LỜI NÓI ĐẦU Triết học Mác – Lênin một trong ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác, do Các Mác (1818 – 1883), Phriđích Ăngghen (1820 – 1895) sáng lập và V.I. Lênin phát triển. Triết học Mác ra đời vào thế kỉ XIX, khi cách mạng tư sản đã hoàn toàn thắng thế trước chế độ phong kiến và chủ nghĩa tư bản bước vào thời kỳ thịnh vượng ở một số nước Châu Âu, như Anh, Pháp. Nó làm cho lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, tạo ra một lượng của cải vật chất chưa từng có. Điều này một mặt, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người; mặt khác, nó càng khoét sâu thêm mâu thuẫn vốn có giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Mâu thuẫn này biểu hiện về mặt xã hội thành mâu thuẫn giai cấp. Vì vậy, đã xuất hiện nhiều phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại sự bóc lột của giai cấp tư sản, nhưng đều mang tính tự phát. Trong điều kiện kinh tế xã hội như vậy, đòi hỏi phải có một lý luận mới ra đời làm “vũ khí tư tưởng” cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng đã ra đời để đáp ứng đòi hỏi ấy của lịch sử. Nghiên cứu về những điều kiện, tiền đề trên sẽ giúp chúng ta được hiểu sâu sắc, thấy được triết học Mác ra đời là tất yếu của lịch sử. Vậy nên, người viết quyết định chọn đề tài: “Những điều kiện tiền đề ra đời triết học Mác” làm tiểu luận giữa môn học của mình. MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 3 CHƯƠNG I: NHỮNG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI 3 1.1 Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa 3 1.2 Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân 5 CHƯƠNG II: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN 5 2.1 Triết học cổ điển Đức 5 2.2 Kinh tế chính trị Anh 21 2.3 Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp 29 CHƯƠNG III: NHỮNG TIỀN ĐỀ KHOA HỌC TỰ NHIÊN 33 3.1 Học thuyết tế bào.... 33 3.2 Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng...............................34 3.3 Học thuyết tiến hoá 35 PHẦN KẾT LUẬN 36 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Triết học Mác – Lênin - một trong ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác, doCác Mác (1818 – 1883), Phriđích Ăngghen (1820 – 1895) sáng lập và V.I Lêninphát triển Triết học Mác ra đời vào thế kỉ XIX, khi cách mạng tư sản đã hoàn toànthắng thế trước chế độ phong kiến và chủ nghĩa tư bản bước vào thời kỳ thịnhvượng ở một số nước Châu Âu, như Anh, Pháp Nó làm cho lực lượng sản xuấtngày càng phát triển, tạo ra một lượng của cải vật chất chưa từng có Điều này mộtmặt, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người; mặt khác, nó càng khoétsâu thêm mâu thuẫn vốn có giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Mâu thuẫnnày biểu hiện về mặt xã hội thành mâu thuẫn giai cấp Vì vậy, đã xuất hiện nhiềuphong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại sự bóc lột của giai cấp tư sản,nhưng đều mang tính tự phát Trong điều kiện kinh tế - xã hội như vậy, đòi hỏi phải
có một lý luận mới ra đời làm “vũ khí tư tưởng” cho phong trào đấu tranh của giaicấp công nhân và chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng đã ra đời để đápứng đòi hỏi ấy của lịch sử
Nghiên cứu về những điều kiện, tiền đề trên sẽ giúp chúng ta được hiểu sâusắc, thấy được triết học Mác ra đời là tất yếu của lịch sử Vậy nên, người viết quyết
định chọn đề tài: “Những điều kiện tiền đề ra đời triết học Mác” làm tiểu luận giữa môn học của mình.
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I: NHỮNG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI 3
1.1 Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa 3
1.2 Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân 5
CHƯƠNG II: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN 5
2.1 Triết học cổ điển Đức 5
2.2 Kinh tế chính trị Anh 21
2.3 Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp 29
CHƯƠNG III: NHỮNG TIỀN ĐỀ KHOA HỌC TỰ NHIÊN 33
3.1 Học thuyết tế bào 33
3.2 Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng 34
3.3 Học thuyết tiến hoá 35
PHẦN KẾT LUẬN 36
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I – NHỮNG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1 Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Vào giữa những năm 40 của thế kỉ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa đã thống trị ở nhiều nước châu Âu Trong khi phong trào cách mạng tư sảnkhông ngừng tiếp diễn thì kinh tế tư bản chủ nghiữa đã có những bước tiến quan
trọng Nước Anh vẫn chiếm địa vị hàng đầu trong nền kinh tế thế giới Từ năm
1830, tốc độ phát triển công nghiệp ngày càng tăng, việc sử dụng máy móc vào sảnxuất ngày càng nhiều Ngành luyện kim và cơ khí phát triển rất nhanh nhằm đápứng nhu cầu trang bị kĩ thuật toàn bộ nền công nghiệp Đồng thời, đường sắt tănglên nhanh chóng: năm 1830 đường xe lửa đầu tiên nối liền Manchester và Liverpoodđược khánh thành và đến năm 1850, nước Anh đã có tới 10.000 km Điều đó thúcđẩy sự phát triển của thị trường trong nước và tăng cường mối liên hệ kinh tế giữacác trung tâm công nghiệp
Nước Pháp đứng hàng thứ hai trong nền kinh tế thế giới Cuộc cách mạng
công nghiệp đang trên đà phát triển Số lượng máy hơi nước được sử dụng tăng lênnhanh chóng: năm 1820 – 65 cái, 1830 – 616 cái, 1848 – 4852 cái Sản lượng cácngành công nghiệp nặng cùng tiến bộ rõ rệt: than năm 1832 là 225 nghìn tấn, đến
1856 lên 373 nghìn tấn Việc xây dựng đường sắt được đẩy mạnh: từ năm 1831 –
1841 dài 38 – 573 km, đến năm 1845 – 1847 dài 880 – 1852 km Những tiến bộ đólàm cho trên toàn lục địa châu Âu, công nghiệp Pháp là nên công nghiệp phát đạthơn hết
Trang 4Trong nhiều nước khác ở châu Âu, tuy chưa tiến hành cách mạng tư sản,nhưng nhân tố tư bản chủ nghĩa cùng đã nảy nở trong nền kinh tế mỗi nước Mặcdầu quan hệ phong kiếm còn chiếm địa vị thống trị, nước Đức cũng đã có một sốchuyển biến nhất định tuy còn chậm chạp so với các nước trên Quan hệ tư bản chủnghĩa phát triển mạnh mẽ nhất ở cùng sông Ranh và Vetxphalen vì ở đó nhân dânđược giải phóng một phần nào khỏi chế độ phong kiến (do ảnh hưởng của cáchmạng tư sản Pháp) và có nhiều nguyên liệu hơn cả Beclin, thủ đô của Phổ Nó trởthành một trung tâm công thương nghiệp của nước Đức, tập trung 1/3 sản xuất cơkhí và vải hoa của cả nước Tuy nhiên, đến cuối những năm 40, hình thức côngnghiệp phổ biến vẫn là công trường thủ công, các công xưởng lớn còn hiếm hoi Sựtiến bộ kĩ thuật thể hiện rõ rệt trong ngành vận tải, tàu thuỷ chạy bằng hơi nước xuấthiện từ năm 1824 ở sông Ranh và con đường xe lửa đầu tiên được xây dựng năm
1835 Sự tồn tại của chính quyền phong kiến và tình trạng phân cắt đất nước lànguyên nhân chủ yếu cản trở bước tiến chủ chủ nghĩa tư bản ở Đức
Như vậy, trong nửa đầu thế kỉ XIX, nhất là trong khoảng 1815 – 1848, cuộccách mạng công nghiệp tiếp tục phát triển trong các nước lớn, đẩy nền kinh tế lênmột nức cao Ở những nước khác, tuy chưa tiến hành cách mạng tư sản, kinh tế tưbản chủ nghĩa cũng đã bước đầu giành được những thành tựu đáng kể Tình hình đó
đã tạo nên một nguồn của cải vật chất phong phú và mở ra khả năng sản xuất to lớn.Đồng thời, nó cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của mâu thuẫn xã hội Bên cạchmâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản với chế độ phong kiến, đã xuất hiện mâu thuẫngiữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Điều đó tác động quan trọng đến diễn biếncủa phong trào cách mạng trong những năm giữa thế kỉ XIX
1.2 Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân
Tình cảnh giai cấp công nhân Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã nâng cao
rõ rệt mức sản xuất trên thế giới Các trung tâm công thương nghiệp sầm uất mọclênvới những bến cảng tấp nập, các thành phố đồ sộ, các đường giao thông thuỷ bộ
Trang 5chẳng chịt và các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại Nhưng cùng với sự pháttriển đó, cảnh tương phản giữa tư sản và công nhân ngày càng bộc lộ rõ rệt Ở hầukhắp các nước, công nhân lâm vào tình trạng vô cùng khổ cưc.
Lấy nước Anh là nơi có nền công nghiệp phát triển nhất làm ví dụ Ngày laođộng kéo dài tới 16 – 18 giờ Số công nhân lớn tuổi chỉ chiếm cừng 30%, còn lại lànhững công nhân chưa đến tuổi trưởng thành Tiền lương của công nhân, phụ nữ vàtrẻ em rẻ mạt hơn lương đàn ông Trong hai mươi năm từ 1815 – 1835, tiền lươngthực tế giảm sút ba lần Điều kiện ăn ở vệ sinh rất thấp kém
Đằng sau bộ mặt lộng lẫy của chủ nghĩa tư bản, toàn bộ sự thực về đời sốngcông nhân đã được Ăngghen vạch ra một cách chân thực và sinh động trong tác
phẩm nổi tiếng “Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh” Sự bóc lột tàn khốc của
chủ nghĩa tư bản làm cho hố ngăn cách giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản ngàycàng sâu sắc và mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt Cuộc đấu tranh giai cấp giữa tưsản và vô sản là điều kiện không thể tránh khỏi
Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Giai cấp công nhân ra đời vàphát triển cùng với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản Đời sống của họngày càng khổ cực do sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản, nên họ căm thù chế độ đó.Nhưng trong thời gian đầu, họ thường đi theo giai cấp tư sản để chống lại “kẻ thùcủa kẻ thù mình”, tức là chống phong kiến Sự tham gia tích cực và thái độ kiênquyết của công nhân trong những cuộc cách mạng tư sản và bằng chứng không thểchối cãi được Nhưng do nhược điểm vầ mặt ý thức và trình độ tổ chức của côngnhân, nên giai cấp tư sản thường cướp đoạt mọi thành quả cách mạng
Sự xuất hiện của máy móc không cải thiện đời sống công nhân, thậm chí nhờ
đó mà bọn chủ tăng cường bóc lột, thải thợ ra khỏi xưởng, nạn thất nghiệp lan tràn.Tưởng rằng máy móc là nguồn gốc của tình trạng đó, công nhân nhiều nơi tiếnhhành đấu tranh bằng cách đập phá máy móc Tất nhiên cuộc đấu tranh đó khôngđem lại kết quả gì ngoài sự tăng cường đàn áp của giai cấp thống trị Qua kinh
Trang 6nghiệm của nhiều lần thất bại và sự sự trưởng thành về ý thức, phong trào đấu tranhcủa công nhân ngày càng được nâng cao.
Trong những năm 20 – 30 của thế kỉ XIX, công nhân Anh đấu tranh đòigiành quyền tuyển cử Đặc điểm của phong trào này là nó tiến hành đồng thời vớicuộc đấu tranh của giai cấp tư sản công thường nghiệp đòi tham gia vào chínhquyền mà từ sau năm 1688 tầng lớp quý tộc mới chiếm ưu thế Giai cấp tư sản khônkhéo lợi dụng phong trào công nhân để làm áp lực với chính quyền Năm 1832, dưới
áp lực của quần chúng, Quốc hội Anh đã phải thông qua đạo luật cải cách tuyển cử.Theo đó, điều kiện tài sản của cử tri được hạ thấp đến mức tầng lớp tư bản hạng lớn
có thể tham gia bầu cử Còn công nhân, tiểu tư sản và tư sản hạng trung vẫn khôngđược hưởng quyền lợi gì
Ở Pháp, cuộc khởi nghĩa Lyông có ảnh hưởng lớn đầu tiên của công nhân
Pháp Năm 1831, công nhân dệt đứng dật khởi nghĩa nhân việc bọn chủ khước từyêu sách đòi tăng lương Họ nêu khẩu hiệu: “sống có việc làm hay chết trong chiếnđấu” Sau những trận kịch chiến trên đường phố, họ làm chủ thành phố trong bangày liền Nhưng do trình độ còn non kém, họ không biết phải tiếp tục làm gì, nên
bị quân đội trở lại đàn áp nhanh chóng Cuộc khởi nghĩa lần thứ hai xảy ra vào năm
1834 còn nên khẩu hiệu chính trị trên những lá cờ đỏ: “cộng hoà hay là chết”, chứng
tỏ bước trưởng thành của giai cấp công nhân Cả hai cuộc khởi nghĩa Lyông đều bịthất bại, nhưng nó đánh dấu sự lớn mạnh của công nhân Pháp, lần đầu tiê bước lên
vũ đài chính trị với tư thế của một giai cấp độc lập, chống trực tiếp kẻ thù của mình
là giai cấp tư sản bằng biện pháp bạo lực Nhưng nó cũng để lộ ra nhược điểm vềtrình độ giác ngộ và tổ chức, thiếu vai trò của lý luận tiên phong và đảng tiên phongcủa giai cấp Cuộc khởi nghĩa Lyông được công nhân ở các trung tâm công nghiệpkhác nổi dậy, tuy lẻ tẻ nhưng kéo dài suốt những năm 30 – 40 của thế kỉ XIX
Ở Anh, sau cuộc cải cách tuyển cử năm 1832, giai cấp tư sản có phần thoả
mãn, rời bỏ cuộc đấu tranh, còn giai cấp vô sản chưa được hưởng một chút quyền
Trang 7chính trị nào thì vẫn không ngừng đấu tranh cho việc tham gia tuyển cử Phong tràoHiến chương phát triển trong những năm 30 – 40 của thế kỉ XIX đánh dấu một bướcphát triển quan trọng của công nhân Anh và có ảnh hưởng tới phong trào công nhânchâu Âu và Bắc Mỹ.
Tổ chức lãnh đạo phong trào Hiến chương là Hội Công nhân Luân Đôn thànhlập năm 1836 do một người thợ thủ công là Lôvét đứng đầu Tháng 5/1838, Hộicông bố bản Hiến chương 6 điểm đòi: 1 Thực hiện quyền phổ thông đầu phiếu (đốivới nam giới 21 tuổi trở lên), 2 Phân chia khu vực bầu cử bình đẳng, 3.Bỏ phiếnkín, 4 Xoá bỏ mọi hình thức thuế đối với điều kiện ứng cử nghị viện, 5 Trả lươngcho nghị viên, 6 Hàng năm bầu cử quốc hội
Đó là cương lĩnh cải cách dân chủ của công nhân Tuy không bao hàm nhữngyêu cầu kinh tế xã hội nhưng nó được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng côngnhân, vì nếu thực hiện được thì nó tạo điều kiện nhất định cho việc cải thiện đờisống Nhiều cuộc mít tinh khổng lồ diễn ra ở cách trung tâm công nghiệp để thảoluận hiến chương
Cao trào Hiến chương lần thứ nhất diễn ra vào tháng 5/1839 Bản kiến nghịmang 1.125.000 chữ kí được đệ trình lên nghị viện Công nhân chủ thường đấutranh bằng hoà bình nếu có thể được, bằng vũ lực nếu không còn cách nào khác.Nghị viện đã bác bỏ kiến nghị, quần chúng công nhân chuyển sang đấu tranh baolực Một cuộc khởi nghĩa bùng nổ ở Bơcminham ngày 15 tháng 6 nhưng bị đàn áp.Trước tình hình đó, Hiệp hội kêu họi tổng bãi công khổng lồ trong toàn quốc vàongày 12/8 được gọi là “Thánh thiêng liêng” Nhưng cách hữu đã bác bỏ quyết nghị
đó, kêu gọi công nhân chỉ nên mít tinh và biểu tình một cách hoà bình thôi Sự phânhoá tư tưởng trong giới lãnh đạo gây ảnh hưởng tai hại cho phong trào và đến mùathu, Hiệp hội đã từng bước thừa nhận là kẻ dẫn đầu cuộc đấu tranh, tuyên bố giảitán
Trang 8Cao trào Hiến chương lần thứ hai diễn ra năm 1842 là năm nên kinh tế Anh bị
sa sút, đời sống quần chúng khổ cực, có tới hơn một triệu người thất nghiệp Ngày 2tháng 5, một bản kiến nghị mới được đệ trình lên nghị viện với 3.315.752 chữ kí.Kiến nghị đề cập tới những vấn đề xã hội, vạch trần chế độ chính trị ở Anh là “mộtbên thì độc đoán, còn bên kia là nô lệ nhục nhã”, nêu lên tình trạng khốn cùng trongđời sống công nhân Kiến nghị đòi thủ tiêu ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản dốivới nhân dân Anh và Ailen Một lần nữa nghị viện bác bỏ kiến nghị Đáp lại thái độ
đó, phong trào bãi công bắt đầu từ các xưởng dệt ở Manchester lan ra các trung tâmcông nghiệp và dần dần mang tính chất tổng bãi công đòi thực hiện Hiến chương.Cuộc bãi công thể hiện rõ tinh chất chính trị và nâng phong trào công nhân lên mứckhởi nghĩa vũ trang Chính phủ tiến hành đàn áp, bất vở đến dập tắt phong trào Tuyvậy, cao trào Hiến chương của quần chúng cũng buộc nghị viện phải thông qua đạoluật rút ngày lao động của công nhân xuống 10 giờ Đó là sự lùi bước đầu tiên vềnguyên tắc và trên thực tế của giai cấp tư sản trước cuộc tấn công của công nhân
Năm 1848, do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế mấy năm trước và ảnhhưởng của cao trào cách mạng châu Âu, những người thuộc phái Hiến chương lạitiến hành cuộc đấu tranh lần thứ ba Mặc dầu chính phủ ngăn cấm, công nhân vẫnbiểu tình ngày 10/4 để đưa lên Quốc hội bản kiến nghị mới gồm hơn 5 triệu chữ kí.Nhưng công nhân đã bị đàn áp
Trong điều kiện lịch sử lúc đó, phong trào Hiến chương là “một phong tràocách mạng vô sản to lớn đầu tiên thực sự có tính chất quần chúng và có hình thứcchính trị”
Ở Đức, cùng với sự phát triển của công nghiệp, giai cấo công nhân Đức ngày
càng lớn mạnh về cả số lượng và ý thức giác ngộ Năm 1800 có chừng 85 nghìncông nhân, năm 1830 lên 450 nghìn và năm 1848 là 900 nghìn, trong đó có khoảng
180 nghìn phụ nữa và 100 nghìn trẻ em Phần lớn công nhân Đức còn làm việc trongnhững xưởng nhỏ nửa thủ công hay các công trường thủ công Điều đó hạn chế mức
Trang 9phát triển về ý thức giai cấp và trình độ chính trị của công nhân Hơn nữa, chịu sựkiểm soát khắt khe của nhà nước quý tộc cảnh sát, những nhà cách mạng đều buộcphảu bỏ ra nước ngoài để hoạt động Năm 1836, họ thành lập “Đồng minh nhữngngười chính nghĩa” mang nhiều quan điểm không tưởng và nguyên tắc tổ chức cònchịu ảnh hưởng của lối hoạt động âm mưu của Blăngki
Người hoạt động nổi bất của Đồng minh khi đó là Vinhem Vaitơlinh (1808 –1871) Ông xuất thân từ một gia đình thợ may và bản thân ông cũng từng làm việctrong xưởng may Vaitơlinh chủ trương thiết lập xã hội mới bằng những cuộc bạođộng của quần chúng bị áp bức nói chung, chứ không phải bằng cách giành chínhquyền về tay giai cấp công nhân Người đóng góp vai trò quan trọng trong nhữngcuộc bạo động là quần chúng nghèo khổ nhất, thất vọng nhất, kể cả bọn côn đồ, lưumanh Ông không hiểu được rằng chỉ có giai cấp vô sản được tổ chức thành chínhđảng và được trang bị bằng những quan điểm khoa học về chủ nghĩa công sản mới
có thể hoàn thành được sứ mạnh giải phóng loài người khỏi ách áp bức
Đời sống của công nhân Đức vô cùng khổ cực Ngoài ách bóc lột tư bản chủnghĩa, giai cấp công nhân Đức vẫn phải chịu đeo trên vai mình gánh nặng của áchthống trị phong kiến Vì vậy công nhân đã nhiều lần đứng dậy đấu tranh, nổi bậtnhất là cuộc khởi nghĩa của thợ dệt Sơlêđiên năm 1844 Mùa hè năm đó, công nhânnhiều xưởng và công trường thủ công dệt ở vùng Sơlêđiên đấu tranh đòi tăng lương,phá huỷ nhà cửa của bọn tư sản Chính quyền địa phương kéo quân lính đến đàn áp
và đập tan cuộc khởi nghĩa Tuy thất bại, sự kiện Sơlêdiên chứng tỏ rằng giai cấpcông nhân ở Đức cũng như ở Anh và Pháp đã bước đầu tiến hành đấu tranh choquyền lợi giai cấp mình Cuộc khởi nghĩa Sơlêdiên được sự đồng tình của côngnhân các quốc gia Đức, Tiệp và nhiều nơi khác Nó có tác dụng góp phần vào việclàm thức tỉnh và đoàn kết giai cấp công nhân Đức
CHƯƠNG II: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1 Triết học cổ điển Đức
Trang 10Bằng thiên tài của mình, Mác và Ăngghen đã kế thừa những thành tựu lớn laocủa tư tưởng nhân loại: triết học cổ điển Đức, chủ nghĩa xã hội không tưởng Anh,Pháp và kinh tế chính trị học cổ điển Anh.
Đối với triết học cổ điển Đức, đó là sự kế thừa các học thuyết, tư tưởng củaHegel và Feubach
G V P Hegel là nhà biện chứng lỗi lạc, bậc tiền bối của triết học macxít.
Ông là nhà triết học duy tâm khách quan, đại biểu tiêu biểu của nền Triết học cổđiển Đức Ph.Engel coi ông "không chỉ là một thiên tài sáng tạo mà còn là một nhàbác học có tri thức bách khoa, nên những phát biểu của ông tạo thành thời đại"
Hegel xuất thân trong một gia đình quý tộc Phổ ở Xtutgat Thời trẻ, ông chủyếu quan tâm nghiên cứu các vấn đề lịch sử, pháp quyền và tôn giáo
Từ 1800-1807 chịu ảnh hưởng của Senlinh, ông bắt đầu say mê các vấn đềtriết học Ông có các tác phẩm lớn như "hiện tượng học tinh thần" (l807) Tác phẩmnày đánh dấu sự kết thúc quá trình hình thành thế giới quan triết học của Hegel thời
kỳ đầu, đồng thời cũng cho thấy sự bất đồng nhất định giữa Hegel và Senlinh trongviệc lý giải các vấn đề triết học
Hegel viết tác phẩm lớn thứ hai của mình: "khoa học logic" (l812-1816)
Và tác phẩm lớn thứ 3 của ông "bách khoa toàn thư của các khoa học triếthọc" năm 1817 Và nhiều tác phẩm khác về lịch sử tôn giáo, lịch sử triết học, thẩm
mỹ học
Sau đây là một số quan điểm cơ bản trong hệ thống triết học của Hegel:
Hiện tượng học tinh thần Hiện tượng học tinh thần" (1807) đánh dấu sự chín
muồi trong thế giới quan triết học của ông: về cơ bản, ông đã thoát khỏi ảnh hưởngcủa Senlinh và trên cơ sở kế thừa những tư tưởng hợp lý của Senlinh, ông bắt đầu đề
ra những nguyên lý cơ bản nhằm xây dựng hệ thống triết học độc lập của mình Mác
gọi Hiện tượng học tinh thần là cội nguồn và bí mật của triết học Hegel.
Tinh thần tuyệt đối (hay còn gọi là ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới, ý thứcthượng đế ) là điểm xuất phát và nền tảng trong quan niệm về hiện thực.Tiếp thu
Trang 11những quan niệm của Senlinh về cái Tuyệt đối, Hegel coi nền tảng thế giới quantriết học của mình là tinh thần tuyệt đối được hiểu như đấng tối cao sáng tạo ra giới
tự nhiên và con người Đối với ông, tư duy (tinh thần tuyệt đối, lý tính tuyệt đối) lànguồn gốc duy nhất của mọi cái đang tồn tại Thế giới tự nhiên là tư duy đã tha hoá,
là tư duy tồn tại dưới dạng vật chất Ông nhấn mạnh rằng, tư duy là tiền đề của mọi
sự vật hiện tượng Và trong mỗi sự vật có sự đồng nhất giữa tư duy và tồn tại, trong
đó tư duy là bản chất còn tồn tại chỉ là "ngoại tại hoá" của tư duy
Tư duy không phải là một bản nguyên bất động, mà là một quá trình nhậnthức không ngừng phát triển từ thấp đến cao Vì vậy, nó không chỉ là khởi nguyên,
mà còn là chính cái nội dung phát triển của tất cả những cái hiện tồn Theo Hegel,thế giới vật chất chính là con người vô cơ, con người còn ở giai đoạn chưa hìnhthành, còn con người chúng ta bằng xương bằng thịt là con người đã phát triển đầy
đủ, là con người trở về chính bản thân nó với tất cả những đặc tính vốn có của mình.Giai đoạn phát triển cao nhất của tư duy (tinh thần tuyệt đối) là tư duy con người, làlịch sử nhân loại
Như vậy điểm xuất phát của triết học Hegel là “ý niệm tuyệt đối”, là sự đồngnhất (thống nhất) giữa tư duy và tồn tại một cách duy tâm Ông quy mọi quá trình
của hiện thực về quá trình tư duy, quy lịch sử hiện thực về lịch sử nhận thức Ngay
cả hoạt động vật chất thực tiễn của con người cũng bị quy về quá trình tự ý thức, tự
nhận thức Quan niệm này được trình bày khá rõ trong "Hiện tượng học tinh thần" và
được triển khai trong toàn bộ hệ thống triết học của Hegel Vì vậy, "Hiện tượng họctinh thần" được coi là cội nguồn của triết học Hegel
Tác phẩm này cũng được coi là bí mật của triết học Hegel Điều bí mật nàyđược hàm chứa trong một phương pháp triết học mới so với các hệ thống triết họctrước đó: phương pháp biện chứng lần đầu tiên được trình bày trong "Hiện tượnghọc tinh thần" Nguyên lý sau đây sẽ cho thấy điều đó
Nguyên lý phát triển Nguyên lý khẳng định tinh thần tuyệt đối là điểm xuất
phát và nền tảng của hiện thực gắn liền với nguyên lý phát triển Khác với các nhàsiêu hình, Hegel coi sự phát triển không chỉ là sự tăng, giảm đơn thuần về lượng,
Trang 12hay sự dịch chuyển vị trí của vật về không gian Ông hiểu sự phát triển là một quátrình phủ định biện chứng, trong đó liên tiếp diễn ra sự thay thế cái cũ bằng cái mới,đồng thời kế thừa những yếu tố tích cực của cái cũ mà vẫn có khả năng thúc đẩyphát triển: "cái nụ hoa biến mất khi hoa nở, và có thể nói rằng nó bị hoa phủ định;
và tương tự như vậy có thể nói khi quả xuất hiện thì sự tồn tại của hoa bị coi là vô
lý, thay thế cho sự hợp lý trước đây của hoa thì giờ đây là quả Những hình thái trênđây không chỉ khác nhau mà còn bài trừ không dung hợp nhau Tuy nhiên bản chấtsống động làm chúng trở thành những yếu tố của một chỉnh thể hữu cơ, trong đóchúng không những không mâu thuẫn nhau mà cái này cũng tất yếu như cái kia Và
chỉ có tính tất yếu như nhau đó mới tạo nên cuộc sống của chỉnh thể" (G.V.Ph.
Hegel "Hiện tượng học tinh thần" các tác phẩm Tiếng nga Matxcơva 1959, t.4.tr.2).
Đó là thực chất của sự phát triển theo quan niệm của Hegel Chính ở tác phẩm này
đã hình thành tư tưởng của Hegel cho rằng không thể hình dung (hiểu được) kết quảcủa sự phát triển nếu thiếu lịch sử của nó
Xuất phát từ quan niệm phát triển như một quá trình vận động liên tục theoquy luật phủ định của phủ định, Hegel cố gắng luận chứng rằng: cơ sở sâu xa nhấtcủa mọi sự vật là ý niệm tuyệt đối (tinh thần tuyệt đối) phát triển theo nguyên tắctam đoạn thức: chính đề - phản đề - hợp đề, trong đó giữa các yếu tố đều có mối liên
hệ hữu cơ, chuyển hoá lẫn nhau
Theo Hegel, trên thế gian này, ngoài tinh thần tuyệt đối và các hình thức biểuhiện cụ thể của nó ra thì không còn gì khác cả
Ý thức con người là sản phẩm của lịch sử: Trong "Hiện tượng học tinh thần"Hegel đã tiếp cận được quan niệm coi nhân cách, ý thức con người là sản phẩm của
lịch sử (cố nhiên lịch sử theo quan điểm duy tâm của ông) Sự phát triển của lịch sử
luôn mang tính kế thừa, mỗi thời đại lịch sử là kết quả của cả một tiến trình pháttriển trước đó Vì vậy, quá trình phát triển ý thức của mỗi người là sự khái quát lại,
sự "đi tắt" (lặp lại và thu gọn) toàn bộ những gì mà lịch sử ý thức nhân loại đã trảiqua Hoạt động của con người càng phát triển bao nhiêu thì ý thức càng mang bảnchất xã hội bấy nhiêu Ở đây, Hegel đã tiến dần đến quan niệm về bản chất xã hội
Trang 13của ý thức, vai trò của lao động trong việc hình thành ý thức Ông nhận thấy rằng sựphát triển của ý thức diễn ra thông qua ý thức của nô lệ chứ không phải qua ý thứcông chủ.
Mác nhìn thấy tầm vóc của "Hiện tượng học tinh thần" của Hegel ở chỗ nhàtriết học đã "tóm được bản chất của lao động", hiểu con người "như là sản phẩm củalao động của chính mình"
Khoa học logic Logic học là bộ phận quan trọng nhất của hệ thống Hegel bởi
đối tượng của nó là ý niệm tuyệt đối ở giai đoạn sơ khai nhất, nhưng là điểm xuấtphát và nền tảng của toàn bộ hệ thống Thế giới quan duy tâm là cơ sở để Hegel giảiquyết các vấn đề trong logic học của ông
Logíc là khoa học về tư duy, về những phạm trù và quy luật của tư duy Từquan điểm xuất phát về sự đồng nhất giữa tư duy và tồn tại, Hegel coi logic học là
bộ phân quan trọng nhất trong hệ thống triết học của ông bởi ông cho rằng quy luậtcủa tư duy mà logic học nghiên cứu cũng chính là quy luật đích thực của tồn tại: củagiới tự nhiên, của lịch sử nhân loại và của cả nhận thức
Tư duy với tư cách là đối tượng của khoa học logic được Hegel hiểu là tưtưởng thuần túy, là tinh thần tuyệt đối hay dưới khía cạnh tôn giáo đó là Chúa.Hegel không hiểu tư duy theo nghĩa hẹp, bó gọn trong phạm vi ý thức cá nhân nhưmột khả năng nhận thức chủ quan của con người mà theo nghĩa rộng Đó là tinhthần tuyệt đối sáng tạo ra cả giới tự nhiên và con người Tư duy con người là giaiđoạn phát triển cao nhất, trong đó tinh thần tuyệt đối có khả năng ý thức được bảnthân nó
Mặc dù có sự khác nhau nhất định giữa "Hiện tượng học tinh thần" (1807) và
"Khoa học logic" (1812-1816) trong việc xây dựng hệ thống, nhưng chủ yếu logichọc của Hegel được xây dựng trên những nguyên lý cơ bản đã được khởi thảo tronghiện tượng học tinh thần
Gắn liền với mâu thuẫn là quan niệm của ông về phủ định Hegel phân biệtphủ định trừu tượng (phủ định sạch trơn) với phủ định cụ thể Phủ định cụ thể khôngchỉ đơn giản xoá bỏ cái cũ mà còn giữ lại những yếu tố mầm mống, tạo khả năng
Trang 14sống cho sự vật, tức là phủ định có kế thừa và chọn lọc Hegel gọi sự phủ định nhưthế là sự vượt bỏ và cho rằng, sự phát triển tất yếu đưa tới phủ định bởi phủ địnhkhông phải là sự gán ghép từ bên ngoài mà là kết quả của quá trình phát triển tất yếucủa sự vật Chính sự phủ định đó là một nấc thang trong quá trình phát triển nên bảnthân nó cũng phải chịu sự phủ định trong tiến trình tiếp theo của sự vật Đó chính làphủ định của phủ định mà kết quả dường như quay về cái cũ nhưng trên cơ sở mới
cao hơn Bản thân sự giải quyết mâu thuẫn cũng chính là sự phủ định của cái mới
đối với cái cũ, là sự phá vỡ độ dẫn đến sự hình thành chất mới
Với những nghiên cứu về các quy luật chung nhất của sự biến đổi và pháttriển của mọi sự vật, Hegel đã giáng một đòn nặng nề vào quan niệm siêu hình vềtính bất biến của mọi sự vật Ông khẳng định quá trình phát triển là sự biến đổikhông chỉ về bề ngoài, mà cả bên trong, không chỉ về hiện tượng mà cả về bản chấtvới tất cả những tính quy luật vốn có của nó (nguyên nhân, kết quả, tất yếu, ngẫunhiên ) Ông giải thích quá trình đó một cách duy tâm, coi quá trình phát triển củamọi sự vật là sự phát triển của tư duy, của ý niệm tuyệt đối, của khái niệm
Học thuyết về khái niệm là nội dung thứ ba, kết thúc logic học của Hegel Ởđây, Hegel hiểu khái niệm là hình thức thể hiện tinh thần tuyệt đối Với tư cách là sựthống nhất giữa cái chung, cái riêng và cái đặc thù, khái niệm được triển khai trongcác dạng phán đoán và suy lý khác nhau Trong khi chúng ta coi khái niệm là hìnhthức thể hiện tư duy lý luận, được coi như sự phản ánh, nhận thức thế giới kháchquan, thì Hegel coi sự triển khai khái niệm trong các dạng phán đoán và suy lý như
sự bộc lộ sức mạnh sáng tạo vốn có của khái niệm với tư cách là cơ sở bên trong củatất thảy mọi vật trong tự nhiên cũng như trong xã hội
Hegel chia khái niệm thành: khái niệm chủ quan; khái niệm khách quan vàkhái niệm tuyệt đối (ý niệm)
Trong phần khái niệm tuyệt đối, Hegel cũng đã đặt vấn đề về mối quan hệthống nhất và tác động lẫn nhau giữa nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn Theoông, logic cũng xét đến vấn đề đời sống vì những hình thức của logic đều có nội
Trang 15dung Lênin nhận xét, Mác đã gắn bó trực tiếp với nhà triết học duy tâm Đức khiông đưa tiêu chuẩn thực tiễn vào lý luận nhận thức.
Lênin đánh giá cao phần kết này của logic học Hegel (bút ký triết học) bởi ởđây, Hegel đặt ra một loạt các vấn đề như: vai trò của thực tiễn đối với nhận thức,tuy quan niệm macxit về thực tiễn đối lập với quan niệm của Hegel, bởi vì ở nhàduy tâm, thì thực tiễn, các hoạt động chính trị, tôn giáo kể cả các hoạt động sảnxuất vật chất cho xã hội rốt cuộc cũng chỉ là các dạng hoạt động tinh thần, là hoạtđộng của ý niệm tuyệt đối, là quá trình vận động và tự nhận thức chính bản thânmình của ý niệm tuyệt đối
Tóm lại, logic học của Hegel là logic biện chứng trong đó nhà triết học Đứcdưới hình thức duy tâm trình bày các quy luật và các cặp phạm trù cơ bản của phépbiện chứng một cách đầy đủ, minh bạch và rõ ràng nhất Cố nhiên, những luận điểm
về phép biện chứng được Hegel trình bày trong cả ba phần nhưng trong logic thểhiện rõ nhất, quan trọng nhất Phép biện chứng của Hegel là một thành tựu vĩ đạicủa triết học cổ điển Đức Hegel là người có công trong việc phê phán tư duy siêuhình và ông là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên lịch sử và tư duy dướidạng một quá trình, nghĩa là trong sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng
Đó cũng chính là "ý nghĩa thật sự và tính chất cách mạng của triết học Hegel" "Đốivới triết học biện chứng của Hegel, không có gì là tối hậu, là tuyệt đối, là thiêngliêng cả Nó chỉ ra tính chất quá độ của một sự vật Đối với nó, không có gì tồn tạingoài quá trình không ngừng của sự hình thành và của sự tiêu vong, của sự tiến triển
vô cùng tận từ thấp đến cao"
Trong logic học của mình, Hegel không chỉ trình bày các phạm trù như chất,lượng, độ, phủ định, mâu thuẫn mà còn nói đến cả các quy luật như "quy luậtlượng đổi dẫn đến chất đổi và ngược lại", "phủ định của phủ định", và phần nào vềquy luật mâu thuẫn Nhưng tất cả chỉ là những quy luật vận động, phát triển của tưduy, của khái niệm Đó là phép biện chứng duy tâm - tức là phép biện chứng về sựphát triển của các khái niệm được ông đồng nhất với bản chất sự vật Vì vậy, Lêninnói, muốn thấy được giá trị đích thực của phép biện chứng của Hegel, phải nghiên
Trang 16cứu triết học của ông trên tinh thần duy vật - nghĩa là phải luôn luôn lật ngược lạivấn đề: biện chứng của tự nhiên sản sinh ra biện chứng tư duy.
Triết học tự nhiên của Hegel Triết học tự nhiên, theo Hegel, là sự nghiên cứu
lý luận về giới tự nhiên được hiểu như sự tồn tại của tinh thần dưới dạng các sự vậtvật chất Vì vậy, quá trình hình thành giới tự nhiên đồng thời cũng là quá trình tinhthần ngày càng biểu hiện ra thành giới tự nhiên
Giới tự nhiên, theo cách hiểu của Hegel, là một chỉnh thể thống nhất trong đómọi sự vật đều có mối liên hệ hữu cơ với nhau, đều không ngừng vận động và pháttriển Sự phát triển của giới tự nhiên diễn ra dưới nhiều cấp độ khác nhau về chấtnhư cơ học, vật lý, hoá học, địa chất, sự sống với bản chất và đặc tính vận độngtương ứng Phê phán quan niệm cơ học về thế giới thống trị trong khoa học tự nhiênthời đó, Hegel khẳng định đặc thù riêng của từng giai đoạn phát triển của tự nhiên
Vì vậy, để nhận thức đúng về giới tự nhiên cần phải xem xét sự vật phù hợp với tínhchất của từng giai đoạn phát triển của nó
Triết học pháp quyền và triết học lịch sử Các quan niệm chính trị - xã hội và
lịch sử của Hegel được trình bày trong "Hiện tượng học tinh thần", trong "Báchkhoa toàn thư các khoa học triết học" và đặc biệt trong triết học lịch sử và triết họcpháp quyền
Hegel khẳng định con người là chủ thể, đồng thời là kết quả quá trình laođộng của mình Ông đã tiếp cận được tư tưởng đề cao vai trò tích cực của hoạt độngthực tiễn và nền tảng kinh tế đối với sự phát triển của đời sống xã hội cũng như tiếntrình lịch sử Ông đã thấy được vai trò của phân công lao động xã hội cũng như tính
xã hội của lao động Tuy nhiên, thứ nhất, dưới góc độ duy tâm, bản thân hoạt độngthực tiễn của con người thực chất vẫn bị Hegel coi là dạng hoạt động tinh thần Thứhai, do chưa thoát khỏi lập trường giai cấp của mình, ông chưa đánh giá đúng mứcvai trò sản xuất vật chất của quần chúng đối với sự phát triển xã hội, mặc dù khẳngđịnh hoạt động thực tiễn cao hơn lý luận
Khẳng định "lịch sử toàn thế giới là sự tiến bộ trong ý thức tự do" Hegel coi
sự phát triển về tự do là chuẩn mực cơ bản đánh giá sự ưu việt của thời đại này so
Trang 17với thời đại khác Trên cơ sở đó ông chia lịch sử thế giới thành 4 thời kỳ: tiền sử,Phương đông cổ đại, Hy lạp - La mã cổ đại và nước Đức cơ đốc giáo trung và cậnđại Chỗ hợp lý của quan điểm này là nó coi trình độ phát triển của tư duy nhân loại,cũng như sự giải phóng của con người là tiêu chí đánh giá lịch sử song hạn chế của
nó là ở chỗ tiêu chí đó không thể coi là cơ sở duy nhất để phân kỳ và đánh giá sựtiến bộ lịch sử Hơn thế nữa Hegel hiểu tự do dưới góc độ duy tâm, coi đó là sựnhận thức và thực hiện những quy luật tất yếu của tự nhiên với tư cách là hiện thâncủa ý niệm tuyệt đối, hay dưới góc độ tôn giáo, "tự do con người thể hiện trong sựhiểu biết và làm theo ý Chúa"
Nhìn chung triết học pháp quyền và triết học lịch sử của Hegel, bên cạnhnhững hạn chế bởi lập trường duy tâm và tính giai cấp hẹp hòi, chứa đựng nhiều tưtưởng sâu sắc về sự phát triển xã hội cũng như tiến trình lịch sử, làm nền tảng choquan niệm duy vật về lịch sử sau này của Mác coi sự phát triển xã hội như một quátrình lịch sử tự nhiên Cũng vì vậy, Ăngghen đánh giá công lao của Hegel ở chỗ đãvạch ra rằng: Sự phát triển của lịch sử là hợp quy luật, sự phát triển của lịch sửkhông phải tuần hoàn và luôn luôn đi lên (tuy quan điểm này của Hegel chưa thậttriệt để),mỗi thời đại lịch sử đều có những đặc điểm riêng, quá trình phát triển củalịch sử có sự liên hệ, kế thừa, giữa các giai đoạn trước và sau không tách rời
Cũng như triết học Kant, triết học Hegel có ảnh hưởng lớn tới tiến trình lịch
sử tư tưởng nhân loại.Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã kế tục đượcphương pháp biện chứng- di sản quý báu nhất của triết học Hegel
L Phơ-bách (1804-1872) sinh ra trong một gia đình luật sư khá nổi tiếng.
Ông học ở Đại học Berlin, tham gia phái Heghen trẻ Trong suốt quãng đời củamình ông xuất bản nhiều tác phẩm nổi tiếng: “Bàn về sự chết và sự bất tử”, “Phêphán Triết học Hêghen (1839), Bản chất đạo thiên chúa (1841), Đề cương mở đầucho cải cách Triết Học (1843), Ông là nhà duy vật lớn nhất trước Mác
Sau đây là một số quan điểm cơ bản trong hệ thống triết học của Phơ -bách: