1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỊ TRƯỜNG THÔNG TIN DI ĐỘNG VIỆT NAM

13 406 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thị Trường Thông Tin Di Động Việt Nam
Trường học Đại Học Bách Khoa Hà Nội
Chuyên ngành Kỹ Thuật Viễn Thông
Thể loại Báo cáo chuyên đề
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

o Tốc độ tăng trưởng o Thị phần các nhà cung cấp o Công nghệ sử dụng o Đối tượng sử dụng o Các loại hình dịch vụ o Sự canh tranh bằng khuyến mãi o Sự quản lý của nhà nước  Sơ lược về cá

Trang 1

THỊ TRƯỜNG THÔNG TIN DI ĐỘNG VIỆT NAM

Chương 2 bao gồm các nội dung sau:

 Tổng quan về thị trường

o Tốc độ tăng trưởng

o Thị phần các nhà cung cấp

o Công nghệ sử dụng

o Đối tượng sử dụng

o Các loại hình dịch vụ

o Sự canh tranh bằng khuyến mãi

o Sự quản lý của nhà nước

 Sơ lược về các các nhà cung cấp dịch vụ

o Vinaphone

o Mobifone

o Viettel

o Sphone

o EVNtelecom

o HT Mobile

2.1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG:

Trong những năm qua, thị trường TTDĐ Việt Nam luôn duy trì mức tăng trưởng 60-70%/năm và được coi là thị trường đầy tiềm năng đối với các nhà đầu tư Xếp

về mức độ tăng trưởng cao trên thế giới về TTDĐ, Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc Hiện tổng số thuê bao di động trên cả nước đạt hơn 23 triệu thuê bao/84 triệu người

Thị trường hiện đang ổn định với 6 NCCDV Ba nhà cung cấp theo công nghệ GSM là Vinaphone, Mobifone, Viettel chiếm 85% tổng số lượng thuê bao toàn quốc và ba nhà cung cấp theo công nghệ CDMA là Sphone, EVNtelecom và HT Mobile - được đánh giá là hiện đại hơn GSM- chỉ chiếm 15% tổng số thuê cả nước nhưng lại có lợi thế hơn về giá cước dịch vụ

Cả 6 nhà cung cấp này đang ra sức cạnh tranh với nhau để chiếm lĩnh thị trường Phương thức cạnh tranh chủ yếu của các nhà cung cấp là chạy đua khuyến mãi giảm giá Điều này dẫn đến việc chất lượng dịch vụ giảm đáng kể và người tiêu

Trang 2

dùng bị ảnh hưởng Trong bối cảnh đó, bộ bưu chính viễn thông đã ban hành tiêu chuẩn TCN 68-186:2006 nhằm quản lý chất lượng dịch vụ của các nhà cung cấp Sau đây là phần nội dung mô tả chi tiết thị trường TTDĐ Việt Nam:

2.1.1 Tốc độ tăng trưởng

Thông tin từ hãng nghiên cứu Hot Telecom của Canada cho biết, đến năm 2010, tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, thị trường di động sẽ đạt tới 1,5 tỷ thuê

bao Và trên tổng số 15 quốc gia khu vực này, Việt Nam được đánh giá cao bởi

tiềm năng và tốc độ phát triển vượt bậc, đạt 45 triệu thuê bao di động, vượt qua

cả Thái Lan (40 triệu thuê bao); Hàn Quốc (42 triệu thuê bao); Malaysia (32 triệu thuê bao); Úc (21 triệu thuê bao) và Hồng Kông (8 triệu thuê bao)

Đến tháng 5/2006, tổng số thuê bao điện thoại của Việt Nam đã đạt gần 18 triệu, tương ứng mật độ khoảng 21 máy/100 dân Sự tăng nhanh của mật độ điện thoại

là nhờ có sự bùng nổ của các mạng di động Bộ trưởng Bộ BCVT Đỗ Trung Tá cho biết: Trong 5 năm qua, khi tốc độ phát triển bình quân của TTDĐ thế giới đạt 34-35%/năm; châu Á - Thái Bình Dương - khu vực phát triển kinh tế năng động nhất đạt 39,5%, thì ở Việt Nam, tốc độ phát triển TTDĐ đã cao gấp đôi so với

mức trung bình thế giới, đạt 60-65%/ năm "Sự ứng dụng nhanh các công nghệ

mới, sự tăng trưởng kinh tế và mức sống nhân dân, tiến trình mở cửa cạnh tranh,

lộ trình giảm cước là những yếu tố thúc đẩy sự phát triển ngoạn mục đó tại Việt Nam", Bộ trưởng Đỗ Trung Tá nhận xét

Theo thống kê, trong năm 2006, VN sẽ có gần 14 triệu thuê bao di động, và đến năm 2010, con số này sẽ lên từ 36 đến 45 triệu thuê bao

2.1.2 Thị phần các nhà cung cấp: Theo số liệu thông kê mới nhất dựa trên báo cáo về

số lượng thuê bao thực của các doanh nghiệp trình bộ bưu chính viễn thông, đến tháng 07/2007, thị phần các NCCDV thông tin di động tại Việt Nam được phân bố như sau:

Bảng 2.1: Thị phần của các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động tại Việt Nam

Trang 3

4 Sphone 2.70 triệu 11.56% 4

7 Khác (Calink, cityphone) 0.01 triệu 0.04% 7

Ghi chú: * là xếp hạng theo thị phần.

(Nguồn: Bộ bưu chính viễn thông, 2007)

2.1.3 Đối tượng sử dụng

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu thông tin liên lạc của người tiêu dùng Việt Nam ngày càng tăng nhanh Với tính tiện ích của dịch vụ TTDĐ là liên lạc mọi lúc, mọi nơi và chi phí sử dụng phù hợp, loại hình thông tin liên lạc này ngày càng phổ biến trong cộng đồng

Nếu như khi lần đầu tiên xuất hiện, 1992 (Mobifone) và 1996 (Vinaphone), số lượng thuê bao dịch vụ di động ở Việt Nam chỉ đếm trên đầu ngón tay và chỉ tập trung chủ yếu vào tầng lớp thu nhập cao như: doanh nhân, quan chức chính phủ, những người quan trọng… Thì đến nay, cùng với sự phát triển của thiết bị đầu cuối, sự đầu tư công nghệ và giảm giá thành sử dụng của các NCCDV, số lượng thuê bao đã đạt con số 23 triệu, chiếm gần 30% dân số (07/2007) và đối tượng sử dụng cũng đã mở rộng từ doanh nhân, quan chức chính phủ, cho đến công nhân, học sinh, sinh viên, các bà nội trợ, tài xế, xe ôm…

Có thể kết luận rằng, hiện nay dịch vụ TTDĐ được sử dụng rộng rãi Tất cả mọi đối tượng đều có thể sử dụng dịch vụ này

Tuy nhiên, theo tổng hợp thống kê của các NCCDV thông tin di động: phần lớn doanh thu họ có được là từ những đối tượng có mức thu nhập cao và có độ tuổi

từ 35-55 tuổi Đối tượng này bao gồm những nhà quản lý, chủ đầu tư, quan chức… Đây là những đối tượng sử dụng dịch vụ TTDĐ phục vụ cho mục đích công việc

2.1.4 Công nghệ sử dụng

GSM

Trang 4

Hiện tại mạng GSM (Global System for Mobile communication) trên thế giới có

3 băng tần: 900, 1800, 1900MHz Chuẩn GSM ban đầu chỉ sử dụng băng tần 900MHz, gọi là phiên bản P-GSM (Primary GSM) Để tăng dung lượng, băng tần dần được mở sang 1800 và 1900MHz, gọi là phiên bản mở rộng (E-GSM)

Ở Việt Nam, ba nhà cung cấp theo công nghệ GSM là Vinaphone, Mobifone, Viettel

Vùng dịch vụ GSM là toàn bộ vùng địa lý mà thuê bao có thể truy nhập vào mạng GSM, và sẽ càng mở rộng khi có thêm nhiều nhà khai thác ký thỏa ước hợp tác với nhau Hiện tại thì vùng dịch vụ GSM đã phủ hàng chục quốc gia, kéo dài từ Ai-xơ-len đến châu Úc và Nam Phi Chuyển vùng là khả năng cho phép thuê bao truy nhập mạng của mình từ mạng khác Vì GSM là một chuẩn chung nên thuê bao có thể dùng điện thoại hệ GSM tại hầu hết các mạng GSM trên thế giới Chế độ chuyển vùng quốc tế hoặc chuyển vùng giữa mạng của hai nhà khai thác dịch vụ khác nhau đòi hỏi phải có sự chấp thuận và hỗ trợ từ cấp nhà khai thác dịch vụ

CDMA

Lý thuyết CDMA (Code Division Multiple Access) được xây dựng từ những năm

1950 và áp dụng trong thông tin quân sự vào thập niên 60 Cùng với sự phát triển của công nghệ bán dẫn và lý thuyết thông tin trong những năm 1980, CDMA đã được thương mại hóa từ phương pháp thu GPS và Ommi-TRACS, phương pháp này cũng đã được đề xuất trong hệ thống mạng tế bào của Qualcomm vào năm

1990 Hiện tại thì các mạng CDMA đang dùng hai băng tần: 800MHz (qui định trong chuẩn TIA/EIA/IS-95A) và 1,9GHz (ANSI J-STD-008) Việt Nam hiện có

ba nhà cung cấp theo công nghệ CDMA là Sphone, EVNtelecom và HT Mobile.

So sánh công nghệ

Ưu điểm của CDMA so với GSM có thể kể ra như sau:

 CDMA dùng một mã ngẫu nhiên để phân biệt kênh thoại và dùng chung băng tần cho toàn mạng, có giải thuật mã hóa riêng cho từng cuộc Chính

vì thế tính bảo mật của cuộc thoại và mức độ hiệu quả khai thác băng tần cao hơn

 So với hệ thống tương tự AMPS, chất lượng thoại được nâng lên và dung lượng của CDMA có thể tăng lên 6-10 lần

 CDMA có cơ chế giúp tiết kiệm năng lượng, giúp tăng thời gian thoại của pin thiết bị

 Khả năng mở rộng dung lượng của CDMA dễ dàng và chi phí thấp hơn so với GSM GSM sẽ gặp bài toán khó về phân bố lại tần số cho các ô

Nhược điểm của CDMA so với GSM có thể kể ra như sau:

 Vùng phủ sóng của CDMA trên thế giới còn hẹp nên khả năng chuyển vùng quốc tế giữa các hệ thống CDMA còn hạn chế

Trang 5

 Số lượng nhà sản xuất thiết bị điện thoại di động hệ CDMA ít, chủ yếu tập trung tại Mỹ, Hàn Quốc, Nhật nên chủng loại kém phong phú hơn so với chuẩn GSM

2.1.5 Các loại hình dịch vụ

Mỗi NCCDV đều có những loại hình dịch vụ khác nhau Tuy nhiên có thể phân loại ra như sau:

Dịch vụ thoại: bao gồm dịch vụ gọi và nghe Mỗi NCCDV đều có những gói

cước khác nhau cho loại hình hình dịch vụ này, nhưng có thể phân loại ra như sau:

 Thuê bao trả trước: Là loại hình thuê bao phổ biến trên thị trường Người tiêu dùng nộp tiền vào tài khoản của mình bằng thẻ và khi sử dụng, số tiền trong tài khoản sẽ bị trừ dần cho đến khi hết và người tiêu dùng phải nạp thêm tiền để sử dụng tiếp

 Thuê bao trả sau: Người tiêu dùng phải ký hợp đồng với NCCDV Số tiền

sử dụng dịch vụ trong tháng sẽ được tổng hợp và gửi cho về cho người tiêu dùng vào cuối mỗi tháng Người tiêu dùng phải đóng cước hàng tháng

để được sử dụng tiếp

Dịch vụ SMS: là dịch vụ nhắn tin ngắn giữa các thuê bao Mỗi tin nhắn gồm 160

ký tự không dấu và mức cước khoảng 250VNĐ->400VNĐ tuỳ theo quy định của từng NCCDV

Dịch vụ dữ liệu: Bao gồm các dịch vụ data, fax, GPRS, MMS, internet… Có thể

phân loại như sau:

 Thuê bao trọn gói: mỗi tháng, người tiêu dùng sẽ phải tốn một khoản tiền

cố định nhưng được sử dụng dịch vụ một cách thoải mái

 Thuê bao trả theo lưu lượng sử dụng: người sử dụng sẽ phải trả tiền cho mỗi KB dữ liệu mà họ dùng Dùng nhiều phải trả nhiều, dùng ít, trả ít

Dịch vụ gia tăng khác: các dịch vụ như tải game, nhạc hình ảnh, chuyển vùng

quốc tế, thông báo cuộc gọi nhỡ… Giá của các loại hình dịch vụ này tùy thuộc vào từng NCCDV khác nhau

2.1.6 Sự cạnh tranh bằng khuyến mãi

Hiện tại, công cụ cạnh tranh chủ yếu của DN là giảm giá và khuyến mãi Những chương trình khuyến mãi về giá cước cùng nhiều chính sách cước gây “sốc” cũng

đã diễn ra trong năm 2006 Chưa bao giờ người dùng ĐTDĐ Việt Nam được ưu

ái như năm này Viettel luôn dẫn đầu với nhiều chương trình khuyến mãi cực kỳ hấp dẫn, đôi khi đến mức khó tin, ví dụ gần đây nhất là chương trình “Mừng

Trang 6

Giáng Sinh và chào 2007”, khách hàng hòa mạng mới trả sau sẽ được tặng 100% phí hòa mạng, tặng 60.000 đồng/tháng trong tài khoản, liên tục trong 5 tháng kể

từ tháng liền kề sau tháng hòa mạng; khách hàng hòa mạng mới trả trước cũng được cộng tiền vào tài khoản và nhân đôi ngày sử dụng cho tất cả các mệnh giá thẻ Không chỉ Viettel mà tất cả các mạng ĐTDĐ đều đã bỏ ra rất nhiều tiền của

để “lôi kéo” khách hàng dùng dịch vụ của họ Không chỉ có các chương trình khuyến mãi, mà ngày càng có nhiều gói cước cho khách hàng lựa chọn và đi đầu trong việc “sáng tạo” này là S-Fone Lần đầu tiên người dùng ĐTDĐ theo dạng trả trước không bị giới hạn thời gian nghe khi sử dụng gói Forever hoặc gói Forever Couple của S-Fone; gói Smile lại cho phép thuê bao được miễn phí đến

60 phút gọi nội mạng, đồng thời được giảm 50% cước gọi ngoại mạng trong khoảng thời gian từ 0h00 đến 16h00 hàng ngày, khách hàng chỉ phải trả 1.890 đồng/ngày để duy trì các tiện ích của gói Smile Tương tự, HT Mobile cũng có chính sách tặng thời gian gọi cho người gọi nội mạng và giảm giá cước cho các cuộc gọi khác mạng Các chương trình khuyến mãi, các chính sách cước mới ngày càng đa dạng và phong phú, tạo điều kiện cho rất nhiều người có cơ hội sử dụng ĐTDĐ cũng như tiết kiệm được chi phí liên lạc Tuy nhiên các cuộc chạy đua giảm giá khuyến mãi này cũng có mặt trái của nó, người tiêu dùng đã bắt đầu lên tiếng việc giảm sút chất lượng dịch vụ của các nhà cung cấp

2.1.7 Sự quản lý của nhà nước.

Khi VN đã gia nhập ''sân chơi'' WTO, khả năng cũng như năng lực cạnh tranh của các mạng di động trong nước sẽ không thể chỉ trông chờ vào việc chạy đua giảm giá dịch vụ, hay tưng bừng khuyến mãi Điều này chỉ có thể chấp nhận ở thời điểm thị trường còn sơ khai, nếu kéo dài, trước sức ép cạnh tranh của các tập đoàn viễn thông quốc tế, DN Việt Nam sẽ có nguy cơ bị phá sản, tự động đào thải mình khỏi cuộc chơi

Chất lượng dịch vụ di động nước ta lại phụ thuộc rất nhiều từ những ảnh hưởng trực tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài Hẳn nhiên, các nhà cung cấp mạng di động trong nước, muốn tồn tại phải tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường dịch vụ giá trị gia tăng, ứng dụng công nghệ mới Có như vậy, khi hội nhập, DN trong nước mới đủ sức để cạnh tranh lành mạnh

Dựa trên tình hình đó, tiêu chuẩn Ngành TCN 68-186: 2006 “Dịch vụ điện thoại trên mạng viễn thông di động mặt đất - Tiêu chuẩn chất lượng” đã được xây dựng, do Cục Quản lý chất lượng Bưu chính, Viễn thông và Công nghệ thông tin biên soạn theo đề nghị của Vụ Khoa học - Công nghệ và được ban hành theo Quyết định số 29/2006/QĐ-BBCVT ngày 05/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính, Viễn thông Nội dung tóm tắt của bộ tiêu chuẩn như sau:

Bảng 2.2: Tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ điện thoại di động TCN 68-186: 2006

Trang 7

STT Chỉ tiêu chất lượng dịch vụ TCN 68

-186:2006

1 Tỷ lệ cuộc gọi được thiết lập thành công  92%

3 Chất lượng thoại (điểm chất lượng thoại trung bình)  3,0

4 Độ chính xác ghi cước

- Tỷ lệ cuộc gọi bị ghi cước sai

- Tỷ lệ thời gian đàm thoại bị ghi cước sai

 0,1%

 0,1%

5 Tỷ lệ cuộc gọi tính cước, lập hoá đơn sai  0,01%

7 Khiếu nại của khách hàng về CLDV

(Số khiếu nại/100 khách hàng/3 tháng)

 0,25

8 Hồi âm khiếu nại của khách hàng (Tỷ lệ hồi âm khiếu nại

cho khách hàng trong thời hạn 48 giờ kể từ thời điểm tiếp

9 Dịch vụ hỗ trợ khách hàng

- Thời gian cung cấp dịch vụ hỗ trợ khách hàng qua điện thoại

- Tỷ lệ cuộc gọi tới dịch vụ hỗ trợ khách hàng, chiếm mạch

thành công và nhận được tín hiệu trả lời của điện thoại viên

trong vòng 60 giây

24 giờ trong ngày

 80 %

(Nguồn: Bộ bưu chính viễn thông, 2006)

2.2 CÁC NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ:

2.2.1 Vinaphone:

Thành lập năm 1996, đến năm 2006, Công ty Dịch vụ Viễn thông đã đổi tên viết tắt từ GPC (G=GSM; P=Paging; C=CardPhone) thành VinaPhone, khẳng định định hướng kinh doanh của Công ty trong giai đoạn mới Công ty cũng đã công

bố hệ thống nhận diện thương hiệu mới một cách chuyên nghiệp và hiện đại, quyết tâm xây dựng VinaPhone thành mạng di động số 1 tại Việt Nam và hướng đến hợp tác và hội nhập quốc tế

Tháng 6/2006, mẫu biểu tượng mới và slogan “không ngừng vươn xa” của Công

ty VinaPhone đã ra đời

Cam Kết Thương Hiệu VinaPhone

 Cam kết là nhà cung cấp sản phẩm và dịch vụ TTDĐ với chất lượng tốt nhất và bảo đảm rằng VinaPhone là đối tác đáng tin cậy của người tiêu dùng

 Cam kết xây dựng mối quan hệ đối tác và hợp tác bền vững, cùng có lợi, giữa mạng TTDĐ VinaPhone với khách hàng, các thành viên và người lao động

Trang 8

Hiện tại Vinaphone có khoảng 5,9 triệu thuê bao, 3000 trạm phát sóng phủ

sóng trên cả 64 tỉnh thành của Việt Nam

2.2.2 Mobifone

Công ty Thông tin di động (Vietnam Mobile Telecom Services Company - VMS)

là doanh nghiệp Nhà nước hạng một trực thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam (VNPT) Được thành lập vào ngày 16 tháng 04 năm 1993, VMS đã trở thành doanh nghiệp đầu tiên khai thác dịch vụ TTDĐ GSM 900/1800 với thương hiệu MobiFone, đánh dấu cho sự khởi đầu của ngành TTDĐ Việt Nam

Lĩnh vực hoạt động chính của MobiFone là tổ chức thiết kế xây dựng, phát triển mạng lưới và triển khai cung cấp dịch vụ mới về TTDĐ có công nghệ, kỹ thuật

tiên tiến hiện đại và kinh doanh dịch vụ TTDĐ công nghệ GSM 900/1800 trên

toàn quốc

Ngày 19 tháng 05 năm 1995, Công ty Thông tin di động đã ký Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) có hiệu lực trong vòng 10 năm với Tập đoàn Kinnevik/Comvik (Thụy điển) Đây là một trong những hợp đồng hợp tác kinh doanh có hiệu quả nhất tại Việt Nam Thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC, MobiFone đã tranh thủ được các nguồn lực quan trọng để xây dựng, vận hành mạng lưới và cung cấp dịch vụ TTDĐ đầu tiên tại Việt Nam, đó là: vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, kinh doanh, đào tạo nguồn nhân lực

Sau 14 năm phát triển và trưởng thành, MobiFone có khoảng 6 triệu thuê bao, hơn 2.500 trạm phát sóng và 4.200 cửa hàng, đại lý cùng hệ thống 15.000 điểm bán lẻ trên toàn quốc (tính đến 31/3/2007) MobiFone hiện đang cung cấp trên 40

dịch vụ giá trị gia tăng và tiện ích các loại

Đội ngũ cán bộ công nhân viên của MobiFone là khoảng 3000 người

Năm 2005, MobiFone được người tiêu dùng bình chọn là “Mạng điện thoại di động được ưa thích nhất năm 2005” do báo Echip tổ chức và “Thương hiệu mạnh Việt Nam 2005” do Thời báo Kinh tế Việt Nam tổ chức

2.2.3 Viettel

Công ty Điện thoại di động Viettel (Viettel Mobile) được thành lập ngày 31/5/2002, trực thuộc Tổng Công ty Viễn thông Quân đội (Viettel) Với mục tiêu trở thành NCCDV di động hàng đầu Việt Nam, Viettel Mobile luôn coi sự sáng tạo và tiên phong là những mục tiêu hàng đầu Đó không chỉ là sự tiên phong về

Trang 9

mặt công nghệ mà còn là sự sáng tạo trong triết lý kinh doanh, thấu hiểu và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng

Với slogan “Hãy nói theo cách của bạn”, Viettel Mobile cho phép khách hàng được lựa chọn nhiều loại hình dịch vụ TTDĐ phù hợp với sở thích và tính cách của từng khách hàng Sóng di động của Viettel đã phủ rộng toàn quốc nên về mặt hình thức Viettel Mobile không kém cạnh gì so với các mạng GSM khác về các dịch vụ cơ bản nhất Song song, Viettel Mobile cũng “phủ sóng” các kênh bán hàng của mình ở khắp mọi nơi bằng rất nhiều các đại lý nhỏ để người tiêu dùng

có cơ hội hòa mạng Viettel Mobile một cách dễ dàng, khắp mọi nơi Một nhân tố khác cũng rất quan trọng, khiến nhiều khách hàng đổ xô đi hoà mạng Viettel Mobile là việc giá cước của mạng di động này rẻ hơn từ 15-30% so với các mạng

di động GSM khác; đồng thời cách tính cước cũng ưu việt hơn (tính theo block 6 giây ngay từ giây đầu tiên)

Cuối tháng 7.2007, theo thống kê chính thức về số thuê bao thực được các mạng

di động báo cáo lên Bộ Bưu chính Viễn thông, vị trí số 1 thuộc về Viettel Mobile

(6,9 triệu thuê bao) Viettel Mobile cũng tiếp tục khẳng định vị trí số một về vùng phủ sóng tính đến cuối tháng 7.2007 với 5000 trạm thu phát sóng trên toàn

quốc

2.2.4 Sphone

Sphone là tên thương hiệu dịch vụ mạng Ðiện thoại di động CDMA Trung tâm Ðiện thoại di động CDMA điều hành Dưới đây là phần giới thiệu chi tiết về trung tâm điện thoại di động CDMA:

Trung tâm Ðiện thoại di động CDMA hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh số 03005683 CN 41 do Sở Kế hoạch và Ðầu tư thành phố

Hồ Chí Minh cấp ngày 28/9/2001

Đây là dự án hợp tác giữa SPT với công ty SLD (được thành lập tại Singapore gồm các thành viên SK Telecom, LG Electronics, và Dong Ah Elecomm) theo hình thức Hợp đồng Hợp tác Kinh doanh (BCC – Business Cooperation Contract) cung cấp dịch vụ điện thoại di động vô tuyến cố định và các dịch vụ giá trị gia tăng sử dụng công nghệ CDMA 2000 – 1x trên phạm vi toàn quốc

Các thuê bao di động CDMA sẽ được hưởng nhiều tiện ích của công nghệ này như hạn chế việc gián đoạn cuộc gọi, tốc độ truyền dữ liệu cao, tối ưu hoá công suất phát của thiết bị đầu cuối làm tăng thời gian đàm thoại và thời gian chờ,

Trang 10

đồng thời được sử dụng nhiều dịch vụ giá trị gia tăng như các thông tin cần thiết, truy cập Internet tốc độ cao, chơi game trực tuyến…

Ngành nghề kinh doanh của Trung tâm: thiết lập mạng và cung cấp các dịch vụ TTDĐ mặt đất Thiết lập mạng lưới và kinh doanh các dịch vụ GTGT trên hệ

thống mạng CDMA 2000-1x Thiết lập mạng lưới và kinh doanh các thiết bị đầu

cuối

Tên thương hiệu dịch vụ mạng Ðiện thoại di động CDMA là S-Fone Đây là mạng điện thoại di động toàn quốc sử dụng công nghệ CDMA (Code Division Multiple Access) lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam CDMA (Code Division Multiple Access - Đa truy cập phân chia theo mã) là công nghệ tiên tiến có mặt trên thị trường viễn thông quốc tế từ năm 1995

Theo thống kê mới nhất của S-Fone, tính đến ngày 27/9/2007 tổng thuê bao tích

luỹ của mạng di động này đã đạt con số 3 triệu Chỉ tính riêng 5 tháng vừa qua,

S-Fone đã phát triển thêm 1 triệu thuê bao mới

Không chỉ tập trung vào việc khai thác và cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng trên nền công nghệ CDMA, năm qua, S-Fone đã đa dạng hóa các gói cước, mang lại nhiều lựa chọn cho người dùng

Từ tháng 4/2007 đến nay, với việc cho ra mắt các gói cước truyền dữ liệu Data Basic 250, Data Basic 400 và Data Option cùng thiết bị đầu cuối USB Cmotech CCU-550, S-Fone đã tạo ra một hình thức truy cập Internet hoàn toàn mới với mức cước cạnh tranh

Trong quý 2/2007, hàng loạt các trung tâm dịch vụ khách hàng theo hệ thống nhận diện thương hiệu mới của S-Fone đã đi vào hoạt động trên toàn quốc

2.2.5 EVNtelecom

Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực là thành viên hạch toán độc lập trực thuộc Tổng Công ty Điện lực Việt nam, được thành lập theo quyết định số 380/NL/TCCBLĐ ngày 8/7/1995 của Bộ Năng Lượng Tên giao dịch Quốc tế: EVNTelecom

Các dịch vụ cung cấp cho khách hàng: dịch vụ thuê kênh riêng trong nước và quốc tế Line), dịch vụ VoIP 179, dịch vụ điện thoại cố định truyền thống (E-Tel), dịch vụ điện thoại cố định không dây (E-Com), dịch vụ điện thoại di động nội tỉnh Phone), dịch vụ điện thoại di động Mobile) dịch vụ Internet (E-NET)

Ngày đăng: 03/10/2013, 23:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thị phần của các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động tại Việt Nam - THỊ TRƯỜNG THÔNG TIN DI ĐỘNG VIỆT NAM
Bảng 2.1 Thị phần của các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động tại Việt Nam (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w