Để thõa mãn 4 điều kiện này, đầu tiêncần phải thiết lập kỷ luật tài khóa tổng thể, tiếp theo là phải thực hiện cải cách thuếtheo hướng hoàn thiện chính sách thuế và cải tiến công tác quả
Trang 1THỰC TRẠNG CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2010
2.1 Thực trạng Cân đối NSNN của VN trong giai đoạn 2001-2010
2.1.1 Thực trạng thu
Khai thác nguồn thu hợp lý là công việc quan trọng hàng đầu của cân đối NSNN.Chính sách thu NSNN được coi là hợp lý khi đáp ứng được 4 yêu cầu: (i) giải quyếtđược nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, (ii) kích thích kinh tế tăng trưởng, (iii) điều tiếtđược thu nhập và (iv) phù hợp thông lệ quốc tế Để thõa mãn 4 điều kiện này, đầu tiêncần phải thiết lập kỷ luật tài khóa tổng thể, tiếp theo là phải thực hiện cải cách thuếtheo hướng hoàn thiện chính sách thuế và cải tiến công tác quản lý hành thu Cho nên,việc tiến hành đánh giá thực trạng khai thác nguồn thu trong cân đối NSNN giai đoạn2001- 2010 sẽ thông qua các nội dung trên
Về thiết lập kỷ luật tài khóa tổng thể
Dựa vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội 5 năm, kỷ luật tài khóa tổng thể đã đượcchính phủ thiết lập cho từng thời kỳ bằng việc quyết định tỷ lệ động viên vào NSNNtrên GDP (giai đoạn 2001-2005 là 20-21%GDP, giai đoạn 2006-2010 là 21-22%GDP); từ đó đã gián tiếp qui định mức bội chi NSNN, mức vay nợ trong và ngoàinước để bù đắp bội chi NSNN
Về cải cách thuế
Hoàn thiện chính sách thuế:
+ Cải cách thuế bước hai: qua cải cách bước một 1990- 1995, bước đầu thuế đã pháthuy vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo nguồn thu cho NSNN Đến giai đoạn 1996-
2002, cải cách hệ thống chính sách thuế bước hai được thực hiện theo chiều sâu, mởrộng diện thu theo hướng bồi dưỡng và tạo nguồn thu mới, khắc phục tình trạng chồngchéo, trùng lắp và phức tạp, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướngCNH- HĐH, từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho tiếntrình hội nhập, hệ thống thuế phải đơn giản và minh bạch Trên tinh thần đó, ViệtNam đã đổi mới căn bản hệ thống thuế bằng việc ban hành Luật thuế giá trị gia tăngthay cho Luật thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi, bổ sung; Luật sửa đổi bổ sung một sốđiều của Luật thuế xuất khẩu, bổ sung hoặc ban hành mới một số loại thuế phí có tác
Trang 2đông mạnh mẽ đến các hoạt kinh tế như thuế thu nhập cá nhân, thuế tài nguyên, thuếđất, thuế tài sản.
+ Cải cách thuế bước ba: cải cách thuế bước hai tuy đã góp phần hoàn thiện chínhsách thuế cho phù hợp với lộ trình hội nhập, song những nhược điểm cơ bản của hệthống thuế được tổng kết thúc đẩy cải cách bước một vẫn chưa được giải quyết triệt
để Cụ thể:
(i) Hệ thống thuế vẫn còn phân biệt đối xử giữa các đối tượng nộp thuế, giữa doanhnghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng ưuđãi cho các nhà đầu tư nước ngoài, trong khi chính sách phát triển kinh tế là coitrọng nội lực;
(ii) Hệ thống thuế vẫn phức tạp, chồng chéo;
(iii) Mức thuế suất cận biên tối đa của thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thunhập đối với người có thu nhập cao còn khá cao so với các nước trong khu vực, ảnhhưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư (xem phụ lục số 2.2.1);
(iv) Hệ thống nguồn thu lệ thuộc nhiều vào thuế XNK và bán dầu thô
Do vậy cải cách thuế bước ba được thực hiện và có hiệu lực từ ngày 1/1/2004 Trọng tâm của cải cách thuế bước ba là hướng vào thực hiện ba mục tiêu: đơn giản, công bằng, hiệu quả của hệ thống chính sách thuế Theo đó, Chính phủ đã tiến hành triển
khải bước đầu công việc cải cách thuế theo lộ trình đã hoạch định Để khuyến khíchđầu tư trên cơ sở vẫn đảm bảo nguồn thu cho ngân sách, Nhà nước đã giảm gánh nặngthuế qua việc giảm thuế suất, đơn giản hóa hệ thống thuế, mở rộng đối tượng chịuthuế Cụ thể:
(i) Đối với thuế thu nhập, thuế TNDN được áp dụng thống nhất, không phân biệtthành phần kinh tế, không phân biệt doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài với thuế suất 28% và các mức thuế suất ưu đãi là 20%, 15%
và 10% Về thuế thu nhập cá nhân (TNCN),Việt Nam cũng đã từng bước giảm dầnmức thuế suất lũy tiến cao nhất trong biểu thuế, từ 50% xuống 40% và từ10/10/2009 xuống còn 35% và giảm mức thuế suất khởi điểm từ 10% xuống 5%, ápdụng thống nhất với người Việt Nam và người nước ngoài Ngoài ra, bổ sung thunhập từ chuyển quyến sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất vào thu nhập chịu thuế;thống nhất điều kiện ưu dãi thuế theo lĩnh vực và địa bàn phù hợp với luật khuyến
Trang 3khích đầu tư trong nước; mở rộng phạm vi ưu đãi đầu tư; các qui đinh về chi phíhợp lý, hợp lệ cũng được bổ sung, sửa đổi
(ii) Đối với thuế tiêu dùng: Thuế giá trị gia tăng (GTGT) áp dụng 3 mức thuế suất0%, 5% và 10% Bổ sung hàng hóa, dịch vụ và một số dịch vụ xuất khẩu vào diệnchịu thuế GTGT Bãi bỏ qui định khấu trừ thuế GTGT đầu vào và theo tỷ lệ % quiđịnh, điều kiện khấu trừ đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được qui địnhchặt chẽ hơn Bãi bở các chế độ ưu đãi qua thuế GTGT để tăng tính trung lập vànăng cao tính hiệu quả, hiệu lực hành thu Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) cũngđược sửa đổi bổ sung theo hướng mở rộng diện chịu thuế (kinh doanh sổ xố, cáchoạt động kinh doanh giải trí có đặt cược); tăng thu đối với rượu trên 40 độ, bài lá,vàng mã, kinh doanh vũ trường, mát-xa, karaoke Ngoài ra, các quy định có tínhchất phân biệt đối xử áp dụng trước đây theo hướng có lợi hơn cho các doanhnghiệp trong nước không phù hợp các quy định của thương mại quốc tế đã đượcxóa bỏ hoàn toàn Một bước tiến nữa là, với việc ban hành Luật thuế tài nguyênnăm 2009, danh mục hàng hóa chịu thuế tài nguyên đã được mở rộng hơn, đồngthời đã thực hiện điều chỉnh tăng khung thuế suất áp dụng đối với nhiều nhóm tàinguyên
Những nội dung cải cách thuế qua 3 giai đoạn đã góp phần cải thiện tình trạng cân đốiNSNN, và theo ý kiến các chuyên gia, những cải cách thuế thời gian qua đang tiến gầnđến những chuẩn mực quốc tế
Về hoàn thiện công tác hành thu:
Từ năm 2000 đến nay đã thực hiện được một số nội dung quan trọng:
Luật quản lý thuế được ban hành tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế và cơquan thuế trong triển khai thực hiện công tác quản lý thuế Đây là cơ sở pháp lý để cơquan thuế tổ chức lại bộ máy quản lý, bảo đảm chế độ tự kê khai của người nộp, đồngthời khuyến khích sự tuân thủ, tự nguyện trong thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộpthuế
Đồng thời, cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, cụ thể, rõ ràng để tiếtkiệm thời gian và chi phí cho đối tượng nộp thuế như: Triển khai Luật Thuế TNCN,
Trang 4xây dựng quy chế một cửa thống nhất, thực hiện Đề án 30 của Chính phủ về đơn giảnhóa các thủ tục hành chính, đã cắt giảm được 30% số thủ tục hành chính thuế hiện có.Ngoài ra, để đáp ứng được yêu cầu quản lý theo cơ chế mới và phù hợp với nguồn lựchiện có, triển khai ứng dụng công nghệ thông tin mới để phát huy hiệu quả tích cựccho ngành thuế như ứng dụng phục vụ đăng ký và quản lý thuế TNCN, khai thuế quamạng với các doanh nghiệp lớn, mở rộng hiện đại hóa và kết nối thông tin giữa cơquan thuế, kho bạc và ngân hàng
Nhận xét, phân tích và đánh giá kết quả khai thác nguồn thu trong cân đối NSNN giai đoạn 2000- 2010
Mặt thành tựu:
Trên cơ sở kỷ luật tài khóa tổng thể đã được thiết lập và những thay đổi trong cải cáchthuế, khai thác nguồn thu trong cân đối NSNN đạt được những thành tựu sau:
Thứ nhất, quy mô thu NSNN tính theo GDP (giá hiện hành) giai đoạn 2001-2010
đã không ngừng tăng cao Tỷ trọng động viên NSNN so với GDP đã tăng từ 21.6%
năm 2001 lên mức cao nhất từ trước đến nay là 29.1% năm 2008 Riêng năm 2009,quy mô thu NSNN giảm xuống so với các năm trước đó do suy thoái kinh tế toàn cầukhi thực hiện các chính sách tài khóa kích thích nền kinh tế (miễn, giảm, giãn thuếTNCN, TNDN…) Tuy nhiên, xét chung giai đoạn 2006- 2010, ngành thuế đã hoànthành và vượt xa mức dự toán thu ngân sách nhà nước kể cả những năm gặp khó khăn
do tác động xấu của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, tổngthu nội địa do ngành thuế quản lý ước đạt 1,551 nghìn tỷ đồng, bằng 116.5% so với
dự toán, tăng gấp 2.5 lần so với thực hiện giai đoạn 2001-2005 Tốc độ tăng thu bình quân đạt 16.5%/năm Kết quả này đã góp vào đưa tỷ lệ động viên vào NSNN đạt
27.9% GDP, vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đề ra (21-22%GDP).Tính bình quân, giai đoạn 2001-2010, tỷ lệ động viên NSNN so với GDP (giá hiệnhành) ước đạt 26.3%, trong đó, thu từ thuế, phí và lệ phí ước đạt xấp xỉ 24% GDP(bao gồm cả thuế đối với hoạt động khai thác dầu thô) Việt Nam là một trong nhữngnước hiện có tỷ lệ động viên ngân sách khá cao
Biểu đồ1: Mức độ động viên NSNN của Việt Nam so với GDP
(tính theo tỉ lệ % theo giá hiện hành)
Trang 52001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 0
Thu từ thuế, phí so với GDP Tổng thu cân đối NSNN so với GDP
Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Bộ Tài chính và Tổng cục Thống kê
Đến năm 2010, có 15/15 khoản thu, sắc thuế ước đạt và vượt dự toán, có 8/15 khoảnthu có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ, đặc biệt thu từ khu vực dân doanh đạtmức tăng trưởng cao nhất tăng 37.5%
Cũng tính đến năm 2010, hầu hết các địa phương điều hoàn thành nhiệm vụ thu, có62/63 địa phương thu đạt và vượt so với dự toán pháp lệnh và tăng trưởng so với cùng
kỳ
Quy mô thu NSNN cũng tăng khá đồng đều qua các năm Các địa phương có quy môthu NSNN hơn 1.000 tỷ đồng/ năm tăng từ 21 tỉnh-thành phố (2006) lên tới 41 tỉnh –thành phố năm 2010, trong đó có 5/63 địa phương có số thu hơn 10.000 tỷ đồng/ năm:
Hà Nội, TP HCM, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Đồng Nai
Thứ hai, cơ cấu nguồn thu thay đổi theo chiều hướng tích cực, tỷ trọng thu từ các
yếu tài nguyên như đất đai, dầu thô ngày càng giảm, tỷ trọng thu từ nội lực nền kinh tếngày càng tăng Cụ thể, thu từ dầu thô trong tổng thu đã giảm từ 29.8% năm 2006xuống còn 13.4% năm 2010 Nguồn thu từ khu vực sản xuất kinh doanh (không tínhdầu thô) tăng từ 62.4% (giai đoạn 2001- 2005) lên 67.1% (giai đoạn 2006-2010), tốc
độ tăng trưởng bình quân là 22.5%/năm Nguồn thu từ khu vực sản xuất kinh doanhnăm 2010 chiếm 72% trong tổng thu nội địa Nguồn thu nội địa tăng cao và trở thànhnguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, năm 2008 là 55.8%, năm 2009 là 61%,ước thực hiện năm 2010 là 64% tổng thu, qua đó tăng tính ổn định và bền vững của
NSNN (Xem Bảng Cơ cấu Thu NSNN – phụ lục 1)
Trang 6Bi u đ 2: C c u thu NSNN giai đo n 2001-2010 ểu đồ 2: Cơ cấu thu NSNN giai đoạn 2001-2010 ồ 2: Cơ cấu thu NSNN giai đoạn 2001-2010 ơ cấu thu NSNN giai đoạn 2001-2010 ấu thu NSNN giai đoạn 2001-2010 ạn 2001-2010
Thu viện trợ không hoàn lại Thu từ cân đối ngân sách từ hoạt động XNK
Thu từ dầu thô Thu trong nước (không kể thu từ dầu thô)
Tính theo tỷ lệ động viên so với GDP (tính theo giá hiện hành) thì mức độ động viên
từ những sắc thuế chủ đạo trong hệ thống thuế cũng đã có sự gia tăng đáng kể Tronggiai đoạn 2001-2010, so với GDP thu từ thuế GTGT đã tăng từ mức 4.02% lên khoảng7.51% và của thuế TTĐB (đối với hàng hóa sản xuất trong nước) tăng từ 1.29% lên1.8% Mức tăng tương ứng trong cùng kỳ của thuế TNDN (không kể dầu thô) là từ3.1% GDP lên 4.63% và của thuế TNCN là từ 0.43% GDP lên 1.18% GDP Điều nàycho thấy sự mở rộng đáng kể về cơ sở tính thuế trong các sắc thuế này Hay nói cáchkhác, việc giảm thuế suất trong nhiều sắc thuế mà Việt Nam đã thực hiện trong thờigian qua đã không dẫn đến sự thu hẹp về nguồn thu
Nhìn chung, có thể nói rằng, sự thành công của các lần cải cách chính sách thuế trongthời gian qua đã có tác dụng tích cực trong việc mở rộng và tập trung kịp thời nguồnthu cho NSNN Qua các năm số thu từ thuế không ngừng tăng lên và chiếm tỷ lệ đáng
kể trong tổng thu NSNN, do vậy góp phần đưa ngân sách từ chỗ thu trong nước không
đủ chi thường xuyên tiến tới không những đảm bảo đủ nhu cầu chi thường xuyên màcòn có phần tiết kiệm để tạo nguồn vốn đầu tư phát triển của Nhà nước ngày một tănglên
Mặt hạn chế:
Trang 7Tuy nhiên, phân tích kết quả khai thác nguồn thu giai đoạn 2001- 2010 cũng chochúng ta thấy còn nhiều vấn đề còn phải lưu ý:
Thứ nhất, nguồn thu tăng nhưng vẫn còn thiếu tính ổn định và tăng trưởng bền vững, vẫn chủ yếu dựa vào sản xuất dầu thô, thu từ tài nguyên, thu từ giao quyền
sử dụng đất mặc dù cơ cấu thu NSNN có nhiều chuyển biến tích cực Bình quân
giai đoạn 2001-2010, riêng ba khoản thu là thu từ dầu thô và từ giao quyền sử dụngđất và bán nhà thuộc sở hữu nhà nước đã chiếm khoảng 29% tổng thu NSNN Đây làcác khoản thu được xem là không tái tạo Thực tế tỷ trọng thu từ giao quyền sử dụngđất trong tổng thu NSNN sau một số năm đầu 2001-2010 liên tục tăng nhanh thìnhững năm gần đây đã có xu hướng giảm dần Điều này gây áp lực về việc phải duy trìđược mức độ động viên NSNN ở mức như giai đoạn vừa qua sẽ là tương đối lớn, nhất
là trong bối cảnh các khoản thu từ dầu thô, thu từ giao quyền sử dụng đất có xu hướnggiảm dần Thu NSNN ở mức cao đã tạo điều kiện mở rộng đáng kể nhu cầu chi cũngnhư phạm vi chi NSNN Do đó, vấn đề đặt ra trong thời gian tới là làm thế nào giữđược mức độ động viên NSNN ổn định và hợp lý để có thể duy trì được quy mô chiNSNN ở mức như thời gian qua, nhất là đối với các khoản chi cho phát triển kinh tế,đảm bảo an sinh xã hội
Thứ hai, nguồn thu trong nước vẫn chưa tương xứng với tiềm nằng nền kinh tế,
nguyên nhân là do:
+ Thất thu thuế vẫn còn đang ở mức đáng báo động: trốn thuế và lậu thuế đang là vấn
đề nan giải hiện nay ở Việt Nam Riêng trên địa bàn TP.HCM, theo số liệu Cục thuếthì tổng số thuế quyết định truy thu là phạt năm 2004 là 657.9 tỷ đồng đến năm 2010con số này là 1,645 tỷ đồng tăng gấp 1.5 lần
+ Nhiều khoản thu thuế chưa đúng với tiềm năng Điển hình:
(i) Thuế TNCN có thu nhập cao chỉ đóng góp một tỷ trọng nhỏ trong tổng thu thuế
là 5%, chỉ chiếm 1.18% GDP, trong khi thu nhập bình quân trên đầu người là tăngtrưởng khá Tỷ lệ này là rất thấp so với các nước khác như Thái Lan, Indonesia tỷtrọng này là 10% trong tổng thu thuế, Parkistan và Ấn Độ là 20%
(ii) Thu từ thuế nhà, đất của Việt Nam so với GDP vẫn còn thấp Năm 2010, thu từthuế nhà, đất của Việt Nam ước chỉ chiếm khoảng 0.26% tổng thu ngân sách từ
Trang 8thuế, phí và bằng khoảng 0.065% GDP (giá hiện hành), thấp hơn nhiều lần so vớimặt bằng chung trên thế giới, chẳng hạn thu từ thuế tài sản ở Indonexia năm 2008chiếm 3.85% tổng thu từ thuế (khoảng 0.51% GDP) và ở Trung Quốc, tỷ lệ này củanăm 2008 là 1.51% (khoảng 0.26% GDP) Điều này có nghĩa, vai trò của chínhsách thuế nhà, đất trong việc điều tiết, đảm bảo việc sử dụng nhà, đất có hiệu quảcòn hạn chế
+ Nền tảng pháp luật nói chung và hệ thống luật thuế nói riêng còn nhiều bất cập, ýthức chấp hành luật pháp chưa được coi là một tiêu chuẩn đo lường giá trị đạo đức của
xã hội, pháp luật kế toán đang trong quá trình hoàn thiện, do vậy chưa được chấp hànhnghiêm và thống nhất trong nền kinh tế, hình thức thanh toán các giao dịch trong nềnkinh tế vẫn sử dụng tiền mặt là phổ biến, do vậy cơ quan chức năng khó kiểm soátđược quá trình thanh toán và thu nhập của đối tượng nộp thuế
+ Một phần là do cơ cấu kinh tế, một phần là do nguồn lực cán bộ quản lý thuế vẫncòn yếu kém so với các quốc gia tiên tiến, tiền lương thấp đã tạo ra rất nhiều khó khăn
để tiến đến thiết lập một hệ thống quản lý thu ngân sách tốt Năng lực chuyên môn vàphẩm chất đạo đức của lực lượng cán bộ thuế còn nhiều hạn chế, kỹ thuật đánh thuếmặc dầu có được cải tiến nhưng còn nhiều khiếm khuyết
+ Hệ thống thông tin yếu kém, nghèo nàn về cơ sở dữ liệu làm hạn chế hiệu quả côngtác quản lý thu NSNN nói chung và thuế nói riêng Sự gia tăng của khu vực tư nhântrong phát triển kinh tế là đáng ghi nhận, nhưng do quy mô hoạt động của khu vực nàycòn nhỏ và phân tán cho nên những yêu cầu về báo cáo thống kê không được thiết lậpmột cách có hệ thống Hơn nữa do những hạn chế về tài chính, các cơ quan thuế vàthống kê có gặp phải nhiều khó khăn trong việc tổng hợp và đưa ra những số liệuthống kê một cách chi tiết và đáng tin cậy Thiếu số liệu tin cậy và cung cấp không kịpthời làm cho những người ra quyết định chính sách gặp phải nhiều khó khăn trongviệc đánh giá sự ảnh hưởng tiềm năng của những thay đổi cơ bản đến hệ thống thuếhiện hành
2.1.2 Thực trạng chi
2.1.2.1Giai đoạn 2001-2005
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu tổng quát của Chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của nước ta là: Đưa đất nước ta ra khỏi
Trang 9tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần củanhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước côngnghiệp theo hướng hiện đại hoá Con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá củanước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có những bướctuần tự, vừa có những bước nhảy vọt " Kết quả triển khai kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội 5 năm giai đoạn 2001-2005 như sau:
Tổng chi NSNN năm 2005 đạt 258,470 tỷ VNĐ, tăng 12.5% so với dự toán và 23.7%
so với năm 2004 Tổng chi NSNN lên tới 30.8% GDP và đây cũng là một tỷ lệ caonhất kể từ năm 2001 Chi đầu tư phát triển năm 2005 đạt 83,300 tỷ VNĐ, tăng 6.1%
so với dự toán và 11.3% so với thực hiện năm 2004, chiếm 32.2% tổng chi NSNN, là
tỷ trọng đầu tư cao nhất từ trước tới nay Điều này phần nào thể hiện quyết tâm củaChính phủ trong việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trong năm 2005 Chi thường xuyên cho các hoạt động sự nghiệp đạt 145,595 tỷ VNĐ, tăng 23.5% sovới năm 2004 Các khoản chi cho giáo dục, đào tạo, y tế, 20 văn hoá xã hội, đảm bảoquốc phòng an ninh, quản lý nhà nước, Đảng, đoàn thể và cải cách tiền lương đạt134,595 tỷ VNĐ, tăng 10.3% so với dự toán Chi giáo dục, đào tạo đạt 18%, chi khoahọc công nghệ đạt 2% tổng chi NSNN, chi cải cách tiền lương vào khoảng 24,100 tỷVNĐ, tăng 17.6% so với dự toán (thực hiện tăng lương tối thiểu 350,000 VNĐ/tháng
từ tháng 10/2005) Chi trả nợ và viện trợ cả năm 2005 đạt 34,775 tỷ VNĐ, bằng dựtoán, đảm bảo thanh toán đầy đủ, kịp thời các khoản nợ đến hạn theo cam kết, gópphần thực hiện cơ cấu lại nợ nước ngoài
Năm 2005, bội chi NSNN ước tính khoảng 40,750 tỷ VNĐ, tương đương 4.9% GDP của năm 2005, dưới mức Quốc hội cho phép (5%) Đây là mức bội chi tương đương mức bội chi trung bình trong giai đoạn 2001-2005 Bội chi NSNN được bù
đắp bằng các khoản vay trong nước và nước ngoài Năm 2005, các khoản vay trongnước tăng mạnh, bằng 5.8 lần so với năm 2004, chủ yếu thông qua việc phát hànhcông trái giáo dục, trái phiếu chính phủ và tín phiếu kho bạc
Cân đối NSNN đã đảm bảo nguyên tắc cân đối bền vững, theo đó, tổng thu từ thuế, phí và lệ phí phải lớn hơn tổng chi thường xuyên, dành phần tích luỹ cho đầu tư
Trang 10phát triển và mức bội chi phải trong tầm kiểm soát được (thường là dưới 5%
GDP) Năm 2005, tổng thu từ thuế, phí và lệ phí (189,920 tỷ VNĐ) lớn hơn tổng chi
thường xuyên (134,595 tỷ VNĐ) và phần tích luỹ 44,325 tỷ VNĐ đã được dành cho
đầu tư phát triển
Trong nhiều năm qua, xét theo tỷ trọng giá trị tăng thêm trong GDP, cơ cấu kinh tế
chủ yếu biến đổi theo sự chuyển dịch của hai nhóm ngành nông - lâm - thủy sản và
công nghiệp xây dựng Từ năm 2000 đến năm 2005 tỷ trọng khu vực nông lâm
-thủy sản giảm 3.8 điểm phần trăm, còn tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng tăng
3.7 điểm phần trăm Xét chung trong giai đoạn 2001-2005, sự chuyển dịch cơ cấu
giữa 3 khu vực không mạnh như trong giai đoạn 5 năm 1996-2000 Mục tiêu đặt ra
cho khu vực dịch vụ đến năm 2005 chiếm tỷ trọng khoảng 41-42% GDP đã không đạt
được, trong khi đây là khu vực có rất nhiều cơ hội và tiềm năng phát triển
4 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài
Trang 117 Chi khác 500
Chi cân đối ngân sách (Bội chi) 48,613 64,567 67,677 115,900 113,100
- So với GDP (%) 4.99 5.65 4.58 6.90 5.80
Nguồn: Bộ tài chính
Năm 2006: Tổng chi NSNN cả năm đạt 385,666 tỷ đồng, tăng 31% so với dự
toán, đạt được các kết quả sau:
Bội chi NSNN năm 2006 thực hiện là 48,613 tỷ đồng, bằng 4.99% GDP, được bù
đắp bằng nguồn vay trong nước 35,864 tỷ đồng và nguồn vay ngoài nước 12,749 tỷ
đồng
Nhiệm vụ NSNN năm 2006 đã đạt được những kết quả quan trọng, tạo đà thuận lợi để
phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 theo Nghị
quyết của Quốc hội: cơ cấu thu có chuyển biến theo hướng tích cực, chi NSNN được
điều hành chắc chắn, cơ cấu chi ngân sách được điều chỉnh theo hướng tích cực hơn;
trên cơ sở dự toán, dự phòng và tăng thu NSNN trong năm đã bố trí tăng chi ngân
sách cho đầu tư phát triển, bổ sung kinh phí thực hiện những nhiệm vụ quan trọng về
quốc phòng, an ninh, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội, tăng kinh phí
khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, xoá đói giảm nghèo, đảm bảo kinh phí thực
hiện cải cách tiền lương và chế độ đối với người có công với cách mạng, gia đình
chính sách; tiếp tục thực hiện bù lỗ kinh doanh các mặt hàng dầu góp phần ổn định giá
cả sản xuất và tiêu dùng trong nước Bội chi NSNN bằng 4.99% GDP, đảm bảo an
ninh tài chính quốc gia; dành nguồn gối đầu cho dự toán NSNN năm 2007 thực hiện
chi cải cách tiền lương theo Nghị quyết Quốc hội
Năm 2007: Tổng chi NSNN cả năm đạt 469,606 tỷ đồng, tăng 31.4% so với dự
toán, tăng 21.76% so với thực hiện năm 2006 Bội chi NSNN năm 2007 thực hiện là
64,567 tỷ đồng, bằng 5.65% GDP
Dù kinh tế năm 2007 tăng trưởng ở mức cao nhưng bên cạnh đó bội chi ngân sách
cũng ở mức cao (lên đến 5.65% GDP) Điều này dẫn tới việc chính phủ phải bù đắp
bội chi mạnh bằng nguồn nợ vay, đặc biệt là nợ vay trong nước (nợ vay trong nước
tăng tới 43.8% so với 2006) Như vậy, nhìn vào con số bội chi năm 2007 cho thấy
Trang 12Việt Nam đã phải đánh đổi giữa 2 yếu tố: chấp nhận bội chi ở mức cao so với kếhoạch đề ra (5%) để đạt mức tăng trưởng kinh tế cao.
Năm 2008: Tổng chi NSNN cả năm đạt 590,714 tỷ đồng, tăng 48.06% so với
dự toán, tăng 25.79% so với thực hiện năm 2007 Bội chi NSNN năm 2008 là 67,677
tỷ đồng, bằng 4.58% GDP Đến 31/12/2008, dư nợ Chính phủ (bao gồm cả nợ Tráiphiếu Chính phủ) bằng 33.5% GDP, dư nợ ngoài nước của Quốc gia bằng 27.2%GDP, trong giới hạn đảm bảo an ninh tài chính quốc gia và ổn định các chỉ tiêu kinh tế
Năm 2009: Năm 2009 là năm có nhiều khó khăn, thách thức lớn đối với nền
kinh tế nước ta Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động trựctiếp đến kinh tế trong nước, làm cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩugiảm sút, ảnh hưởng đến việc làm và đời sống nhân dân Trong bối cảnh đó, Chínhphủ đã đề ra những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăngtrưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội Cùng với sự nỗ lực của các ngành, các cấp,cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân; các chính sách và giải pháp kích thíchkinh tế đề ra đã được thực hiện khẩn trương, đồng bộ và phát huy hiệu quả, giúp thựchiện thành công mục tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế Chính phủ đã báo cáo Quốc hộinguyên tắc điều hành NSNN năm 2009 là không thực hiện cắt giảm tổng mức chiNSNN, nhưng có yêu cầu sắp xếp điều chỉnh các nhiệm vụ chi, đảm bảo hiệu quả, tiếtkiệm, giảm những khoản chi chưa thực sự cấp thiết; đồng thời sử dụng gói kích thích