Khái niệm tranh in đầy đủ như ngày nay được hình thành trong thời gian dài phát triển các kỹ thuật chế bản và in ấn cũng như các quan niệm và cách đánh giá loại hình nghệ thuật Đồ họa nà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 22
MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu………
Mục lục………
Danh mục chữ viết tắt………
1 2 4 Chương 1: Khái quát về đồ hoạ tranh in và tranh khắc gỗ……
Mục tiêu bài học………
1.1 Khái niệm về đồ hoạ tranh in và tranh khắc gỗ ….………
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của tranh khắc gỗ…… ………
1.3 Ngôn ngữ biểu đạt trong tranh khắc gỗ………
Câu hỏi ôn tập…….………
Tài liệu tham khảo………
5 5 5 8 32 46 46 Chương 2: Các dòng tranh khắc gỗ dân gian Việt Nam Mục tiêu bài học………
2.1 Khái niệm nghệ thuật dân gian và tranh dân gian………
2.2 Tranh dân gian Đông Hồ………
2.3 Tranh dân gian Hàng Trống………
2.4 Tranh dân gian Kim Hoàng………
2.5 Tranh dân gian làng Sình………
2.6 Tranh dân gian Nam Bộ………
2.7 Tranh thờ các dân tộc miền núi………
Câu hỏi ôn tập………
Tài liệu tham khảo………
47
47
47
52
56
63
65
72
79
83
83
Trang 33
Chương 3: Tranh khắc gỗ hiện đại Việt Nam từ năm 1925 đến
nay
Mục tiêu bài học………
3.1 Tranh khắc gỗ giai đoạn 1925 - 1954………
3.2 Tranh khắc gỗ giai đoạn 1954 - 1975………
3.3 Tranh khắc gỗ giai đoạn 1975 - 1985………… ………
3.4 Tranh khắc gỗ giai đoạn 1986 - nay……… ………
Câu hỏi ôn tập………
Tài liệu tham khảo………
84 84 84 92 102 109 120 120 Chương 4: Chất liệu và kỹ thuật khắc gỗ………
Mục tiêu bài học………
4.1 Chất liệu và dụng cụ khắc………
4.1.1 Gỗ khắc………
4.1.2 Giấy in ………
4.1.3 Màu in ………
4.1.4 Dao khắc…… ………
4.1.5 Máy in ………
4.1.6 Rulo và các dụng cụ in ấn khác………
4.2 Kỹ thuật tạo bản in………
4.3 Kỹ thuật in tranh………
Câu hỏi ôn tập………
Tài liệu tham khảo………
121 121 121 121 125 129 131 134 135 136 147 148 148 Chương 5: Thực hành sáng tác tranh khắc gỗ màu………
Mục tiêu bài học………
5.1 Giới thiệu tranh khắc gỗ màu……… ………
5.2 Các bước chuẩn bị… ………
5.2.1 Đồ dùng học tập……… ………… ………
5.2.2 Phác thảo và tìm ý tưởng cho bố cục……….…………
5.2.3 Can hình, tìm hình trên giấy can và chuyển lên ván gỗ………
150
150
150
151
151
151
152
Trang 44
5.2.4 Chuẩn bị khắc……… ……… …………
5.2.5 Chuẩn bị in……… ……… …………
5.3 Khắc tranh………
5.4 In tranh………
5.5 Tiêu chí đánh giá tác phẩm………
Câu hỏi ôn tập………
Bài tập thực hành………
Tài liệu tham khảo………
153 153 153 156 159 163 163 163 Chương 6: Nghiên cứu và học tập kinh nghiệm từ các hoạ sĩ sáng tác tranh khắc gỗ Việt Nam……….……….……
Mục tiêu bài học………
6.1 Họa sĩ Tú Duyên
6.2 Họa sĩ Hoàng Trầm
6.3 Họa sĩ Trịnh Kim Vinh
6.4 Họa sĩ Lê Xuân Chiểu
164 164 164 169 175 178 Thuật ngữ đồ hoạ tranh in………
Phụ lục………
Danh mục tài liệu tham khảo………
182
187
201
Trang 66
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỒ HOẠ TRANH IN VÀ TRANH KHẮC GỖ
Mục tiêu bài học
- Giúp sinh viên nắm được những khái niệm cơ bản về nghệ thuật đồ hoạ và tranh khắc gỗ
- Lịch sử hình thành và phát triển của tranh khắc gỗ
- Ngôn ngữ biểu đạt của tranh khắc gỗ
1.1 Khái niệm về đồ hoạ tranh in và tranh khắc gỗ
Khái niệm về đồ hoạ tranh in
Tranh in là loại hình nghệ thuật thị giác, thuộc chuyên ngành đồ họa tạo hình Khái niệm tranh in đầy đủ như ngày nay được hình thành trong thời gian dài phát triển các kỹ thuật chế bản và in ấn cũng như các quan niệm và cách đánh giá loại hình nghệ thuật Đồ họa này bởi những người hoạt động sáng tác, nghiên cứu tranh in chuyên nghiệp trên toàn thế giới Tuy nhiên, ở nước ta, khái niệm, cách gọi tranh in vẫn chưa được tường giải cặn kẽ để đi đến một thuật ngữ chính xác và thống nhất Khái niệm
về tranh in chỉ được hình dung ra khi nghiên cứu các thuật ngữ gần nghĩa với nó hay bao hàm nó như đồ họa, đồ họa tạo hình, đồ họa giá vẽ, đồ họa độc lập, đồ họa ấn loát Bên cạnh đó, chúng ta còn gặp những thuật ngữ, khái niệm quen thuộc như tranh đồ họa, đồ họa tranh in, tranh khắc
in, tranh in
Theo Từ điển mỹ thuật phổ thông, nghệ thuật Đồ họa được diễn giải như sau:
Đồ họa (A graphic Art; P atr gracphique) ở Việt Nam, việc dùng các thuật ngữ đồ họa chỉ là tương đối bởi việc đặt tên các thuật ngữ đồ họa là dựa trên ý nghĩa sử dụng của nó Ví dụ đồ họa thương nghiệp,
đồ họa vẽ tem, đồ họa độc lập (còn gọi là tranh giá vẽ trong đó có
Trang 77
tranh in), đồ họa minh họa sách báo, đồ họa máy tính…kẽ chữ, ký họa, áp phích cũng được xếp vào nghệ thuật đồ họa… Tranh in: Một dạng tranh đồ họa trong đó người ta dùng kỹ thuật in ấn để thể hiện tác phẩm Tranh in thường được in hàng loạt bản để có thể phổ biến rộng rãi Không giống các thể loại tranh khác, tranh in luôn phải qua khâu chế bản và in ấn, thường có nhiều bản gốc do số lượng tranh được in nhiều (trừ loại tranh in độc bản) Một tranh in đẹp, ngoài yêu cầu về chủ đề, bố bục và hình, còn phải chú ý tới những yêu cầu về kỹ thuật chế bản, khắc và kỹ thuật in ấn1
Trong thời đại mà công nghệ in ấn điện tử và kỹ thuật số rất phát triển hôm nay, thuật ngữ đồ họa để chỉ các loại tranh khắc và in do họa sỹ sáng tác Ngoài những thuật ngữ, khái niệm liên quan đến một dạng đặc biệt của thể loại tranh đồ họa tạo hình đề cập ở trên, khi nghiên cứu về tranh in chúng ta còn gặp khái niệm “tranh khắc” Tranh khắc là thuật ngữ chỉ khái niệm về một bộ phận của tranh in Chính xác hơn, nó chỉ những bức tranh được in ra từ khuôn in được chế tạo bằng quy trình kỹ thuật làm biến dạng bề mặt vốn có của khuôn in như khắc, xúc thủ công hay cơ giới hoặc ăn mòn bằng hóa chất Quy trình đó gọi chung là khắc tranh Khắc tranh là “Dùng các loại dao đặc biệt hoặc dùng axit khắc lên mặt phẳng gỗ, kim loại, đá… nhằm tạo ra các hình ảnh như họa sỹ mong muốn Lĩnh vực khắc tranh Đồ họa bao gồm những kỹ thuật và phương pháp cơ bản như: khắc nổi (A Relief engraving; P Gravure en relief); khắc lõm (A Intaglio engraving; P Gravure en creux); khắc phẳng (A Lithographic or surface; P Gravure à plat)” Dựa vào quy trình chế bản
in bằng các kỹ thuật khắc người ta gọi những tác phẩm được in ra từ đó
là tranh khắc, và trong tiếng Anh là engraving, tiếp Pháp là gravure
1 Đặng Bích Ngân (chủ biên) (2002), Từ điển thuật ngữ Mỹ thuật phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà
Nội, tr.54
Trang 8đá kim loại… Trong đồ họa in ấn, họa sĩ thường dung con lăn (Rulo) và các loại máy in để in
Khái niệm về tranh khắc gỗ
Theo Từ điển mỹ thuật phổ thông “đồ họa tạo hình bao gồm đồ họa giá
vẽ và đồ họa ấn loát trong đó đồ họa ấn loát gồm các thể loại như tranh in lõm (tranh khắc kim loại, khắc mika), tranh in nổi (tranh khắc gỗ, khắc thạch cao, khắc cao su, bìa giấy), tranh in phẳng (in đá và các kỹ thuật phái sinh từ in đá), tranh in xuyên (in lưới, in trổ khuôn), tranh in độc bản”2…
và “Khắc gỗ là một kỹ thuật in đồ họa sử dụng một bản in bằng gỗ có hình nổi”3 Để tạo ra một bản in khắc gỗ, đầu tiên:
các họa sĩ vẽ hình ảnh trên bề mặt nhẵn và bằng phẳng của một khối gỗ rồi dùng dao và đục máng cắt bỏ phần phải có màu trắng trên hình in, để cho hình vẽ nổi lên như phù điêu Sau khi bôi mực bề mặt khối gỗ, họa sĩ đặt lên đó một tờ giấy rồi chà mạnh lên lưng giấy bằng tay hoặc máy in, hình ảnh trên bản gỗ sẽ chuyển qua mặt giấy một hình ảnh ngược với mặt vẽ4
Đó là cách in tranh một màu, với tranh in nhiều màu được thực hiện bằng cách khắc một bản khắc riêng cho mỗi màu và lần lượt in các bản màu
đó trên cùng một tờ giấy Các bản gỗ có thể được lưu trữ để in sao lại Vì có khuôn in, nên tác phẩm in gỗ thường có nhiều bản sao tùy ý họa sĩ, đôi khi
2Sđd, Từ điển thuật ngữ Mỹ thuật phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.54
3 Nguyễn Xuân Tiên (2009), Mỹ thuật học, Nxb Trường Đại học Mỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh,
tr.195
4Lê Thanh Lộc (1997), Từ điển Mỹ Thuật, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr.1165
Trang 9Tranh khắc gỗ thuộc phương pháp in nổi, đây là phương pháp in có tuổi đời lâu nhất trong nghệ thuật tranh in, xuất hiện từ thế kỷ VI ở phương
Đông Nguyên lý đặc thù của phương pháp in nổi là các phần tử được in
luôn nằm cao hơn so với phần không được in và sử dụng trên các chất liệu như gỗ, in cao su, bìa, ván ép (MDF) Hiệu quả thẩm mỹ và thị giác của hỉnh ảnh mà phương pháp in này đem lại thường mang nhiều tính trang trí, đơn giản, khỏe khoắn, cô đọng Tranh in thực hiện theo phương pháp này được gọi là tranh in nổi
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của tranh khắc gỗ
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của tranh khắc gỗ thế giới
Trong tất cả các thể loại tranh in đồ họa, tranh khắc gỗ là loại tranh in
cổ xưa nhất Kỹ thuật in khắc gỗ có nguồn gốc từ Trung Quốc, các nhà nghiên cứu cho rằng tranh in khắc gỗ xuất hiện đầu tiên vào khoảng giữa thế kỷ VI đến cuối thế kỷ IX, được các Phật tử dùng để in kinh truyền bá giáo lý Phật pháp Bản in khắc gỗ đầu tiên trên thế giới đã được tìm thấy trong các hang động ở Đôn Hoàng, Trung Quốc đó là bản in kinh Kim Cương (Hình 1.1) Bản kinh này được in vào năm 868 thời nhà Đường (618-907) Hầu hết các bản in gỗ của thời nhà Đường đều chủ yếu phục vụ tôn giáo như in kinh Phật, bùa hộ mệnh Từ triều đại nhà Tống (960-1278) trở đi in khắc
5Lê Thanh Lộc (1997), Từ điển Mỹ Thuật, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr.1165.
Trang 1010
gỗ ngày một trở nên phổ biến rộng rãi trong xã hội Trung Quốc, in khắc gỗ được mở rộng hơn như in sách với hình minh họa, các giấy tờ đất, giấy thuế…
Hình 1.1 Kinh Kim Cương, In năm 868, Khắc gỗ đen trắng
Trang 1111 Hình 1.2 Bản in Đại tạng Kinh đầu tiên của Triều Tiên (1011-1082)
Hình 1.3 Hình ảnh Đức Phật Adida
Trang 1212
Bản in khắc gỗ của Nhật Bản (TK12)
Hình 1.4 Bản in kinh Thích Ca Như Lai và Luân Quán
Nhiều xưởng khắc gỗ đã được mở ra hoạt động sôi nổi “Tuy nhiên, do nhiều
giới hạn nhất định, kỹ thuật in khắc gỗ truyền thống đều in đơn sắc (monochrome), không gian phẳng, không thể hiện luật viễn cận (perspective) nên hình ảnh gần giống như tranh thủy mặc thời Bắc Tống”6 Đến thời nhà Minh (1368-1644) kỹ thuật khắc gỗ lần đầu tiên được sử dụng cho mục đích nghệ thuật như khắc lại những bức tranh vẽ tay, tranh in có chữ hay những bài thơ kèm theo Về kỹ thuật in khắc gỗ thời nhà Minh cũng đã trở nên tiến bộ, tranh in không chỉ sử dụng đơn giản mực đen như trước mà bắt đầu sử dụng nhiều màu, mỗi bản khắc in một màu Kỹ thuật in chuyển màu (color gradation) được cho là phát minh của Hu Cheng Yen (1582-1672), một danh họa của triều đình Trung Hoa Khắc gỗ màu thời
6 La Toàn Vinh (01/2009), “Tranh khắc gỗ”, Thông tin Mỹ thuật- Trường Đại học Mỹ thuật
Tp.Hồ Chí Minh, số 25-26, tr.54
Trang 13và in hình các vị Phật lên những tấm bùa may mắn… Vào thời đó có khoảng một triệu cuốn sách kinh Phật đã được in theo lệnh Hoàng hậu Shotoku Có thể thấy rõ ràng khắc gỗ Nhật Bản bị ảnh hưởng mạnh mẽ từ Trung Quốc Đến giữa thế kỷ IX các họa sĩ Nhật Bản nhất quyết không đi theo phong cách truyền thống của tranh Trung Quốc thường là những hình ảnh của những bậc cao nhân đang suy tư, hình ảnh con người thường nhỏ bé giữa cảnh quan bao la rộng lớn, núi non hùng vĩ Thay vào đó các họa sĩ Nhật đã miêu tả những câu chuyện bình dị hàng ngày, gần gũi với đời sống Nhật Bản Thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX là thời kỳ khắc gỗ phát triển cực thịnh ở Nhật Bản Các họa sĩ Nhật đã sáng tạo ra một dòng tranh in khắc gỗ riêng biệt được gọi là ukiyo-e Ukiyo-e nghĩa là “tranh của thế giới phù du”
Đó là thế giới của những thú vui hưởng lạc, cuộc sống đầy lạc thú phù du
và hão huyền Các thương gia thuộc tầng lớp giàu có ở các thành phố lớn Nhật Bản giải thích nghĩa của ukiyo là hưởng thụ Vậy nên đề tài của dòng tranh này thường là hình ảnh về nhà hát, quán ăn, phòng trà, những kỹ nữ
và những nhân vật hư cấu trong các tác phẩm văn chương… Ngoài ra ukiyo-e cũng có những đề tài về phong cảnh, những cảnh sinh hoạt bình dị thường ngày Nổi tiếng là loạt tranh phong cảnh tuyệt đẹp của hai họa sĩ Katsushika Hokusai, Ando Hiroshige như tác phẩm “Under the wave off Kanagawa” (Vượt sóng ra khỏi Kanagawa) của họa sĩ Katsushika Hokusai rất nổi tiếng trên thế giới Lúc đầu các họa sĩ Nhật chỉ in tranh với mực đen,
về sau kỹ thuật in màu được phát triển các bức tranh trở nên phức tạp hơn,
do đó kỹ thuật in khắc cũng được cải cách tân tiến hơn Ukiyo-e được in
Trang 16Tranh khắc gỗ Nhật Bản đã ảnh hưởng sâu sắc đến phong cách của các họa
sĩ Châu Âu Họ phát hiện ra tại đất nước này có một mảng nghệ thuật dân gian đặc trưng, độc đáo tiềm ẩn một sức lôi cuốn mãnh liệt làm say mê lòng người về màu sắc lẫn hình họa Một sự cách điệu dịu dàng mới lạ, mặc dù không đúng tỷ lệ nhưng nhìn rất có duyên Màu sắc chuẩn không pha trộn được sắp xếp cạnh nhau tạo nên sự đẹp mắt Những học giả, những nhà nghiên cứu nghệ thuật Tây phương đã để mắt đến và tìm hiểu về tranh khắc
gỗ Nhật Bản nhiều bài viết giới thiệu và sách ca ngợi không tiếc lời Cũng nhờ thế mà thế giới đã biết đến loại tranh khắc gỗ tuyệt vời của người Nhật
Và phong cách ukiyo-e đã tạo nên một ảnh hưởng lớn đến các họa sĩ ấn tượng từ Vincent Van Gogh, Claude Monet, đến Edgar Degas…
Trang 1717
Hình 1.10 VanGogh, Les Alyscamps, 1888
Xuất hiện ở phương Đông từ rất sớm nhưng đến những năm đầu thế
kỷ XIV kỹ thuật khắc gỗ mới bắt đầu mở ra ở phương Tây Thời kỳ đầu bản khắc gỗ được dùng để in các hình trang trí trên vải Với sự phát triển của ngành công nghiệp giấy tinh vi nhiều chủng loại và sản xuất số lượng lớn ở Pháp, Ý, Đức đã khiến kỹ thuật
khắc gỗ phát triển rộng mở Tại
miền Nam nước Đức tranh khắc
gỗ bắt đầu với hình ảnh của các vị
Thánh Hình ảnh chúa Kitô hay
Đức mẹ đồng trinh Maria đã được
in dán vào những tấm thẻ đeo ở cổ
hoặc khâu vào quần áo của những
tín đồ hành hương với niềm tin
Hình 1.11 Nghề in từ Johanes
Gutenberg Khắc gỗ đen trắng, 1568
Trang 1818
bảo vệ họ khỏi ma quỷ hoặc kẻ xấu Năm đã xuất hiện loại sách in từ bản khắc gỗ, mỗi trang sách được in bằng một bản in khắc gỗ bao gồm cả chữ viết lẫn hình ảnh Việc sử dụng các bản khắc gỗ để minh họa trong sách càng được phổ biến từ khi Johannes Guntenberg phát triển kỹ thuật in sách Vào thế kỷ XV tranh in gỗ bắt đầu phát triển lên một thể loại cao hơn Cuối thế kỷ XV các họa sĩ lớn thời kỳ này như Albrecht Dürer và Hans Holbein ở Đức, Lucas von Leyden ở Hà Lan, Titian ở Ý… đã đưa kỹ thuật khắc gỗ lên một tầm cao mới trở thành một loại hình nghệ thuật có giá trị thẩm mỹ qua các tác phẩm tuyệt vời của mình Đặc biệt là Albrecht Dürer ông đã đưa khắc gỗ ra khỏi tính năng chỉ để in minh họa sách, ông đã xuất sắc thay đổi
diện mạo của tranh khắc gỗ với tác phẩm Samson Killing the Lion (Samson
đang giết Sư tử) Tác phẩm này được thực hiện với một kỹ thuật khắc điêu luyện với những nhát khắc tự tin, dứt khoát giúp ông đạt được những hiệu ứng nổi bật Toàn thể tranh là những nét khắc nhỏ chi tiết mật độ lúc dày lúc thưa tạo hiệu ứng sáng tối rõ rệt Dürer không sử dụng phương pháp in màu mà chọn in đen trắng, nhờ vậy tác phẩm có độ tương phản sáng tối mạnh cùng với cách đan cài nét vừa phải thông minh đã góp phần đem đến thành công rực rỡ cho tác phẩm Ở Ý, tranh in gỗ lúc đầu được dùng in hình ảnh minh họa cho sách, thời hoàng kim của tranh khắc gỗ minh họa cho sách bắt đầu từ cuối XIV và kéo dài khoảng 100 năm Tranh in minh họa cho sách là một trong những bản in đẹp nhất của thời kỳ Phục hưng Ý Tờ báo in đã được đưa vào Italy bởi hai người Đức là Conrad Sweynheym và Arnold Pannartz Năm 1464 họ thành lập một tờ báo tại tu viện Benedictine
ở Subiaco, có lẽ theo lời mời của Đức Hồng Y Turrecremata Cuốn
Meditationes de vita Christi (Suy ngẫm về cuộc đời của Chúa Kitô) được
xuất bản tại Rome vào năm 1467 (cũng có tài liệu cho rằng nó được xuất bản năm 1478) bởi nhà xuất bản Ulrich Han Vienna, trong sách có khoảng
ba mươi tranh khắc minh họa Cuốn sách tiếp theo De Re Militari (Bàn về
quân sự) được xuất bản ở Verona năm 1472 chứa nhiều hình ảnh minh họa
Trang 1919
mô tả của pháo đài và máy móc dùng trong chiến tranh, những bản in này đều được in bằng tay Khi Venice trở thành trung tâm xuất bản sách quốc tế, nội dung của sách rất đa dạng bao gồm không chỉ là các tác phẩm kinh điển bằng tiếng Latin và tiếng Hy Lạp mà còn các văn án cho tất cả các đối tượng và các bài viết dành cho người mộ đạo
Hình 1.12 Minh hoạ sách Kinh thánh, In khắc gỗ đen trắng
Trang 2020
Hình 1.13 Road to Supper at Emmaus, Minh hoạ sách Kinh thánh
In khắc gỗ đen trắng điểm màu
Trang 21
21
Hình 1.12 Bản in sách Kinh thánh thế kỷ 16
Hình 1.12 The Nativity from Israbel van Meckenem,
Minh hoạ sách Kinh thánh 1460-1500
In khắc gỗ đen trắng, 69x48mm Tranh in gỗ không chỉ phát triển trong lĩnh vực minh họa sách, mà dần trở thành nghệ thuật đạt tính thẩm mỹ cao qua đôi tay tài ba hoạ sĩ lớn ở
Ý họa sĩ Tiziano Vecellio (Titian) Trong tác phẩm St.Jerome in the Wilderness (Thánh Jerome ở nơi hoang vu), nét khắc lưu loát và mạnh mẽ
cho thấy sự thống nhất với hình tượng được thể hiện trên bề mặt bản vẽ Titian đã vẽ trực tiếp trên bản gỗ, và khắc theo nét vẽ của mình về đề tài Thánh Jerome là một chủ đề được yêu thích nhất trong nghệ thuật Venice từ thế kỷ XV và thường được miêu tả trong những tác phẩm của Titian Trong
tác phẩm St.Jerome in the Wilderness là hình ảnh rất nhỏ của vị thánh trong
một cảnh quan hoang dã rộng lớn để ẩn tu và cầu nguyện Sự hùng vĩ, sống động của phong cảnh đều được tạo ra bởi những đường nét, mặc dù được
Trang 2222
khắc trên gỗ Thông qua tác phẩm này Titian đã giới thiệu tranh in khắc gỗ
đề tài phong cảnh như là một chủ đề độc lập của nghệ thuật Ý
1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của tranh khắc gỗ Việt Nam trước năm 1925
Giữa thế kỷ XVI tranh in khắc gỗ đã bắt đầu giảm tầm quan trọng bởi
sự phong phú của những dòng tranh khắc khác như khắc kẽm, khắc đồng…
đã thu hút hầu hết các nghệ sĩ lớn đang làm việc với dòng tranh in Mãi cho đến cuối thế kỷ XIX tranh in khắc gỗ mới lấy lại vị trí của nó như là một thể loại sáng tác chủ yếu
“Tại Việt Nam, ngành in hình thành và phát triển khá muộn hơn so với thế giới Thời nhà Lý, nhà sư Tín Học là người đã in các loại sách cho các chùa chiền bằng nghề in khắc gỗ”7 Không có một tài liệu chính xác và
rõ ràng về thời gian tranh in khắc gỗ xuất hiện ở Việt Nam Nhưng thông qua nhiều tài liệu có thể thấy kỹ thuật in khắc gỗ thời kỳ đầu xuất hiện vẫn không nằm ngoài phục vụ tôn giáo Phật giáo phát triển cực thịnh vào thời
Lý và tiếp theo là thời Trần vì vậy có rất nhiều sách kinh được ấn loát
Trong khi khắc kinh Đại Tạng, các tác phẩm Thiền lâm “Thuyết Chủy ngữ lục”, “Trúc lâm hậu lục”, Đại hương hải ấn thi tập”,
“Thạch thất mị ngữ”, và “Tăng Già toái sự” của Trần Nhân Tông,
và có thể “Khóa hư lục”, “Thiền tông chỉ nam”, “Kim cương Tam muội kinh”, “Lục thì sám hối khóa nghi” của Trần Thái Tông,
“Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ lục” của Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng được san khắc… Năm 1332 thì Pháp Loa cho in khắc bộ giới “Tứ phần luật” 5.000 cuốn phát cho tăng chúng và trong khoảng thời gian nào đó là cuốn “Tam tổ thực lục” Như vậy sự thịnh đạt của Phật giáo, nghề in khắc thời Trần được hình dung rất phát đạt8…
7 La Toàn Vinh (07/2012), “Lịch sử phát triển của nghệ thuật đồ họa”, Thông tin Mỹ thuật-
Trường Đại học Mỹ thuật TP.Hồ Chí Minh, số 1, tr.23
8 Phan Cẩm Thượng, Lê Quốc Việt, Cung Khắc Lược (2001), Đồ họa cổ Việt Nam, Nxb Mỹ
thuật, Hà Nội, tr.21.
Trang 2323
Nghề in khắc gỗ ra đời ở Việt Nam gắn liền với nhu cầu phổ biến kiến thức trong xã hội Đầu tiên là những văn bia chạm khắc trên đá, rồi sách chép tay, nhưng cách thức này cũng rất hạn chế do không thể lưu hành rộng rãi trong nhân dân được Trong khi đó việc chép tay không tránh khỏi quá trình tam sao thất bản, mặt khác thời gian để chép lại một cuốn sách đòi hỏi rất nhiều công sức Trong điều kiện như vậy nghề in khắc gỗ ra đời dù chưa phải là một lối in tiên tiến nhưng cũng phần nào khắc phục tình trạng trên Từ những công việc thiết thực phục vụ cuộc sống việc in khắc gỗ đã gắn liền với kỹ thuật ấn loát, nghề in và công việc minh họa sách, sau đó phát triển trở thành một loại hình nghệ thuật đồ họa độc lập với ngôn ngữ riêng của mình
Năm 1861, người Pháp du nhập kỹ thuật in typo vào Sài Gòn đến đầu thế kỷ XX mở rộng ra miền Bắc đặc biệt là Hà Nội Tuy nhiên nghề in khắc
gỗ vẫn tiếp tục được sử dụng vì bấy giờ chữ quốc ngữ chưa phổ biến rộng
rãi như cuốn Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu in chữ Nôm bằng ván
gỗ năm 1865 tại Sài Gòn, một trong số những cuốn sách cuối cùng in bằng bản gỗ
Tính từ cuối thế kỷ XIX trở về trước người Việt chỉ biết đến một phương pháp in ấn phổ biến nhất đó là khắc gỗ Việc in ấn này ban đầu chủ yếu phục vụ in kinh Phật lưu hành trong nhà chùa, in sách cho triều đình, in truyện, thơ cho các văn sỹ hay in tranh dân gian phục vụ cho đời sống sinh hoạt của nhân dân Vì thế ngày nay với những ván in gỗ còn lưu giữ được
đó là những dẫn chứng cụ thể để chúng ta nhìn nhận về một quá trình phát triển đầy thăng trầm của nghệ thuật khắc gỗ Việt Nam nói riêng, nghệ thuật Đông Nam Á và Đông Á nói chung
Ở Việt Nam trong lịch sử nghệ thuật đồ hoạ đã có những dòng tranh sau: tranh in khắc Phật giáo, tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh), tranh dân gian Hàng Trống (Hà Nội), tranh dân gian Kim Hoàng (Hà Tây, Hà Nội
Trang 24Trong giai đoạn Bắc thuộc từ năm 111 trước công nguyên đến thế kỷ X, không có một di vật ấn loát nào, dù chữ Hán đã được truyền bá từ thời Sỹ Nhiếp ở vùng Luy Lâu (Dâu Keo ngày nay) Các Thiền sư Ấn Độ đã đem sang Việt Nam những bản kinh chữ Phạn Các Thiền sư Trung Hoa đem sang những bản kinh chữ Hán Sự gặp gỡ giữa Hán văn và Phạn văn tại Luy Lâu khá thú vị, mà dấu tích của hai ngôn ngữ đó còn tồn tại đến ngày nay trong các bản khắc ở các vùng Dâu Keo, Thuận Thành9
Tranh khắc gỗ giai đoạn này chủ yếu để in sách cho triều đình phong kiến, cho nhu cầu cá nhân và xã hội nói chung Dòng tranh khắc gỗ Phật giáo thường thuê các phường thợ in khắc Hồng Lục, Liễu Chàng - Hải Dương và Nhị Khê - Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), họ sử dụng lối khắc vuông, lối khắc này rất phù hợp với sự biến điệu của chữ Hán và gắn với
mỹ cảm ngay ngắn “chữ vuông như hòm”10 của kinh Phật Vào nửa sau của thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên cho đến thế kỷ thứ X, chúng ta không tìm được một bản khắc nào, dù chữ Hán đã được truyền bá vào Việt Nam Cho đến tận thế kỷ XI khi triều Lý thành lập, sử sách có xác nhận việc tồn tại một nghề in khắc gỗ nhưng chúng ta cũng không tìm thấy ván in
để chứng minh cho sự phát triển của nghề in khắc gỗ Việt Nam trong giai
đoạn này Sách Thiền uyển tập anh ghi: “Một thiền sư tên là Tín Học (mất
Trang 2525
năm 1190) có nghề gia truyền in khắc ván kinh Ông họ Tô, quê ở hương Chu Minh, phủ Thiên Đức, tu ở chùa Quán Đỉnh, núi Không Lộ, thuộc trường phái Vô ngôn thông”11 cũng là một chứng cứ quan trọng để xác nhận công việc in ấn, khắc gỗ đã có từ thế kỷ XII, gắn liền với tên tuổi của thiền
sư Tín Học, không rõ năm sinh nhưng mất năm 1190, đã xuất thân trong một gia đình chuyên khắc ván in kinh Phật Maurice Durand có viết trong
cuốn Tranh dân gian Việt Nam như sau:
Nếu căn cứ vào truyền thống của một số làng làm tranh, thì kỹ thuật in tranh được du nhập vào Việt Nam đầu thế kỷ XV, do một nhà nho nổi tiếng là Lương Nhữ Hộc, thi đỗ năm Đại Bảo thứ 3, đời Lê (1442) Quả thật ông ta được thờ làm tổ sư nghề làm tranh của làng Đông Hồ Lương Nhữ Hộc quê ở làng Hồng Liễu, huyện Trường Tồn, phủ Hạ Hồng, nay là làng Thanh Liễu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương12
Ở Việt Nam tìm được cội nguồn của nghệ thuật đồ họa Việt Nam là điều hết sức khó khăn Tất cả các hiện vật, di tích và cả thư tịch cũng rất ít
và không đầy đủ vì vậy việc xác định cội nguồn còn phải tiếp tục sưu tầm Cho đến nay chưa có một tài liệu nào công bố chính thức và rõ ràng, tất cả chỉ là phán đoán, suy luận Nhiều nhà nghiên cứu đã đi theo nhiều hướng nghiên cứu song chưa có kết quả thỏa đáng Có chăng chỉ là những nghiên cứu những hình khắc trên vách hang Đồng Nội, những hoa văn trên trống đồng Đông Sơn hay trên các sản phẩm gốm của Việt Nam Mà những hình khắc này cũng chỉ gọi là “tiền thân của nghệ thuật đồ họa”13, chứ không phải là phần khắc để in trên ván gỗ
Nhiều học giả cũng căn cứ vào các thư tịch cổ hoặc các bản in khắc chữ Hán đó là các bộ Kinh, các bài thuốc truyền thống và thơ ca thời Lý để xác định nguồn gốc Tuy nhiên căn cứ vào một số tư liệu chính sử, các nhà
11Sđd, Đồ họa cổ Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội, tr.16
12Maurice Durand (Đào Hùng dịch) (1960), Tranh dân gian Việt Nam, tr.6.
13Nguyễn Trân (1995), Nghệ thuật Đồ họa, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội, tr.45
Trang 26ra nhiều bản, hoặc cho in khắc gỗ Mặc dù sử sách đã xác nhận
có nghề in khắc gỗ, nhưng vật chứng không còn, và không có
gì đảm bảo rằng trong thời kỳ này in khắc gỗ là một phương tiện rộng rãi14
Việc in khắc bản kinh rộng rãi có lẽ đến thời nhà Trần mới được biết
rõ ràng hơn bởi việc in khắc bộ kinh Đại Tạng do Pháp Loa điều hành chứng tỏ nghề in khắc thời Trần được hình dung rất phát đạt “Là một triều đại thượng võ, có tổ chức hoàn chỉnh nhà Trần đã lãnh đạo dân tộc ba lần chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông, tất yếu chú ý đến học hành, hành chính, tổ chức các thông tin xã hội ngay trong thời chiến, mà đồ họa ấn loát là phương tiện không thể thiếu được khi cần phổ cập các vấn đề của quốc gia”15
Đến thời kỳ nhà Hồ, năm 1396 Hồ Quý Ly cho phát hành tiền giấy tên là “Thông bảo hội sao”, trên mỗi loại đồng là một hình hoa văn khác nhau: hình rau rong, sóng nước, mây, rùa, lân, phượng, rồng, đòi hỏi một kỹ thuật khắc ván tranh rất tinh tế để có thể in ra một số lượng tiền lớn và chính xác Tiền càng to hình vẽ càng quan trọng, điều này chứng tỏ nghề in khắc gỗ giai đoạn này đã đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống của
xã hội của Việt Nam Khi nhà Hồ sụp đổ, dưới sự thống trị của nhà Minh văn hóa của người Việt hầu như bị hủy diệt Năm Thái Hòa thứ nhất (1443),
14Phan Cẩm Thượng, Cung Khắc Lược, Lê Quốc Việt (1999), Đồ họa cổ Việt Nam, Nxb Mỹ
thuật, Hà Nội , tr.16
15 Sđd, Đồ họa cổ Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội, tr.16
Trang 2727
đời vua Lê Nhân Tông Lương Như Học (Bách khoa toàn thư Việt Nam gọi
là Lương Nhữ Hộc) khi đang là Ngự tiền học sinh cục trưởng ông được cử
đi sứ sang nhà Minh lần đầu tiên Năm Thiên Hưng thứ nhất (1459) ông được cử sang nhà Minh lần hai Nhờ hai lần đi sứ sang Trung Quốc, ông học được nghề in mộc bản ở đây Khi về nước:
…ông đã truyền nghề cho hai làng Liễu Chàng, Hồng Lục ở Hải Dương Khoảng năm 1470 thì nghề in khắc đã rất phát triển ở Lục Liễu… Từ đầu thế kỷ thứ XV đến thế kỷ XIX Liễu Chàng là nghề khắc ván duy nhất và là trung tâm in sách, in tranh đồ họa cho cả nước Vào năm Chính Hòa thứ 18 (1697) dưới triều Lê, thợ Hồng
Lục Liễu Chàng đã khắc ván in bộ Đại Việt sử ký toàn thư, bộ
lịch sử quan trọng bậc nhất nước ta16
Đến thời Lê, nghề in không còn bó hẹp trong các nhà chùa và do nhu cầu về sách cho sự nghiệp giáo dục và văn hóa ngày càng lớn, đã hình thành một trung tâm in sách cho cả nước thuộc Hải Dương
Năm 1443 Lương Nhữ Hộc tiến sỹ nhà Lê sơ đã đi sứ sang Trung Quốc và học nghề in khắc gỗ, sau đó truyền cho hai làng Hồng Lục và Liễu Chàng ở Hải Dương, nhưng phải đến năm 1470 nghề này mới thực sự phát triển Là một người học vấn uyên bác, quan tâm đến nền giáo dục và nâng cao trình độ văn hóa cho dân tộc, Lương Nhữ Hộc đã thừa kế và phát huy nghề in của đất nước, học hỏi thêm kỹ thuật của ngước ngoài trong các lần
đi sứ, xây dựng thành công nghề in khắc gỗ và trở thành ông tổ nghề in khắc của làng Hồng Lục, Liễu Chàng Dân hai làng Hồng Lục, Liễu Chàng nổi tiếng khắp cả nước và lập nhiều cơ sở in ở Thăng Long Theo Mai Hồng
và Nguyễn Hữu Mùi trong nghiên cứu Tìm hiểu nghề in của ta qua kho sách Hán Nôm cho rằng “tuổi nghề của Hồng Liễu là 211 năm (1683-1904)
gần như dài nhất trong các làng nghề đồ họa ở Việt Nam Thực ra đây là
16 Đỗ Quốc Vị (2003), “Ông tổ nghề khắc gỗ - in tranh Lương Nhữ Học (1420-1501)”, Tạp chí
Nghiên cứu Mỹ thuật, số 2 (06/2003), tr.60
Trang 2828
con số xác định từ niên đại trên sách còn lại Nếu tính từ 1470-1904 thì nghề in khắc gỗ Liễu Chàng đã có trên 500 năm tồn tại”17 Thợ Hồng Lục, Liễu Chàng ngoài việc khắc in sách theo lệnh của nhà nước, còn nhận khắc
in cho nhà chùa, nhà xuất bản hay in sách dạy học Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi chữ quốc ngữ ra đời, những người thợ ở đây lại chuyển sang khắc ván in sách bằng chữ quốc ngữ, hoặc những sách nửa chữ quốc ngữ nửa chữ Hán, đầu thế kỷ nhiều loại sách in bằng hai thứ chữ như vậy Sau ngày hòa bình lập lại năm 1954, những người thợ của Hồng Lục, Liễu Chàng chuyển sang chuyên khắc dấu cho nhà nước và làm việc ở các hợp tác xã thủ công
Như vậy, tính đến thế kỷ XV trở về trước chúng ta đã có một dòng đồ họa ra đời và phát triển, đó là đồ họa in khắc ván kinh phục vụ việc xuất bản kinh kệ, văn thư, tư liệu, sử sách của quốc gia và của các chùa Việt Các dòng tranh dân gian phải từ thế kỷ XVI trở đi mới thấy các tư liệu nhắc đến sự ra đời và tồn tại của nó trong lịch sử Trong suốt thế kỷ XVI và trong giai đoạn nhà Mạc (1527-1592) hầu như chúng ta không tìm được một ván khắc nào ở Bắc Bộ, nhưng nhờ vào sự hiện diện rực rỡ của các ván in thế kỷ XVII, để tin rằng tranh khắc gỗ đã có cơ sở truyền thống từ thế kỷ trước Cũng như có thể thấy được sự kế thừa của nghệ thuật điêu khắc thế kỷ XVI trong kiến trúc đình làng, chạm khắc trang trí, điêu khắc chùa làng, đồ gốm
và đồ tế tự đủ để khẳng định một đời sống thẩm mỹ rất hồn hậu của dân tộc Việt Nam qua các tác phẩm dân gian
Từ thế kỷ XVI cho đến nay, chúng ta chứng kiến sự ra đời của một số dòng tranh dân gian nhằm phục vụ cho đời sống tinh thần của người dân thành thị cũng như là nông thôn như tranh dân gian Đông Hồ, tranh dân gian Hàng Trống, tranh dân gian làng Sình, tranh dân gian Kim Hoàng và một dòng tranh ở miền Nam là tranh Đồ Thế Nam Bộ Nhưng để tìm hiểu
17Phan Cẩm Thượng, Cung Khắc Lược, Lê Quốc Việt (1999), Đồ họa cổ Việt Nam, Nxb Mỹ
thuật, Hà Nội , tr.17
Trang 2929
về nguồn gốc ra đời của tranh dân gian Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có tài liệu nào khẳng định một cách rõ ràng về thời điểm xuất hiện của nó Tuy nhiên những giá trị nghệ thuật, giá trị nội dung và những giá trị khác của nó thì không ai có thể phủ nhận được
Cho đến thế kỷ XVI một số nhà nghiên cứu cho rằng tranh dân gian Việt Nam và tranh Đông Hồ nói riêng ra đời từ thời kỳ nhà Lý (1019 - 1225) và thời nhà Hồ (1400 - 1407), được duy trì và phát triển mạnh dưới thời Hậu Lê (1427-1788), song song với việc in và phát hành tiền giấy cũng như cùng với đạo Phật thịnh hành Các nghệ nhân ở đây không chỉ khắc chữ
mà còn khắc tranh, trong đó có Bộ Bách khoa toàn thư bằng tranh do Henri
Oger tổ chức thực hiện vào đầu thế kỷ thứ XX (Hình 1.6) Nghề in mộc bản chuyển dần sang khắc dấu đồng, dấu gỗ Nhưng lịch sử đất nước ghi nhận công lao to lớn của những người thợ khắc ván in Liễu Chàng, Hồng Lục trong sự nghiệp phát triển văn hóa của dân tộc
Trang 3030
Hình 1.13 Trang minh hoạ về nghề thủ công truyền thống ở Việt Nam
Đầu thế kỷ 20 do Henri Oger thực hiện năm 1908-1909
Phần khắc in do những người thợ Đông Hồ thực hiện
In khắc gỗ đen trắng
Việt Nam với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên nhân hoá các hiện tượng thiên nhiên thành các vị thần nêndòng tranh thờ, tranh Tết ra đời phục vụ đời sống tinh thần cho người dân thời bấy giờ
Bia đình làng Đông Hồ có tên là “Đông Hồ tự bi” năm 1680, với hình khắc đôi chuột giã gạo, rất giống hình trong tranh “Đám cưới chuột”, gia phả dòng họ Nguyên Đăng ở Đông Hồ đã ghi được chừng 300 năm, phần nào khẳng định cái nguồn gốc trước thế kỷ XVII của Đông Hồ18
Tranh dân gian phát triển hưng thịnh, kéo dài từ thế kỷ XVII đến nửa thế kỷ XIX trải dài khắp cả nước Dựa theo phong cách nghệ thuật, kỹ thuật
18Phan Cẩm Thượng, Lê Quốc Việt, Cung Khắc Lược (2001), Đồ họa cổ Việt Nam, Nxb Mỹ
thuật, Hà Nội, tr.24.
Trang 313 Dòng in khắc tranh dân gian Hàng Trống (Hà Nội) ra đời từ thế kỷ XVII
4 Dòng in khắc tranh Kim Hoàng (Hà Tây, Hà Nội ngày nay) từ thế kỷ
XVIII-XIX (dòng tranh này hiện nay đã thất truyền)
5 Dòng in khắc tranh dân gian làng Sình (Huế) ra đời từ thế kỷ XVIII
6 Dòng tranh thờ miền núi ở các dân tộc phía Bắc như Tày, Nùng, Dao…
7 Dòng tranh Đồ Thế Nam Bộ19
Mỗi dòng tranh có một phong cách riêng, song tất cả đều được dựng hình theo kiểu “đơn tuyến bình đồ” dùng nét khoanh lấy các mảng màu và bao lại toàn hình Song song với tranh in dân gian sách và tranh in minh họa sách cũng phát triển mạnh
Năm 1925 Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương được thành lập tạo điều kiện cho mỹ thuật Việt Nam bước sang một trang mới tiếp cận với
mỹ thuật hiện đại thế giới Kế thừa vẻ đẹp độc đáo của mỹ thuật truyền thống đồng thời tiếp thu nét tạo hình mới từ phương Tây các họa sĩ đã tạo nên những tác phẩm tranh in gỗ có giá trị thẩm mỹ cao “Tranh khắc gỗ Việt Nam, dù đổi mới tân kỳ đến đâu chăng nữa thì cũng vẫn là tạo hình Việt, cảnh sắc Việt, hòa sắc Việt…”20 Qua lược sử phát triển của nghệ thuật tranh khắc gỗ có thể thấy bề dày lịch sử của loại hình tranh in này Trải qua hàng nghìn năm với nhiều biến đổi không ngừng tranh khắc gỗ vẫn
19Hoàng Minh Phúc (2015), Đồ họa in khắc gỗ hiện đại Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr.5
20
Nguyễn Đức Hòa, “Tranh khắc gỗ Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại”, Tạp chí Mỹ thuật
Nhiếp ảnh và Triển lãm - Cục Mỹ thuật Nhiếp ảnh và Triển lãm, Hà Nội, số 36 (6/2015), tr.8
Trang 3232
luôn đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa, văn minh của nhân loại Trong chặng đường phát triển của nền mỹ thuật Việt Nam, đặc biệt là thế kỷ XX, nghệ thuật tranh in Đồ họa nói chung và tranh in khắc gỗ nói riêng đã có những đóng góp không hề nhỏ, tạo nên diện mạo mỹ thuật nước nhà độc đáo với đặc trưng riêng biệt, không lẫn với bất kỳ quốc gia nào
Từ năm 1925 khi Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương được thành lập cho đến nay, kể cả về số lượng tác phẩm và chất lượng nghệ thuật của các dòng tranh Đồ họa đã có những bước tiến vượt bậc, không chỉ tiếp tục kế thừa từ vốn truyền thống dân tộc của nghệ thuật khắc gỗ đó là những dòng tranh dân gian và những ván khắc kinh mà đã được mở rộng về nội dung thể hiện và đề tài sáng tác Có rất nhiều tác giả đã thành danh chỉ với chất liệu khắc gỗ đen trắng và tự định hình một phong cách nghệ thuật riêng làm phong phú trang sử tranh khắc hiện đại mà vẫn mang đậm bản sắc dân tộc
Thành công đó một phần là nhờ việc tiếp nhận có chọn lọc nghệ thuật khoa học hiện đại châu Âu trong xử lý không gian, diễn hình, diễn màu Các họa
sỹ đã biết tiếp thu phương pháp tạo hình hiện đại của phương Tây và chọn lọc những nét tinh hoa truyền thống của tranh đồ họa dân tộc Việt Nam, để tạo nên những bản sắc mang đậm nét Việt Tuy nhiên trước những thay đổi của xu hướng nghệ thuật cũng như nhu cầu công chúng, nghệ thuật tranh
Đồ họa dân gian Việt Nam cũng đứng trước không ít khó khăn Nếu như trước đây, chúng ta có những phường thợ chuyên khắc tranh và những làng khắc tranh mang tính chuyên môn hóa cao thì ngày nay những phường khắc tranh đó vẫn còn nhưng chỉ là khắc dấu, hoặc những khuôn hình do khách hàng đặt Ngay cả các làng làm tranh truyền thống cũng thu hẹp quy mô và
Trang 3333
chuyển sang làm nghề mã nhiều hơn Chính vì vậy mà số người làm tranh
in khắc ngày càng ít đi Đối với các họa sỹ hiện đại lựa chọn chất liệu Đồ họa đen trắng để sáng tác không phải đơn giản cho đa số, cũng có thể để thử nghiệm, cũng có thể vì hứng thú hay vì thỉnh thoảng mới làm theo tính thời cuộc Nhưng rốt cuộc, số họa sỹ duy trì công việc sáng tác trên lĩnh vực này vẫn chiếm thiểu số Tranh đồ họa ngày hàng thu hẹp không gian vốn có của
nó, ngay cả chất liệu gỗ truyền thống, thì các họa sỹ chuyển sang dùng ván
ép để khắc nhiều hơn, thời gian để làm ra một tác phẩm lại lâu vì phải qua một công đoạn khắc mất nhiều thời gian và khoảng thời gian cảm xúc có thể làm mất dần đi do phải chuyển tải qua nhiều công đoạn từ việc làm phác thảo, đến việc chuyển phác thảo sang gỗ, rồi khắc, in Điều này cũng khiến cho việc sáng tác trên chất liệu này đã kén người lại càng hiếm hơn
Trải qua những thử thách khắc nghiệt của thời gian và những thăng trầm của lịch sử, thì nghệ thuật tranh Đồ họa Việt Nam không chỉ đóng góp một vai trò quan trọng trong sự nghiệp chính trị của quốc gia, trong đời sống kinh tế, ca ngợi quê hương đất nước mà còn đóng góp những giá trị nghệ thuật và văn hóa làm nên diện mạo và nét đặc sắc Việt Nam Những
“cuốn lịch sử bằng tranh” này đã ghi lại cả chặng đường lịch sử của một dân tộc anh hùng với sự kiên trì, bền bỉ, luôn nỗ lực giữ gìn bản sắc trong quá trình tiếp nhận, giao lưu văn hóa từ bên ngoài Hy vọng trong tương lai, cuốn sách lịch sử bằng tranh đó sẽ được thế hệ nghệ sỹ trẻ tiếp tục kế thừa
và phát huy bằng những sáng tác tâm huyết để có thể đóng góp cho nền mỹ thuật nước nhà những tác phẩm giá trị, có thể sánh ngang với nghệ thuật quốc tế mà vẫn giữ được vẻ đẹp riêng của nghệ thuật tranh Đồ họa truyền thống Việt Nam
Qua đó ta thấy rằng, tranh Đồ họa xuất hiện tại nước ta từ khá sớm
Mỹ thuật truyền thống Việt Nam luôn tự hào với dòng tranh khắc gỗ dân
gian: tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống, tranh Kim Hoàng, tranh làng Sình
ở Huế, Nam Bộ thịnh hành trong các thế kỷ từ 16 đến đầu thế kỷ 20 Bên
Trang 3434
cạnh chất liệu khắc gỗ, các kĩ thuật in đá, in lưới, in kính, in kẽm, in đồng… được du nhập từ Châu Âu, trong quá trình phát triển lịch sử mỹ thuật cận
đại, đã mang lại sự hoàn chỉnh cho đồ họa tranh in Việt Nam hiện tại
1.3 Ngôn ngữ biểu đạt trong tranh khắc gỗ
Mỗi một loại hình nghệ thuật có một tiếng nói riêng và một cách biểu đạt riêng Trong nghệ thuật khắc gỗ, đường nét, mảng (sắc độ) và những tính chất biểu cảm của đường nét là những phương tiện biểu đạt chính yếu Đây cũng là những yếu tố quan trọng để thể hiện nét riêng biệt của loại hình nghệ thuật đồ họa này so với các loại hình nghệ thuật khác
Trong mỹ thuật ngôn ngữ được thể hiện dưới hình thức biểu hiện của thị giác vì vậy “Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu Những màu sắc, đường nét, âm thanh, cử chỉ hình thể… hoặc là riêng đơn, hoặc là kết hợp để thông báo, thông tin, truyền đạt, biểu thị, biểu cảm để hướng hoạt động đồng loạt đạt đến mục đích chung đồng lòng cảm thụ trong đối thoại giao lưu, giao tiếp” 21 Nghĩa là một hệ thống những quy ước mà được công chúng cùng xác nhận nhất quán về ý nghĩa, cảm xúc Và ngôn ngữ bao giờ cũng được biểu hiện ra bên ngoài để nói rõ cái bên trong về những sự vật, hiện tượng Những yếu tố tạo hình góp phần tạo nên tính biểu cảm trong tranh khắc gỗ đen trắng được liệt kê như sau:
Đường nét
Đường nét tạo chu vi cho mảng, là ranh giới giữa mảng hình và nền còn mảng là tổ hợp của nét và hình Hai yếu tố đường nét và mảng luôn bổ sung cho nhau, khi kết hợp với nhau trong một quan hệ thỏa đáng sẽ gây nên ý vị thẩm mỹ của một tổng thể hài hòa gọi là bố cục Trong một tác phẩm, nếu xếp theo thứ tự, bố cục không phải ở vị trí đầu tiên để xây dựng một tác phẩm nhưng lại giữ vị trí quan trọng nhất khi phải xâu chuỗi những hình thức biểu đạt, sắp xếp, tìm chỗ đặt để cho các yếu tố được đưa vào tác
21Vũ Dũng (2008), Từ điển tâm lý học, Viện khoa học xã hội Việt Nam- Viện tâm lý học, Hà
Nội, tr.16
Trang 35chủ đạo.Vì vậy đường nét
được sử dụng và biến hóa
để diễn tả được yêu cầu về
Hình 1.14 Yuasa Hiroghi, Thân cây,
Khắc gỗ
Trang 3636
hình thức, cũng như nội dung tình cảm mà người vẽ mong muốn Tự bản thân đường nét không thể diễn đạt nhưng thông qua tư duy, đôi bàn tay của họa sĩ đường nét như được thổi hồn vào trong từng tác phẩm và thể hiện được tính biểu cảm của bức tranh Với đôi tay khéo léo đường nét có thể diễn tả những chi tiết tinh vi nhẹ nhàng như làn mây, sương khói hoặc diễn
tả những cơ sóng mạnh mẽ của biển cả… Để tạo ra những thay đổi về chiều hướng trong tranh khắc gỗ, người họa sĩ đòi hỏi sự tính toán, phán đoán cần thiết để mang đến cho người xem những ấn tượng về cảm xúc
Bản năng của con người là nắm bắt sự vật trong tự nhiên bằng hình thể mà thói quen của thị giác thường tách hình thể ra khỏi sự vật bằng đường nét Như vậy, nét là cảm nhận đầu tiên của thị giác và ảo ảnh được gây ra sau nó là mảng Hai yếu tố này có quan hệ thống nhất với nhau để xây dựng hình tượng nghệ thuật trong tranh Ở trong tranh, khi nét được dùng để tái tạo tự nhiên thì đồng hành với nét, mảng xuất hiện Mảng ra đời chính là hệ quả của nét Tính đặc trưng của mảng là sự tổ hợp của những mật độ nét, ở đó sức biểu cảm của nó được phát huy bằng sức biểu cảm của nét Một tác phẩm khắc gỗ nếu nét là yếu tố tạo hình chủ đạo thì đằng sau
bề nổi của nét, mảng cũng song hành tồn tại Giá trị biểu đạt của ngôn ngữ
đồ họa không phải chỉ là một nét độc lập nào đó mà là sự liên kết của cả một hệ thống các nét trong mảng Đây là hai yếu tố giữ vị trí quan trọng nhất trong việc xây dựng bố cục và hình thành tác phẩm Mỗi họa sỹ chọn cho mình một cách diễn đạt riêng bằng màu sắc, bằng hình thể, chất cảm hoặc bằng sự tổng hòa của tất cả các yếu tố trên Tuy nhiên, các mối quan
hệ này không có một chuẩn mực cụ thể mà chúng phụ thuộc vào cách nhìn, cách nghĩ và tri thức văn hóa của người sáng tác Và vai trò của người sáng tác là phải làm sao cho người xem dễ dàng cảm nhận được một tác phẩm nghệ thuật và có thể nắm bắt được ý đồ của tác giả Trong khi sáng tác người họa sỹ luôn luôn quan tâm đến sự quan hệ giữa nội dung tư tưởng tình cảm, nội dung phản ánh và hình thức biểu đạt thể hiện trên tranh, trên
Trang 3737
cấu trúc hình thể và bố cục Điều đó cũng làm cho người thưởng thức bức tranh hay các nhà phê bình dễ dàng nắm bắt được cá tính, tâm lý của người sáng tác Bên cạnh đó yếu tố biểu đạt mà nghệ thuật đồ họa quan tâm tới là
sự hài hòa của đường nét Đường nét có quan hệ chặt chẽ với chuyển động, nét cứng hay nét mềm, nét uyển chuyển hay mạnh mẽ Nét thường kết hợp với mảng khối, hình thể Sự điều chỉnh cân bằng đường nét là dựa trên những yếu tố của mảng, hình có sẵn Đường nét đóng vai trò quyết định trong mỗi tác phẩm đồ họa, phối hợp để có sự cân bằng giữa đường nét và hình thể sẽ tạo ra ý tưởng thể hiện của người họa sỹ và tạo ra tính phong phú trong mỗi tác phẩm Trong tranh khắc gỗ dân gian, nét được sử dụng để giới hạn các mảng và đóng vai trò quyết định sự cân bằng giữa mảng và nét Nếu nét khắc của tranh dân gian Hàng Trống dựa vào sự phân chia mảng lớn, nét mảnh để thấy được khả năng thay đổi của hình và bố cục thì nét trong tranh dân gian Đông Hồ lại cô đọng, chắt lọc Những nét to khỏe trong tranh dân gian Đông Hồ hay nét mảnh nhỏ trong tranh dân gian Hàng Trống, Kim Hoàng còn đóng vai trò trung gian cho màu sắc được hài hòa, cân đối Nét tạo không gian, tạo ra sự chuyển động trong tác phẩm và tạo ra hình thể Sự hài hòa đường nét và hình thể được thể hiện rất đa dạng và phong phú, nó không chỉ ở một dòng tranh nào Nét phối hợp với hình thể tạo ra mảng và sự cân bằng thị giác trên mảng sẽ mang giá trị sáng tạo tính cân bằng thẩm mỹ
Hình, mảng
Bên cạnh đường nét thì yếu tố mảng hình đóng vai trò cần thiết không kém trong tranh khắc gỗ Để có được một bố cục hài hòa, hợp lý, việc tổ chức sắp xếp các mảng chính phụ, mảng trống có ý nghĩa hết sức quan trọng Trên một mặt phẳng chưa có bất kỳ nét vẽ nào thì được gọi là mảng trống, một vết chấm xuất hiện thì gọi đó là điểm, tập hợp nhiều nét chấm lan rộng thành hình thì được gọi là mảng Như vậy ta có tập hợp nhiều nét tạo thành hình cũng được gọi là mảng, đó là trong mảng hình tạo thành bởi
Trang 3838
nhiều nét Theo Từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông “một lượng màu nào
đó chiếm diện tích nhất định trên mặt tranh, tạo thành một mảng riêng, phân biệt rõ rệt với các mảng màu xung quanh nó thì đó được gọi làmảng màu”22 Sự phân biệt này có thể do độ đậm nhạt, nóng lạnh của màu sắc hoặc về nội dung hình thể trong tranh Khi nói đến mảng màu, người ta thường chỉ các mảng màu lớn Tuy nhiên, trong các mảng màu lớn, có chứa đựng các mảng màu nhỏ hơn Trong tranh đen trắng thì đó là những mảng màu mang các sắc độ khác nhau của màu đen và trắng
Mảng được khẳng định như một mặt phẳng đã được đóng khung bởi các nét viền chung quanh trên tranh trong không gian hai chiều Mảng có hai hình thức: mảng hình tự nhiên chưa có bất kỳ tác động nào và mảng hình đã được quy định dưới dạng hình học như: vuông, tròn, tam giác, lục giác… Mảng trong nghệ thuật đồ hoạ được hiểu là các yếu tố trong tiết diện, chiếm một khoảng bề mặt nhất định trong tranh, lớn hay nhỏ, đậm hay nhạt, tự tách ra với xung quanh bằng một đường biên khép kín Đồng thời biến xung quanh thành nền của chúng, vì vậy mảng nào cũng có hình thù nhất định có khi rất đa dạng, tùy theo cấu tạo hoặc tính chất của mỗi mảng Qua đó cho thấy mảng được tạo ra từ một nhóm hình, một hình riêng rẽ, một bộ phận của hình hay một chi tiết của bộ phận
Mảng là tập hợp nhiều bộ phận thành một tổng thể cho mắt nhìn Mảng được tạo ra do đường nét, màu sắc đồng nhất: Mảng sáng, mảng tối Đắp tượng thành những hay vẽ tranh mảng lớn để các chi tiết ăn nhập vào nhập vào cái chung chứ không tranh chấp loại trừ nhau Mảng đầy là phần trong tranh các họa sĩ vẽ hình, màu thể hiện các vật thể không gian; đối lập với mảng đầy là mảng trống, phần trong tranh không có hình Hội họa Trung Hoa (tranh
22Đặng Thị Bích Ngân (chủ biên) (2012), Từ điển Mỹ thuật phổ thông, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội,
tr.90
Trang 3939
thủy mặc đời Tống) nổi tiếng về sử dụng đối lập giữa mảng đầy
và mảng trống trong tranh23
Hình 1.15 Huy Oánh, Ông cháu, 1966, Khắc gỗ đen trắng, 30x40cm
Trong tranh đồ họa, việc phân chia các mảng miếng, tìm hình, lọc nét tạo nên rất nhiều mảng hình khác nhau, có mảng sáng và mảng tối, mảng chính và mảng phụ, nếu mảng tối là chính thì mảng sáng là phụ, và ngược lại, đó là sự tương phản đăng đối giữa sáng tối nhưng không bằng nhau Tùy theo cách thể hiện của mỗi tác giả mà việc sắp xếp các mảng miếng
diễn đạt hết nội dung của tác phẩm
Theo định luật bất biến trong tự nhiên, mọi sự vật hiện tượng tồn tại
và tiếp biến đều có sự so sánh và đối chiếu, có âm dương, có trời đất Nếu mảng sáng giữ vai trò quan trọng trong tranh thì mảng tối đóng một vai trò quan trọng nhất định khác Không có đêm không thể nhận biết được ngày, không có mảng tối sẽ không thấy được mảng sáng Do vậy, mảng tối là tập hợp những mảng hình mà ở đó hoàn toàn tương phản, đối nghịch với mảng
23Nhiều tác giả (2002), Từ điển Bách khoa Việt Nam 2, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội,
tr.836
Trang 4040
sáng Nếu mảng sáng thể hiện phần dương trong tác phẩm, thì mảng tối chính là phần âm Trong tranh khắc gỗ việc phân bố mảng sáng, mảng tối như một nhịp điệu hài hòa, mảng tối làm nổi bật mảng sáng, tương phản và
hỗ trợ nhau Nếu mảng tối dày đặc thì làm tăng thêm sự tương phản, đối nghịch cho mảng sáng
Trong bất kỳ nền nghệ thuật nào, việc thể hiện phân chia những mảng sáng tối trong tác phẩm đều mang một tầm ý nghĩa quan trọng, kể cả trong các lĩnh vực nghệ thuật khác như nhiếp ảnh, sân khấu và điện ảnh sáng và tối như tuân theo một quy luật tự nhiên của con người Từ những hiện tượng lớn như trời, đất, mặt trời, mặt trăng, đến những sự vật nhỏ như con sâu, con bọ, cây cỏ, đều được quy vào âm dương Ví dụ về thiên nhiên thuộc dương ta có thể kể: mặt trời, ban ngày, mùa xuân, hè, đông, nam, phía trên, phía ngoài, nóng, lửa, sáng Thuộc âm ta có: mặt trăng, ban đêm, thu, đông, tây, bắc, phía dưới, phía trong, lạnh nước, tối Âm dương tuy bao hàm
ý nghĩa đối lập mâu thuẫn nhưng còn bao hàm cả ý nghĩa nguồn gốc ở nhau
mà ra, hỗ trợ, chế ước nhau mà tồn tại, nghĩa là trong âm có sự tồn tại của dương và ngược lại