1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

nghiên cứu tách chiết và tìm hiểu tính chất của chất kháng sinh có nguồn gốc từ một số chủng xạ khuẩn phân lập tại Thái Nguyên

59 1,1K 17
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tách chiết và tìm hiểu tính chất của chất kháng sinh có nguồn gốc từ một số chủng xạ khuẩn phân lập tại Thái Nguyên
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Hóa học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 466,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nghiên cứu tách chiết và tìm hiểu tính chất của chất kháng sinh có nguồn gốc từ một số chủng xạ khuẩn phân lập tại Thái Nguyên

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÓM TẮT

Cây Lược vàng có tên khoa học là Callisia fragrans (Lindl) Woodson, thuộc họ

Thài lài (Commelinaceae) Cây Lược vàng có xuất xứ từ Trung và Nam Mỹ, bắt đầuđược trồng làm cảnh ở Nga từ hơn 100 năm trước Năm 2007, Lược vàng di thực từNga sang Việt Nam dưới hình thức là cây cảnh, lúc đầu ở Thanh Hóa, giờ đây câyLược vàng đã nhanh chóng lan ra các tỉnh thành khác trong cả nước

Từ 2007 đến nay Lược vàng được người dân xem như là một thần dược, có tácdụng chữa được nhiều chứng bệnh từ thông thường đến nan y Tuy nhiên người dânchỉ sử dụng theo kinh nghiệm hoặc dựa vào các bản dịch từ tiếng Nga sang Cho đếnnay chỉ có một số tài liệu công bố về thành phần hóa học của cây Lược vàng Trong

đó, có những kết quả không giống nhau, như công bố của viện dược liệu Việt Nam thìtrong cây Lược vàng có chứa thành phần flavonoid là kaempferol và quercetin, nhưngtheo nghiên cứu mới đây của Đại học Dược Hà Nội thì xác nhận là tuy có flavonoidnhưng không có 2 loại chất này Tại An Giang, hiện nay vẫn chưa có tài liệu nàonghiên cứu về cây này Nhằm kiểm tra xem cây Lược vàng được trồng tại địa phương

ra sao, cùng với khoảng thời gian ngắn nên tôi chỉ tiến hành khảo sát thành phần hóahọc của cây Lược vàng trên cao trích clorofom

Qua quá trình thực nghiệm, sau khi tiến hành trích li và cô lập các chất hữu cơtrong phân đoạn cao trích clorofom Tôi đã cô lập được một hợp chất ở phân đoạn M3của cao trích này, chất này có dạng tinh thể hình kim màu trắng, sắc kí bản mỏng (hệgiải ly hexan: etyl axetat[7:3], hiện hình bằng H2SO4 đặc) cho một vết màu nâu tímvới giá trị Rf=0,65, lúc đầu tạm đặt tên là MC5, sau đó nhờ ứng dụng các phươngpháp vật lý (phổ MS, 1H-NMR, 13C-NMR) chúng tôi đề nghị hợp chất này là hỗn hợpcủa -Sitosterol và stigmasterol

Hi vọng trong tương lai, nếu có điều kiện tôi sẽ tiến hành khảo sát kĩ hơn và sửdụng cột sắc kí lớn hơn, để quá trình phân lập được lượng chất nhiều hơn tiện lợi choviệc tiến hành khảo sát tiếp theo

Trang 2

…đến những bệnh nan y như ung thư, tiểu đường, tim mạch,…Vấn đề đặt ra là phảinghiên cứu rõ hơn về cây Lược vàng, đặc biệt là thành phần hóa học của nó để xácđịnh xem thật sự nó có tác dụng như dân gian truyền miệng không.

Tuy nhiên, cho đến nay ngoài những bản dịch về kinh nghiệm chữa trị của câyLược vàng từ tiếng Nga sang tiếng Việt thì ở Việt Nam chỉ có một số tài liệu nghiêncứu khoa học công bố về thành phần hóa học của cây Lược vàng Trong số nhữngnghiên cứu được công bố này, việc đưa ra thành phần hóa học một cách định tính vềcây Lược vàng cũng có những điểm không giống nhau Như công bố của viện dượcliệu Việt Nam thì trong cây Lược vàng có chứa thành phần flavonoid là kaempferol vàquercetin, tuy nhiên theo nghiên cứu mới đây của Đại học Dược Hà Nội thì xác nhận

là tuy có flavonoid nhưng không có 2 loại chất này Điều khác biệt này được cho làcây Lược vàng được trồng ở những nơi khác nhau, điều kiện sống khác nhau sẽ cóthành phần hóa học khác nhau Bên cạnh đó, tại An Giang hiện nay vẫn chưa có mộtcông trình nào nghiên cứu trên cây này

Với những lí do trên, nhằm kiểm tra xem thành phần hóa học của cây Lược vàngtrồng ở địa phương ra sao, cùng với điều kiện của phòng thí nghiệm Hoá học –

Trường ĐHAG, và trình độ của bản thân, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xác định

thành phần hóa học trên cao clorofom của cây Lược vàng_Callisia fragrans (Lindl.) Woodson” được trồng tại xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An

Giang

2 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu:

- Khách thể nghiên cứu: cây Lược vàng được trồng tại xã Lương Phi, huyện TriTôn, tỉnh An Giang

- Đối tượng nghiên cứu: thành phần hóa học trên cao clorofom của lá cây Lượcvàng

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:

Trang 3

Lược vàng, các phương pháp định tính và khảo sát thành phần hóa học của chúng.

- Góp phần làm giàu kiến thức về việc nghiên cứu khoa học các hợp chất thiênnhiên

3.2 Nhiệm vụ của đề tài:

- Giới thiệu chung về nguồn gốc, đặc điểm, thành phần hoá học và một vài côngdụng của cây Lược vàng

- Tìm hiểu quy trình trích ly các chất hữu cơ trong cây Lược vàng và sau đó tiếnhành khảo sát thành phần hóa học trên cao clorofom của cây Lược vàng bằng cáchtrích ly, cô lập rồi định danh chất cô lập được

- Viết báo cáo các kết quả thực nghiệm

- Tìm hiểu các đặc điểm thực vật, thành phần hóa học của cây Lược vàng Tìmhiểu quy trình trích ly và cô lập các chất hữu cơ

- Giúp hiểu thêm về tính chất, thành phần hoá học và công dụng cây Lược vàng

- Làm nguồn tài liệu tham khảo cho độc giả quan tâm

7 Thời gian thực hiện đề tài:

Từ ngày 17/11/2010 đến 25/04/2011

8 Dàn ý của khóa luận:

Trang 4

PHẦN I: MỞ ĐẦU

PHẦN II: NỘI DUNG

Chương I: Phần tổng quan

I.1 Giới thiệu về họ Thài lài và chi Callisia

I.2 Giới thiệu chung về cây Lược vàng

I.3 Giới thiệu một số nhóm chất thiên nhiên

Chương II: Cơ sở lý thuyết

II.1 Cơ sở lý thuyết về phương pháp chiết

II.2 Cơ sở lý thuyết của phương pháp sắc kí

II.3 Quy trình chung trích ly các chất hữu cơ

II.4 Một số phương pháp định tính các nhóm chất thiên nhiên

Chương III: Thực nghiệm

III.1 Nguyên liệu, hóa chất, dụng cụ

III.2 Quy trình điều chế các loại cao

III.3 Định tính một số nhóm chất hữu cơ trong cây Lược vàng III.4 Phân lập các chất hữu cơ trên cao clorofom của cây Lược vàng III.5 Khảo sát cấu trúc hóa học của hợp chất cô lập được

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Phụ lục

Tài liệu tham khảo

Trang 5

PHẦN II

NỘI DUNG

CHƯƠNG I: PHẦN TỔNG QUAN

I.1 GIỚI THIỆU VỀ HỌ THÀI LÀI VÀ CHI CALLISIA:[16]

Để hiểu rõ hơn về cây Lược vàng, tôi xin trình bày thêm về đặc điểm thực vật

của họ Thài lài và chi Callisia:

I.1.1 Đặc điểm thực vật của họ Thài lài: (hình 1, 2)

Họ Thài lài có các đặc điểm sau:

Cây thảo mọc nhiều năm, lá có bao bẹ ở gốc mỏng thường có gân, mọc so lehình trái xoan, ngọn giáo hoặc hình dải, không cuống

Hoa thường có màu lam hoặc màu vàng, có khi màu trắng, tập hợp thành ximhai ngả nằm trong một cái mo Bao hoa có 6 phiến, 3 cái ngoài tồn tại, 3 cái trongdạng cánh, 6 nhị, có khi 3 do có 3 nhị tiêu biến một phần hoặc toàn bộ và biến đổithành nhị lép, chỉ nhị rời hoặc rất ít khi dính, bao phấn đính gốc, 2 ô song song thườngsát nhau, mở bằng khe nứt dọc hay ít khi mở bởi lỗ ở đỉnh Bầu thượng không cuốnghay có cuống, 3 ô, ít khi 2, mỗi ô chứa 2 noãn

Quả nang, thường mỏng, mở dọc lưng của các ô, ít khi nạc và không mở Hạtthường dày đặc có mặt sát dẹp, ở trên một hoặc hai hàng phần lớn xù xì, có cạnh lồi,hay mạng, nội nhũ giàu, có bột, phôi nhỏ, ở mép hay gần mép

Họ Thài lài phân bố chủ yếu là ở nhiệt đới, cận nhiệt đới và vùng ôn đới nóng.Cây phân bố ở các bãi hoang, đất ẩm, bờ nước, một số ít làm cây cảnh

I.1.2 Đặc điểm của chi Callisia: (hình 3, 4)

Theo tiến sỹ Võ Văn Chi , chi Callisia gồm 12-20 loài có nguồn gốc Trung và

Nam Mỹ, nhiều loài được trồng làm cây cảnh ở nhiều nước Châu Mỹ, Châu Âu,Australia

Chi Callisia có những đặc điểm: Cây thảo sống lâu năm, không có thân rễ, thân

cây mọc thẳng lên hoặc bò sát mặt đất Lá xếp thành hai hàng hoặc xếp theo hình xoắn

ốc Hoa mọc ở ngọn hoặc ở nách lá, thành từng đôi một hoặc tụ tập lại thành một cụm,thường ít khi đơn độc Tổng bao lá bắc không giống mo, cuống nhỏ và rất ngắn Hoamọc đối xứng tỏa tròn Đài 2 hoặc 3, rời nhau Tràng 2 hoặc 3, rời, hình mũi mác Bộnhị (1-3) hoặc 6, đều phát triển, gần bằng nhau, ít khi 1 hoặc nhiều nhị bị tiêu biến.Chỉ nhị trơn nhẵn, bao phấn có ô tròn, nứt ra theo chiều dọc, trung đới rộng và vuông,hình tam giác, hoặc hình chữ nhật hiếm khi hẹp Bầu thuôn, hình tam giác, 2 hoặc 3 ô,

Trang 6

mỗi ô 2 noãn Quả nang, 2 hoặc 3 ngăn, mỗi ngăn (1 hoặc 2) hoặc 3 noãn, hình trụngắn, tiết diện hình tam giác, nhăn nheo và có khía trải rộng ra, rốn hình cầu.

Hình 1: Thài lài tía Hình 2: Rau trai lá dài

(Tradescantia pendula (Schnizl.) D.R Hurnt) (Commelina longgifolia Lam)

Hình 3: Callisia Warszewicziana Hình 4: Callisia elegans

I.2 GIỚI THIỆU VỀ CÂY LƯỢC VÀNG: (hình 5)

I.2.1 Nguồn gốc, xuất xứ:[17]

Cây Lược vàng có xuất xứ từ Trung và Nam Mỹ Tên khoa học là Callisia

Trang 7

fragrans (Lind) Woodson, thuộc họ Commelinaceace (Thài lài), do nhà khoa học Mỹ

R.E Woodson xác định năm 1942 Lược vàng bắt đầu được trồng làm cảnh ở Nga từhơn 100 năm trước Tại Nga, cây có tên thông dụng là “Dôlôtôi us” có nghĩa là “Sợirâu vàng” Năm 2007, Lược vàng di thực từ Nga sang Việt Nam dưới hình thức là câycảnh, lúc đầu ở Thanh Hóa, giờ đây cây Lược vàng đã nhanh chóng lan ra các tỉnhthành trong cả nước Nếu như ở nước ta, Lược vàng còn được gọi bằng những tênkhác nhau như: “Lan vòi”, “Địa lan vòi”, “cây Bạch tuột”, “Giả khóm”,… thì ở Nga,cây cũng có nhiều tên gọi như: “Ka-li-di-a thơm”, “Sâm nhà”, “Vệ nữ”, “Bác sĩ giađình”,… Một chi tiết đáng lưu ý là tại Nga cây Lược vàng không được phát triển tốtnhư ở Việt Nam

I.2.2 Phân loại khoa học:[6],[21]

Tên khoa học: Callisia fragrans (Lindl.) Woodson.

Thuộc họ: Thài lài (Commelinaceae)

Phân loại khoa học

Phân loại khoa học

Trang 8

Hình 5: Cây Lược vàng

Cây thảo, sống lâu năm Thân đứng cao từ 15-40 cm, có thân bò ngang trên mặt đất Thân chia đốt và có nhánh Đốt ở phía thân dài từ 1-2 cm, ở nhánh có thể dài tới

10 cm

Lá đơn, mọc so le, phiến lá thuôn hình ngọn giáo (15-20 cm x 4-6 cm), bề mặt

Trang 9

nhẵn, mặt trên xanh đậm hơn mặt dưới, mọng nước Bẹ lá ôm khít lấy thân Mép lánguyên, thường có màu vàng khi lá già Gân lá song song Lá thường có màu tím ởnhững cây có nhiều ánh sáng.

Hoa hợp thành xim, sắp xếp ở ngọn một trục dài và cong thành chùm Cụm hoa không cuống, gồm 6-12 bông Hoa màu trắng, cuống hoa dài 1mm Lá bắc ngoài cụm hoa hình vỏ trấu (1cm x 1cm), màu vàng Lá bắc của hoa hình lòng thuyền, kích thước1,5 mm x 3 mm, phần dưới trắng, phần trên xanh, mép nguyên Đài 3, hình trứng, rời nhau (3 cm x 1,5 cm) Phần dưới xanh, phần trên có màu tím, mép nguyên, có lông mịn phía dưới Tràng 3, hình trứng, kích thước khoảng 1mm x 2,5 mm, màu trắng, mép nguyên Nhị 6, rời, chỉ nhị dài khoảng 1,5 mm, phần dưới dính với cánh hoa, bao phấn hình hạt đậu, kích thước khoảng 1/3 x 1/4 mm, đính vào hai bên trung đới Bầu trên, 3 ô, cao khoảng 0,5 mm, vòi nhụy hình trụ, dài khoảng 1,5 mm, núm nhụy hình chổi (hình 6,7)

A Cụm hoa và lá bắc B Một bông hoa C Đài hoa

D Lông ở lá đài E Cánh hoa F Nhị

G Bầu H Mặt cắt ngang của bầu

Trang 10

Hình 6: Các bộ phận của hoa Lược vàng

Hình 7: Hoa Lược vàng

I.2.4 Điều kiện sinh thái và cách trồng:[22]

Cây Lược vàng là loại cây rất dễ trồng, có thể bẻ các chồi của cây hoặc cắt khúcthân cây dài từ 6-7 cm, sau đó cắm xuống đất hoặc trong nước chờ cho các khúc thânđâm rễ thì có thể đem trồng Cây Lược vàng sống tốt trong môi trường đất ẩm (nhưngkhông quá ẩm sẽ bị úng) nên thường xuyên tưới nước mỗi ngày một lần từ 5-6 giờchiều Cây cần có ánh nắng để phát triển nhưng nếu nắng quá gay gắt cây phơi nắng

cả ngày sẽ bị héo và chết nhất là vào tháng 5-6 âm lịch

Khi trồng cây Lược vàng làm thuốc nên trồng riêng một nơi tránh trồng chungvới những cây khác (vì rễ cây của các loại khác nhau đan vào nhau làm nhiễm các

Trang 11

chất trong quá trình hấp phụ, hấp thụ vào cây) Cũng không nên bón phân hóa học vàocây vì sẽ làm cây bị nhiễm các chất hóa học không mong muốn, mà chỉ nên bón phânchuồng, phân xanh,…

I.2.5 Thành phần hóa học:[16],[18],[19],[23],[25]

Theo một số tài liệu, các nhà khoa học Viện hóa học các hợp chất thiên nhiên,Viện hàn lâm khoa học nước cộng hòa Uzbekistan ở Tashkent, cũng như Viện dượcliệu Việt Nam đã nghiên cứu, cây Lược vàng có thành phần hóa học như sau:

- Lipid gồm các nhóm glycolipid và phospholipid trung hòa: triacylglyceride,sulfolipid, digalactosyglycerides,…

- Các thành phần của axit béo: paraffinic, olefinic

- Axit hữu cơ

- Các sắc tố caroten, chlorophyl

- Phytosterol

- Đường tự do, polisaccharic

- Các vitamin: vitamin PP, vitamin B2, và các nguyên tố vi lượng: Fe, Cr, Ni, Cu,

và gãy xương Ngoài ra còn chữa bệnh ngoài da, liken, vết loét và khối u mới sinh.Các chế phẩm từ Lược vàng cũng có công dụng cải thiện sự nghiện rượu và thuốc lá

Ở Việt Nam, có ít tài liệu nghiên cứu và chưa có nghiên cứu chuyên sâu về câyLược vàng, người dân lại sử dụng nó theo kinh nghiệm dân gian của Nga từ các bảndịch và truyền miệng Theo dân gian truyền miệng, Lược vàng có thể chữa trị cácbệnh như: viêm răng, lợi, niêm mạc miệng, viêm họng Rượu ngâm thân Lược vàngchữa các bệnh khối u nội tạng, điều trị sau phẫu thuật, bệnh dạ dày, vôi hóa cột sống,đường tiết niệu, tim mạch,…

I.2.6.2 Tác dụng:

Các nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng dược lí của Lược vàng đượctiến hành tại Đại học Y khoa thành phố Irkyt, khoảng thập niên 80 của thế kỉ XX,dưới sự chỉ đạo của GS Semenov, một nhà khoa học rất nổi tiếng, cho thấy: Trongcây Lược vàng có một số hoạt chất sinh học thuộc nhóm flavonoid và steroid thực vật.Ngoài ra, trong cây còn có sắt, đồng, crom,… là những nguyên tố có tác dụng quantrọng đối với hoạt động sống của cơ thể

Hai chất thuộc nhóm flavonoid được phát hiện là: quercetin và kaempferol

Trang 12

Quercetin có hoạt tính giống như vitamin P_ là chất chống oxi hóa, có tác dụng lợitiểu và chống co giật Có thể điều trị dị ứng, chảy máu nội tạng, viêm thận, viêmkhớp, cũng như một số bệnh tim mạch, mắt và nhiễm trùng Kaempferol có tác dụnglàm tăng độ bền của mạch máu, an thần, chống viêm, lợi tiểu mạnh-giúp cơ thể bàytiết các chất độc hại ra ngoài Có thể sử dụng để chữa trị các bệnh nhiễm khuẩn, bệnh

dị ứng, rối loạn chức năng bài tiết nước tiểu Các steroid có trong thực vật là cácphytosterol Chúng có hoạt tính tương tự như tiết tố sinh dục, còn có tác dụng diệtkhuẩn, chống sơ vữa động mạch và kiềm chế sự phát triển của các khối u Có thể ứngdụng trong điều trị một số dạng ung thư, cũng như các bệnh tuyến tiền liệt, bệnh nộitiết và rối loạn chuyển hóa

Tuy nhiên, cùng với những tác dụng có lợi nói trên, các nhà khoa học Nga cònnhận thấy, Lược vàng cũng là vị thuốc dễ gây tác dụng phụ (như gây tổn thương thanhquản, dị ứng nổi ban đỏ, phù nề tứ chi, phù toàn thân,…) Các phản ứng phụ đó haygặp nhất ở những người có khả năng miễn dịch yếu và có cơ địa dị ứng

Ở Việt Nam, tháng 6 năm 2008, tạp chí dược liệu đã đưa ra một số thông tin vềtác dụng của cây Lược vàng Viện dược liệu đã tiến hành nghiên cứu về thành phầnhóa học cũng như một số tác dụng của cây Lược vàng Kết quả của nghiên cứu đãđược nêu lên như sau:

- Tác dụng kháng khuẩn:

Cao chiết Lược vàng ở nồng độ ≥ 0,1171g/ml và cao chiết thân Lược vàng ở

nồng độ ≥ 0,1557g/ml có tác dụng kháng khuẩn với Staphylococus aureus tương

đương với Azithromicin ở nồng độ 0,20 µg/ml và 0,21 µg/ml

- Tác dụng chống viêm cấp:

Cao khô chiết từ lá và thân tươi Lược vàng cho chuột uống với liều tương đương50g dược liệu tươi/kg không có tác dụng chống viêm cấp trên mô hình gây viêm cấpthực nghiệm bằng Carragenin

- Thử độc tính cấp:

Cao chiết lá và thân Lược vàng gây chết chuột thí nghiệm ở liều tương đương từ

2100 - 3000g dược liệu tươi/kg thể trọng

LD50 = 2430 g dược liệu tươi/kg thể trọng

Quan điểm y học cho rằng: chỉ có thể sử dụng Lược vàng để chữa bệnh sau khiđược chuyên gia tư vấn

I.2.7 Một số bài thuốc từ cây Lược vàng:

Theo kinh nghiệm của nhiều người từng sử dụng Lược vàng và từ các bài dịch từtiếng Nga sang thì cây Lược vàng có những bài thuốc sau đây:

I.2.7.1 Các bài thuốc từ lá cây Lược vàng:

Chọn lá tươi dài khoảng 20 cm, rửa sạch, để ráo và sử dụng

a Ăn lá Lược vàng (có thể hấp cơm ăn):

- Mỗi ngày ăn 3 lần

- Mỗi lần từ 1-3 lá

Trang 13

- Ăn trước bữa ăn khoảng 30 phút.

b Uống nước lá Lược vàng:

- Lấy từ 3-9 lá Lược vàng

- Tán hoặc xay nhuyễn lá ra

- Sau đó đổ khoảng 1 lít nước sôi vào ngâm, đậy kín

- Chia làm 3 lần uống trong ngày trước bữa ăn khoảng 10 phút

 Các bài thuốc trên dùng chữa: viêm họng, viêm phế quản, viêm mũi dị ứng, chảymáu chân răng, dứt cơn đau và làm chắc răng, chữa đau dạ dày, tá tràng,…

c Dùng bã Lược vàng:

Lấy vài lá đã rửa sạch, vò nát, sau đó đắp lên chỗ vết thương ngoài da

 Dùng để cầm máu, trị lành vết thương, làm hết mủ, có cảm giác mát mà không xót

I.2.7.1 Các bài thuốc từ thân cây Lược vàng:

a Ngâm rượu cây Lược vàng:

Cắt một đoạn thân cây Lược vàng dài khoảng 12 đốt, sắc thành lát mỏng rồingâm với khoảng 2 xị rượu trắng Đậy kín và để trong bóng tối khoảng 10 ngày

b Cách uống:

- Uống trước bữa ăn khoảng 30 phút, ngày 1-2 lần

- Mỗi lần uống khoảng 1 muỗng canh

- Cứ uống một đợt 10 ngày rồi ngưng uống khoảng 7 ngày

- Sau khi ngưng uống 7 ngày xong thì tiếp tục uống đợt kế tiếp

 Dùng chữa các bệnh như bài thuốc về lá, ngoài ra dùng chữa vôi hóa cột sống, đaukhớp do bệnh gout, chữa trị sau phẫu thuật

 Chú ý: Không dùng các bài thuốc trên với liều quá cao, sẽ gây hạ huyết áp

I.2.7 Một số chế phẩm từ cây Lược vàng:

Ở Nga, cây Lược vàng còn được dùng để tạo ra các chế phẩm dạng viên nén vàdạng thuốc bôi da Ở Việt Nam, đã xuất hiện một loại trà có thành phần của cây Lượcvàng là trà túi lọc Tâm Lan (hình 8)

Trang 14

Hình 8: Các chế phẩm từ Lược vàng

I.3 GIỚI THIỆU MỘT SỐ NHÓM CHẤT THIÊN NHIÊN:

Dựa trên kết quả nghiên cứu được công bố về thành phần hóa học của cây Lượcvàng và tìm hiểu về những nhóm chất thiên nhiên, trong phân đoạn cao trích clorofomcủa cây Lược vàng có thể có những nhóm chất sau:

I.3.1 Steroid:

Steroid là một nhóm hợp chất tự nhiên phân bố rộng rãi trong động vật và thựcvật Steroid có cấu trúc là một hệ thống vòng cyclopentanoperhiđrophenanthren hoặctrong một vài trường hợp hiếm thấy ở dạng biến đổi của hệ thống vòng đó

Steroid gồm:

- Sterol: có thể hiện diện ở dạng tự do, hoặc ở dạng este, glycoside Đó là nhữngancol ở dạng tinh thể rắn, không màu, có trong động vật và thực vật Sterol hiện diệntrong tất cả các bộ phận của cây nhưng nhiều nhất ở các hạt có dầu Các sterol có cấu

Trang 15

trúc 27 đến 29 cacbon, và luôn chứa 1 nhóm –OH ở vị trí C3.

- Axit mật: được cô lập từ mật của động vật bậc cao Phần lớn các axit mật là dẫnxuất mono, đi, trihiđrôxi của axit cholanic hoặc axitallocholanic và tấc cả các axit mậtđều có nhóm –OH ở C3 định hướng

- Vitamin D: ergocaciferol là vitamin D2 trị bệnh còi xương

- Hormon giới tính: là những hợp chất do những tuyến nội tiết tiết ra và chỉ cầnmột lượng nhỏ là đủ cho các phản ứng sinh lý trong cơ thể Hormon giới tính đượcphân chia ra là -hormon sinh dục nữ: oestrogen, progestagen và –hormon sinh dụcnam: androgen

- Hormon của vỏ tuyến thượng thận: Có 28 steroid cô lập từ vỏ tuyến thượng thận

- Glycoside trợ tim: một hợp chất glycoside có cấu trúc steroid, có tác động dặchiệu đối với cơ tim được gọi là yếu tố trợ tim Người ta cô lập những glycoside trợ tim

từ những cây vùng nhiệt đới trong khoảng 10 họ thực vật, đặc biệt ở Việt Nam trongcác cây thuộc họ Trúc đào, học Thiên lý và họ Dâu tằm

Một số

Steroid thường gặp như:

Trang 16

I.3.2 Ankaloid:[1]

Ankaloid là nhóm các hợp chất thiên nhiên mà hầu hết là các dị vòng chứa nitơ,

có tính bazơ, chủ yếu có trong một số loài thực vật nhất định

Ankaloid có tính chất hoạt động sinh lý cao đối với cơ thể người và động vật, nhất

là đối với hệ thần kinh Với một lượng nhỏ có thể là một loại thuốc đặc hiệu, nhưngvới một lượng tương đối lớn nó là chất độc gây chết người

Các ankaloid có trong cùng một cây hoặc cùng một họ thực vật thường có cấu trúcgần giống nhau

Các ankaloid trong cây thường kết hợp với axit (như: axit oxalic, tactric, lactic,…)

để tạo muối

Ankaloid được phân loại theo 2 cách:

I.3.2.1 Cách 1: Theo thành phần nguyên tố trong phân tử, ankaloid được chia thành 4

I.3.2.2 Cách 2: Theo cấu tạo vòng cơ sở chứa dị tố N, phân ra thành các loại pirole,

imiđazole, piridin, quinolin, isoquinolin, tropan,…Ngoài ra người ta còn phân biệtankaloid với ankaloid phát sinh sinh vật tạo ra từ sự phân hủy xác động vật cây cối,chủ yếu là các amin mạch hở như metylamin, histamin và hodenin

Một số ankaloid tiêu biểu:

Trang 17

- Ankaloid loại imiđazole: điển hình là Pilocacpin có trong cây Pilocarpusjaborandi Holmes ở Châu Phi có tác dụng chống tăng nhãn áp và làm co hẹp conngươi mắt.

- Ankaloid loại piperidin: đại diện cho loại này là coniin và piperin Conoiin cótrong nấm conoium maculatum L., rất độc, gây tê liệt thần kinh và hô hấp Piperin làankaloid chính có vị cay mạnh của hạt hồ tiêu

- Ankaloid loại piridin: có Nicotin là ankaloid chính của lá thuốc lá, là chất lỏngkhông màu, trong không khí chuyển nhanh sang màu nâu Với lượng ít, nicotin kíchthích thần kinh và làm tăng huyết áp Với lượng cao, nicotin phá hủy niêm mạc của hệ

hô hấp gây tử vong Liều chết là 60mg

Trang 18

Về mặt hóa học, flavonoid là một chuỗi polyphenolic gồm có 15 nguyên tửcacbon và 2 vòng benzen, có cấu trúc cơ bản là 1,3-diphenylpropan, nghĩa là 2 vòngbenzen Avà B nối nhau qua một dây có 3 cacbon, nên thường được gọi là C6-C3-C6.Vòng thơm bên trái gọi là vòng A, vòng thơm bên phải gọi là vòng B, Vòng trunggian (có thể có) chứa nguyên tử oxi gọi là vòng pyran.

Cách đánh số tùy theo dây C3 đóng hay hở:

Nếu dây C3 đóng, thì đánh số bắt đầu từ dị vòng với dị nguyên tố oxigen mang số

Trang 19

tạo của phần mạch C3 trong bộ khung trên mà flavonoid được phân thành các nhómsau: Eucoflavonoid; Isoflavonoid; Neoflavonoid.

Một số flavonoid thường gặp như:

Trong thực vật, flavonoid tồn tại chủ yếu

ở 2 dạng: dạng tự do (aglycol) và dạng liên kết với glucid (glycoside)

Các flavonoid trong thực vật có thể được tìm thấy dưới dạng 5 hình thức sau:

Trang 20

Một số công dụng của flavonoid:

Flavonoid có tác dụng như là chất chống oxi hóa để bảo vệ các tế bào, ngănngừa các nguy cơ xơ vữa động mạch, tai biến mạch máo, lão hóa,…Vì khả năngchống oxi hóa của flavonoid còn mạnh hơn cả các chất khác như: vitaminC, E,Selenium và kẽm

Tác dụng chống độc của flavonoid làm giảm tổn thương gan, bảo vệ được chứcnăng gan

Flavonoid có tác dụng chống co thắt những tổ chức cơ nhẵn (túi mật, ống dẫnmật, phế quản và một số tổ chức khác)

Trên bộ máy tiết niệu, nhiều flavonoid thuộc nhóm flavon, flavanon, flavonol

Flavonoid được chiết từ lá cây bạch quả chứa các dẫn chất của kaempferol,quercetin,… có tác dụng cải thiện tuần hoàn, đặc biệt là tuần hoàn não, làm tăng trínhớ, có tác dụng tích cực trong chữa các bệnh Alzheimer

Hesperidin và Naringin là 2 chất flavonoid có trong bưởi giúp bảo vệ tính đànhồi của mạch máu, ngừa xơ cứng động mạch, gián tiếp chống các chứng cao huyết áp

và tai biến mạch máu não

Một nghiên cứu mới của Mỹ được đăng trên tạp chí “Journal of Agriculturaland Food Chemistry” khẳng định rằng các chất flavonoid có trong chanh có tác dụngngăn ngừa các bệnh về thoái hóa não

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

II.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHƯƠNG PHÁP CHIẾT:[2],[3],[4]

Cơ sở vật lí của phương pháp này là dựa vào định luật phân bố Nernst

Ở một nhiệt độ xác định, tỉ lệ nồng độ của một chất hòa tan trong hai pha lỏng

S1 và S2 không hòa tan vào nhau và ở trạng thái cân bằng với nhau là một hằng số, gọi

là hằng số phân bố Nernst (K):

Trang 21

Ở đây: : là hoạt độ của chất A trong dung môi S1

: là hoạt độ chất A trong dung môi S2

K: là hằng số phân bố, phụ thuộc vào nhiệt độ, bản chất của các chấttan và dung môi

Thông thường các chất chiết được là những hợp chất trung hòa điện tích (phân

tử hoặc cặp liên hợp ion) nên ở lực ion thấp có thể coi như hoạt độ gần bằng với nồng

độ Khi đó:

Trong đó: : là nồng độ của chất A trong dung môi S1

: là nồng độ của chất A trong dung môi S2

Cùng một lượng dung môi để chiết, cần phải chia nhiều lần chiết Có thể tínhđược lượng chất còn lại sau lần chiết thứ n dựa vào hằng số Nernst:

Trong đó: Gn là lượng chất chiết còn lại sau n lần chiết

G0 là lượng chất ban đầu có trong thể tích V

S số ml thể tích dung môi cho vào

Muốn chất định chiết ra còn lại trong dung dịch càng nhỏ thì cùng một lượngdung môi cần phải chiết nhiều lần

II.1.2.1 Lựa chọn dung môi khi chiết:

Dung môi để chiết phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Dung môi để chiết phải hòa tan tốt chất được chiết

- Không hòa lẫn với dung môi cũ (thường dùng là nước), nghĩa là có tỉ khốikhác nhiều với dung môi cũ

- Dung môi này phải không tương tác hóa học với chất được chiết và có nhiệt

độ sôi tương đối thấp

II.1.2.2 Các đặc trưng của quá trình chiết:

1 Hệ số phân bố:

Để đặc trưng định lượng cho quá trình chiết người ta dùng đại lượng đó là hệ sốphân bố D:

Trang 22

Trong đó: tổng nồng độ cân bằng các dạng của A trong pha hữu cơ

tổng nồng độ cân bằng các dạng của A trong pha nước

DA phụ thuộc vào pH, nồng độ chất tạo phức phụ ở trong nước, nồng độ thuốcthử trong pha hữu cơ

2 Hiệu suất chiết:

Hiệu suất chiết là tỉ số giữa tổng lượng chất chiết được trong dung môi hữu cơvới tổng lượng chất có trong nước trước khi bị chiết

- Vai trò của sự tạo phức

- Ảnh hưởng của sự tạo thành hợp chất ít tan

II.1.3 Chiết chất rắn:

Có thể tiến hành theo các phương pháp: phương pháp chiết nguội và chiết nóng Theo phương pháp chiết nguội, ta ngâm chất rắn (đã được nghiền nhỏ) trong mộtdung môi thích hợp trong một thời gian, sau đó gạn hoặc lọc lấy dung dịch rồi cô đuổidung môi

Phương pháp chiết nóng được tiến hành bằng cách đun hồi lưu chất rắn với dungmôi trong một thời gian rồi gạn hoặc lọc lấy dung dịch Để tăng hiệu quả chiết và tiếtkiệm dung môi người ta còn dùng bộ dụng cụ chiết liên tục Xoklet

Ngoài ra ngày nay người ta còn sử dụng những phương pháp chiết hiện đại với

sự kết hợp của các thiết bị khác nhau như: chiết bằng phương pháp CO2 ở trạng tháisiêu tới hạn, phương pháp trích ly có hỗ trợ vi sóng, hỗ trợ sóng siêu âm,…

II.1.4 Ứng dụng của phương pháp chiết:

Phương pháp chiết được ứng dụng rất có hiệu quả vào mục đích tách, trích ly,làm giàu các chất, đặc biệt khi cần tách một lượng rất nhỏ các tạp chất ra khỏi mộtlượng lớn các chất khác

II.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA PHƯƠNG PHÁP SẮC KÍ:

II.2.1 Lịch sử của phương pháp sắc ký:[8]

Nhà thực vật học người Nga Mikhail Tsvet (Mikhail Semyonovich Tsvet) phát

minh ra kĩ thuật sắc ký vào năm 1903 khi ông đang nghiên cứu về chlorophyl Chữ

Trang 23

sắc trong sắc ký có nghĩa là màu, nó vừa là tên của Tsvet trong nghĩa tiếng Nga, và

vừa là màu của các sắc tố thực vật ông phân tích vào lúc bấy giờ Tên này vẫn tiếp tụcđược dùng dù các phương pháp hiện đại không còn liên quan đến màu sắc

Năm 1952 Archer John Porter Martin và Richard Laurence Millington Syngeđược trao giải Nobel Hóa học cho phát minh của họ về sắc ký phân bố

Kĩ thuật sắc ký phát triển nhanh chóng trong suốt thế kỉ 20 Các nhà nghiên cứunhận thấy nguyên tắc nền tảng của sắc ký Tsvet có thể được áp dụng theo nhiều cáchkhác nhau, từ đó xuất hiện nhiều loại sắc ký khác nhau Đồng thời kĩ thuật hiện sắc kýcũng tiến bộ liên tục, cho phép phân tích các phân tử tương tự nhau

II.2.2 Đặc điểm chung của phương pháp sắc kí:[3]

Sắc ký (Chromatography) là phương pháp tách, phân ly, phân tách các chất dựavào sự phân bố khác nhau của chúng giữa hai pha động và tĩnh Khi tiếp xúc với phatĩnh, các cấu tử của hỗn hợp sẽ phân bố giữa pha động và pha tĩnh tương ứng với tínhchất của chúng (tính bị hấp phụ, tính tan, …)

Trong hệ thống sắc ký chỉ có các phân tử pha động mới chuyển động dọc theo hệsắc ký Các chất khác nhau sẽ có ái lực khác nhau với pha động và pha tĩnh Trongquá trình chuyển động dọc theo hệ sắc ký hết lớp pha tĩnh này đến lớp pha tĩnh khác,

sẽ lặp đi lặp lại quá trình hấp phụ, phản hấp phụ

Các chất có ái lực lớn với pha tĩnh sẽ chuyển động chậm hơn qua hệ thống sắc ký

so với các chất tương tác yếu hơn pha này Nhờ đặc điểm này mà người ta có thể táchcác chất qua quá trình sắc ký

II.2.3 Cơ sở của phương pháp sắc kí:[3]

Phương pháp sắc kí dựa vào sự phân bố khác nhau của các chất giữa hai phađộng và tĩnh

Có nhiều nguyên nhân đưa đến sự phân bố khác nhau của các chất, nhưng chính

sự lặp đi lặp lại hiện tượng hấp phụ - phản hấp phụ của các chất khi dòng pha độngchuyển động qua pha tĩnh là nguyên nhân chủ yếu của việc tách sắc ký

Ở điều kiện nhiệt độ không đổi định luật mô tả sự phụ thuộc của lượng chất bịhấp phụ lên pha tĩnh với nồng độ của dung dịch (hoặc với các chất khí là áp suất riêngphần) gọi là định luật hấp phụ đơn phân tử đẳng nhiệt Langmuir:

(1)

Trong đó:

n- lượng chất bị hấp phụ lên pha tĩnh lúc đạt cân bằng

- lượng cực đại của chất có thể bị hấp phụ lên một chất hấp phụ nào đó b- là hằng số

C- là nồng độ của chất bị hấp phụ

Trang 24

Theo Langmuir, trên bề mặt của vật rắn có những vị trí có năng lượng bé phân

bố trên toàn bề mặt, ta gọi số vị trí hay các phân tử chất bị hấp phụ từ dung dịchhay dòng khí có thể bị hấp phụ lên bề mặt vật rắn tại các điểm này

Trong miền nồng độ đủ bé thì hiện tượng hấp phụ có thể trở nên tuyến tính

Đây là phương trình hấp phụ tuyến tính hay còn gọi là phương trình Henry.Miền nồng độ của chất hấp phụ tuân theo định luật hấp phụ tuyến tính đôi khi đượcgọi là miền Henry

Cho dù cơ chế của hiện tượng hấp phụ, trao đổi chất giữa hai pha động và tĩnh

có thể khác nhau nhưng hệ quả cuối cùng vẫn là hiện tượng hấp phụ - phản hấp phụ và

sự trao đổi chất nói chung tuân theo định luật hấp phụ Langmuir hoặc định luật hấpphụ Henry

Như vậy theo quan điểm của Langmuir, hiện tượng hấp phụ xảy ra theo kiểu đơnphân tử Thực tế có thể có trường hợp hiện tượng hấp phụ xảy ra theo kiểu đa phân tử,nhưng trong quá trình sắc ký, hiện tượng hấp phụ đơn phân tử kiểu Langmuir (vàHenry) vẫn là chủ yếu

II.2.4 Phân loại các phương pháp sắc kí:[3]

Trong phương pháp sắc kí pha động phải là các lưu thể (các chất ở trạng thái khíhay lỏng) còn pha tĩnh có thể là các chất ở trạng thái lỏng hoặc rắn Dựa vào trạng tháitập hợp của pha động, người ta chia sắc kí thành hai nhóm lớn: sắc kí khí và sắc kílỏng Dựa vào cơ chế trao đổi của các chất giữa pha động và pha tĩnh mà người ta lạichia các phương pháp sắc kí thành nhóm nhỏ hơn

Bảng 1: Các dạng sắc kí

Dạng sắc kí Pha

động tĩnh Pha Cách bố trí pha tĩnh Cơ chế trao đổi chất

Trang 25

RắnLỏng

RắnLỏngRắnRắnLỏngLỏngLỏng

CộtCột

CộtCộtCộtLớp mỏngLớp mỏngGiấy sắc kíCột

Hấp phụPhân bố

Hấp phụPhân bốTrao đổi ionHấp phụPhân bốPhân bốTheo kích thước phân

tử

II.2.5 Các cách tiến hành phân tích sắc ký:[3]

Tùy thuộc chế độ đưa mẫu vào hệ thống sắc kí cũng như các thao tác tiến hànhsắc kí, người ta chia cách tiến hành sắc kí thành ba loại:

II.2.5.1 Phương pháp tiền lưu:

Đây là phương pháp sắc kí đơn giản nhất Người ta cho hỗn hợp, thí dụ hai chất

A, B, liên tục chảy qua cột có nạp sẵn chất hấp phụ Người ta xác định nồng độ cáccấu tử trong dung dịch chảy ra khỏi cột và xây dựng đồ thị theo hệ tọa độ: nồng độcấu tử - thể tích dung dịch chảy qua cột Đồ thị này thường gọi là sắc kí đồ hay đườngcong thoát (hình 9)

Do các cấu tử bị hấp phụ lên cột, nên trước hết từ cột chỉ chảy ra dung môi Sau

đó trong dung dịch thoát sẽ có cấu tử bị hấp phụ yếu hơn trên cột, thí dụ cấu tử A, sau

đó đến phần dung dịch chứa hỗn hợp A + B

Trong phương pháp tiền lưu, ta chỉ thu được phần dung dịch thoát có cấu tử Alúc đầu, sau đó là hỗn hợp A + B Phương pháp tiền lưu không cho phép tách hoàntoàn các cấu tử ra khỏi nhau nên thực tế ít được dùng vào mục đích phân tích các chất

II.2.5.2 Phương pháp rửa giải:

Trong phương pháp rửa giải, đầu tiên người ta cho v ml dung dịch chứa hỗn hợpcác cấu tử (thí dụ hỗn hợp hai cấu tử A và B, trong đó A có ái lực với cột nhỏ hơn B)chạy qua cột Các cấu tử A , B chứa trong v ml dung dịch trước hết sẽ bị giữ lại ởphần trên của cột Sau đó cho dung dịch rửa (thường là dung môi hòa tan các cấu tử)chạy qua cột Lúc đó các cấu tử ban đầu bị giữ lại ở phần trên của cột sẽ bị dungmôi "rửa" và đưa dần xuống phía dưới Cấu tử A có ái lực với cột nhỏ hơn B nênchuyển động xuống phía dưới nhanh hơn B Nếu cột đủ dài và chế độ chảy rửa củadung dịch rửa thích hợp thì sau một thời gian cho chảy dung dịch rửa, các cấu tử sẽtách ra thành từng vùng Các vùng này sẽ tuần tự thoát ra khỏi cột, mỗi vùng sẽ cáchnhau bằng một phần dung môi Trên hình 10 là đường cong thoát của quá trình rửa

Trang 26

giải Trong phương pháp rửa giải người ta cũng hay dùng những dung dịch chứa mộtcấu tử có ái lực với cột nhưng phải nhỏ hơn ái lực có cấu tử cần tách với cột.

Hình 9: Đường cong thoát của phương pháp tiền lưu

Hình 10: Đường cong thoát của phương pháp rửa giải

II.2.5.2 Phương pháp rửa đẩy:

Trong phương pháp rửa đẩy (hình 11), sau khi đưa mẫu vào cột, ta cho chảy quamột cột dung dịch rửa chứa chất có ái lực với pha tĩnh lớn hơn các cấu tử cần tách.Các cấu tử cần tách sẽ bị chuyển dần xuống phía dưới khi ta tiến hành quá trình rửacột và tuần tự thoát ra khỏi cột Cấu tử thoát ra khỏi cột đầu tiên là cấu tử tương tácvới pha tĩnh yếu nhất, sau đó dần dần đến các cấu tử có ái lực với cột mạnh dần Khácvới phương pháp rửa giải, nồng độ các cấu tử không giảm qua quá trình sắc kí Mộtnhược điểm quan trọng trong phương pháp rửa đẩy là rất khó phân biệt các phần riêngcủa các cấu tử trong dung dịch thoát, vì ở đây các phần dung dịch thoát chứa các cấu

tử riêng không thể tách khỏi nhau bằng các thể tích dung dịch rửa xác định

Trang 27

Hình 11: Đường cong thoát của phương pháp rửa đẩy

II.2.6 Sắc kí bản mỏng:[3],[8]

II.2.6.1 Đặc điểm chung của phương pháp:

Về bản chất, đây là hệ sắc kí lỏng – rắn mà pha tĩnh rắn được trãi thành lớpmỏng trên bản kính, nhựa hay kim loại Giọt dung dịch mẫu nghiên cứu được nhỏ trênđường xuất phát cách rìa bản 2-3 cm, còn rìa bản được nhúng vào một dung môi thíchhợp Dung môi này đóng vai trò như pha động trong sắc kí hấp phụ lỏng – rắn Dướitác dụng của lực mao quản, dung môi sẽ chuyển động dọc theo lớp hấp thụ và chuyểnvận các cấu tử của hỗn hợp với các vận tốc khác nhau đưa đến việc tách các cấu tử Sựkhuyếch tán các cấu tử trong lớp hấp phụ vừa theo chiều dọc vừa theo chiều ngang vìvậy có thể xem quá trình sắc kí thực hiện theo hai chiều Vì các đặc điểm kĩ thuật trênđây mà phương pháp sắc kí bản mỏng còn có các tên gọi khác: phương pháp giọt,phương pháp sắc kí dài, phương pháp sắc kí bề mặt, phương pháp sắc kí cột mở… Phương pháp sắc kí bản mỏng được ứng dụng để phân tích định tính, định lượngcác hợp chất vô cơ cũng như hữu cơ Ưu điểm cơ bản của phương pháp sắc kí bảnmỏng là thiết bị đơn giản, thời gian phân tích không kéo dài, việc tách các cấu tử cóthể thực hiện khá dễ dàng

II.2.6.2 Các đặc trưng cơ bản của sắc kí bản mỏng

Tính chất hấp thụ của hệ sắc kí bản mỏng đặc trưng bằng độ linh động Rf : Rfđược xác định bằng:

(1)

Trong đó:

X1: khoảng cách từ xuất phát đến tâm của vết sắc kí;

Trang 28

X2: khoảng cách từđường xuất phát đến mức dung môi sau cùng so với đường xuất phát.

Hình 12: Các đặc trưng của sắc ký bản mỏng

Trong đó : a-a là tuyến xuất phát

b-b là tuyến dung môi ở cuối thí nghiệm

Đúng ra Rf phải được tính bằng tỉ số giữa vận tốc chuyển động của tâm vết sắc

kí với vận tốc của dung môi Tuy nhiên việc xác định các vận tốc tương ứng hết sứckhó khăn nên Rf thường được xác định như trên

Theo định nghĩa Rf là đại lượng đặc trưng cho hệ sắc kí lớp mỏng Rf phải khôngphụ thuộc nồng độ và các yếu tố khác Tuy nhiên thực nghiệm chứng minh Rf đo đượctheo thực nghiệm không đủ lặp lại, đặc biệt khi phân tích các chất vô cơ Rf chịu ảnhhưởng của các yếu tố: chất lượng và tính hoạt động của chất hấp phụ, độ ẩm của chấthấp phụ, chất lượng của dung môi và các yếu tố khác…đó là những yếu tố rất khókiểm soát

II.2.6.3 Kĩ thuật sắc kí bản mỏng:

1 Chuẩn bị bản mỏng:

Đế để trải bản mỏng thường là các bản thủy tinh, lá nhôm hoặc màng poliete.Các loại màng trong suốt với tia tử ngoại có ưu điểm là có thể dùng đo quang trực tiếpnhiều hợp chất trong bản mỏng

Chất hấp phụ để trải bản mỏng thường là bột silica gel, alumin (Al2O3), kizengua,bột xenlulozo… Chất hấp phụ có thể được trải dưới dạng nhão có chất kết dính, hoặcdạng bột mịn (không có chất kết dính)

Thông thường trên thị trường có sẵn bản mỏng nhôm/silica gel đã được tráng rồivới kích thước 20 x 20 cm

2 Lựa chọn dung môi giải ly:

Chọn dung môi triển khai tùy thuộc vào mẫu cần tách Với mẫu chưa biết thànhphần, chưa có tài liệu tham khảo, cần thử nghiệm với nhiều loại dung môi khác nhau,

Trang 29

từ loại không phân cực đến loại phân cực.

Cách xác định nhanh loại dung môi phù hợp với mẫu:

- Chấm dung dịch mẫu thành nhiều chấm bằng, đều nhau lên trên cùng một bảnmỏng, các vết chấm cách nhau 1cm Dùng những vi quản để đưa các dung môi có độphân cực khác nhau, thấm nhẹ lên vết chấm mẫu, mỗi vết mẫu một giọt dung môi loạikhác nhau Sau khi chấm, dung môi sẽ lan tỏa tạo thành vòng tròn Dùng viết chìkhoanh tròn vết lan xa nhất của dung môi Quan sát các vòng tròn đồng tâm: dung môinào làm mẫu lan ra ngoài cùng lúc với tiền tuyến dung môi thì dung môi đó quá phâncực, dung môi nào mà mẫu vẫn nằm tại chỗ là không đủ phân cực

- Để dễ quan sát hơn nên thiết lập một loạt thử nghiệm với những bình triển khaisắc kí bản mỏng trong đó mỗi bình chứa một trong các dung môi với độ phân cực tăngdần: hexan, benzene, chloroform, eter dietil, acetat etil, aceton, metanol Chuẩn bị cáctấm bản mỏng có chấm các mẫu chất như nhau rồi nhúng mỗi tấm vào một bình như

đã chuẩn bị Ghi nhận độ di động của các cấu tử trong mẫu:

+ Nếu dung môi nào khiến cho tất cả các cấu tử nằm tại chỗ mức xuất phát thìdung môi đó chưa đủ phân cực (dung môi không phù hợp)

+ Nếu dung môi nào khiến cho tất cả các cấu tử di chuyển hết lên mức tiềntuyến dung môi thì dung môi quá phân cực (dung môi không phù hợp)

+ Nếu dung môi nào có thể làm cho chất mẫu ban đầu tách thành nhiều vếtkhác nhau một cách gọn, rõ, sắc nét và vị trí của các vết nằm khoảng từ 1/3 đến 2/3chiều dài bản sắc kí thì dung môi đó phù hợp

+ Nếu qua quá trình triển khai mà nhận thấy hệ thống đơn dung môi không chonhững vết gọn, rõ, sắc nét thì cần thử triển khai với hệ thống hỗn hợp dung môi, thí dụtoluene: methanol hoặc hexan: acetate etil …

Bảng 2: Một số giá trị vật lý của các dung môi thường gặp

Dung môi Nhiệt độ sôi

( o C)

Hằng số điện môi (ở 25 0 C)

Ngày đăng: 27/10/2012, 11:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w