Là một tỉnh đi lên từ nông nghiệp, trong những năm qua lực lượng lao độngtập trung vào các ngành sau đây: Nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản, dịch vụ, dulịch... Các yếu tố kinh tế - xã h
Trang 1THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH KIÊN GIANG
2.1 Các nhân tố kinh tế - xã hội ở Kiên Giang ảnh hưởng đến sự phát triển nguồn nhân lực.
2.1.1 Những đặc điểm về tự nhiên
Kiên Giang là một tỉnh ở cực Nam tổ quốc, nằm trong vùng Đồng bằngSông Cửu Long, có đường biên giới đất liền chung với Vương Quốc Campuchiadài 56,8 km, phía Bắc giáp Campuchia; phía Nam giáp tỉnh Bạc Liêu, tỉnh CàMau, phía Đông và Đông Nam giáp các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang vàphía Tây giáp Vịnh Thái Lan với bờ biển dài 200 km; là một tỉnh giáp biển vàvịnh Thái Lan tạo điều kiện giao lưu thuận lợi giữa các nước, có điều kiện thuậnlợi để phát triển ngư nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và du lịch
Về cơ cấu hành chính: toàn tỉnh chia thành 14 huyện, thị xã, thành phốbao gồm: 01 thành phố Rạch Giá trực thuộc tỉnh, 01 thị xã Hà Tiên, 10 huyệnđất liền và 2 huyện đảo Phú Quốc và Kiên Hải, trải rộng trên 04 vùng sinh thái:vùng Tứ Giác Long xuyên, vùng Tây Sông Hậu, vùng Bán Đảo Cà Mau, vùngBiển và Hải Đảo, với tổng diện tích tự nhiên 6.346,1 km2 Vùng biển có haihuyện đảo với 140 hòn đảo lớn nhỏ
Địa hình phần đất liền tương đối bằng phẳng có hướng thấp dần từ ĐôngBắc xuống Tây Nam Riêng Bán Đảo Cà Mau độ cao trung bình từ 0,2 đến0,4m, một số nơi có độ cao dưới 0,0m so với mực nước biển Phần hải đảo chủyếu là địa hình đồi núi, xen kẽ đồng bằng nhỏ hẹp với nhiều cảnh quan thiênnhiên Kiên Giang đựợc ví như một đất nước Việt Nam thu nhỏ, bởi vì KiênGiang được hội đủ mọi cảnh quan thiên nhiên, có sông có biển, có tài nguyênkhoáng sản, đặc biệt thiên nhiên ban tặng cho Hà tiên một cảnh quan đã đi vàothơ ca hiện tại là nơi có tiềm năng phát triển tốt về du lịch; một Phú Quốc giàu
có và là nơi được Chính phủ phê duyệt quy họach trở thành khu du lịch sinh tháichất lượng cao và cũng là nơi hiện đang thu hút rất nhiều các dự án đầu tư
Trang 2Bản đồ hành chính tỉnh Kiên Giang
Kiên Giang có hệ thống sông ngòi dày đặc rất thuận lợi cho việc vậnchuyển cũng như lưu thông hàng hóa bằng đường thủy Ngoài ra, còn có cáckinh, rạch dày đặc phục vụ phát triển ngành nông nghiệp, giao thông nông thôn,
có tổng chiều dài 2.055 km
Khí hậu Kiên Giang được chia thành 2 mùa rõ rệt đó là mùa khô và mùamưa, thuận lợi cho trồng trọt và chăn nuôi, nhất là mùa khô rất thuận lợi choviệc phát triển các ngành dịch vụ du lịch
2.1.2 Những đặc điểm kinh tế - xã hội.
Là một tỉnh đi lên từ nông nghiệp, trong những năm qua lực lượng lao độngtập trung vào các ngành sau đây: Nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản, dịch vụ, dulịch Tổng sản phẩm xã hội năm 2001 là 6.881,77 triệu đồng, đến năm 2005 tăng lên10.829,300 triệu đồng và đạt 11.916,500 triệu đồng vào năm 2006 Tốc độ tăngGDP chung của tỉnh từ 107,48% năm 2001 lên 110,04% vào năm 2006 Tỷ trọng
Trang 3phát triển các ngành nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp xây dựng và dịch vụ củatỉnh trong những năm qua như sau:
Bảng 1 :Tổng GDP chỉ số phát triển phân theo các ngành kinh tế so với
2000 (so sánh 1994)
(Triệu đồng)
Nông Lâm Ngư
Công Nghiệp và Xây dựng
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Kiên Giang năm 2007
Chỉ tiêu phát triển của các ngành trong giá trị tổng sản phẩm xã hội củatỉnh hàng năm đều tăng; tốc độ phát triển cao nhất là năm 2002, kế đến là 2004– 2005 - 2007; so với các ngành tốc độ phát triển của dịch vụ tăng lên đáng kể
từ 108,83% năm 2001 tăng lên 111,76% năm 2007, tốc độ tăng trưởng đó thíchứng với định hướng phát triển theo yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa hiệnđại hóa
Cơ cấu GDP thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp và tăng tỷtrọng công nghiệp và dịch vụ Năm 2001 khu vực I chiếm 46,41%, khu vực IIchiếm 28,70% và khu vực III là 24,90% Đến năm 2005 cơ cấu này là du lịch27,97%, công nghiệp và xây dựng 25,36%, nông nghiệp 46,66% Năm 2007 côngnghiệp đóng góp vào GDP cao hơn theo mô hình dịch vụ - nông nghiệp - côngnghiệp xây dựng và tỷ lệ lần lượt là: 30,06% - 43,67% - 26,26%
Trang 4Bảng 2: Tăng trưởng GDP
Chỉ tiêu Thực hiện (Tỷ đồng) Tốc độ tăng (%)
- Nông – Lâm - thủy sản 2650,7 3.594,0 5.236,9 6,28 7,82
- Công nghiệp - xây dựng 897,2 1.559,0 3.204,0 11,68 15,50
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2000 – 2005 Cục thống kê Kiên Giang
Giai đoạn 1996-2005 là mốc thời gian quan trọng của thời kỳ đổi mới,thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước theo mục tiêu Đại hội VII của Đảng đề
ra Tỉnh Kiên Giang đã tập trung triển khai thực hiện đồng loạt các chươngtrình, dự án trên tất cả các lĩnh vực nông - lâm - ngư, công nghiệp, giao thông,giáo dục 10 năm qua từ 1996-2005 nền kinh tế của tỉnh đã đạt mức tăngtrưởng khá, bình quân hàng năm là 10,50% Giai đoạn 1996-2000 tăng 7,99%( mục tiêu 7,92%) và 2001-2005 tăng 11,09% (mục tiêu 9-10%), với giá trịGDP năm 2005 đạt 10.834,9 tỷ đồng, tăng 12,83% so năm 2004 và tăng gần gấp2,48 lần so năm 1995 Cả 02 giai đoạn thực hiện giá trị GDP đều tăng so mụctiêu qui hoạch đề ra
Biểu đồ 1: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế.
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Kiên Giang năm 2006- 2007.
Trang 5Số liệu trên đây cho thấy cơ cấu ngành kinh tế dịch vụ có tăng lên từ24,9% năm 2001 tăng lên 30,06% năm 2007, tăng gần xấp xỉ 6%, con số này chỉgiảm bớt từ nông lâm - ngư nghiệp chưa đến 3% số còn lại giảm ở ngành côngnghiệp và xây dựng Đành rằng Kiên Giang có thế mạnh là nông - lâm - ngưnghiệp, trong đó có đánh bắt thủy hải sản, tuy nhiên theo xu thế chung là phải tăngcông nghiệp - xây dựng và dịch vụ, du lịch giảm tỷ trọng lao động ở các ngànhnông nghiệp, song ở Kiên Giang tốc độ chuyển dịch còn diễn ra chậm chạp.
Bảng 3: Giá trị sản xuất (giá cố định năm 1994)
Đơn vị tính: tỷ đồng
Ngư
Công Nghiệp và Xây dựng
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2007 Cục thống kê Kiên Giang.
Về giá trị sản xuất, tổng giá trị sản xuất năm 2007 đạt 24.996,353 triệuđồng dựa theo giá so sánh năm 1994, thì năm 2007 tăng 14,91% so với năm
2006 Trong đó giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 đạt 9.648,140 triệu đồng(theo giá cố định năm 1994), giá trị sản xuất nông nghiệp là 10.718,481 triệuđồng và ngành dịch vụ đạt 4.629,732 triệu đồng
Bảng thông kê trên đây cho thấy giá trị sản xuất các ngành kinh tế trongtỉnh hàng năm tăng lên không đáng kể Nếu so với tổng số năm 2001 thì năm
2007 chỉ số phát triển tăng gần 3%, nông lâm nghiệp giảm hơn 3% công nghiệpxây dựng tăng hơn 6%, dịch vụ tăng hơn 7% Đây là chiều hướng tích cực trong
cơ cấu giá trị sản xuất của tỉnh, điều này chứng tỏ trong xu thế chung sự pháttriển kinh tế xã hội của tỉnh, kinh tế đã vận động theo yêu cầu của quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 6Nhu cầu lao động để tạo ra 1 tỷ đồng GDP đối với các ngành kinh tế củatỉnh qua các năm 2001- 2006 và năm 2007
Bảng 4: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2000 – 2007 Cục thống kê Kiên Giang.
Năm 2000 tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốcdân của tỉnh là 759.469 người, tạo ra một khối lượng tổng sản phẩm xã hội(GDP) là 6.403 tỷ đồng (theo giá cố định năm 1994), như vậy để tạo ra 1 tỷ đồngGDP thì trung bình phải cần 118,6 lao động Năm 2007 tổng số lao động đanglàm việc trong các ngành kinh tế quốc dân của tỉnh là 882.010 lao động, để tạo ramột khối lượng tổng sản phẩm xã hội là 13.448,660 tỷ đồng Như vậy để tạo ra 1
tỷ GDP thì trung bình chỉ cần 65,3 lao động Số lao động để tạo ra 1 tỷ GDP sosánh qua từng năm có chiều hướng giảm dần, nếu như năm 2000: 118,6 lao độngthì dến năm 2007 chỉ còn 65,3 lao động / 1 tỷ GDP, đây là điều mong muốn củacác nhà quản lý cũng như các nhà kinh doanh
2.1.3 Về văn hóa - xã hội.
Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, y tế - giáo dục, thể dục thể thao…Những năm qua đã thay đổi tích cực Hầu hết các xã, phường, thị trấn đều cótrạm y tế, trường học, các phương tiện truyền thông được trang bị đầy đủ, nhiềutrung tâm văn hóa được xây dựng, các chính sách xã hội đều thực hiện khá tốt
Hệ thống điện và nước sạch đã đến được với người dân Nâng cao chất lượngđời sống văn hóa, tinh thần của người dân trong tỉnh Kiên Giang
Trang 7Nhìn chung, trong những năm gần đây, Kiên Giang đã đạt được nhữngthành tựu khá toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế xã hội Tốc độ tăng trưởngkinh tế cao, bình quân 5 năm (2001- 2005) tăng 11,09% Riêng trong 2 năm(2004-2005) tăng bình quân hơn 13%, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theohướng tích cực, tăng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tương đối tỷ trọngnông nghiệp trong cơ cấu GDP Sản phẩm nông nghiệp có nhiều tiến bộ trongchuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển kinh tế hàng hóa, gắn với thịtrường, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm Giá trị sản xuất các ngành tăng,giá trị sản xuất ngành công nghiệp tăng nhanh nhất, tăng hơn 15,5% so với cùng
kỳ năm trước
Các yếu tố kinh tế - xã hội của Kiên Giang đã góp phần thúc đẩy tích cực
sự phát triển nguồn nhân lực cả về thể chất lẫn tinh thần Thứ nhất, kinh tế pháttriển, quy mô sản xuất được mở rộng, giải quyết việc làm cho người lao động;thứ hai, thu nhập bình quân đầu người tăng, điều kiện sống được cải thiện, đồngthời các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục, giải trí… Ngày càng phát triển, ngườidân có điều kiện và cơ hội để nâng cao dân trí, sức khỏe, đời sống văn hóa tinhthần
Bên cạnh đó, sự phát triển kinh tế - xã hội đặt ra vấn đề phát triển nguồnnhân lực, đòi hỏi nguồn nhân lực ngày càng có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầungày càng cao của quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu nói chung và quá trình
đô thị hóa nói riêng
2.2 Thực trạng nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Kiên Giang.
2.2.1 Quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực.
Dân số và nguồn nhân lực là vấn đề có liên quan chặt chẽ với nhau, sựthay đổi của quy mô, tốc độ phát triển dân số sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quy môtốc độ phát triển của nguồn nhân lực Trong giai đoạn 2001 - 2007 cùng vớinhững biến đổi nhanh về kinh tế - xã hội, công tác kế hoạch và gia đình, tuyêntruyền giáo dục vận động nhân dân, cùng với thực hiện tốt công tác truyền
Trang 8thông dân số Tỉnh Kiên Giang đã thực hiện tốt công tác này, hạn chế được tốc
độ gia tăng dân số, giảm sinh có hiệu quả Tốc độ tăng dân số qua các năm từ1,16% năm 2002 giảm còn 1,15% năm 2007 Tỷ suất sinh từ 20,48% năm
2001 giảm xuống còn 18,35% năm 2007 Tỷ lệ tăng tự nhiên bình quân mỗinăm là 14,50% Đây là một trong những nhân tố quyết định đối với nguồnnhân lực của tỉnh trong tiến trình phát triển kinh tế tế - xã hội
Bảng 5: Dân số và tỷ lệ phát triển dân số theo thời kỳ 2001-2007
Nguồn: Niên giám thống kê Kiên Giang 2007 Cục thống kê Kiên Giang.
So sánh giữa tỷ suất sinh và tỉ lệ chết thì tỷ lệ tăng tự nhiên dân số củanăm 2007 là 13,55% nếu so với năm 2001 là 16,18% tỷ lệ đó cho thấy tốc độtăng tự nhiên của dân số có xu hướng giảm xuống Tuy nhiên, điều lo ngại ởchỗ nếu 2001 tỷ lệ chết chỉ 4,3% thì năm 2007 tỷ lệ chết tới 4,8%, chỉ số nàyliên quan đến chỉ số HDI, tuổi thọ bình quân mà tỉnh cần quan tâm giải quyết vàđặc biệt phát triển nguồn nhân lực cho việc phát triển kinh tế xã hội trong nhữngnăm sắp tới
Biểu đồ 2 : Cơ cấu dân số phân theo giới tính
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2007 Cục thống kê Kiên Giang.
Bảng cơ cấu dân số phân theo giới tính trên đây cho thấy: tỷ lệ nữ qua cácnăm cao hơn nam khoảng 1,38% đến 1,94% Cụ thể năm 2001 tỷ lệ nam giớichiếm 49,03% đến năm 2007 tăng lên 49,28%; trong khi đó tỷ lệ nữ giảm từ50,97% năm 2001 xuống còn 50,72% năm 2007 Tỷ lệ này có khuynh hướngdần dần tiến đến cân bằng giới, số lượng nam giới ngày càng tăng lên và nữ giớigiảm xuống
Biểu đồ 3 : Cơ cấu dân số phân theo khu vực
Trang 9Nguồn Cục Thống kê tỉnh Kiên Giang
Trong những năm qua cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,quá trình đô thị hóa nông nghiệp nông thôn của cả nước, ở một số tỉnh diễn rakhá nhanh, song xu thế này ở Kiên Giang diễn ra chậm hơn so với các tỉnhkhác Năm 2001, dân số tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn chiếm 78,12%,nhưng từ khi bắt đầu đô thị hóa, một số khu vực được đầu tư, nâng lên thành thị,
cơ cấu dân số có sự thay đổi song sự thay đổi đó còn chậm, năm 2001 dân sốsống ở thành thị là 21,88% đến năm 2007 tăng lên là 25,98%
Số liệu trên cho thấy tỷ trọng lao động trong nông nghiệp nông thôn cònrất cao Vì vậy trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội phải tạo ra những ngànhnghề mới để chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang các ngành khác, trên cơ
sở phát huy thế mạnh của tỉnh Kiên Giang nhất là dịch vụ, thủy sản và du lịch
Trang 10Bảng 6: Tốc độ tăng nguồn nhân lực.
Nguồn: Số liệu thống kê lao động-Việc làm 2001-2007
Như đã phân tích ở trên, lực lượng lao động được xem như là nguồn nhân lựccủa tỉnh là đồng nghĩa với dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia hoạt động kinh tế Do đóvới qui mô dân số giảm cùng với cơ cấu dân số trẻ (63,58% dân số trong độ tuổi laođộng) nên qui mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực không đáng kể Tốc độ tăng lựclượng lao động trung bình giai đoạn 2001-2007 là 2,76% tốc độ tăng trung bình dân
số trong cùng giai đoạn là 1,41%
Biểu đồ 4: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên theo giới tính năm 2007
Nguồn: Số liệu thống kê lao động việc làm 2007.
Lực lượng lao động nữ (50,66%) chiếm tỷ lệ cao hơn nam (49,34%) điềunày phù hợp quy hoạch và cơ cấu dân số phân theo giới tính thì tỷ lệ nữ cao hơnnam Trong vài năm gần đây một số tỉnh tỷ lệ chênh lệch giữa nam và nữ đang
là một báo động; song trong điều kiện của quá trình công nghiệp hóa, sử dụnglực lượng lao động đòi hỏi phải phát triển một số ngành nghề có tính chất nặngnhọc, độc hại, những công trình có tính lưu động cao Ngành công nghiệp,khai thác khoáng sản, khai thác thủy sản, sản xuất vật liệu và các công trình xây
Trang 11dựng Đây là những ngành mũi nhọn trong nền kinh tế của tỉnh, nhưng tỷ lệgiới tính (nam) ít cũng là những hạn chế trong tiến trình phát triển
Bảng 7: Dân số và lao động đang làm việc trong ngành kinh tế quốc dân của tỉnh qua các năm
Năm
Tốc độ tăng 2001-
2007 (%)
Dân số (người) 1.574.255 1.599.938 1.623.834 1.630.366 1.655.026 1.683.041 1.705.539 1,13 Lao động đang
Nguồn: Số liệu thống kê- việc làm 2007
Nếu chia khoảng cách tuổi giữa các nhóm là 4, từ 15 đến 19 tuổi, từ 20đến 24 tuổi Thì tỷ lệ lực lượng lao động tập trung nhiều nhất là ở nhóm từ 25đến 29 tuổi (13,61%), từ 20 đến 24 tuổi (15,08%) Nhìn chung trong độ tuổi từ
20 đến 49 tuổi tham gia lao động nhiều hơn các nhóm tuổi khác
Khu vực thành thị - nông thôn:
Trang 12Tỷ lệ lực lượng lao động phân theo khu vực nông thôn và thành thị tỷ lệthuận với dân số, khu vực nông thôn đông lao động từ 15 tuổi trở lên chiếm75,48%, còn khu vực thành thị chỉ chiếm 24,52% Tuy nhiên năng suất lao độngtrong lĩnh vực nông nghiệp rất thấp Vì vậy quá trình công nghiệp hóa nôngnghiệp nông thôn phải chuyển dịch tỷ trọng lao động nông nghiệp sang cácngành khác là rất lớn Đây là bài toán cần có lới giải đối với các tỉnh có tỷ trọnglao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu kinh tế
Biểu đồ 5: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo nhóm khu vực
thành thị và nông thôn năm 2007.
Nguồn: Số liệu thống kê lao động việc làm 2007
2.2.2 Chất lượng nguồn nhân lực.
Dân số Kiên Giang thuộc dân số trẻ, nhóm người từ độ tuổi 65 trở lênkhoảng 3,5 - 4%, nhóm tuổi từ 15 trở xuống chiếm tỷ lệ cao khoảng 1/3 dân sốcủa toàn tỉnh Điều đáng mừng trong chất lượng dân số hiện nay trong nhóm 1/3dân số của toàn tỉnh đang trong độ tuổi đi học tỷ lệ đến lớp, các cấp học ngàycàng cao là cơ sở đảm bảo ngày càng nâng cao chất lượng đội ngũ nguồn nhânlực
Chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh ngày càng được nâng lên, đặc biệt lànguồn nhân lực qua đào tạo từ đào tạo nghề đến đào tạo sau đại học Nếu năm
2001 tỷ lệ qua đào tạo chỉ chiếm 9,08% so với tổng số lao động đang làm việctrong các ngành kinh tế quốc dân của tỉnh thì đến năm 2006 đã tăng lên 17,13%;chỉ riêng lao động đã qua đào tạo nghề năm 2001 có 32.236 lao động chiếm 4%trên tổng số lao động trong tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh
tế, con số này năm 2007 đã tăng lên 115.526 lao động chiếm 13,1% Tổng sốlao động trong tỉnh có chuyên môn kỹ thuật từ cao đẳng, đại học và sau đại họctăng khá nhanh; trình độ sau đại học năm 2005 tăng gấp 3,71 lần so với 2001,năm 2007 tăng 1,14 lần so với 2005; cao đẳng đại học năm 2005 tăng 1,88 lần
so với năm 2001 và năm 2007 tăng 1,15 lần so với năm 2005 Điều đó củng
Trang 13khẳng định rằng Kiên Giang đã có sự chú ý và quan tâm đến số lượng và chấtlượng nguồn nhân lực trong những năm gần đây, bởi vì Kiên Giang có lợi thế vềtài nguyên thiên nhiên, điều kiện để phát triển nhanh ở một số lĩnh vực có ưuthế đặc biệt so với các tỉnh trong khu vực như tiềm năng du lịch đó là danh lamthắng cảnh Hà Tiên; du lịch sinh thái chất lượng cao ở Đảo Phú Quốc
Về cơ cấu nguồn nhân lực:
Như trên đã phân tích về chất lượng nguồn nhân lực và cơ cấu nguồnnhân lực cũng có sự chuyển hướng tích cực Cơ cấu chất lượng nguồn nhân lựctheo các loại trình độ có sự chuyển đổi qua các năm, lao động có trình độ sauđại học, đại học, cao đẳng và nghề tăng, nhưng số lao động có trình độ trunghọc chuyên nghiệp giảm Năm 2001 cứ 1000 lao động đang làm việc trong cácngành kinh tế quốc dân có 0,1 lao động có trình độ sau đại học; 16,8 lao độngtrình độ đại học, cao đẳng; 27,8 lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp
và 36,8 lao động có trình độ nghề Con số này tương ứng của năm 2005 là: 0,36;32,3; 25,94; 92,22 Riêng năm 2007, cứ 1.000 lao động đang làm việc trong cácngành kinh tế quốc dân thì có 0,40 lao động có trình độ sau đại học; 36,17 laođộng có trình độ đại học cao đẳng; 28,82% lao động có trình độ trung họcchuyên nghiệp và 130,98 lao động có trình độ nghề
Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực như trên đã góp phần quan trọngthúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển Năm 2000 tổng số lao động đang làm việctrong các ngành kinh tế quốc dân của tỉnh 759.469 lao động, đã tạo ra một khốilượng tổng sản phẩm xã hội (GDP) là 6.403 tỷ đồng (theo giá cố định 1994), đểtạo ra 1 tỷ đồng GDP thì trung bình phải cần 118,6 lao động Năm 2006 tổng sốlao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân của tỉnh là 870.404lao động, đã tạo ra một khối lượng sản phẩm là 11.915,63 tỷ đồng, để tạo 1 tỷđồng GDP thì trung bình chỉ cần 73,09 lao động Năm 2007 tổng số lao độngđang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân của tỉnh là 882.010 lao động, đãtạo ra một khối lượng sản phẩm 13.488,66 tỷ đồng, để tạo ra 1 tỷ đồng GDP thìtrung bình chỉ cần 65,3 lao động Như vậy số lao động để tạo ra 1 tỷ đồng GDPqua các năm đều giảm, bình quân hàng năm giảm 8,86% / năm, việc phân tích
Trang 14trên cho thấy năng suất lao động bình quân chung của Tỉnh tăng cao qua cácnăm trên cơ sở sự tăng lên tương ứng của chất lượng nguồn nhân lực.
Về chất lượng nguồn nhân lực:
Thực trạng về nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực và phát triểnnguồn nhân lực hiện có của Tỉnh là một trong những vấn đề quan trọng nhất củađất nước, của quá trình sản xuất, nhất là trong quá trình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân công lại lao động xã hội Phân tíchchất lượng nguồn lao động trên các mặt: trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn
kỹ thuật, thu nhập mức sống, đời sống văn hóa tinh thần, cơ cấu đội ngũ laođộng, phân bố nguồn lao động, sử dụng nguồn lao động, sử dụng nhân tài… Lànhững nhân tố ảnh hưởng và đóng vai trò quan trọng đối với quá trình phát triểnkinh tế xã hội
Về đào tạo nguồn nhân lực:
Từ xưa, ông cha ta đã kết luận: tinh thông một nghề thì vẻ vang suốt đời(nhất nghệ tinh, nhất thân vinh) Nếu giỏi một nghề, biết nhiều nghề thì vẻ vanghơn Muốn tinh thông giỏi nghề thì phải học, học để làm nghề, vừa làm nghềvừa học V.I Lênin đã từng nên cao khẩu hiệu: “Học, học nữa, học mãi” tổ chứchợp tác phát triển kinh tế Châu Âu (OCDE) cũng nêu khái niệm về chính sáchhọc tập suốt đời, học tập thường xuyên, cho rằng đời người là một quá trìnhkhông ngừng giao nhau, kết hợp giữa học tập và làm việc Việc cải cách chế độgiáo dục cũ thường là tách rời với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội “Nhất làphải tổ chức đào tạo nghề có tính linh hoạt, tính thích ứng cao theo nhu cầu củakinh tế thị trường” [30.75,77]
Liên tục trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã ban hànhnhiều nghị quyết, chỉ thị, các quyết định mang tính định hướng nhằm xác địnhmục tiêu, điều kiện và giải pháp thuộc nhiều lĩnh vực có liên quan trực tiếp đếnphát triển giáo dục đào tạo, đến việc chăm sóc bồi dưỡng và phát huy nhân tốcon người, phát triển con người Việt Nam toàn diện Trong các nghị quyết đó,Đảng ta đã khẳng định: “quan điểm lấy việc phát huy nguồn lực con người làmyếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững, tăng trưởng kinh tế gắn với
Trang 15cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ vàcông bằng xã hội [21.196,197].
Trong những năm qua ngành giáo dục đào tạo của cả nước đang đặt ranhững thách thức gay gắt, Kiên giang cũng không phải là tỉnh ngoại lệ Mặc dùKiên Giang chưa có trường đại học, nhưng Trung tâm giáo dục thường xuyên
và hiện là Cao đẳng cộng đồng đã hợp tác, liên kết với các trường đại học trong
cả nước đặc biệt là TP Hồ Chí Minh đào tạo đội ngũ nguồn nhân lực có trình độđại học cho tỉnh đã góp phần quan trọng trong việc hoạch định chiến lược pháttriển kinh tế xã hội của Tỉnh, Tỉnh hiện có 4 trường cao đẳng và một số trườngtrung cấp trong những năm qua đã cung cấp được nguồn nhân lực triển khaithực hiện trong các ngành nghề…
Trong những năm qua mạng lưới đào tạo của tỉnh đã được mở rộng, trướchết đó là mạng lưới các trường Trường trung học sư phạm lên Cao đẳng sưphạm, Trung tâm giáo dục thường xuyên lên Cao đẳng Cộng đồng, TrườngTrung học Kinh tế Kỹ thuật lên Trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật, TrườngTrung học y tế lên Trường cao đẳng y tế và bước đầu đã xây dựng được Phânhiệu Đại học Thủy sản Nha Trang tại Kiên Giang
Trong 5 năm 2001-2005 vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho các trường vàcác trung tâm khoảng 67,105 tỷ đồng, trong đó vốn Trung Ương là 8.6 tỷ, vàvốn địa phương là 58,56 tỷ Với số vốn đầu tư nêu trên đã tăng cường cơ sở vậtchất cho các trường tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện tốt nhiệm vụđào tạo của tỉnh
Đối với mạng lưới các cơ sở dạy nghề được mỡ rộng và đa dạng, đến nay
có một trường Trung cấp nghề và 2 trung tâm dạy nghề có đủ khả năng liên kếtđào tạo nghề dài hạn, 11 trường, trung tâm, cơ sở dạy nghề ngắn hạn và 20 cơ
sở dạy nghề tư nhân, đặc biệt tỉnh đã cho phép thành lập 01 trường dạy nghề tưthục tại huyện Phú Quốc
Hệ thống trường lớp được mở rộng quy mô dào tạo số học sinh, sinh viêncũng được tăng lên qua từng năm Từ năm học 2000-2001 đến năm học 2006-
2007 toàn tỉnh có khoảng trên 34.300 học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông,
Trang 16trong đó có trên 9.000 học sinh (chiếm 27%) trúng truyển vào các trường đạihọc, cao đẳng cả hệ chính quy và không chính quy; trong đó số trúng tuyển cáctrường ngoài tỉnh chiếm khoảng 17-18% và tỷ lệ này có xu hướng tăng trongnhững năm gần đây
Quy mô đào tạo các trường cao đẳng dạy nghề trên địa bàn tỉnh ngàycàng tăng và đa dạng với trên 60 ngành nghề khác nhau Về hệ đào tạo thì hệchính quy tập trung ở hệ cao đẳng là chủ yếu, còn lại là đào tạo tại chức, liên kếtbồi dưỡng Từ 2001-2005 toàn tỉnh đã đào tạo tốt nghiệp từ trung cấp đến đạihọc 21.069 sinh viên, bình quân mỗi năm số sinh viên ra trường 4.214 sinh viên.Năm 2007 toàn tỉnh đã tuyển mới từ trung cấp đến đại học 5.348 sinh viên
Đối với đào tạo nghề năm năm qua từ 2001 đến 2006 đã đào tạo 54.453người, trong đó hệ chính quy dài hạn là 8.361 người và ngắn hạn là 46.092người Năm 2007 đã đào tạo 19.769 người, trong đó dài hạn là 1.521 người,ngắn hạn là 18.248 người
Con số trên đây về lĩnh vực giáo dục đào tạo cho thấy, giai đoạn từ
2001-2005 bình quân mỗi năm các trường và các trung tâm của tỉnh đã cung cấpnguồn nhân lực đã qua đào tạo cho Tỉnh khoảng 11.800 người, trong đó số cótrình độ đại học và cao đẳng 1.370 người (đại học 378 người), trung học chuyênnghiệp 2.480 người và có trình độ nghề là 7.600 người (dài hạn là 1.300 người)đây là chưa kể đến số sinh viên đi học tập ở ngoài Tỉnh tốt nghiệp và số nhânlực đã được qua đào tạo về làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân của Tỉnh.Chỉ tính riêng năm 2007 tỉnh Kiên Giang đã tăng tốc trong cơ chế chính sáchcũng như số lượng các cơ sở đào tạo nên đã đẩy nhanh tỷ lệ lao động qua đàotạo chung lên 19,63% (năm 2005 là 15%), trong đó đào tạo nghề lên 13,1%(năm 2005 là 9,24%), như vậy năm 2007 tăng 2,1% so 2006 và tương đương sốlao động qua đào tạo nghề là 19.769 người
Công tác bồi dưỡng và sử dụng nhân tài như là đầu tàu của đội ngũ nhânlực chưa được quan tâm đúng mức, thiếu cơ chế chính sách để trọng dụng cán
bộ khoa học và nhà giáo có trình độ cao, nhiều chính đối với cán bộ khoa học vàcông nghệ chưa được ban hành “Cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ caocòn ít, song chưa được sử dụng tốt, đang bị lão hóa, ít có điều kiện cập nhất kiến
Trang 17thức mới Sự hụt hẫng về cán bộ là nghiêm trọng, nhất là trong lĩnh vực khoahọc cơ bản” [25,19].
Về trình độ văn hóa:
Bảng 9: Trình độ học vấn phân theo giới tính và khu vực thành thị - nông thôn.
Trình độ học vấn Tổng Nam Kiên Giang Nữ Thành thị Nông thôn
Nguồn Cục Thống kê tỉnh năm 2007
Trình độ văn hóa giáo dục là chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh chất lượngnguồn lao động, chỉ tiêu này được xác định bởi tỷ lệ biết chữ, tốt nghiệp cáccấp Năm 2007 lao động chưa tốt nghiệp tiểu học chiếm 24,88%; tốt nghiệp tiểuhọc là 39,26%; tốt nghiệp THCS là 17,17% và THPT 12,82% Lực lượng laođộng chưa đi học, chưa tốt nghiệp tiểu học ở Kiên Giang hiện nay giảm nhiều
so với các năm trước
Tỷ lệ lao động chưa đi học ở nông thôn cao hơn ở thành thị (nông thôn:6,38%; thành thị: 3,66%) Trong độ tuổi học vấn nam cao hơn nữ, tỷ lệ chưa tốtnghiệp tiểu học ở nữ chiếm 28,72% so với lao động nữ, nam là 21,72%; tỷ lệnam tốt nghiệp trung học cao hơn nữ
Về trình độ chuyên môn kỹ thuật:
Trang 18Nếu so với tỷ lệ lao động qua đào tạo của cả nước thì Kiên Giang còn rấtthấp; phần lớn lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật có 80,37%(trong đó 83,86% lao động nữ và 77,50% lao động nam; 85,48% lao động ởnông thôn chưa qua đào tạo).
Trang 19Bảng10: Nguồn lực phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật năm 2007.
2005, số hộ nghèo là 46.500 hộ (chiếm 14,02%), năm 2006 giảm xuống còn31.810 hộ (chiếm 10,78%), năm 2007 còn 31.241 hộ (chiếm 8,98%) và dự kiếnđến 2010 giảm dưới 6%
Về thể lực ( y tế, sức khoẻ)”
Mạng lưới y tế bảo vệ sức khoẻ và kế hoạch hoá gia đình đã phát triểnrộng khắp trong thành phố và các huyện