênh lệch tỷ giá giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán trong giao dịch giao ngay sẽ là:

- Tỷ lệ chênh lệch tỷ giá mua, tỷ giá bán của các thời kỳ trước và của các đồng tiền khác nhau

- Tính thanh khoản của ngoại tệ đó: tính thanh khoản cao thì rui ro thấp và ngược lại

- Mức độ biến động của tỷ giá hối đoái trong từng giai đoạn Khi tỷ giá biến động lớn, chênh lệch cao và ngược lại

Tùy theo loại giao dịch ngay mà mục đích và cơ chế giao dịch khác nhau Khách hàng goao dịch với ngân hàng để có loại tiền tệ cần thiết cho thanh toán các hàng hóa và dịch vụ Chẳng hạn một nhà nhập khẩu Việt Nam cần 1 triểu UER để thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu Pháp, nhà nhập khẩu sẽ thỏa thuận với một ngân hàng về nghiệp vụ giao dịch tỷ giá, cung cấp tài khoản của nhà nhập khẩu Việt Nam và tài khoản của nhà xuất khẩu Pháp Ngân hàng sẽ thành lập hợp đồng giao dịch giao ngay và gửi cho khách hàng, đồng thời liên

hệ với ngân hàng đại lý tại Pháp, yêu cầu trích tài khoản mở tại ngân hàng đại lý (Nostro Account) để thanh toán tiền tiền hàng cho nhà nhập khẩu Việt Nam Sau hai ngày làm việc, ngân hàng sẽ ghi nợ tài khoản của nhà nhập khẩu Việt Nam và đề nghị ngân hàng đại lý ghi có tài khoản nhà xuất khẩu tại Pháp Do nghiệp vụ này chỉ thực hiện sau hai ngày làm việc nên rủi ro có thể là nhà nhập khẩu bội ước hợp đồng mua ngoại tệ giao ngay nên cần phải lựa chọn các khách

Trang 36

hàng có tiềm lực, có uy tín trong kinh doanh và có thể là nhà nhập khẩu có tài khoản tại ngân hàng Giao dịch ngoại tệ giao ngay còn được sử dụng để đáp ứng nhu cầu mua bán ngoại tệ của khách hàng là các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu Chẳng hạn một công ty xuất khẩu và thu được USD nhưng cần VND cho hoạt động kinh doanh của mình, công ty sẽ phải thực hiện nghiệp vụ bán ngay USD cho ngân hàng và mua VND của Ngân hàng Giao dịch giao ngay giữa các ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng nhằm tìm kiếm lợi nhuận do chênh lệch tỷ giá giữa các đồng tiền và dẫn đến quân bình tỷ giá trên thị trường giao ngay

2.3.2 Nghiệp vụ ngoại hối kỳ hạn( Forward Transaction)

Giao dịch có kỳ hạn còn được gọi là giao dịch có kỳ hạn bắt buộc (Outright Forward) đòi hỏi chuyển giao vào một kỳ hạn nhất định một lượng ngoại tệ này để nhận một lượng ngoại tệ khác theo hợp đồng có kỳ hạn đã được

ký kết Tỷ giá hối đoái có kỳ hạn được quy định vào thời điểm ký hợp đồng và

áp dụng thanh toán khi đến kỳ hạn Tỷ giá hối đoái có kỳ hạn thường được xác định như giá trị đến hạn (Value date) của kỳ hạn đó Kỳ hạn có thể là 1,2,3,4 và

12 tháng, có thể có các kỳ hạn trên 1 năm nhưng không phổ biến do dự báo tỷ giá kỳ hạn dài là rất khó chính xác

Giao dịch có kỳ hạn có thể giao dịch dưới dạng mua có kỳ hạn hoặc bán có

kỳ hạn Ví dụ hợp đồng bán USD lấy GBP kỳ hạn 6 tháng được gọi là hợp đồng

" Mua GBP có kỳ hạn bằng USD" hoặc " Bán USD có kỳ hạn nhận GBP"

Giao dịch có kỳ hạn được thực hiện trên thị trường liên ngân hàng nhằm mục đích ký các hợp đồng bồi hoàn với các hợp đồng mà ngân hàng đã ký với các khách hàng không phải là ngân hàng ( cá nhân hay doanh nghiệp) Mục đích của các hợp đồng giao dịch có kỳ hạn này là để ngân hàng phân tán rủi ro trong kinh doanh Giao dịch có kỳ hạn còn được thực hiện giữa ngân hàng với các khách hàng không phải là ngân hàng (cá nhân hay doanh nghiệp) Các khách hàng này sử dụng giao dịch có kỳ hạn để chống rủi ro do thay đổi giá trị của khoản tiền phải trả hay nhận được trong tương lai từ giao dịch hàng hóa hay

Trang 37

Điểm cần lưu ý của giao dịch có kỳ hạn là lợi hay thiệt không phụ thuộc vào tỷ giá giao ngay vào thời điểm ký hợp đồng, tỷ giá giao ngay hiện tại chỉ là

cơ sở để đưa ra quyết định Lợi hay thiệt của hợp đồng có kỳ hạn phụ thuộc vào

sự thay đổi của đồng tiền mua bán theo xu hướng nào và mức lợi hay thiệt được xác định thông qua so sánh tỷ giá có kỳ hạn với tỷ giá giao ngay khi đến kỳ hạn của hợp đồng Giao dịch có kỳ hạn cũng không phải là hợp đồng nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, đó à hợp đồng nhằm tự bảo hiểm khoản tiền phải trả hoặc

sẽ nhận được khỏi rủi ro do biến động tỷ giá Lợi hay thiệt của giao dịch có kỳ hạn chỉ là để bù đắp cho hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ và gắn với sự thay đổi giá trị của đồng tiền của hợp đồng đó Giao dịch có kỳ hạn là giao dịch bắt buộc phải thực hiện nên khách hàng và ngân hàng đều phải tính toán lợi ích

có thể nhận được khi ký hợp đồng

2.3.3 Nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối (Swap Transaction)

Giao dịch hoán đổi ngoại tệ là nghiệp vụ đồng thời mua và bán một số lượng ngoại tệ nhất định với hai kỳ hạn khác nhau Giao dịch hoán đổi ngoại tệ

có thể thực hiện trên thị trường liên ngân hàng hoặc giữa ngân hàng với một khách hàng (cá nhân hay doanh nghiệp) Giao dịch hoán đổi ngoại tệ điển hình nhất là hoán đổi giao ngay với có kỳ hạn (Spot against forward) Một nhà kinh doanh tiền tệ sẽ mua một số lượng nhất định ngoại tệ trên thị trường giao ngay của một ngân hàng và đồng thời bán số ngoại tệ đó theo phương thức có kỳ hạn cho chính ngân hàng đó Cách thức giao dịch này thường được tiến hành với một ngân hàng, vì vậy, các nhà kinh doanh tiền tệ không phải gánh chịu rủi ro

về tỷ giá hối đoái Sự khác biệt giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá có kỳ hạn đã được biết thông qua niêm yết tỷ giá giao ngay và tỷ giá có kỳ hạn của ngân hàng

Ví dụ: Ngân hàng A mua 1 triêu GBP theo tỷ giá giao ngay 1,5670USD/GBP của ngân hàng B, đồng thời ngân hàng A ký hợp đồng bán 1 triệu GBP dod theo

tỷ giá có kỳ hạn 3 tháng là 1,5680 USD/GBP cho chính ngân hàng B Mục đích của giao dịch hoán đổi này là để giảm chi phí vốn của cả hai ngân hàng Ngân hàng A cần số vốn 1 triệu GBP trong kỳ hạn 3 tháng trong khi lại có số vốn

Trang 38

bằng USD tương ứng và 3 tháng sau lại cần lại số vốn USD đó Đối với ngân hàng B, nhu cầu sử dụng vốn lại ngược lại với ngân hàng A Như vậy, ngân hàng A và ngân hàng B cần tính toán lợi ích của giao dịch hoán đổi trên cơ sở

so sánh chênh lệch lãi suất và chênh lệch tỷ giá hối đoái giao ngay và tỷ giá hối đoái kỳ hạn Nghiệp vụ hoán đổi giao ngay với có kỳ hạn cũng có thể được thực hiện giữa các doanh nghiệp kinh doanh thương mại quốc tế với các ngân hàng Các doanh nghiệp sử dụng nghiệp vụ hoán đổi để đáp ứng nhu cầu về vốn mua hàng hóa, dịch vụ bằng các loại tiền khác nhau trong từng thời kỳ khác nhau Đồng thời giảm được chi phí vốn nếu như sử dụng giao dịch vụ giao dịch hoán đổi

Một hình thức giao dịch hoán đổi ngoại tệ phức tạp hơn là hoán đổi có kỳ hạn với có kỳ hạn (Forward – Forward swap), còn được gọi là nghiệp vụ kỳ hạn hai chiều.Chẳng hạn, một doanh nghiệp kinh doanh thương mại quốc tế có thể bán 20 triệu GBP kỳ hạn hai tháng để nhận USD theo tỷ giá có kỳ hạn 2 tháng

là 1,6880USD/GBP cho một ngân hàng và đồng thời mua lại 20 triệu GBP bằng USD với kỳ hạn 3 tháng theo tỷ giá có kỳ hạn 3 tháng là 1,6820 USD/GBP của chính ngân hàng đó Về thực chất giao dịch này được xem xét là kỳ thuật vay vốn bằng các đồng tiền khác nhau để đáp ứng nhu cầu sử dụng của các bên tham gia giao dịch Vì vậy, cả hai bên tham gia giao dịch hoán đổi ngoại tệ cần phải xem xét đến mối quan hệ giữa chênh lệch lãi suất và chênh lệch tỷ giá Nếu chênh lệch lãi suất đúng bằng chênh lệch tỷ giá (lý thuyết cân bằng lãi suất thực hiện) thì không bên nào bị thiệt do nghiệp vụ hoán đổi Nhưng nếu lãi suất không cân bằng thì một bên tham gia giao dịch bị thiệt do khác biết lãi suất không bù đắp được khác biệt tỷ giá và khi đó phải xem xét lợi ích sử dụng vốn

để quyết định

Giao dịch hoán đổi còn được sử dụng như một công cụ phòng ngừa rủi ro

tỷ giá hối đoái Nếu không sử dụng dịch vụ hoán đổi, các doanh nghiệp tham gia thị trường ngoại hối buộc phải mua hoặc bán các loại ngoại tệ để có được loại tiền tệ đáp ứng nhu cầu kinh doanh và do đó gánh chịu hai khoản thiệt hại

Trang 39

mua bán trên thị trường Giao dịch hoán đổi sẽ giúp cho các nhà kinh doanh thương mại quốc tế có được loại ngoại tệ mong muốn để sử dụng trong dài hạn không chịu rủi ro do thay đổi tỷ giá

Tại Việt Nam, giao dịch hoán đổi tiền tệ được thực hiện theo quyết định số 17/1998/QĐ – NHNN7 ngày 10 tháng 01 năm 1998 Giao dịch hoán đổi đã giúp cho các ngân hàng thương mại giải quyết được nhu cầu về vốn để thực hiện các hoạt động kinh doanh và tín dụng mà không cần thông qua mua bán trên thị trường và giảm được thiệt hại do biến động tỷ giá

2.3.4 Nghiệp vụ tiền tệ tương lai (Future Transaction)

Giao dịch tương lai là một thỏa thuận mua bán một số lượng ngoại tệ nhất định theo tỷ giá cố định tại một thời điểm cố định được xác định bởi trung tâm giao dịch Giao dịch tương lai (còn gọi là giao dịch giao sau) cũng tương tự như giao dịch hàng hóa

Giao dịch tương lai được thực hiện bới thị trường tiền tệ quốc tế Chicago (International Monetary Market (IMM) of Chicago) lần đầu tiên năm 1972 như

là một bộ phận của sở giao dịch hàng hóa Chicago Đến năm 1985, hợp đồng giao dịch giữa Sở giao dịch tiền tệ Chicago được thực hiện với Sở giao dịch tiền

tệ Singapore ( Singapore International Monetary Exchange – SIMEX) Hiện nay giao dịch tương lai đã được thực hiện bởi nhiều Sở giao dịch tiền tệ như New York Future Exchange, là một chi nhánh của New York Stock Exchange,

London International Financial Futures Exchange và nhiều quốc gia khác trên thế giới

Giao dịch tương lai hiện chưa được thực hiện tại Việt Nam Tuy nhiên khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO, dịch vụ ngân hàng đã được cam kết mở cửa cho các ngân hàng nước ngoài, đồng thời các ngân hàng thương mại trong nước, các doanh nghiệp thương mại quốc tế đứng trước đòi hỏi khách quan về nâng cao hiệu quả kinh doanh và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh sẽ sớm đưa loại hình này vào thực hiện Nhận thức về giao dịch tương lai đã rõ ràng, trình độ của các nhà kinh doanh được nâng lên, cơ sở hạ tầng công nghệ

và pháp lý cho giao dịch tương lai đang được hoàn thiện và mức độ hiệu quả

Trang 40

của giao dịch tương lai đã được khẳng định là cơ sở để đưa giao dịch tương lai vào thực hiện

Đặc trưng cơ bản của giao dịch tương lai là tiêu chuẩn hóa trên các phương diện sau:

- Đồng tiền giao dịch: Chỉ áp dụng cho một số ngoại tệ là AUD, GBP, JPY, CHF, EUR

- Quy mô thị trường: Trên thị trường Chicago, quy mô hợp đồng là 100.000AUD, 62.500GBP, 100.000CAD, 12.500.000 JPY, 125.000 EUR, 12.500.000 CHF

- Phương pháp yết tỷ giá: Yết giá kiểu Hoa Kỳ được sử dụng trên thị trường Chicago, nghĩa là giá USD của một đơn vị ngoại tệ

- Ngày đến hạn: Trên thị trường Chicago, các hợp đồng đến hạn vào ngày thứ tư tuần thứ ba của các tháng 1, tháng 3, tháng 4, tháng 6, tháng 7, tháng 9, tháng 10, và tháng 12

- Ký quý: Người mua phải ký quỹ một khoản ban đầu như khoản bảo đảm thực hiện hợp đồng (Perfromance Bond) bằng thư tín dụng ngân hàng ( Bank's letter of credit), trái phiếu kho bạc hoặc tiền mặt Đồng thời người mua cũng phải ký quỹ một khoản để duy trì hợp đồng

- Thanh khoản hợp đồng: Chỉ khoảng 5% số hợp đồng tương lai đã ký được thanh khoản khi đến kỳ hạn bằng cách chuyển tiền giữa người mua và người bán, số hợp đồng còn lại thường được người mua và người bán thanh khoản bù trừ hàng ngày trước khi đến hạn Hợp đồng tương lai có thể được thanh khoản hàng ngày và thực hiện nghiệp vụ ký hợp đồng bồi hoàn (Offset contract)

- Hoa hồng: Khách hàng phải trả hoa hồng cho người môi giới tại các sở giao dịch để nối kết các hợp đồng tương lai Tại các sở giao dịch chỉ niêm yết một tỷ giá cho người mua và người bán giao dịch, điều này khác với thị trường liên ngân hàng, niêm yết tỷ giá mua, tỷ giá bán và không thu phí

- Phòng giao hoán (Clearing House): Tất cả các hợp đồng tương lai đều

Ngày đăng: 07/06/2020, 23:10

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w