Xuất phát từ lý do trên mà đề tài: “Sự hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế trong trình bày báo cáo tài chính” được chọn làm đề tài nghiên cứu.. Mục tiêu của nghiên cứu là
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KẾ TOÁN
SỰ HÒA HỢP GIỮA CHUẨN MỰC
KẾ TOÁN VIỆT NAM VÀ QUỐC TẾ
TRONG TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Sinh viên thực hiện PHẠM VĂN THOẠI MSSV: 13D340301144 LỚP: ĐHKT8B
Cần Thơ, 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
SỰ HÒA HỢP GIỮA CHUẨN MỰC
KẾ TOÁN VIỆT NAM VÀ QUỐC TẾ
TRONG TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Sinh viên thực hiện PHẠM VĂN THOẠI MSSV: 13D340301144 LỚP: ĐHKT8B
Cần Thơ, 2017
Cán bộ hướng dẫn
THẦY HUỲNH TRUNG KIÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KẾ TOÁN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để có được một quyển luận văn đang cầm trên tay đó là điều mà làm cho tôi cảm thấy vô cùng tự hào và thật ý nghĩa vì nó không chỉ là một phương tiện giúp cho tôi có thể hoàn thành chương trình học của mình trong 4 năm trên giảng đường đại học mà nó còn là một sản phẩm cuối cùng của một thời sinh viên Sản phẩm này không chỉ thể hiện tất cả những khó khăn trong quá trình làm mà còn thể hiện những được giá trị của bao thời gian, kiến thức và đặt biệt là không thể nào thiếu
đi một công cụ hỗ trợ đó chính là sự quyết tâm Bên cạnh đó, có được thành phẩm này cũng nhờ sự động viên từ thầy cô, bạn bè, gia đình và người thân Đó là một món quà tinh thần vô cùng quý giá không chỉ trong cuộc sống mà còn dành cho cả trên con đường đi đến thành công
Để biết đến và làm nên đề tài này mà cụ thể là đề tài về “Sự hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế trong trình bày Báo cáo tài chính” thì người đầu
tiên mà tôi xin tỏ lòng biết ơn đó chính là Thầy Huỳnh Trung Kiên Người mà đã
dạy cho tôi trên giảng đường đại học trong những năm qua và càng may mắn hơn khi tôi lại một lần nữa được sự chỉ dẫn của Thầy để giúp cho tôi hoàn thành khóa luận một cách tốt hơn Thầy đã hướng dẫn và định hướng cho tôi từ khâu lựa chọn
đề tài làm sao cho phù hợp cũng như từng bước để giải quyết các vấn đề Tuy trong quá trình làm bài có gặp nhiều khó khăn nhưng Thầy vẫn luôn là người đầu tiên
hổ trợ để tôi có một cái nhìn rõ hơn về vấn đề mà mình cần làm Thầy ân cần, chu đáo giúp đỡ và luôn hỗ trợ khi tôi gặp phải vấn đề vướng mắt
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô Khoa Kế toán – Tài chính – Ngân hàng đã cho tôi những góp ý chân thành cũng như đã dạy và xây dựng cho tôi một cơ sở nền tảng khá vững chắc về các kiến thức và kỹ năng điều này không chỉ giúp cho tôi làm phương tiện cho việc hoàn thành khóa luận một cách thuận tiện mà còn là hành trang để cho tôi cảm thấy tự tin hơn trên con đường đi đến thành công Trong quá trình viết luận văn nhiều lần tôi đã muốn bỏ cuộc thế nhưng tôi đã nhận được sự giúp đỡ, cũng như sự động viên từ nhiều bạn bè Nhờ những món quà tinh thần đó mà tôi đã cảm thấy có nhiều động lực hơn để có được một thành quả như hôm nay
Và cuối cùng, tôi xin tỏ lòng biết ơn đến đấng sinh thành của tôi, người đã sinh ra tôi, không chỉ nuôi dưỡng, dạy dỗ tôi cho đến khi tôi trưởng thành, mà còn
là nguồn động viên quý giá nhất dành cho tôi trong học tập cũng như trong cuộc sống, luôn mang đến cho tôi những điều tốt đẹp cả vật chất lẫn tinh thần Đồng thời, tôi xin cảm ơn anh, chị, em và các cháu của tôi đã luôn yêu thương tôi những lúc tôi gặp khó khăn, luôn cho tôi thêm niềm hy vọng hơn trong cuộc sống Chính
Trang 4vì điều đó mà tôi không thể nào chùng bước dở dang trên con đường này mỗi khi nhớ về 2 chữ “Gia đình”
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn tất cả!
Sinh viên nghiên cứu
PHẠM VĂN THOẠI
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài “Sự hòa hợp chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế trong trong trình bày BCTC” là một nghiên cứu của riêng tôi Ngoại trừ một số khảo sát nghiên cứu và các kết luận đã được công bố trong các công trình nghiên cứu khoa học thì kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa được công
bố trong bấy kỳ công trình nào khác
Sinh viên nghiên cứu
PHẠM VĂN THOẠI
Trang 6TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Đến nay Việt Nam đã ban hành được 26 CMKT, chuẩn mực về trình bày BCTC – VAS 21 được ban hành ngày 30/12/2003, chuẩn mực liên quan đến trình bày BCTC là chuẩn mực báo cáo lưu chuển tiền tệ - VAS 24 được ban hành vào ngày 31/12/2002 Tuy nhiên, kể từ khi ban hành cho đến nay các CMKT Việt Nam vẫn chưa lần nào được sửa đổi và bổ sung Chính vì vậy mà một số nội dung đã có phần lạc hậu so với các CMKT quốc tế cũng như những khác biệt mang tính trọng yếu Do đó, mà việc tìm hiểu về sự hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế về trình bày báo cáo tài chính là thật sự cần thiết Xuất phát từ lý do trên
mà đề tài: “Sự hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế trong trình bày báo cáo tài chính” được chọn làm đề tài nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu là đo lường mức độ hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế trong trình bày BCTC, từ đó thấy được mức độ hòa hợp cũng như những tồn tại, đồng thời đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao quá trình hòa hợp giữa VAS và IAS/IFRS nói chung và trong trình bày BCTC nói riêng
Các phương pháp nghiên cứu được lựa chọn là: phương pháp thu thập thông tin để phân tích và so sánh; phương pháp đặt giả thuyết; và phương pháp định lượng Thông qua các phương pháp trên đã cho thấy CMKT Việt Nam về trình bày BCTC có mức độ hòa hợp cao hơn so với các IAS/IFRS được ban hành trước năm
2002 và có mức độ hòa hợp thấp đối với các IAS/IFRS ban hành sau năm 2002 Mức độ hòa hợp giữa VAS và IAS/IFRS trong trình bày BCTC ngày càng giảm do Ủy Ban CMKT quốc tế (IASB) không ngừng nâng cao, cải tiến hệ thống CMKT để phù hợp hơn với tình hình phát triển kinh tế Tuy nhiên, trước thực trạng như vậy để nâng cao quá trình hòa hợp cũng như làm nền tảng cho tiến đến hội tụ một cách thuận lợi thì Việt Nam cần có những chiến lược ban hành, sửa đổi, cập nhật lại hệ thống CMKT Việt Nam để mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế hơn
Trang 7NHẬN XÉT CỦA GVHD
……… ,ngày… tháng… năm…
(Ký và họ tên của GVHD)
HUỲNH TRUNG KIÊN
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN iii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN iv
NHẬN XÉT CỦA GVHD……… v
MỤC LỤC……… …vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU x
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ xi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… xii
Chương 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1.1 Mục tiêu chung 2
1.2.1.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.3 Phương pháp nghiên cứu và khung nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Nội dung nghiên cứu 3
1.4.2 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.3 Phạm vi nghiên cứu 4
1.4.3.1 Về không gian 4
1.4.3.2 Về thời gian 4
1.5 Cấu trúc của khóa luận 4
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ HÒA HỢP CHUẨN MỰC KẾ TOÁN TRONG TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH 5
2.1 Tổng quan về hòa hợp kế toán 5
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến hòa hợp kế toán 5
2.1.1.1 Hòa hợp kế toán, chuẩn mực hóa kế toán, hội tụ kế toán 5
2.1.1.2 Hòa hợp chuẩn mực kế toán và hòa hợp thực tế kế toán 5
Trang 92.1.1.3 Phân biệt hòa hợp về mặt trình bày và đo lường BCTC 6
2.1.2 Lược sử tiến trình phát triển của CMKT quốc tế 7
2.1.3 Tình hình áp dụng IFRS trên thế giới 8
2.1.4 Sơ lược về CMKT Việt Nam 9
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng CMKT quốc tế 11
2.1.5.1 Tổng quan các nghiên cứu 11
2.1.5.2 Các nhân tố ảnh hướng đến tiến trình áp dụng IAS/IFRS tại Việt Nam 13
2.2 Tổng quan về báo cáo tài chính 15
2.2.1 Khái niệm về báo cáo tài chính 15
2.2.2 Mục đích của báo cáo tài chính 16
2.2.3 Vai trò của báo cáo tài chính 16
2.2.4 Các yếu tố của báo cáo tài chính 16
2.2.4.1 Tình hình tài chính 16
2.2.4.2 Tình hình kinh doanh 17
2.2.5 Hệ thống báo cáo tài chính 18
2.2.5.1 Bảng cân đối kế toán 18
2.2.5.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 19
2.2.5.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 21
2.2.5.4 Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu 22
2.2.5.5 Thuyết minh báo cáo tài chính 22
2.2.6 Các yêu cầu và nguyên tắc chung trong lập và trình bày BCTC 23
2.3 Tổng hợp các kết quả nghiên cứu cũng như đánh giá về hòa hợp kế toán trong trình bày BCTC 25
2.3.1 Kết quả nghiên cứu về sự hòa hợp giữa kế toán Việt Nam và Quốc tế trong việc lập và trình bày BCTC Hợp nhất - Từ chuẩn mực đến thực tiễn 25
2.3.2 Kết quả nghiên cứu đo lường mức độ hòa hợp giữa BCTC của Tunisia và Chuẩn mực BCTC Quốc tế (IFRS) 25
2.3.3 Kết quả nghiên cứu đo lường sự hòa hợp kế toán và CMKT 26
2.3.4 Đo lường sự hòa hợp CMKT giữa Úc và New Zealand 26
2.4 Những vấn tiếp tục nghiên cứu 27
Trang 102.5 Giả thuyết về sự hòa hợp giữa CMKT Việt Nam và Quốc tế trong trình
bày BCTC 27
3.1 Đo lường mức độ hòa hợp giữa CMKT Việt Nam và Quốc tế trong trình bày BCTC 29
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu lựa chọn 29
3.1.1.1 Hệ số Jaccard có điều chỉnh 30
3.1.1.2 Chỉ số Absence 30
3.1.1.3 Khoảng cách Average 31
3.1.1.4 Đánh giá sự thay đổi mức độ hòa hợp giữa CMKT của Việt Nam với CMKT Quốc tế trong việc trình bày BCTC 31
3.1.1.5 Dữ liệu cần thiết 32
3.2 Kiểm định giả thuyết về sự hòa hợp giữa CMKT Việt Nam và Quốc tế về trình bày BCTC 32
3.3 Kết luận về giả thuyết 45
Chương 4: ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ 46
4.1 Đánh giá chung 46
4.2 Một số giải pháp cụ thể 47
4.2.1 Hoàn thiện hệ thống BCTC 47
4.2.2 Trình bày các thông tin về thay đổi VCSH thành một báo cáo riêng 48
4.2.3 Các thông tin cần được trình bày trên BCLCTT 49
4.2.4 Nghiên cứu và cung cấp thêm các thông tin trên TMBCTC 49
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Kiến nghị 50
5.2.1 Đối với Quốc Hội 50
5.2.2 Đối với Bộ Tài chính 51
5.2.3 Đối với Hội nghề nghiệp 51
5.2.4 Đối với cơ sở đào tạo 51
5.2.5 Đối với các DN Việt Nam 51
5.3 Những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 52
Trang 11TÀI LIỆU THAM KHẢO i PHỤ LỤC vi
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Thống kê áp dụng IFRS theo khu vực địa lý
Bảng 2.2 Sự khác nhau về BCĐKT giữa VAS và IAS
Bảng 2.3 Sự khác nhau về BCKQHĐKD giữa VAS và IAS
Bảng 2.4 Sự khác nhau về BCLCTT giữa VAS và IAS
Bảng 3.1 Các loại yêu cầu áp dụng của nguyên tắc kế toán
Bảng 3.2 Các nội dung về nguyên tắc, phương pháp trình bày BCTC
Bảng 3.3 Mức độ hòa hợp giữa CMKT Việt Nam và quốc tế năm 1997
Bảng 3.4 Mức độ hòa hợp giữa CMKT Việt Nam và quốc tế năm 2005
Bảng 3.5 Mức độ hòa hợp giữa CMKT Việt Nam và quốc tế năm 2007
Bảng 3.6 Mức độ hòa hợp giữa CMKT Việt Nam và quốc tế năm 2014
Bảng 3.7 Bảng tổng hợp mức độ hòa hợp giữa VAS và IAS/IFRS
Bảng 3.8 Thử nghiệm Wilcoxon cho JACC, ABSE và AD giữa CMKT Việt Nam với IAS 1997 và IAS/IFRS 2014
Bảng 3.9 Chi tiết sự thay đổi mức độ hòa hợp trong từng nội dung kế toán giữa CMKT Việt Nam với IAS 1997 và IAS/IFRS 2014
Trang 13DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
Biểu đồ 2.1 Thống kê tình hình áp dụng IFRS theo khu vực địa lý
Sơ đồ 2.3 Ảnh hưởng của lợi nhuận tổng hợp trên BCĐKT
Hình 1.1 Khung nghiên cứu của luận văn
Trang 14C DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Tên đầy đủ Tiếng Việt Tên đầy đủ Tiếng Anh
BCKQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh
BCTĐVCSH Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu
Standard Committee
Standar Board IFRS Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế International Financial
Reporting Standart IOSCO Tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán International Organization of
Securities Commissions
Trang 15Chương 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Hệ thống CMKT quốc tế ban đầu ra đời với mục tiêu hòa hợp nhằm giảm bớt
sự khác biệt trong hệ thống CMKT quốc gia, tức làm cho hệ thống CMKT quốc gia chạy trên hai đường thẳng song song nhau cùng với CMKT quốc tế, thì giờ đây lại chuyển sang mục tiêu hội tụ, tức muốn hệ thống CMKT quốc gia phải gặp hệ thống CMKT quốc tế tại một điểm chung Mỗi quốc gia, khu vực đều thực hiện những chiến lược của mình để có thể hội tụ với CMKT quốc tế nhưng nhìn chung đều thực hiện chiến lược hội nhập từng phần với IFRS tức chỉ hội tụ những bộ phận mà có thể đáp ứng sự phát triển của thị trường vốn quốc tế Và Việt Nam cũng không nằm ngoài chiến lược trên Chính vì vậy để đạt được mục tiêu “hội tụ” thì trước hết phải xây dựng một nền tảng thật sự vững chắc đó chính là “hòa hợp” Đến nay, Việt Nam đã xây dựng và ban hành được 26 chuẩn mực kế toán Việc xây dựng dựa trên các chuẩn mực kế toán quốc tế là nhằm đảm bảo hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch trong BCTC của các doanh nghiệp, phản ánh được các giao dịch của nền kinh tế thị trường, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Mặc dù vậy, VAS hiện nay vẫn bộc
lộ nhiều điểm khác biệt với IAS/IFRS Từ khi được chính thức áp dụng cho đến nay, về nội dung đã có những lạc hậu nhất định so với các IAS (International Accounting Standard – tạm dịch: CMKT quốc tế) và IFRS (International Financial Reporting Standard – tạm dịch: Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế) và các VAS vẫn chưa lần nào được sửa đổi, bổ sung
Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế xã hội đặc thù của Việt Nam mà việc áp dụng toàn bộ các chuẩn mực kế toán quốc tế mà cụ thể là chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày báo cáo tài chính vào thực tiễn hoạt động kinh doanh ở Việt Nam là chưa thể thực hiện được Chính nguyên nhân đó khiến cho chuẩn mực kế toán Việt Nam
dù được xây dựng trên cơ sở các chuẩn mực kế toán quốc tế vẫn có nhiều điểm khác biệt mang tính trọng yếu
Do đó, mà việc tìm hiểu về sự hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc
tế trong trình bày báo cáo tài chính là thật sự cần thiết Một mặt góp phần làm rõ thực trạng về sự hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế trong trình bày BCTC; mặt khác, góp phần làm sáng tỏ khoảng cách giữa VAS với IAS/IFRS, đồng thời đề xuất các giải pháp mang tính định hướng góp phần thúc đẩy sự phát triển chuẩn mực kế toán Việt Nam phù hợp quá trình hội nhập quốc tế Xuất phát từ
các lý do trên mà tôi chọn đề tài: “Sự hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc
tế trong trình bày báo cáo tài chính” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình
Trang 161.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu của đề tài là đo lường mức độ hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam
và quốc tế trong trình bày BCTC, từ đó thấy được mức độ hòa hợp cũng như những tồn tại, đồng thời đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao quá trình hòa hợp giữa VAS và IAS/IFRS nói chung và trong trình bày BCTC nói riêng
1.2.1.2 Mục tiêu cụ thể
và tổng quan sơ lược về các nghiên cứu có liên quan đến nội dung đề tài
bày BCTC
hòa hợp VAS và IAS/IFRS trong trình bày BCTC
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
BCTC và một số nghiên cứu có liên quan hiện nay?
BCTC được xây dựng như thế nào?
VAS và IAS/IFRS trong trình bày BCTC đã được kiểm định?
phần tăng cường mức độ hòa hợp giữa VAS và IAS/IFRS trong trình bày BCTC?
1.3 Phương pháp nghiên cứu và khung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu đã đề ra thì việc xác định các phương pháp nghiên cứu là vô cùng quan trọng và góp phần rất lớn cho hiệu quả nghiên cứu Việc đo lường mức độ hòa hợp giữa VAS và IAS/IFRS trong trình bày BCTC chủ yếu sử dụng phương pháp sau:
- Phương pháp thu thập thông tin, phân tích, so sánh: Các nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được thực hiện về hòa hợp kế toán, sự hòa hợp về các chuẩn mực kế toán nói chung và chuẩn mực kế toán về lập BCTC nói riêng Thu thập các thông tin về IAS/IFRS về trình bày BCTC qua từng thời kỳ, VAS về trình bày BCTC
Trang 17- Phương pháp đặt giả thuyết: Từ các nghiên cứu cũng như các thông tin có liên quan đến đề tài đã được thu thập ở trên được đưa vào làm nền tảng cho việc tiến hành đặt giả thuyết về sự hòa hợp giữa VAS và IAS/IFRS trong trình bày BCTC
- Phương pháp định lượng: Các công cụ dùng để đo lường mức độ hòa hợp như hệ số Jaccar có điều chỉnh, chỉ số Absence, khoảng cách Average và thống kê mô tả sẽ được sử dụng để đo lường mức độ hòa hợp giữa VAS và IAS/IFRS trong trình bày BCTC Sau đó, kiểm định lại với mức ý nghĩa 5%
Để có một cái nhìn khái quát hơn về toàn bộ quá trình nghiên cứu của đề tài thì sơ đồ 01 sẽ thể hiện điều đó:
Hình 1.1 Khung nghiên cứu của luận văn
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Nội dung nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu về sự hòa hợp giữa CMKT Việt Nam và
quốc tế trong trình bày BCTC
1.4.2 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự hòa hợp giữa CMKT Việt Nam và CMKT quốc tế về trình bày BCTC qua từng giai đoạn (năm 1997, 2005, 2007 và 2014)
Phương pháp đặt giả thuyết
Phương pháp thống kê
Kết quả nghiên cứu
Xác định vấn đề nghiên cứu
Xác định mục tiêu nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu Phương pháp định lượng
Phương pháp quan sát và thu thập
Trang 18- CMKT Việt Nam (VAS 21, 24) và CMKT Quốc tế (IAS 01, 07)
1.4.3 Phạm vi nghiên cứu
1.4.3.1 Về không gian
- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về sự hòa hợp giữa CMKT Việt Nam và quốc
tế trong việc trình bày BCTC cũng như các nghiên cứu có đề tài tương tự kể
cả trong và ngoài nước
- CMKT quốc tế về Trình bày BCTC bao gồm: IAS 01, 07 và các IFRS cải tiến hai IAS trên
- CMKT Việt Nam có liên quan đến trình bày BCTC bao gồm: VAS 21, 24
1.4.3.2 Về thời gian
Căn cứ vào thời gian ban hành, sửa đổi, bố sung của các VAS và IAS/IIFRS cùng với thời điểm mà các IAS/IFRS bắt đầu có những thay đổi đáng kể, đề tài giả định rằng VAS về trình bày BCTC được lập trên cơ sở IAS được ban hành và có hiệu lực trước năm 2002 có mức độ hòa hợp cao hơn so với các IAS/IFRS có hiệu lực sau năm 2002 Dựa trên giả định này mà đề tài sẽ nghiên cứu các giai đoạn ban hành IAS về trình bày BCTC từ năm 1997 cho đến năm 2014
1.5 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài lời cảm ơn, lời cam đoan, tóm tắt khóa luận, nhận xét của giảng viên hướng dẫn, mục lục, danh mục các bảng biểu, danh mục biểu đồ, sơ đồ và hình vẽ, danh mục các chữ viết tắt, phụ lục và tài liệu tham khảo, bao gồm có 5 chương như sau:
Chương 1 Phần mở đầu
Chương 2 Cơ sở lý thuyết về hòa hợp CMKT trong việc trình bày BCTC
Chương 3 Phân tích thực trạng về sự hòa hợp giữa CMKT Việt Nam và quốc tế
trong việc trình bày BCTC
Chương 4 Đánh giá và đề xuất các giải pháp cụ thể
Chương 5 Kết luận và kiến nghị
Trang 19Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ HÒA HỢP CHUẨN MỰC
KẾ TOÁN TRONG TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH
2.1 Tổng quan về hòa hợp kế toán
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến hòa hợp kế toán
2.1.1.1 Hòa hợp kế toán, chuẩn mực hóa kế toán, hội tụ kế toán
Hòa hợp kế toán hay thường được gọi là hòa hợp (harmonization) theo Tay
& Parker (1990, p.73) thì hòa hợp là một tiến trình loại bỏ sự khác biệt hoàn toàn trong thực tế Trạng thái hòa hợp có thể được nhận biết qua các nhóm công ty tập hợp xung quanh một hoặc một vài phương pháp có thể lựa chọn Riêng Barbu (2004, pp 4 – 5) thì cho rằng hòa hợp có thể được xem là giai đoạn đầu trong tiến trình thiết lập chuẩn mực Mục tiêu của hòa hợp là giảm sự khác biệt trong thực tế
kế toán, từ đó tăng tính có thể so sánh được
Chuẩn mực hóa kế toán có thể gọi tắt là chuẩn mực hóa (standardization) theo
Barbu (2004, pp 4 - 5) cho rằng chuẩn mực hóa dẫn đến sự đồng nhất hoàn toàn, kết quả là chỉ còn một nguyên tắc kế toán duy nhất áp dụng trên phạm vi toàn cầu Đối với Tay & Parker (1990, p.73) thì chuẩn mực hóa là quá trình hướng tới trạng thái đồng nhất Trạng thái đồng nhất được nhận biết tương tự như trạng thái hòa hợp nhưng các phương pháp có thể lựa chọn được thu hẹp Tiến trình hòa hợp không thể chia tách khỏi tiến trình chuẩn mực hóa
Hội tụ kế toán có thể gọi tắt là hội tụ (convergence) là tiến trình chuyển động
hướng về một điểm, đặc biệt là chuyển động hướng đến sự đồng nhất Tiến trình hội tụ với IAS cũng chính là tiến trình chuẩn mực hóa Hòa hợp và hội tụ chỉ là những giai đoạn phát triển khác nhau của tiến trình toàn cầu hóa kế toán (Qu & Zhang, 2008) Theo Herz & Petrone (2005) nhìn nhận “hội tụ” là quá trình mà tiền thân là “hòa hợp” rồi “quốc tế hóa” đến nay là hội tụ Quá trình hội tụ kế toán quốc tế nhằm thiết lập chuẩn mực chất lượng cao để cải thiện só sánh phạm vi quốc tế về các thông tin tài chính Qua những khái niệm trên đã cho ta thấy một cách khá đầy đủ về bản chất, hòa hợp kế toán là tiến trình loại bỏ sự khác biệt hoàn toàn giữa hai hay nhiều đối tượng (các đối tượng ở đây bao gồm: các nguyên tắc và luật lệ được quy định trong luật, trong CMKT, trong các văn bản khác có tính chất tương tự của các quốc gia; các nguyên tắc được quy định trong các IAS/IFRS; và các nguyên tắc được áp dụng trong thực tế kế toán tại các DN) Trạng thái hòa hợp được nhận biết thông qua sự tập trung vào một hoặc vài phương pháp có thể lựa chọn của các đối tượng được nghiên cứu
2.1.1.2 Hòa hợp chuẩn mực kế toán và hòa hợp thực tế kế toán
Trang 20Hòa hợp kế toán gồm có hòa hợp chuẩn mực kế toán và hòa hợp thực tế kế toán Theo Van der Tas (1988), Tay & Parker (1990), Qu & Zang (2008):
- Hòa hợp chuẩn mực kế toán là hòa hợp về nguyên tắc và luật lệ đã được quy định trong luật, trong CMKT, và trong các văn bản khác có tính chất tương tự
- Hòa hợp thực tế kế toán là hòa hợp trong nguyên tắc lập và trình bày BCTC được tiến hành tại các DN
Trên thế giới, kế toán có thể sử dụng các phương pháp khác nhau để ghi nhận một sự kiện tương tự Sự linh hoạt của kế toán, bằng cách cung cấp nhiều phương pháp có thể chấp nhận thay thế đôi khi có thể dẫn đến sự khác biệt lớn trong thực tế
kế toán cũng như kết quả từ các phương pháp này (Ding et al, 2007; Kollaritsch, 1965) Thực tế kế toán, tất cả những sự khác biệt nhau có thể ảnh hưởng đáng kể đến thông tin kế toán Sự khác biệt giữa các thông tin kế toán có thể xuất hiện giữa các công ty khi người dùng BCTC của các công ty là khác nhau (Nobes & Parker, 2010; Nobes, 1983)
Các thông tin trên BCTC của các công ty khó có thể so sánh được với nhau khi chúng vượt ra khỏi biên giới của quốc gia Điều này là do mỗi nước đều xây dựng CMKT riêng, mặc dù đều dựa theo IAS/IFRS nhưng họ cũng có điều chỉnh lại cho phù hợp với quá trình quản lý của quốc gia cũng như phù hợp với môi trường kinh tế của mỗi nước Điều này sẽ gây không ít khó khăn cho các nhà đầu
tư, chủ nợ,…Tuy nhiên, ở gốc độ bên trong doanh nghiệp là các nhà quản lý thì việc để thu hút vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài sẽ gia tăng thêm các khoản chi phí khi lập BCTC Đặc biệt là các công ty đa quốc gia, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài thì khoảng chi phí cho việc lập BCTC được minh bạch thông tin sẽ rất đáng kể Ở gốc độ bên ngoài là các nhà đầu tư, chủ nợ,…thì vấn đề về chi phí phân tích BCTC ở một nước khác và khả năng có thể nhầm lẫn là điều khó tránh khỏi
Do đó, vấn đề mang tính cấp thiết được đặt ra đó chính là đưa ra giới hạn về sự khác biệt nhằm làm gia tăng sự tương đồng trong CMKT giữa các nước, các khu vực và từ đó làm tăng tính so sánh được của các BCTC giữa các nước
2.1.1.3 Phân biệt hòa hợp về mặt trình bày và đo lường BCTC
Theo Van der Tas (1992), hòa hợp về mặt trình bày BCTC (disclosure harmonization) và hòa hợp về mặt đo lường (measurement harmonization) được định nghĩa như sau:
lượng và chi tiết của các thông tin được trình bày trên BCTC) Mục tiêu của hòa hợp thực tế về trình bày BCTC là một số các thông tin đã được xác định ở cùng một mức độ cụ thể và các thông tin này đều cùng được công bố trên các BCTC của các công ty, mức độ khai báo thông tin này buộc tất cả các BCTC
Trang 21phải đáp ứng được về mức độ khai báo thông tin tối thiểu Mục tiêu của hòa hợp CMKT về trình bày BCTC là đạt được tiêu chuẩn chung về mức độ khai báo thông tin tối thiểu
chọn Mục tiêu của hòa hợp thực tế kế toán về đo lường là tăng tính có thể so sánh được của BCTC Để BCTC có thể so sánh được, các công ty phải chọn cùng một phương pháp kế toán cho các nội dung kinh tế có cùng bản chất Việc lựa chọn cùng một phương pháp như vậy sẽ giới hạn được một trong các yếu tố làm các chỉ số của các BCTC khác biệt mà không xuất phát từ khác biệt
về kết quả hoạt động Mục tiêu của hòa hợp CMKT về đo lường là tránh hoặc loại bỏ các chuẩn mực mâu thuẫn hoặc khác biệt cơ bản
Do đó, để tìm hiểu về sự hòa hợp giữa CMKT Việt Nam và quốc tế trong trình bày BCTC đó chính là tìm hiểu và xác định mức độ khai báo thông tin trên BCTC
mà cụ thể là số lượng các nguyên tắc cũng như các quy định yêu cầu khai báo là bắt buộc, cho phép, không quy định hoặc cấm trong cả 2 bộ CMKT
2.1.2 Lược sử tiến trình phát triển của CMKT quốc tế
Kể từ sau thời kỳ Đại suy thoái Ủy ban hoặc Hội đồng các kế toán viên chuyên nghiệp bắt đầu được thành lập dựa trên nền tảng của mô hình kế toán Anh – Hoa Kỳ chịu trách nhiệm đưa ra các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi để áp dụng trong phạm vi quốc gia Các doanh nghiệp của các nước theo mô hình kế toán Lục địa hoặc Nam Mỹ đều được yêu cầu phải tuân thủ theo các điều khoản kế toán khác và buộc phải lập các BCTC theo luật công ty đã sửa đổi
Từ năm 1904 các tổ chức kế toán trên thế giới đã lần lượt tổ chức những Hội nghị kế toán nhiều nơi trên thế giới như Saint Louis (1904), Amsterdam (1926), New York (1929),…Kể từ năm 1952 Hội nghị được tổ chức 5 năm một lần tại London (1952), Amsterdam (1957) Nhưng mãi cho đến những năm 1960 quá trình hòa hợp kế toán mới thực sự bắt đầu Những nổ lực đầu tiên của quá trình hòa hợp
kế toán ở giai đoạn này được xem như bước khởi đầu của tư duy thống nhất kế toán thế giới, tiến trình hòa hợp kế toán trên phạm vi toàn cầu có thể chia thành ba giai đoạn:
(1) Từ năm 1960 đến năm 1989 - Giai đoạn làm cho hòa hợp;
(2) Từ năm 1989 đến năm 2001 - Giai đoạn tiến tới hội tụ;
(3) Từ sau năm 2001 - Giai đoạn hội tụ
trình hòa hợp kế toán quốc tế nhờ các kết quả mà IASC/IASB đạt được trong
Trang 22từng giai đoạn khác nhau dẫn đến tiến trình hòa hợp kế toán được phân chia cụ thể như sau:
- Giai đoạn trước năm 1989: Các IAS do IASC ban hành trong giai đoạn này có thể được xem như là một bảng tổng hợp các nguyên tắc kế toán và được chấp nhận rộng rãi bởi nhiều quốc gia Do đó, mà tính có thể so sánh được giữa các BCTC của những quốc gia khác nhau bắt đầu được hình thành
- Giai đoạn 1989 – 2001: Để tăng tính có thể so sánh được giữa các BCTC được lập theo các IAS, từ năm 1989 đến năm 2001, IASC đã tiến hành sửa đổi, ban hành mới các IAS trên nguyên tắc: mỗi một trường hợp kinh tế phát sinh chỉ
có một phương pháp kế toán bắt buộc áp dụng hoặc một phương pháp chuẩn
và một vài phương pháp thay thế được chấp nhận Số lượng các phương pháp
kế toán có thể lựa chọn bị thu hẹp đáng kể
- Giai đoạn từ 2001 đến nay: IASB được hình thành, thay thế cho IASC và chính thức hoạt động vào ngày 01/4/2001 Kể từ khi IOSCO khuyến nghị các tổ chức thành viên chấp nhận cho các công ty niêm yết chứng khoán xuyên quốc gia được áp dụng IAS để nâng cao chất lượng quá trình thiết lập các CMKT quốc
tế Mục tiêu hoạt động chính của IASB là hình thành một hệ thống CMKT, phục vụ cho lợi ích chung, chất lượng cao, dễ hiểu và có thể áp dụng trên toàn thế giới và yêu cầu thông tin trên BCTC phải rõ ràng, có thể so sánh, nhằm giúp những người tham gia vào các thị trường vốn khác nhau trên thế giới cũng như các đối tượng sử dụng thông tin khác ra quyết định kinh tế Với mục tiêu
đó, IASB đã xây dựng bộ CM BCTC Quốc tế (IFRS – International Financial Reporting Standards) với mục đích là từng bước thay thế cho các IAS cho phù hợp với những đổi mới, theo kịp với tình hình mới khi môi trường kinh tế tài chính cũng như hoạt động của DN có những biến đổi và phát sinh nhiều hoạt động mới Tính đến thời điểm hiện nay, IASB đã xây dựng được 57 IAS/IFRS (bao gồm cả IFRS cho các DN nhỏ và vừa) trong đó có 41 IAS và 16 IFRS nhằm hướng tới mục đích là tất cả các công ty trên thế giới đều áp dụng để lập báo cáo tài chính khi phát hành trong nước lẫn khi phát hành xuyên quốc gia
2.1.3 Tình hình áp dụng IFRS trên thế giới
IFRS đang ngày càng được nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới áp dụng và cam kết áp dụng trong tương lai gần Tính đến nay đã có 133/143 quốc gia
và vùng lãnh thổ (chiếm tỷ lệ 93%) đã công khai tuyên bố IFRS là bộ CMKT duy nhất áp dụng trên toàn cầu Bên cạnh đó cũng có 119/143 quốc gia và vùng lãnh thổ (chiếm tỷ lệ 83,2%) đã yêu cầu sử dụng chuẩn mực của IFRS đối với tất cả hoặc hầu hết các công ty đại chúng trong nước, phần lớn các quốc gia còn lại cho phép áp dụng các chuẩn mực này Số liệu được thống kê cụ thể qua bảng 2.1 và biểu đồ 2.1
Trang 23Bảng 2.1 Thống kê áp dụng IFRS theo khu vực địa lý
Biểu đồ 2.1 Thống kê tình hình áp dụng IFRS theo khu vực địa lý
Nguồn: Hướng dẫn tóm tắt các chuẩn mực IFRS năm 2016: Ngôn ngữ BCTC toàn cầu
2.1.4 Sơ lược về CMKT Việt Nam
Năm 1995, Việt Nam nộp đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) và những chuẩn bị cần thiết cho hệ thống kế toán Việt Nam được đặt ra cho
Bộ Tài chính Được sự trợ giúp của EU, Việt Nam bắt đầu triển khai nghiên cứu và soạn thảo các chuẩn mực kế toán Việt Nam từ năm 1999 Trong gần 7 năm sau đó, cho đến năm 2006, Việt Nam đã ban hành được 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam trên nền tảng các chuẩn mực kế toán quốc tế của IASB Các chuẩn mực được ban hành từng đợt dưới hình thức một quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính, mỗi đợt ban hành chuẩn mực kèm theo một thông tư hướng dẫn để áp dụng Cụ thể các VAS được ban hành theo các giai đoạn sau:
Châu Mỹ
Yêu cầu áp dụng IFRS cho toàn bộ hoặc hầu hết công ty đại chúng
Cho phép/yêu cầu áp dụng IFRS cho một số công ty đại chúng
Không yêu cầu/cho phép áp dụng IFRS đối với công ty đại chúng
Trang 24Đợt 1: ban hành ngày 31/12/2001 gồm 4 chuẩn mực sau:
- Chuẩn mực kế toán 02 – Hàng tồn kho
- Chuẩn mực kế toán 03 – Tài sản cố định hữu hình
- Chuẩn mực kế toán 04 – Tài sản cố định vô hình
- Chuẩn mực kế toán 14 – Doanh thu và thu nhập khác
(Theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 và Thông tư số 161/2007/TT-BTC ngày 31/12/2007 của Bộ Trưởng bộ tài chính)
Đợt 2: ban hành ngày 31/12/2002 gồm 6 chuẩn mực sau:
- Chuẩn mực kế toán 01 – Chuẩn mực chung
- Chuẩn mực kế toán 06 – Thuê tài sản
- Chuẩn mực kế toán 10 – Ảnh huởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái
- Chuẩn mực kế toán 15 – Hợp đồng xây dựng
- Chuẩn mực kế toán 16 – Chi phí vay
- Chuẩn mực kế toán 24 – Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
(Theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 và Thông tư số 161/2007/TT-BTC ngày 31/12/2007 của Bộ Trưởng bộ tài chính)
Đợt 3: ban hành ngày 30/12/2003 gồm 6 chuẩn mực sau:
- Chuẩn mực kê toán 05 – Bất động sản đầu tư
- Chuẩn mực kế toán 07 – Các khoản đầu tư vào công ty liên kết
- Chuẩn mực kế toán 08 – Thông tin tài chính về những khoản vốn góp liên doanh
- Chuẩn mực kế toán 21 – Trình bày báo cáo tài chính
- Chuẩn mực kế toán 25 – Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đâu tư vào công ty con
- Chuẩn mực kế toán 26 – Thông tin về các bên liên quan
(Theo Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 và Thông tư số 161/2007/TT-BTC ngày 31/12/2007 của Bộ Trưởng bộ tài chính)
Đợt 4: ban hành ngày 15/02/2005 gồm 6 chuẩn mực sau:
- Chuẩn mực kế toán 16 – Thuế thu nhập doanh nghiệp
- Chuẩn mực kế toán 22 – Trình bày bổ sung báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tín dụng tương tự
- Chuẩn mực kế toán 23 – Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ
kế toán năm
- Chuẩn mực kế toán 27 – Báo cáo tài chính giữa niêm độ
Trang 25- Chuẩn mực kế toán 28 – Báo cáo bộ phận
- Chuẩn mực kế toán 29 – Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán
và các sai sót
(Theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15/02/2005 và Thông tư số 20/2006/TT-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Trưởng bộ tài chính)
Đợt 5 ngày 28/12/2005 ban hành 4 chuẩn mực sau:
- Chuẩn mực kế toán 11 – Hợp nhất kinh doanh
- Chuẩn mực kế toán 18 – Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng
- Chuẩn mực kế toán 19 – Hợp đồng bảo hiểm
- Chuẩn mực kế toán 30 – Lãi trên cổ phiếu
(Theo Quyết định số 15/2005/QĐ-BTC ngày 28/12/2005 và Thông tư số 21/2006/TT-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Trưởng bộ tài chính)
Theo đánh giá của các định chế tài chính quốc tế và giới chuyên môn, sự khác biệt giữa VAS và IAS/IFRS hiện nay còn tương đối lớn, tạo ra một số rào cản và làm giảm niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Tuy nhiên, sau hơn 10 năm áp dụng, không thể phủ nhận những đóng góp to lớn của CMKT Việt Nam trong việc nâng cao tính minh bạch và trung thực của BCTC, cung cấp những thông tin có chất lượng, phù hợp với trình độ quản lý và đặc thù của nền kinh tế Trong giai đoạn hiện nay, do sức ép từ việc cải cách thể chế cũng như yêu cầu của nền kinh tế, VAS ngày càng bộc lộ nhiều hạng chế, một
số nội dung chưa theo kịp với các thay đổi giao dịch của nền kinh tế thị trường, nhất là bối cảnh hoạt động tái cấu trúc DN, tổ chức tài chính và cổ phần hóa DN Nhà nước đang diễn ra mạnh mẽ, xuất hiện ngày càng nhiều các loại công cụ tài chính phức tạp
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng CMKT quốc tế 2.1.5.1 Tổng quan các nghiên cứu
Kế toán là một lĩnh vực khoa học xã hội do đó bị ảnh hưởng bởi các nhân tố môi trường (kinh tế, xã hội, văn hóa, ) Hơn thế nữa, các nhân tố này giải thích tại sao thực tiễn kế toán lại khác nhau giữa các quốc gia Một số nhà nghiên cứu xem xét sự thay đổi về kế toán là kết quả từ môi trường của nó (Grey và cộng sự, 1997) Khá nhiều nghiên cứu được thực hiện, nhằm xác định và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thuộc môi trường đến quyết định áp dụng tại các quốc gia như:
Leuz và Verrechia (2000) đã xem xét các lựa chọn kế toán của các công ty Đức niêm yết trên sàn DAX năm 1998 trong nghiên cứu của mình Bằng phân tích
Trang 26hồi quy, các tác giả chỉ ra được các nhân tố như: quy mô doanh nghiệp, nhu cầu tài chính và hiệu quả tài chính giải thích đáng kể quyết định áp dụng chuẩn mực
quốc tế Sau đó, Affes và Callimaci (2007) cũng tập trung nghiên cứu các động lực dẫn đến việc áp dụng sớm IAS/IFRS của các công ty niêm yết tại Đức và Áo Dựa
vào mẫu 106 công ty, kết quả cho thấy quy mô doanh nghiệp tác động cùng chiều
với xu hướng sớm vận dụng IAS/IFRS
Trong thời kỳ số lượng các nghiên cứu về các nước đang phát triển còn khan hiếm, Zeghal và Mhedhbi (2006) đã tiến hành nghiên cứu các nhân tố quyết định đến việc áp dụng IAS/IFRS tại các quốc gia này Nghiên cứu đã tiến hành lấy mẫu trên 32 quốc gia đang phát triển đã áp dụng IAS/IFRS và 32 quốc gia đang phát
triển chưa áp dụng, cuối cùng đưa ra kết luận rằng, các nước đang phát triển có thị trường vốn, trình độ giáo dục tiên tiến và tăng trưởng kinh tế cao có nhiều xu
hướng áp dụng IAS/IFRS
Zehri và Chouaibi (2013) thực hiện nghiên cứu dựa trên mẫu 74 các nước đang phát triển, với mục tiêu xác định các nhân tố giải thích cho sự lựa chọn áp dụng IAS/IFRS của các nước này tính đến năm 2008 Các nhân tố mà nghiên cứu đưa ra bao gồm: (1) Văn hóa, (2) Tăng trưởng kinh tế, (3) Mức độ sẵn có của thị trường vốn, (4) Trình độ giáo dục (5) Mở cửa với thế giới bên ngoài, (6) Hệ thống pháp lý và (7) Chính trị Kết quả chỉ ra rằng, phần lớn các nước đang phát triển có
xu hướng áp dụng IAS/IFRS thường có mức tăng trưởng kinh tế cao, cùng với hệ thống pháp lý dựa trên thông luật (common law) và trình độ giáo dục tiên tiến
Stainbank (2014) trong nghiên cứu đã sử dụng các nhân tố bao gồm tăng trưởng kinh tế, trình độ giáo dục, mở cửa kinh tế, văn hóa, quy mô thị trường vốn
dựa trên mẫu 32 quốc gia châu Phi Tác giả cho thấy, các quốc gia có tỷ lệ tăng trưởng nhanh, mức độ vốn hóa thị trường cao có nhiều khả năng áp dụng IFRS
Bên cạnh đó, văn hóa là biến giải thích có ý nghĩa nhất, cho rằng các quốc gia châu Phi với nền văn hóa gần với Anh thì khả năng áp dụng IFRS lớn hơn
Nghiên cứu của Baker et al (2007) cho rằng sự khác biệt kế toán của các quốc
gia phải kể đến đó là yếu tố kinh tế và pháp lý Đây là hai nhân tố quan trọng và
có ý nghĩa quyết định đến việc lựa chọn chính sách, chiến lược phát triển của hệ thống chuẩn mực của quốc gia
Nghiên cứu của Alia & Branson (2010) cho rằng sự đa dạng trong kế toán
của các quốc gia phát xuất từ nhóm các môi trường như môi trường kinh tế, chính trị, luật và thuế, kinh doanh, nghề nghiệp và các yếu tố môi trường luôn có sự kết
hợp và tác động lẫn nhau
Trang 27Fatma Zehri & Jamel Chouaibi (2013) đã đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IAS/ IFRS của 74 quốc gia Kết quả nghiên cứu cho thấy tốc độ
tăng trưởng kinh tế, giáo dục đào tạo, hệ thống pháp luật có ảnh hưởng đến việc
áp dụng IAS/IFRS
Phan Thi Hong Duc, Bruno Mascitelli & Meropy Barut (2014) đã nghiên cứu những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức của Việt Nam khi áp dụng IFRS Tại việt Nam, các nhân tố về môi trường tác động đến hệ thống kế toán Việt Nam được quan tâm của các nghiên cứu điển hình trước đây như Vũ Hữu Đức (1999), Tăng Thị Thanh Thủy (2009), Trình Quốc Việt (2009), Phạm Thị Thanh Hà (2009), Phan Thi Hong Duc (2010), Trần Quốc Thịnh (2014) Mỗi tác giả có
những nhận định riêng về các yếu tố tác động nhưng tựu chung đều cho rằng các yếu tố môi trường đã có những ảnh hưởng nhất định đến quá trình hình thành và
phát triển hệ thống kế toán cũng như việc áp dụng IAS/IFRS
Từ những kết quả nghiên cứu trên đã cho ta thấy rằng có 5 nhân tố cơ bản tác động đến việc áp dụng IAS/IFRS bao gồm: i) Nhân tố kinh tế; ii) Nhân tố chính trị; iii) Nhân tố pháp lý; iv) Hệ thống tài chính; v) Môi trường văn hóa
2.1.5.2 Các nhân tố ảnh hướng đến tiến trình áp dụng IAS/IFRS tại Việt Nam
Như trên đã trình bày, các quốc gia có sự khác biệt đáng kể về môi trường kinh tế, pháp lý, chính trị, hệ thống tài chính và văn hóa Điều này đã tác động đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển trong khu vực và quốc tế cũng đã chịu tác động bởi các yếu tố môi trường trong quá trình hình thành và phát triển CMKT
- Nhân tố kinh tế: Theo báo cáo năm 2012 của Ngân hàng thê giới (World Bank,
2012), Việt Nam một trong những nước có nền kinh tế phát triển nhanh nhất Nền kinh tế ngày một cởi mở, đặc biệt là khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO vào năm 2007, đánh dấu một bước ngoặc quan trọng trong việc hội nhập với nền kinh tế thế giới Đây chính là động lực cũng như áp lực từ bên ngoài đòi hỏi Việt Nam phải nhanh chóng hoàn thiện hệ thống CMKT phù hợp với IAS/IFRS nếu Việt Nam thật sự muốn mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với thế giới Cũng theo báo cáo năm 2012 của Ngân hàng thế giới, lĩnh vực kinh tế tư nhân ngày càng đóng vai trò quan trọng, nhưng khu vực kinh tế nhà nước vẫn
trọng cao trong nền kinh tế Một khi các DN nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thì kế toán được sử dụng như một công cụ của nhà nước để quản lý các DN Điều này được thê hiện rõ ở đặc thù của hệ thống kế toán Việt
Trang 28Nam, đó là mặc dù đã ban hành CMKT nhưng vẫn còn tồn tại chế độ kế toán
ở Việt Nam Việc duy trì chế độ kế toán ở Việt Nam là cách để các cơ quan quản lý nhà nước dễ quản lý công tác kế toán tài chính của các DN (Yang và Nguyen, 2003) Đây là trở ngại đối với việc áp dụng IAS/IFRS ở Việt Nam vì IAS/IFRS chú trọng cung cấp thông tin phục vụ cho việc ra quyết định của các nhà đầu tư và các đối tượng khác chứ không phải phục vụ cho cơ quan quản
lý nhà nước
- Nhân tố chính trị: Nhóm nhân tố chính trị có tác động mạnh mẽ đến quá trình
hội tụ kế toán quốc tế và điều này khá đúng với Việt Nam Quá trình hình thành các CMKT Việt Nam phản ảnh ý chí của Nhà nước Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu để đạt được các mục tiêu chính trị và kinh tế Nguyen Cong Phuong & Jacques Richard (2011) cho rằng Việt Nam ban hành các CMKT xuất phát từ áp lực để được chấp nhận là thành viên của WTO Khi chuẩn bị gia nhập WTO và thực hiện chủ trương đa phương hóa quan hệ quốc
tế, Việt Nam đã dứt khoát và mạnh mẽ thực hiện quá trình hình thành CMKT với xuất phát điểm hầu như bằng không Một lần nữa, khi Việt Nam trong tiến trình gia nhập tổ chức Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương cũng như Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), các CMKT Việt Nam được khởi động bằng việc ban hành 8 dự thảo CMKT và các chuẩn mực này tương tự như chuẩn mực quốc tế về kế toán (IAS/IFRS)
- Nhân tố pháp luật: Tại Việt Nam, Chính phủ, cụ thể là Bộ Tài chính vẫn giữ
vai trò chủ yếu trong việc xây dựng và ban hành hệ thống kế toán Hội đồng ban hành CMKT bao gồm các thành viên đến từ nhiều các tổ chức khác nhau, tuy nhiên vai trò của họ không độc lập hoàn toàn và vẫn bị chi phối bởi các chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ Tài chính Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA) vẫn chưa đóng vai trò chủ đạo trong việc ban hành các CMKT giống như các nước khác Ngoài các yếu tố kể trên, thì hệ thống pháp luật được xem là một yếu tố rất quan trọng tác động đến hệ thống kế toán của các quốc gia Việt Nam thuộc các nước áp dụng hình thức điển luật (code law) trong khi đó hầu hết các nước phát triển lại áp dụng hình thức thông luật (common law) Giữa
2 hệ thống luật này cũng có sự khác biệt lớn và ảnh hưởng đến việc ban hành các quy định pháp lý trong đó có các quy định về CMKT Những nước áp dụng hình thức thông luật thường quy định các vấn đề về bảo vệ quyền cổ đông và yêu cầu về tính minh bạch của của thông tin cao hơn so với các nước áp dụng điển luật (Y Ding, 2007) Các quốc gia thuộc nhóm áp dụng hình thức thông luật thường ít ban hành những quy định chi tiết về kế toán hơn các quốc gia thuộc hệ thống điển luật (Nobes & Parker, 1995) Trong khi đó, IAS/IFRS được phát triển phù hợp với hệ thống luật và các yêu cầu của các nước theo
Trang 29hình thức thông luật Do đó, điều này sẽ ảnh hưởng đến quan điểm và cách thức ban hành các CMKT tại Việt Nam
- Hệ thống tài chính: Hệ thống ngân hàng đóng vai trò chủ đạo trên thị trường
tài chính ở Việt Nam, trong khi thị trường vốn vẫn còn non trẻ Do đó, hệ thống tài chính ở Việt Nam được xếp vào loại “tín dụng nội bộ”, dẫn đến hệ thống
kế toán chú trọng việc cung cấp thông tin cho chủ nợ hơn là các nhà đầu tư Thị trường vốn Việt Nam còn non trẻ nên chưa thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài Các nhà đâu tư Việt Nam có thói quen ra quyết định dựa trên “tâm
lý đám đông”, nhưng ít dựa trên phân tích BCTC của DN Như vậy, thị trường tài chính Việt Nam với những phân tích đã nói trên, không tạo ra động lực cần hoàn thiện VAS theo hướng tiếp cận với IAS/IFRS
- Nhân tố văn hóa: Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, các yếu tố văn hóa ảnh hưởng
đến sự phát triển của kế toán Sự khác biệt về đặc điểm của văn hóa giữa các quốc gia tạo ra các hệ thống kế toán khác nhau Các nước thuộc văn hóa Anglo-Saxon thường lựa chọn áp dụng hệ thống kế toán có các quy định chặt chẽ, trong khi đó các nước phương Tây lại có xu hướng lựa chọn và áp dụng hệ thống kế toán có các quy định linh hoạt và mềm dẻo hơn Văn hóa Việt Nam thiên về xu hướng thận trọng tránh rủi ro, điều này bị ảnh hưởng bởi điều kiện
tự nhiên và lịch sử Chính yếu tố này đã ảnh hưởng trực tiếp đến tư duy và cách thức ban hành chuẩn mực và hệ thống chính sách kế toán của Việt Nam Thực tế cho thấy, hệ thống chính sách và CMKT của Việt Nam được ban hành theo hướng thận trọng, đề cao sự tuân thủ các qui định, hạn chế các ước tính
kế toán và những vấn đề mang tính xét đoán Trong khi đó, IFRS lại mang tính linh hoạt mở, nhiều ước tính, dựa nhiều vào yếu tổ chủ quan và các xét đoán Như vậy với những đặc điểm kinh tế, chính trị, pháp luật, tài chính và văn hóa
ở Việt Nam như đã nói ở trên, có thể thấy việc áp dụng IAS/IFRS ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn Do đó mà Việt Nam không thể sử dụng nguyên bản IAS/IFRS mà cần phải xây dựng một hệ thống CMKT vừa phù hợp với IAS/IFRS vừa phù hợp với môi trường Việt Nam
2.2 Tổng quan về báo cáo tài chính
2.2.1 Khái niệm về báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là sự tổng hợp số liệu từ các sổ sách kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính nhất định một cách có hệ thống do kế toán soạn thảo theo định kỳ được trình bày dưới dạng báo cáo tổng hợp theo cấu trúc nhất định, phù hợp với những nguyên tắc và quy định của kế toán nhằm cung cấp thông tin hữu ích về tình hình tài chính của doanh nghiệp cho các đối tượng sử dụng thông tin
kế toán không chỉ giới hạn là những người quản lý ở bên trong các doanh nghiệp
Trang 30hay phục vụ cho việc kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước mà còn bao gồm cả các đối tượng, các thể nhân, pháp nhân bên ngoài doanh nghiệp như các nhà đầu tư, các chủ nợ, ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, các đối tác kinh doanh… mỗi đối tượng sử dụng thông tin kế toán với mục đích rất khác nhau Vì vậy mà nhu cầu thông tin là một đòi hỏi khách quan và không thể thiếu được trong sự vận hành của nền kinh tế
2.2.2 Mục đích của báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế Để đạt mục đích này báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về:
2.2.3 Vai trò của báo cáo tài chính
Vai trò của Báo cáo tài chính là để đánh giá được tình hình tài chính của một công ty, để so sánh với các đối thủ cạnh tranh khác Báo cáo tài chính là một công
cụ hữu ích nhất cho việc đánh giá so sánh giữa các doanh nghiệp Từ báo cáo tài chính cho thấy tất cả những gì mà công ty nợ và sở hữu, lợi nhuận và các khoản lỗ trong một khoảng thời gian nhất định và vị thế của công ty thay đổi như thế nào từ những báo cáo cuối cùng của họ
2.2.4 Các yếu tố của báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp bằng cách tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính có cùng tính chất kinh tế thành các yếu
tố của báo cáo tài chính Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định tình hình tài chính trong Bảng cân đối kế toán là Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu Các yếu tố liên quan trực tiếp đến đánh giá tình hình và kết quả kinh doanh trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là Doanh thu, Thu nhập khác, Chi phí và Kết quả kinh doanh
2.2.4.1 Tình hình tài chính
Trang 31Các yếu tố có liên quan trực tiếp tới việc xác định và đánh giá tình hình tài chính là Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu Những yếu tố này được định nghĩa như sau:
Tài sản: Là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích
kinh tế trong tương lai
Nợ phải trả: Là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch
và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình
Vốn chủ sở hữu: Là giá trị vốn của doanh nghiệp, được tính bằng số chênh
lệch giữa giá trị Tài sản của doanh nghiệp trừ (-) Nợ phải trả
Khi xác định các khoản mục trong các yếu tố của báo cáo tài chính phải chú
ý đến hình thức sở hữu và nội dung kinh tế của chúng Trong một số trường hợp, tài sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng căn cứ vào nội dung kinh tế của tài sản thì được phản ảnh trong các yếu tố của báo cáo tài chính Ví dụ, trường hợp thuê tài chính, hình thức và nội dung kinh tế là việc doanh nghiệp đi thuê thu được lợi ích kinh tế từ việc sử dụng tài sản thuê đối với phần lớn thời gian
sử dụng hữu ích của tài sản, đổi lại doanh nghiệp đi thuê có nghĩa vụ phải trả một khoản tiền xấp xỉ với giá trị hợp lý của tài sản và các chi phí tài chính có liên quan Nghiệp vụ thuê tài chính làm phát sinh khoản mục "Tài sản" và khoản mục "Nợ phải trả" trong Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp đi thuê
Các yếu tố Doanh thu, thu nhập khác và chi phí được định nghĩa như sau:
Doanh thu và thu nhập khác: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp
thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu
Chi phí: Là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán
dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu
Trang 32Doanh thu, thu nhập khác và chi phí được trình bày trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh để cung cấp thông tin cho việc đánh giá năng lực của doanh nghiệp trong việc tạo ra các nguồn tiền và các khoản tương đương tiền trong tương lai.Các yếu tố doanh thu, thu nhập khác và chi phí có thể trình bày theo nhiều cách trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh để trình bày tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, như: Doanh thu, chi phí và lợi nhuận của hoạt động kinh doanh thông thường và hoạt động khác.
2.2.5 Hệ thống báo cáo tài chính
Nhìn chung hệ thống BCTC ở bất kỳ quốc giá nào trên thế giới đều cũng phải trình bày 4 báo cáo chủ yếu sau: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, TMBCTC, (Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu - Theo IAS 1)1
2.2.5.1 Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán hay còn gọi là bảng tổng kết tài sản là một BCTC kế toán tổng hợp phản ánh khái quát tình hình tài sản của DN tại một thời điểm nhất định, dưới hình thái tiền tệ theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản Về bản chất BCĐKT là một bảng cân đối tổng hợp giữa tài sản với nguồn vốn chủ sở hữu
điểm giống và khác nhau như sau:
Giống nhau:
- BCTC đều phải trình bày tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu theo từng phần được tách riêng Tài sản và nợ phải trả được phân loại theo tính chất ngắn hạn và dài hạn Trường hợp không trình bày riêng biệt các tài sản và nợ phải trả thì tài sản và nợ phải trả phải được trình bày theo thứ tự tính thanh khoản giảm dần
- Với cả hai phương pháp trình bày, đối với từng khoản mục tài sản và nợ phải trả, DN phải trình bày tổng số tiền dự tính được thu hồi hoặc thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm, số tiền được thu hồi hoặc thanh toán sau 12 tháng
- Việc điều chỉnh các khoản mục trình bày trên BCĐKT có thể bao gồm: + Việc trình bày riêng biệt trên BCĐKT, hoặc khi quy mô, bản chất hoặc chức năng của một khoản mục đòi hỏi phải trình bày riêng biệt nhằm phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính của DN
1 Xem phụ lục 1
2 Xem phụ lục 2
Trang 33+ Cách thức trình bày và sắp xếp theo thứ tự các yếu tố thông tin có thể được sửa đổi theo tính chất và đặc điểm hoạt động của DN nhằm cung cấp những thông tin cần thiết cho việc nắm bắt được tình hình tài chính tổng quan của DN
nhằm tạo ra sự linh hoạt cho DN
Trình bày BCĐKT trên mẫu có sẵn B01-DN
sửa đổi và bổ sung
- Tổng hợp các tài sản được giữ để bán
và các tài sản thuộc nhóm dài hạn, nợ phải trả về thuế hiện hành và tài sản thuế hiện hành
- Đổi tên khoản mục “Lợi ích cổ đông thiểu số” thành “Lợi ích cổ đông không kiểm soát”
2.2.5.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một bảng BCTC kế toán tổng hợp phản ánh tổng quát tình hình và và kết quả kinh doanh, tình hình thực hiện nghĩa
có điểm giống và khác nhau như sau:
Trang 34thông tin phân loại theo bản chất để đảm bảo cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng
- Năm 2007, thì DN phải trình bày hoặc trên BCTĐVCSH hoặc trên TMBCTC
Quy định trình bày trên TMBCTC
nhằm tạo ra sự linh hoạt cho DN
Trình bày BCKQHĐKD trên mẫu có sẵn B02-DN
Báo cáo lợi nhuận
tổng hợp
Năm 2007, IAS 1 đổi BCKQHĐKD thành Báo cáo lợi nhuận tổng hợp được cho phép trình bày với một trong hai báo cáo sau:
- Trong một báo cáo tổng hợp các khoản thu nhập; hoặc
- Trong 2 báo cáo: báo cáo trình bày lãi/lỗ (BCKQHĐKD riêng) và báo cáo trình bày lãi/lỗ và các khoản thu nhập khác
Trình bày một báo cáo lãi/lỗ duy nhất
(BCKQHĐKD riêng)
- Dù là trình bày chung hoặc kết hợp hai báo cáo riêng lẻ, nhưng về cơ bản phải phản ánh:
i) Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh (Net income): đây là kết quả đã thực hiện đối với các hàng hóa, dịch vụ hay các giao dịch làm ảnh hưởng đến VCSH
ii) Lợi nhuận tổng hợp khác (Other Comprehensive Income): đây là kết quả những giao dịch ảnh hưởng đến VCSH và được ghi nhận trực tiếp vào VCSH (không kể các khoản các nguồn gốc từ chủ sở hữu) Các thành phần của lợi nhuận tổng hợp khác bao gồm: Lãi/lỗ đối với việc đánh giá lại tài sản, lãi/lỗ đối với quỹ lợi ích nhân viên xác định, lãi/lỗ
từ chuyển đổi BCTC của cơ sở hoạt động ở nước ngoài, lãi/lỗ đối với công cụ phòng ngừa rủi ro tiền tệ
iii) Lợi nhuận kế toán: là tất cả những khoản thu nhập, chi phí ảnh hưởng đến VCSH (không kể các khoản có nguồn gốc từ chủ sở hữu)
- Ảnh hưởng của lợi nhuận tổng hợp trên BCĐKT: Về bản chất, các BCĐKT lập vào cuối kỳ kế toán trước và cuối kỳ kế toán hiện hành điều thể hiện biến động nguồn VCSH Sự biến động nguồn VCSH kỳ này so với kỳ trước
Trang 35được xem xét trước hết có phải là do phân phối hay đóng góp của chủ sở hữu Nếu không do phân phối hay đóng góp thì sự thay đổi này là kết quả
từ lợi nhuận tổng hợp, mà nguồn tạo ra lợi nhuận tổng hợp chính là kết quả hoạt động kinh doanh của DN
2.2.5.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo kế toán tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền trong kỳ báo cáo của DN Căn cứ bào báo cáo này người ta có thể đánh giá về khả năng tạp ra tiền, sự biến động tài sản thuần của
DN, khả năng thanh toán cũng như tình hình lưu chuyển tiền của kỳ tiếp theo, trên
cơ sở đó dự đoán được nhu cầu và khả năng tài chính của DN Giữa VAS 24 và IAS 74 thì có sự giống nhau và khác nhau như sau:
ii) Phương pháp gián tiếp điều chỉnh lợi nhuận hoặc lỗ thuần khỏi các tác động của các giao dịch phi tiền tệ, các khoản thu và chi tiền hoãn lại hoặc dồn tích của các hoạt động trong quá khứ hoặc trong tương lai và các khoản thu nhập và chi phí liên quan đến các dòng tiền từ hoạt động đầu
tư hoặc tài chính
- Thay đổi quyền sở hữu trong công ty con và các DN khác: DN phải trình bày một cách tổng hợp về cả việc mua và thanh lý các công ty con hoặc các đơn vị kinh doanh khác
- Chênh lệch tỷ giá hối đoái từ việc chuyển đổi tiền và các khoản tương đương tiền có gốc ngoại tệ phải được trình bày riêng biệt trên BCLCTT
- Các giao dịch không bằng tiền: các giao dịch về đầu tư và tài chính không yêu cầu sử dụng tiền hay các khoản tương đương tiền thì không được trình bày trong BCLCTT
- Các luồng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh, đầu tư hoặc tài chính thì phải được báo cáo trên cơ sở thuần
4 Xem phụ lục 5
Trang 362.2.5.4 Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu
Theo tổ chức ban hành chuẩn mực kế toán quốc tế IASC/IASB yêu cầu các
dụng, trong khi Bộ Tài chính Việt Nam lại không quy định về lập và trình bày báo cáo dạng này vào CMKT Thông tin do BCTĐVCSH cung cấp được IASC/IASB cho rằng sẽ hữu ích đối với các nhà đầu tư, chủ nợ và những đối tượng sử dụng thông tin khác Do không được quy định trong CMKT Việt Nam nên việc dẫn đến
sự khác biệt là không thể tránh khỏi cụ thể là: các thông tin về thay đổi VCSH theo CMKT Việt Nam thì sẽ được trình bày trong TMBCTC còn đối với CMKT quốc
tế thì sẽ được trình bày riêng thành một bảng báo cáo độc lập
2.2.5.5 Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống BCTC kế toán của DN được lập để giải thích một số vấn đề về hoạt động sản xuất kinh doanh
và tình hình tài chính của DN trong kỳ báo cáo mà các BCTC kế toán khác không
những điểm giống và khác nhau như sau:
Giống nhau:
- So với IAS 01 và VAS 21 giống nhau cơ bản về cấu trúc của bản TMBCTC: + Đưa ra các thông tin về cơ sở dùng để lập BCTC và các chính sách cụ thể được chọn và áp dụng đối với các giao dịch và sự kiện quan trọng;
+ Trình bày các thông tin theo quy định của các CMKT mà chưa được trình bày trong các BCTC khác;
5 Xem phụ lục 6
6 Xem phụ lục 8
Trang 37+ Cung cấp thông tin bổ sung chưa được trình bày trong các BCTC khác, nhưng lại cần thiết cho biệt trình bày trung thực và hợp lý
Bản TMBCTC phải được trình bày một cách có hệ thống Mỗi khoản mục trong BCĐKT, BCKQHĐKD và BCLCTT cần phải đánh dấu dẫn tới các thông tin liên quan trong bản TMBCTC
- Các chính sách kế toán trong TMBCTC cần được trình bày các đặc điểm sau: + Cơ sở đo lường (hoặc cơ sở) được sử dụng trong việc lập các BCTC + Mỗi chính sách kế toán cụ thể là điều cần thiết cho sự hiểu biết đúng đắn của các BCTC
- Các thông tin khác trên bản TMBCTC - DN cần cung cấp các thông tin sau đây, trừ khi các thông tin này đã được cung cấp trong tài liệu khác đính kèm BCTC được công bố:
+ Trụ sở và loại hình pháp lý của DN, quốc gia đã chứng nhận tư cách pháp nhân của DN và địa chỉ của trụ sở DN (hoặc của cơ sở kinh doanh nếu khác với trụ sở);
+ Phần mô tả tính chất các nghiệp vụ và các hoạt động chính của DN; + Tên của công ty mẹ và công ty mẹ của cả tập đoàn;
+ Số lượng công nhân viên tại thời điểm cuối niên độ hoặc số lượng công
nhân viên bình quân trong niên độ
nhất là các thông tin về thay đổi vốn chủ sở hữu và các thông tin về vốn cổ phần, cổ tức chỉ được trình bày trong TMBCTC đối với VAS 21
quyết định và thông tin về các ước tính không chắc chắn Năm 2005 lại tiếp tục được sửa đổi trình bày thêm thông tin về vốn Năm 2008 bổ sung thêm nội dung công cụ tài chính và nghĩa vụ phát sinh trên tính thanh khoản
2.2.6 Các yêu cầu và nguyên tắc chung trong lập và trình bày BCTC
Việc lập và trình bày BCTC phải tuân thủ theo các yêu cầu quy định của CMKT về trình bày BCTC, gồm: Trung thực và hợp lý Khi lập và trình bày BCTC phải đảm bảo các nguyên tắc: hoạt động liên tục, Cơ sở dồn tích, nhất quán, trọng yếu và tập hợp, bù trừ, có thể so sánh
- Hoạt động liên tục: Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, trừ khi doanh nghiệp có ý định cũng như buộc phải ngừng hoạt động, hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động
Trang 38của mình Nếu báo cáo tài chính không được lập trên cơ sở hoạt động liên tục, thì sự kiện này cần được nêu rõ, cùng với cơ sở dùng để lập báo cáo tài chính và lý do khiến cho doanh nghiệp không được coi là đang hoạt động liên tục
- Cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền DN phải lập các BCTC theo
cơ sở dồn tích ngoại trừ các thông tin liên quan đến luồng tiền
chính phải nhất quán từ niên độ này sang niên độ khác, trừ khi:
i) Có sự thay đổi đáng kể về bản chất các hoạt động của doanh nghiệp hoặc khi xem xét lại việc trình bày báo cáo tài chính cho thấy rằng cần phải thay đổi để có thể trình bày một cách hợp lý hơn các giao dịch và các sự kiện; hoặc
ii) Một chuẩn mực kế toán khác yêu cầu có sự thay đổi trong việc trình bày
- Trọng yếu và tập hợp: Từng khoản mục trọng yếu phải được trình bày riêng biệt trong báo cáo tài chính Các khoản mục không trọng yếu thì không phải trình bày riêng rẽ mà được tập hợp vào những khoản mục có cùng tính chất hoặc chức năng Khi trình bày báo cáo tài chính, một thông tin được coi là trọng yếu nếu không trình bày hoặc trình bày thiếu chính xác của thông tin
đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính Tính trọng yếu phụ thuộc vào quy mô và tính chất của các khoản mục được đánh giá trong các tình huống cụ thể nếu các khoản mục này không được trình bày riêng biệt Để xác định một khoản mục hay một tập hợp các khoản mục là trọng yếu phải đánh giá tính chất và quy mô của chúng
- Bù trừ: Các khoản mục tài sản và nợ phải trả trình bày trên báo cáo tài chính không được bù trừ, trừ khi một chuẩn mực kế toán khác quy định hoặc cho phép bù trừ Các khoản mục doanh thu, thu nhập khác và chi phí chỉ được
bù trừ khi:
i) Được quy định tại một chuẩn mực kế toán khác; hoặc
ii) Các khoản lãi, lỗ và các chi phí liên quan phát sinh từ các giao dịch và các sự kiện giống nhau hoặc tương tự và không có tính trọng yếu
so sánh giữa các kỳ kế toán phải được trình bày tương ứng với các thông tin bằng số liệu trong báo cáo tài chính của kỳ trước Các thông tin so sánh cần phải bao gồm cả các thông tin diễn giải bằng lời nếu điều này là cần thiết
Trang 39giúp cho những người sử dụng hiểu rõ được báo cáo tài chính của kỳ hiện tại Khi thay đổi cách trình bày hoặc cách phân loại các khoản mục trong báo cáo tài chính, thì phải phân loại lại các số liệu so sánh (trừ khi việc này không thể thực hiện được nhằm đảm bảo khả năng so sánh với kỳ hiện tại,
và phải trình bày tính chất, số liệu và lý do việc phân loại lại Nếu không thể thực hiện được việc phân loại lại các số liệu tương ứng mang tính so sánh thì doanh nghiệp cần phải nêu rõ lý do và tính chất của những thay đổi nếu việc phân loại lại các số liệu được thực hiện
2.3 Tổng hợp các kết quả nghiên cứu cũng như đánh giá về hòa hợp kế toán trong trình bày BCTC
Thực tế cho thấy IASB đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc ban hành các nguyên tắc, các quy định nhằm hướng đến mục tiêu hòa hợp kế toán Cùng với tiến trình đó đã đặt ra vấn đề về hòa hợp kế toán làm cho sự quan tâm của nhiều người ngày càng gia tăng và cũng từ đó, nhiều nghiên cứu về hòa hợp
kế toán ở các khía cạnh khác nhau đã được công bố
2.3.1 Kết quả nghiên cứu về sự hòa hợp giữa kế toán Việt Nam và Quốc
tế trong việc lập và trình bày BCTC Hợp nhất - Từ chuẩn mực đến thực tiễn
Tại Việt Nam, một nghiên cứu về sự hòa hợp giữa kế toán Việt Nam và quốc
tế trong việc lập và trình bày BCTC Hợp nhất - từ chuẩn mực đến thực tiễn với việc sử dụng các công cụ như hệ số JACC có điều chỉnh, chỉ số ABSE, DIV và
AD cho 14 nội dung hòa hợp về mặt trình bày BCTC và 21 nội dung hòa hợp về mặt đo lường BCTC đã cho ra kết quả nghiên cứu sau khi được thông qua kiểm định Wilcoxon thì đã có bằng chứng chắc chắn rằng CMKT Việt Nam có mức độ hòa hợp thấp so với các IAS/IFRS được ban hành sau năm 2004 Có sự khác biệt đáng kể trong mức độ hòa hợp giữa CMKT của Việt Nam với IAS (2003) và IFRS (2011), mức độ hòa hợp giảm từ IAS (2003) - 50% đến IFRS (2011) – 26,32%
2.3.2 Kết quả nghiên cứu đo lường mức độ hòa hợp giữa BCTC của Tunisia và Chuẩn mực BCTC Quốc tế (IFRS)
Theo Ali Alnaas cho rằng: “Những người quan tâm đến sự hài hòa trong thực
tế cho dù theo thời gian hoặc tại các thời điểm để đo lường mức độ hài hòa, kết quả thu được từ những nghiên cứu này sẽ khác nhau Mặc dù phần lớn đã phát hiện ra rằng mức độ hài hòa giảm dần theo thời gian hoặc là thấp hơn, ít người đã tìm thấy đều ngược lại Trong cuộc nghiên cứu về mức độ hài hòa gần đây Ali Alnaas đã thực
đo lường 54 báo cáo thường niên của các công ty được niêm yết trên Thị trường Tunisia và 54 báo cáo thường niên của các công ty được niêm yết trong Thị trường giao lưu quốc tế - London và Thị trường ngoại Paris tại thời điểm năm 2005 và năm
2010 để đánh Và kết quả nghiên cứu về mức độ hài hòa giữa BCTC của Tunisia và
Trang 40Chuẩn mực BCTC quốc tế tại 2 thời điểm năm 2005 và năm 2010 đều bằng 54% Với mức kết quả này cho thấy từ năm 2005 đến năm 2010 thì không có sự gia tăng trong sự hài hòa
2.3.3 Kết quả nghiên cứu đo lường sự hòa hợp kế toán và CMKT
Trong bài báo của Fontes, Rodriruez và Craig (2005:415) có 3 phương pháp (khoảng cách Euclidean, hệ số Jaccard và hệ số tương quan Spearman) được sử dụng để đo lường mức độ hòa hợp CMKT và thành công đạt được sự hội tụ giữa hai bộ CMKT (CMKT quốc gia và IFRS) tại Bồ Đào Nha cho giai đoạn 1977 –
2003 Nghiên cứu được thực hiện dựa trên mẫu 43 vấn đề kế toán sử dụng các kỹ thuật của Rahman et al (1996)
Các kết quả thu được bằng khoảng cách Euclidean thì rất khó giải thích cho việc có ý nghĩa nghiên cứu Tuy nhiên, các dữ liệu chỉ có thể được sử dụng như là một thước đo phổ biến về mức độ hội tụ, nhưng hạn chế giúp ích trong việc cung cấp việc đo lường chính xác (Fontes et al 2005:428)
Ngược lại, kết quả của hệ số Jaccard được hiểu theo nghĩa khách quan hơn (Kết quả tăng theo thời gian cho thấy một điều kiện tiên quyết về hòa hợp CMKT)
Có nghĩa là mức độ hòa hợp (59%) giữa CMKT Bồ Đào Nha với Quốc tế đạt được trong giai đoạn 1989-2003 cho 43 nội dung kế toán được phân tích (Fontes et al 2005:433)
tương quan đáng kể giữa CMKT Bồ Đào Nha và IFRS cho giai đoạn 1977-1989
biệt đáng kể giữa CMKT Bồ Đào Nha và IFRS và thiếu sự hội tụ CMKT
Cuối cùng giai đoạn 1995-2003 (NC), đã có một sự tương quan đáng kể giữa CMKT Bồ Đào Nha và IFRS (2005:433) Điều này có thể kết luận rằng sự hòa hợp của Bồ Đào Nha với IFRS bắt đầu từ năm 1991, khi Ban CMKT Bồ Đào Nha (CNC) đưa ra CMKT (DCS) tương tự CMKT quốc tế có nghĩa là mức độ hòa hợp
sẽ tăng nếu các CMKT được ban hành tương tự như CMKT quốc tế
2.3.4 Đo lường sự hòa hợp CMKT giữa Úc và New Zealand
Rehman et al (1996: 337.328.330) kiểm tra khả năng về việc đo lường sự hài hòa các CMKT của các nước đã đạt được thống kê thực nghiệm so sánh giữa đo lường
và yêu cầu công bố cho các công ty được liệt kê ở Úc và New Zealand Các phân loại được dùng trong nghiên cứu như sau: