Đặc biệt, ở người caotuổi có sự suy thoái dần bởi quá trình lão hóa sinh lý, người cao tuổi cũng dễmắc bệnh và mắc nhiều loại bệnh cùng một lúc với khả năng phục hồi kém.Nhiều kích thích
Trang 2ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS LÊ LONG NGHĨA
2 TS NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
HÀ NỘI- 2015
Trang 3BQR Bệnh quanh răng
CEJ Đường nối men – xương răng (cemento- enamel junction)
Cs Cộng sự
CSSKRM Chăm sóc sức khỏe răng miệng
CSSKRMBĐ Chăm sóc sức khỏe răng miệng ban đầu
VQR Viêm quanh răng
VSRM Vệ sinh răng miệng
WHO Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 : TỔNG QUAN 3
1.1 Đặc điểm giải phẫu và mô học vùng quanh răng 4
1.1.1 Giải phẫu vùng quanh răng 4
1.1.2.Tuần hoàn quanh răng 8
1.1.3 Thần kinh vùng quanh răng : chịu sự chi phối bởi hai nhóm sợi thần kinh: 8
1.2 Đặc điểm biến đổi sinh lý 9
1.2.1 Biến đổi sinh lý chung 9
1.2.2 Biến đổi ở mô niêm mạc miệng 10
1.2.3 Biến đổi ở khớp thái dương hàm và xương hàm 10
1.2.4 Biến đổi trên các chức năng vùng miệng 11
1.2.5 Ảnh hưởng của lão hóa trên cấu tạo mô nha chu 12
1.3 Một số đặc điểm răng miệng ở người cao cao tuổi 14
1.4 Phân loại bệnh quang răng 17
1.5 Chất lượng cuộc sống ở người cao tuổi 17
1.6 Vấn đề chăm sóc sức khỏe răng miệng người cao tuổi 19
1.6.1 Vấn đề giáo dục nha khoa 20
1.6.2 Các biện pháp phòng bệnh tích 20
1.6.3 Vấn đề quản lý, theo dõi 20
1.7 Nghiên cứu về bệnh quanh răng ở người cao tuổi trên Thế Giới và Việt Nam 21 1.8 Một số đặc điểm sinh thái của thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh 22
1.8.1 Hà Nội 22
1.8.2 Thành phố Hồ Chí Minh 23
Chương 2 : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Địa điểm nghiên cứu 25
Trang 52.3.2 Tiêu chuẩn loại trừ 25
2.4 Phương pháp nghiên cứu 25
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu 25
2.4.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu 25
2.4.3 Kỹ thuật thu thập số liệu 26
2.4.4 Chỉ số nghiên cứu chính 28
2.4.5 Xử lý số liệu 32
2.4.6 Các biện pháp hạn chế sai số 32
2.4.7 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 32
Chương 3 : DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Đặc điểm về đối tượng nghiên cứu 34
3.2 Tình trạng bệnh quanh răng ở người cao tuổi thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh 38
3.2.1 Tình trạng bệnh quanh răng theo CPI 38
3.2.2 Tình trạng bệnh quanh răng theo số trung bình vùng lục phân và CPI 43
3.3 Nhu cầu điều trị bệnh quanh răng ở người cao tuổi (TN) 47
3.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến CLCS ở người cao tuổi thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh 51
Chương 4 : DỰ KIẾN BÀN LUẬN 56
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 57
DỰ KIẾN KIẾN NGHỊ 58
KẾ HOẠCH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Bảng 1.1 Trên thế giới 22
Bảng 3.1: Phân bố mẫu theo tuổi 34
Bảng 3.2: Phân bố mẫu theo giới 35
Bảng 3.3: Phân bố mẫu theo nghề nghiệp trước khi về hưu 35
Bảng 3.4: Phân bố mẫu theo trình độ học vấn 36
Bảng 3.5: Đặc điểm bệnh nội khoa ở người cao tuổi 38
Bảng 3.6: Phân bố tỷ lệ người có CPI cao nhất theo tuổi 38
Bảng 3.7: Phân bố tỷ lệ người có CPI cao nhất theo giới 40
Bảng 3.8: Phân bố tỷ lệ người có CPI cao nhất theo nghề nghiệp 41
Bảng 3.9: Phân bố tỷ lệ người có CPI cao nhất theo học vấn 41
Bảng 3.10: Phân bố tỷ lệ người có CPI cao nhất theo bệnh nội khoa 42
Bảng 3.11: Phân bố sô trung bình vùng lục phân CPI theo tuổi 43
Bảng 3.12: Phân bố số trung bình lục phân CPI theo giới 44
Bảng 3.13: Số trung bình lục phân theo CPI liên quan với nghề nghiệp 45 Bảng 3.14: Số trung bình lục phân CPI theo học vấn 46
Bảng 3.15: Tỷ lệ người có từ 3 vùng lục phân lành mạnh trở lên 46
Bảng 3.16: Phân bố nhu cầu điều trị BQR theo tuổi 47
Bảng 3.17: Phân bố nhu cầu điều trị BQR ttheo giới 48
Bảng 3.18: Phân bố nhu cầu điều trị BQR theo nghề nghiệp 49
Bảng 3.19: Phân bố nhu cầu điều trị BQR theo hoc vấn 50
Bảng 3.20: Phân bố nhu cầu điều trị BQR theo bệnh nội khoa 51
Bảng 3.21: Tỷ lệ trả lời trước các vấn đề được nêu trong OHIP-14 52
Bảng 3.22: Điểm trung bình OHIP-14 theo 7 vấn đề 53
Trang 8bị BQR ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh 54 Bảng 3.25: Phân bố điểm trung bình OHIP trên 7 lĩnh vực theo giới 54
Bảng 3.26: Phân bố điểm trung bình OHIP trên 7 lĩnh vực theo nhóm
tuổi 55
Bảng 3.27: Tỷ lệ NCT chịu tác động "thường xuyên" và "rất thường xuyên" theo giới
tính……….55
Trang 9Hình 1.1 Giải phẫu vùng quanh răng 4
Hình 2.1: Sonde khám nha chu của WHO 27
Hình 2.2 : Phần đầu của sonde khám nha chu 27
Hình 2.3: Cách dùng sonde khám nha chu 29
Hình 2.4: Biểu diễn cách chia vùng lục phân 29
Hình 2.5: Phân loại CPI 31
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh quanh răng là bệnh phổ biến ở mọi lứa tuổi trên toàn thế giới vớimức độ trầm trọng khác nhau Theo ngân hàng dữ liệu của Tổ chức Y tế thếgiới (WHO) năm 2012 về tình hình BQR cho thấy tỷ lệ mắc và mức độ trầmtrọng của BQR tăng lên theo tuổi [1]
Theo điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm 2001, tỷ lệ người cóbệnh quanh răng ở nước ta rất cao, lên tới 96,7 % Đặc biệt bệnh có tỷ lệ mắctăng dần theo tuổi [2]
Bệnh quanh răng là nguyên nhân quan trọng gây đau nhức, khó chịu vàmất răng ở người lớn, do đó làm ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộcsống của người bệnh [3] Với một nước có xu hướng già hóa dân số một cáchnhanh chóng như Việt Nam thì những điều tra về bệnh này ở đối tượng ngườicao tuổi thật sự vô cùng đáng quan tâm
Người cao tuổi (NCT) là người từ 60 tuổi trở lên theo quỹ dân số củaLiên Hợp Quốc và theo luật người cao tuổi của nước ta (được Quốc hội khóaXII thông qua ngày 23/11/2009, có hiệu lực từ ngày 1/7/2010) [4] Dân sốNCT đã trở thành một trong những vấn đề được coi là quan trọng ở nhiềunước trong những thập niên qua [5] Theo Tổng Điều tra biến động Dân số và
Kế hoạch hoá gia đình (01/4/2012), tỷ trọng người cao tuổi trong dân số đãtăng nhanh từ 7,2% vào năm 1989 lên 8,2% vào năm 1999, 9,9% vào năm
2011 và 10,2% vào năm 2012 [6] Số lượng NCT đã tăng lên nhanh chóng,trong khi tỷ lệ hỗ trợ tiềm năng , tỷ lệ giữa dân số độ tuổi lao động và nhữngNCT đang giảm đáng kể Thời gian để Việt Nam chuyển từ giai đoạn “lãohóa” sang một cơ cấu dân số “già ” sẽ ngắn hơn và nhanh hơn nhiều so vớinhiều nước phát triển: giai đoạn này khoảng 85 năm ở Thụy Điển, 26 năm ởNhật Bản, 22 năm ở Thái Lan, trong khi dự kiến đó chỉ 20 năm cho Việt
Trang 11Nam, từ năm 2011 Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân
cụ thể là bệnh quanh răng ở người cao tuổi tăng nhanh dẫn đến mất răng vàcác rối loạn, bệnh tật khác Mặc dù vậy, cũng như nhiều nước khác, ở ViệtNam ngày nay, những nghiên cứu chuyên sâu về răng miệng người cao tuổi còn
ít, do đó việc chăm sóc sức khoẻ răng miệng người cao tuổi còn hạn chế Việcnghiên cứu, đánh giá tình trạng các bệnh quanh răng và nhu cầu điều trị chưa có
hệ thống, vấn đề đào tạo cán bộ đến tổ chức mạng lưới dịch vụ người cao tuổicũng chưa được quan tâm triển khai thoả đáng Xuất phát từ nhu cầu thực tế,
tầm quan trọng và ý nghĩa nêu trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu: “Thực
trạng bệnh quanh răng nhu, cầu điều trị và một số giải pháp chăm sóc răng miệng cho người cao tuổi thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh năm 2015” với 3 mục tiêu:
1 Thực trạng bệnh quanh răng ,nhu cầu điều trị của người cao tuổi ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh năm 2015.
2 Mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống ở nhóm người cao tuổi trên.
3 Đề xuất một số giải pháp chăm sóc răng miệng cho nhóm đối tượng trên.
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN
Tại Việt Nam, theo Luật người cao tuổi số 39/2009/QH12 được Quốchội ban hành ngày 23 tháng 11 năm 2009, những người Việt Nam từ 60 tuổitrở lên được gọi là người cao tuổi [4]
Vùng quanh răng lập thành một bộ phận hình thái và chức năng, cùng vớirăng tạo nên một cơ quan chức năng trong cơ thể.Vùng quanh răng và răng có mốiquan hệ gắn bó chức năng vì nó là một thành phần của bộ máy nhai, nó bao gồmtoàn bộ tổ chức bao bọc quanh răng: lợi, dây chằng quanh răng, xương răng vàxương ổ răng [8],[9],[10]
Viêm vùng quanh răng là bệnh phức tạp về măt bệnh lý nó bao gồmhai bệnh là viêm lợi và viêm QR Khi tổ chức QR bị viêm, bao gồm quá trìnhtổn thương viêm và tổn thương thoái hoá Bệnh QR làm bệnh nhân khó chịunhư: hôi miệng, chảy máu lợi khi đánh răng hoặc chảy máu lợi tự nhiên Khiviêm vùng QR giai đoạn nặng, tổ chức QR bị phá huỷ, sự liên kết chức nănggiữa răng và tổ chức QR cũng bị phá huỷ, làm răng lung lay, ảnh hưởng tới ănnhai, cuối cùng là mất răng Nó ảnh hưởng trực tiếp đến phát âm, thẩm mỹ và
do đó ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống Đặc biệt, ở người caotuổi có sự suy thoái dần bởi quá trình lão hóa sinh lý, người cao tuổi cũng dễmắc bệnh và mắc nhiều loại bệnh cùng một lúc với khả năng phục hồi kém.Nhiều kích thích thói quen có hại như: hút thuốc, nhai trầu, đánh răng khôngđúng cách … kéo dài liên tục, sự thay đổi trong tiết chế ăn uống: thức ăn cóhàm lượng đường cao, ăn nhiều bữa … cũng như khó khăn trong việc vệ sinhrăng miệng là nhưng yếu tố bên ngoài tác động vào tình trạng viêm nhu chu ởngười cao tuổi
Trang 13Sức khỏe răng miệng có tác động tương hỗ với tình trạng sức khỏe toànthân Sức khỏe răng miệng kém làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh, tình trạng toànthân giảm và ngược lại.
1.1 Đặc điểm giải phẫu và mô học vùng quanh răng
1.1.1 Giải phẫu vùng quanh răng
Bao gồm: Lợi, dây trằng quanh răng (QR), xương răng, xương ổ răng
Hình 1.1 Giải phẫu vùng quanh răng [44]
1.1.1.1.Lợi
Lợi là vùng đặc biệt của niêm mạc miệng, được giới hạn ở phía cổ răngbởi bờ lợi và phía cuống răng bởi niêm mạc miệng Ở phía ngoài của cả haihàm và phía trong của hàm dưới, lợi liên tục với niêm mạc miệng bởi vùngtiếp nối niêm mạc di động – lợi dính, ở phía khẩu cái lợi liên tục với niêmmạc khẩu cái cứng Lợi được chia thành 2 phần: lợi dính và lợi tự do [11]:
Bờ lợi
Lõm dưới túi lợi
Vùng tiếp giáp niêm mạc
Trang 14*Lợi tự do: Gồm nhú lợi và lợi viền.
Nhú lợi là phần lợi che kín các kẽ răng Có một nhú phía ngoài, một nhúphía trong, giữa hai nhú là một vùng lõm
Lợi viền: ôm sát cổ răng, và cùng với cổ răng tạo nên một khe sâukhoảng 0,5-3 mm gọi là rãnh lợi
Hình thể của nhú lợi và đường viền lợi phụ thuộc hình thể củachân răng và xương ổ răng, nó còn phụ thuộc vào sự liên quan giữa các răng
và vị trí của răng trên xương hàm
* Lợi dính: là phần lợi bám dính vào chân răng và mặt ngoài xương ổ
răng Bề rộng của lợi dính có ý nghĩa quan trọng đối với việc giữ cho vùngquanh răng bình thường
Biểu mô lợi có hai loại: bao gồm biểu mô kết nối và biểu mô phủ.
-Biểu mô kết nối: là biểu mô ở đáy khe lợi, bám dính vào mặt răngthành một vòng quanh cổ răng Chúng không bị sừng hóa và không có nhữnglõm ăn sâu vào mô liên kết dưới lợi
-Biểu mô phủ: Phủ bề mặt lợi dính và mặt ngoài viền lợi là lớp biểu môlát tầng sừng hoá Từ sâu ra nông gồm 4 lớp tế bào (TB): TB đáy, TB gai, TBhạt và TB sừng hoá…
Phủ mặt trong rãnh lợi là biểu mô không sừng hoá, liên tiếp với phíatrên bởi biểu mô sừng hoá của lợi tự do và phía dưới bởi biểu mô bám dính.Biểu mô bám dính là biểu mô ở đáy rãnh lợi bám dính vào răng Lớp biểu mônày không sừng hoá, không có các lồi ăn sâu vào tổ chức đệm ở dưới, và bámvào men răng, xương răng bởi các bán Desmosom Tổ chức đệm: là tổ chứcliên kết nhiều sợi keo ít sợi chun Những sợi keo xếp thành những bó sợi lớntạo nên hệ thống sợi của lợi, trong đó đáng chú ý là các nhóm sợi răng - lợi,xương ổ răng - lợi và nhóm sợi vòng
Trang 151.1.1.2 Dây chằng QR
Dây chằng quanh răng là mô liên kết có cấu trúc đặc biệt, nối liền răng
với xương ổ răng.Dây chằng quanh răng bao gồm các tế bào, sợi liên kết, chấtcăn bản và mạch máu, thần kinh [11]
Nó giữ răng trong ổ răng và đảm bảo sự liên quan sinh lý giữa răng và
ổ răng nhờ những TB liên kết đặc biệt trong tổ chức dây chằng Bề rộng củakhoảng dây chằng QR~ 0,15- 0,21mm Tuỳ theo sự sắp xếp và hướng đi củacác bó sợi mà người ta phân ra thành các nhóm sau:
- Nhóm cổ răng (hay nhóm mào ổ răng): Gồm những bó sợi đi từ màoxương ổ răng đến xương răng gần cổ răng
- Nhóm ngang: Gồm những sợi đi từ xương răng ở chân răng thẳng gócvới trục của răng đến xương ổ răng
- Nhóm chéo: Gồm những bó sợi đi từ xương ổ răng chếch xuống dướiphía chân răng, bám vào xương răng Nhóm này chiếm số lượng nhiều nhấttrong dây chằng QR
- Nhóm cuống răng: Gồm những bó sợi đi từ xương răng ở cuống răng,toả hình nan quạt để đến bám vào xương ổ răng vùng cuống răng
- Nhóm giữa các chân răng: Đối với răng nhiều chân còn có các bó sợi
đi từ kẽ giữa 2 hay 3 chân răng đến bám vào vách xương ổ răng Giữa các bósợi trên là tổ chức liên kết lỏng lẻo, trong đó người ta thấy có TB tạo xươngrăng, TB xơ non, TB xơ già, TB liên kết dạng bào thai, những đám biểu bìMallassez Ngoài ra còn có mạng lưới rất giàu các mạch máu, bạch mạch,thần kinh Theo Weski, những lưới này có tác dụng như một cái hãm nước.Trong tổ chức liên kết của dây chằng thường thấy có 3 thành phần là: TB chấttựa, sợi, chất nền Dây chằng QR cấu tạo bởi những sợi Collagen, những sợi
đó lồng vào trong xương răng, chùm lên chân răng giải phẫu và từ đó chạyvào lá đáy của túi lợi, màng xương phủ huyệt răng và xương ổ răng, xương
Trang 16răng của răng bên cạnh, quan trọng nhất là trực tiếp vào trong xương ổ răngriêng biệt.
1.1.1.3 Xương ổ răng
Xương ổ răng là một bộ phận của xương hàm gồm có :
* Bản xương: có cấu tạo là xương đặc Bản xương ngoài là xương vỏ ở mặtngoài và mặt trong của xương ổ răng, được màng xương che phủ Còn bản xươngtrong (gọi là lá sàng) nằm liền kề với chân răng, có nhiều lỗ thủng (lỗ sàng
* Xương xốp: nằm giữa hai bản xương trên và giữa các lá sàng [11] Hoạt động chuyển hoá của xương ổ răng rất mạnh Quá trình tạoxương liên tục, nếu xương khoẻ, chiều cao của mào xương ổ răng phát triểnliên tục phù hợp với sự mòn sinh lý của răng, tức là khớp cắn không bị giảm,
kể cả ở lứa tuổi cao Can xi xương ở trong xương, giữa các sợi là những tinhthể apatit, ngoài việc đảm bảo độ cứng của xương nó còn là nguồn dự trữ mứccanxi trong máu Thành phần hữu cơ của xương là chất keo và những TB nhưtạo cốt bào, TB xương đa nhân Xương ổ răng cũng có quá trình tiêu và phụchồi luôn cân bằng thì xương luôn chắc và đảm bảo chức năng Nếu mất thăngbằng, quá trình tiêu xương lớn hơn phục hồi thì dẫn đến tiêu xương (gặp ởquá trình bệnh lý QR, sang chấn khớp cắn…)
1.1.1.4 Xương răng
Xương răng bọc phần ngà răng ở chân răng Là một dạng đặc biệt củaxương, trong đó thành phần vô cơ và hữu cơ chiếm tỷ lệ ngang nhau, nhưngkhông có hệ thống Havers và mạch máu [11]
Xương răng bao phủ chân răng và đi qua phần men răng, phủ trên bềmặt men ở cổ răng Bề dày của xương răng thay đổi theo tuổi, tuỳ vùng vàchức năng, dày nhất là vùng cuống răng, mỏng nhất là vùng cổ răng Zandernghiên cứu và đo bề dày xương răng giữa các vùng khác nhau của chân răng,giữa người già và người trẻ cho thấy: sự đắp dày thêm của xương răng xảy ra
Trang 17từ từ và đều đặn theo tuổi Ngoài ra còn do các yếu tố khác như: kích thíchcủa quá trình viêm, hoá chất vùng cuống răng và do chuyển hoá
Về cấu trúc, xương răng gồm 2 loại: Xương răng không có tế bào vàxương răng có tế bào Xương răng không có tế bào là lớp đầu tiên được tạo ratrong quá trình tạo ngà ở chân răng, phủ lên chân răng bởi xương răng thứphát (hay xương răng có tế bào) Quá trình tạo xương răng có tế bào nhanh,những tế bào tạo xương răng non bám chắc và giữ lại tới lúc phát sinh lớpxương răng mới và tế bào xương răng được trưởng thành Sự bồi đắp xươngrăng liên tục, suốt đời, ở cuống răng thì nhanh hơn ở cổ răng, những lớp đượcbồi đắp tạo điều kiện cho sự bám chắc của những dây chằng mới giữ cho bềrộng vùng QR, xương răng không bị tiêu sinh lý và thay đổi cấu trúc nhưxương Về mặt chức phận, xương răng tham gia vào sự hình thành hệ thống
cơ học nối liền răng với xương răng, cùng với xương ổ răng giữ bề rộng cầnthiết cho vùng QR, bảo vệ ngà răng và tham gia sửa chữa ở một số trường hợptổn thương ngà chân răng
1.1.2.Tuần hoàn quanh răng
Hệ thống mạch máu được cung cấp từ ba nguồn:
- Các nhánh từ động mạch răng: ngay trước khi đi vào lỗ cuống răng,
chúng tách nhánh đi vào phía thân răng qua dây chằng QR và đến mô lợi
- Các nhánh của động mạch liên xương ở răng và trên chân răng: đi qua lỗ phiến sàng vào dây chằng QR
- Các nhánh của động mạch màng xương: đi về phía thân răng qua niêm mạc mặt ngoài và mặt trong của xương ổ răng và đến lợi nối với các mạch máu QR qua lợi
1.1.3 Thần kinh vùng quanh răng : chịu sự chi phối bởi hai nhóm sợi thần kinh:
- Các sợi giao cảm đi tới các mạch máu, điều hoà lượng máu cung cấptại chỗ thông qua cơ chế vận mạch
Trang 18- Các sợi cảm giác hầu hết là các nhánh có Myelin của nhánh II hoặc
nhánh III của dây thần kinh tam thoa Vùng dây chằng QR giàu mạng lướimạch máu và cũng giàu các sợi cảm giác Người ta tìm thấy có hai loại thầnkinh tận cùng: là có vỏ bọc và không có vỏ bọc ở đầu tận cùng Nhánh tậnđầu tự do đáp ứng với cảm giác đau, trong khi đó đầu có vỏ bọc đáp ứng vớithay đổi áp lực; ở những đầu có vỏ bọc cấu trúc phức tạp hơn nhiều so với ở
da và niêm mạc miệng, hơn nữa phần lớn nó đáp ứng với khả năng nhạy cảmcủa dây chằng quanh răng
1.2 Đặc điểm biến đổi sinh lý.
1.2.1 Biến đổi sinh lý chung
Lão hóa đưa đến những thoái triển biến đổi dần và không phục hồi vềhình thái và chức năng ở các cơ quan, khả năng thích nghi với những biến đổicủa môi trường xung quanh ngày càng bị rối loạn [12],[13],[14]
Lão hóa bắt đầu từ da: Da cứng và răn reo, tăng lớp mỡ dưới da ở bụng,ngực, đùi, mông
Tóc chuyển bạc, trước ít và chậm sau nhiều và nhanh hơn
Mắt điều tiết kém đi gây lão hóa và thị lực giảm Thính lực kém đi Hoạt động chức năng các cơ quan, phủ tạng giảm dần, bài tiết dịch vịkém ăn uống kém ngon và chậm tiêu, hoạt động chức năng gan, thận cũnggiảm dần, hệ thống nội tiết yếu đi
Những yếu tố trên đã ngày càng là nguyên nhân làm cho sức khỏengười cao tuổi giảm sút và dễ mắc những bệnh cấp và mãn tính
Sự thích ứng với những thay đổi ngoại cảnh kém dần như thời tiếtnóng, lạnh Chức năng hô hấp giảm, chức năng tim mạch kém thích ứng vớilao động nặng
Giảm khả năng làm việc trí óc, nhanh mệt, tư duy nghèo dần, liêntưởng kém, trí nhớ giảm hay quên, kém nhạy bén, chậm chạp
Trang 19Thời gian phục hồi vết thương kéo dài, xương dễ gãy do chứng loãngxương Khả năng đáp ứng của cơ thể trước các kháng nguyên ngoại lai, vikhuẩn giảm dễ dẫn đến nhiễm trùng và nổi lên là hiện tượng tự miễn [15].
1.2.2 Biến đổi ở mô niêm mạc miệng
mô và mô liên kết bị xẹp xuống làm cho lớp biểu mô dễ bị bong trước.Thờigian thay thế tế bào biểu mô kéo dài số lượng tế bào Langerhans ít đi Vì cácbiến đổi nêu trên, nên bề mặt của niêm mạc miệng kém chịu đựng trước cáckích thích như nóng, lạnh, sức đề kháng với nhiễm trùng giảm đi, niêm mạc
dễ bị tổn thương và khi bị tổn thương thì cũng lâu lành
1.2.2.2.Niêm mạc lưỡi
Các nghiên cứu cho thấy các gai lưỡi có hiện tượng giảm và teo Số gaihình dây của lưỡi giảm làm cho lưỡi có vẻ trơn láng, gai lưỡi hình đài bị teonhiều nhất với số lượng giảm hoặc mất dần các nụ vị giác gây ra những rối loạn
vị giác với các chất ngọt, chua, mặn….Nói chung, niêm mạc lưỡi miệng nhợtnhạt, teo mỏng do giảm chất gian bào, giảm khả năng tăng sinh tế bào và giảmđáp ứng miễn dịch tại chỗ cũng như toàn thân thường thấy ở người cao tuổi
1.2.3 Biến đổi ở khớp thái dương hàm và xương hàm
1.2.3.1 Khớp thái dương hàm
Ở khớp thái dương hàm thường gặp sự xơ hóa và thoái hóa khớp, thểtích lồi cầu xương hàm giảm, diện khớp trở lên phẳng, các dây chằng dão.Cùng với sự thoái triển nêu trên, trương lực của các cơ nâng hàm và hạ hàmmất dần làm cho khớp mất tính ổn định, vận động của hàm bị ảnh hưởng,
Trang 20khớp cắn mất cân bằng dẫn đến khả năng nhai, nghiền thức ăn kém, dễ gâyđau, mỏi và có tiếng kêu ổ khớp.
1.2.3.2.Xương hàm
Xương hàm cũng có những biến đổi thoái triển chung theo hệ xươngcủa cơ thể Trước hết, xương hàm giảm khối lượng do độ đậm đặc bởi hiệntượng loãng xương sinh lý Trên phim X-quang xương, người già ít cảnquang, có những vạch sáng chiều rộng vài mm Xương hàm người cao tuổiyếu và dễ gãy, khi bị gãy thường can xấu và chậm Sống hàm trên tiêu nhiềuhơn theo chiều hướng tâm, sống hàm dưới ít tiêu hơn theo chiều ly tâm Nhưvậy, sau khi mất răng, hình thái các xương hàm trên và dưới sẽ có những biếnđổi sâu sắc
1.2.4 Biến đổi trên các chức năng vùng miệng
Chức năng nhai :
Tốc độ và biên độ chuyển động của hàm dưới giảm trong quá trình vậnđộng há, ngậm và độ rộng lên xuống trong khi chiều sang bên thì vẫn giữnguyên Vì vậy, thời gian của chu kì nhai không có khác nhiều so với thời kỳtrung niên Tuy nhiên, hiệu quả của nhai bị giảm sút do răng suy yếu, hệthống môi, má, lưỡi và các cơ giảm sự khéo léo, khả năng phối hợp
Chức năng tạo dáng khuôn mặt:
Các biến đổi nét mặt là do mất răng và do giảm hoặc mất trương lực các
cơ ở mặt Thường có sự thấp tầng mặt dưới, những thay đổi này không chỉ là
Trang 21thẩm mỹ mà còn là sự trở ngại tới chức năng nhai, nuốt.
Chức năng tiết nước bọt :
Nhu mô tuyến nước bọt suy thoái dẫn đến giảm tiết về số lượng nướcbọt kể cả chức năng tổng hợp các protein nước bọt, IgA giảm 2/3 Trên thực
tế tình trạng khô miệng còn do 1 số bệnh lý ở tuyến, đặc biệt do hậu quả một
số thuốc điều trị cao huyết áp, tâm thần…
1.2.5 Ảnh hưởng của lão hóa trên cấu tạo mô nha chu
Biểu mô lợi:
Nhiều nghiên cứu cho thấy sự mỏng đi và giảm sừng hóa của biểu môlợi theo tuổi, vì vậy làm tính thấm của biểu mô với kháng nguyên vi khuẩn vàgiảm sức đề kháng với các sang chấn chức năng có thể ảnh hưởng lâu dài đếnvùng quanh răng Ngoài ra, còn có một số thay đổi khác liên quan đến lão hóanhư các gai biểu bì phẳng hơn và thay đổi mật độ tế bào biểu mô
Tác động của quá trình lão hóa lên vị trí của biểu mô nối là chủ đềđược nghiên cứu nhiều nhất Một số nghiên cứu cho thấy sự di chuyển về phíachóp của biểu mô nối trên bề mặt chân răng ở người có men răng bình thường
đi kèm với sự tụt lợi Cùng với sự tụt lợi, chiều rộng của lợi dính sẽ giảm theotuổi Ngoài ra, sự di chuyển của biểu mô nối về phía chóp có thể là hậu quảcủa sự mọc răng liên tục qua biểu mô lợi trong nỗ lực duy trì mặt phẳng cắnvới răng đối diện để thích nghi với sự mòn răng (sự mọc răng thụ động) Tuynhiên, tụt lợi không phải là một quá trình sinh lý không thể tránh khỏi củangười già mà do hậu quả tích lũy của quá trình viêm hoặc chấn thương mônha chu [10]
Mô liên kết lợi:
Mô liên kết lợi ngày càng thô hơn và dày đặc hơn theo tuổi, ngoài racòn có sự thay đổi về số lượng và chất lượng sợi collagen Những thay đổinày bao gồm sự tăng tỷ lệ chuyển đổi từ collagen hoàn thành collagen không
Trang 22hoàn toàn, tăng sức mạnh cơ học và tăng nhiệt độ làm biến tính collagen Nhưvậy, có sự tăng tính ổn định của collagen do những thay đổi trong cấu trúcphân tử Tuy nhiên, tỷ lệ collagen được tổng hợp lại giảm đi theo tuổi
Dây chẳng quanh răng:
Những thay đổi trong dây chằng QR do lão hóa bao gồm giảm số lượngnguyên bào sợi và tăng bất thường cấu trúc Ngoài ra, có sự giảm sản xuất cácchất hữu cơ căn bản, ngừng hoạt động các tế bào biểu mô và tăng số lượng sợiđàn hồi Nhiều kết quả trái chiều đã được ghi nhận về sự thay đổi chiều rộngcủa dây chằng nha chu theo tuổi trong các mẫu vật của người và động vật.Một điều chắc chắn là chiều rộng của khoảng quanh răng sẽ giảm nếu răngkhông được nhai đến (giảm chức năng) hoặc chịu lực nhai quá mức Cả haitình huống trên đều dẫn đến sự mất răng sớm
Xương răng:
Có sự gia tăng chiều dày xương răng theo tuổi do sự bồi đắp liên tục saukhi mọc răng Sự gia tăng chiều dày này nhiều hơn ở vùng chóp và mặt lưỡi.Khả năng sửa chữa xương răng là hạn chế, những bất thường trên bề mặt xươngrăng như những hõm tiêu xương răng xuất hiện ngày càng nhiều theo tuổi
Xương ổ răng:
Hình thái lá cứng xương ổ răng thay đổi liên quan với tuổi, có ngàycàng nhiều bất thường trên bề mặt xương ổ răng và giảm số lượng kết nối bấtthường với sợi collagen Ngoài ra, có sự giảm mạch máu trong xương, giảmtrao đổi chất và khả năng tự sữa chữa, tăng quá trình hủy xương và giảm táitạo xương Trong ghép xương đồng loại đông khô khử khoáng, nếu sử dụngvật liệu ghép từ người cho trên 50 tuổi thì khả năng tạo mô xương ít hơn sovới vật liệu lấy từ người cho trẻ hơn
Tuy nhiên, tỷ lệ lành xương (can xương) của xương vùng ổ răng đãnhổ không liên quan tới tuổi tác Thật vậy, những thành công trong tích hợp
Trang 23xương trong cấy ghép nha khoa dựa trên đáp ứng lành thương ở mọi môxương lành, không liên quan với tuổi tác.
1.3 Một số đặc điểm răng miệng ở người cao cao tuổi
Bệnh lý vùng răng miệng ở người cao tuổi cũng giống như người trẻ.Các bệnh phổ biến như sâu răng, viêm lợi, viêm quanh răng cũng có tỉ lệ mắcrất cao Bên cạnh đó là sự lão hóa tổ chức ở người cao tuổi nên bệnh vùngrăng miệng cũng có những hình thái, biểu hiện lâm sáng khác biệt
1.3.1 Các tác nhân gây bệnh:
Có rất nhiều lý do khiến vi khuẩn, nấm…có điều kiện để tụ tập, sinhsống và phát triển ở môi trường miệng của người cao tuổi do các khe răngrộng, hở chân răng, các răng sâu vỡ thân to, răng di lệch, khớp cắn sang chấn,miệng khô, các răng sâu không được trám hoặc miếng trám thừa, mất răngkhông được phục hình….đây là những điều kiện để thức ăn, mảng bám dễ tậptrung, ứ đọng trong và sau khi ăn Tình trạng này ngày càng trở nên nặng nề hơn
vì việc tự vệ sinh răng miệng của người cao tuổi đã không được thực hiện tốt
1.3.2 Đặc điểm bệnh lý quanh răng ở người cao tuổi
Bệnh quanh răng có 2 loại: viêm lợi và viêm quanh răng, cả 2 đều do vikhuẩn gây nên, tương tác với quá trình đáp ứng miễn dịch của cơ thể Một sốyếu tố tại chỗ hoặc toàn thân có tác động thúc đẩy và làm bệnh nặng thêm [16]
* Viêm lợi
Viêm lợi có nguyên nhân tại chỗ là do vi khuẩn ở mảng bám, cao răng,bựa răng và các yếu tố làm tăng tích lũy vi khuẩn, một số nguyên nhân toànthân khác như các bệnh về máu, nội tiết…có biểu hiện ở lợi với các hình thài
và mức độ nặng nhẹ khác nhau Viêm lợi có biểu hiện ban đầu chỉ là các tổnthương tại chỗ khu trú có đau, chảy máu nhẹ đến các mức độ nặng như vếtloét, mảng hoại tử Một số thể viêm lợi hay gặp ở người cao tuổi có nguyên
Trang 24nhân toàn thân là chính nhưng thường kèm theo sự tác động phối hợp của vikhuẩn trong môi trường miệng như: viêm lợi người mãn kinh, viêm lợi dodùng thuốc, viêm lợi trong các bệnh về máu.
* Viêm quanh răng
Có đầy đủ các biểu hiện lâm sàng như viêm lợi, ngoài ra còn có túi lợibệnh lý, có thể có răng lung lay, răng di lệch do xương ổ răng tiêu nhiều, cùngvới hiện tượng mất bám dính của lợi làm chân răng bị bộc lộ ít hay nhiềutrong môi trường miệng Viêm quanh răng ở người cao tuổi thường diễn biếnmãn tính, hoặc bán cấp, các triệu chứng tại chỗ ít ồ ạt, tiến triển chậm, pháhủy từ từ Tiên lượng viêm quanh răng ở người cao tuổi thường xấu, dễ dẫnđến mất răng Ở những trường hợp bị bệnh tiểu đường, khả năng mắc viêmquanh răng tăng lên, khả năng mất răng rất cao
1.3.3 Một số đặc điểm lâm sàng bệnh quanh răng ở người cao tuổi
Theo tổ chức Y tế thế giới, bệnh quanh răng gặp phổ biến ở mọi quốcgia và hay gặp nhất là viêm lợi và viêm quanh răng Biểu hiện chỉ viêm lợi ởngoài liên quan tới mảng bám còn liên quan đến các yếu tố khác như virus,nấm, bệnh niêm mạc, dị ứng, bệnh toàn thân…tiến triển của viêm lợi có thểtồn tại một thời gian dài, nhiều trường hợp sẽ tiến tới viêm quanh răng
Viêm quanh răng còn có thể như một biểu hiện lâm sàng của bệnh toàn thân
Ở người cao tuổi, bệnh thường mãn tính hoặc bán cấp, tiến triển từchậm đến trung bình, từng đợt, có giai đoạn tiến triển nhanh Tiêu xương ổrăng làm cho tỉ lệ thân răng lâm sáng lớn hơn phần chân răng trong xương,lực đòn bẩy gây sang chấn khi ăn nhai, phá hủy dây chằng quanh chân răng,tiêu hủy xương ổ răng làm cho răng lung lay Tiên lượng bệnh quanh răng ở ngườicao tuổi thường nặng bởi túi lợi sâu và điều trị kết quả chậm, phục hồi kém
1.3.4 Một số hiểu biết về bệnh căn, bệnh sinh và yếu tố nguy cơ.
Trang 25* Vi khuẩn: Mảng bám răng hay màng vi khuẩn là nguyên nhân gây
bệnh chủ yếu Mảng bám tích tụ và dính vào răng Ban đầu, vi khuẩn tậptrung cư trú ở mảng bám trên lợi, sau đó lấn sâu xuống dọc chân răng tạomảng bám dưới lợi Mảng bám trên lợi đặc trưng bởi vi khuẩn Gr (+) khác vớimảng bám dưới lợi do vi khuẩn Gram (-), kỵ khí đặc hiệu trong dịch lợi màkháng nguyên và độc tố của chúng thâm nhập vào mô quanh răng, khởi đầu làphản ứng viêm, tiếp đến là đáp ứng miễn dịch quá mẫn tại chỗ gây hủy hoại
tổ chức leien kết tạo ra túi lợi
* Cao răng: Là mảng bám bị khoáng hóa cứng lại Độ dày sẽ tăng
nhanh nếu mảng bám không được kiểm soát, cao răng không được lấy bỏđịnh kì Quá trình hình thành có vai trò của vi khuẩn và các ion Ca++ và PO4- -
trong nước bọt Cao răng với vai trò tích tụ các kháng nguyên xác vi khuẩn,độc tố nội và ngoại sinh phối hợp làm cho viêm nhiễm tăng
* Đáp ứng miễn dịch của cơ thể: Nhiều nghiên cứu cho thấy số lượng
vi khuẩn sống của mảng bám răng ở người cao tuổi ít quan trọng và có sự liênquan giữa mảng bám với viêm lợi nhưng không tahays có mỗi liên quan giữamảng bám và viêm quanh răng Như vậy, hình như do quá trình lão hóa với sựsuy giảm miễn dịch đặc biệt là miễn dịch tế bào có thể đã làm giảm hiệntượng quá mẫn ở mô quanh răng và làm cho viêm quanh răng ở người caotuổi tiến triển chậm
* Các yếu tố nguy cơ khác: Thay đổi môi trường miệng là yếu tố quan
trọng nhất 80-90% trong nhóm người viêm quanh răng thường mắc nhữngbệnh mãn tính phải dùng thuốc, trong số đó có những thuốc gây xáo trộn cânbằng vi khuẩn miệng, tạo điều kiện cho sự phát triển của một số chủng gâybệnh quanh răng Ở những người có bệnh tiểu đường, khả năng mắc bệnhquanh răng tăng và nặng với sự đáp ứng kém của tổ chức Những người
Trang 26không chăm sóc răng miệng thường xuyên bệnh quanh răng có nguy cơ xuấthiện cũng cao hơn Hút thuốc là là một trong những yếu tố nguy cơ quantrọng của bệnh quanh răng
1.4 Phân loại bệnh quang răng
Việc phân loại bệnh quanh răng có ý nghĩa quan trọng trong việc chẩnđoán, tiên lượng và làm kế hoạch điều trị Theo các xu hướng chung và cácquan điểm hiện đại, người ta chia bệnh quanh răng thành ra làm 2 loại chínhlà: bệnh của lợi và các bệnh của cấu trúc chống đỡ răng [11]
Các bệnh lợi bao gồm các bệnh mà chỉ có tổn thương ở lợi
Các bệnh của cấu trúc chống đỡ bao gồm các bệnh liên quan tới cấutrúc chống đỡ răng như: dây chằng quanh răng, xương ổ răng và xương răng
* Phân loại bệnh quanh răng theo hội nghị quốc tế năm 1999,
bao gồm 8 nhóm bệnh dưới đây:
Các bệnh lợi
Viêm quanh răng mạn
Viêm quanh răng phá hủy
Viêm quanh răng là biểu lộ các bệnh toàn thân
Các bệnh quanh răng hoại tử
Các apxe vùng quanh răng
Viêm quanh răng do các tổn thương nội nha
Các biến dạng và tình trạng mắc phải hay trong quá trình phát triển
1.5 Chất lượng cuộc sống ở người cao tuổi
Trong đời sống xã hội, CLCS đã bắt đầu được quan tâm Khái niệm
“chất lượng cuộc sống” đã ra đời khá lâu nhưng chưa có sự thống nhất Hiệntại có nhiều định nghĩa về CLCS [17],[18] Theo Tổ chức Y tế Thế giới(WHO),CLCS là quan điểm của mỗi cá nhân vềcuộc sống của bản thân trongbối cảnh văn hóa, xã hội và hệ thống các giá trị mà họ thuộc về, dựa trên các
Trang 27mục tiêu, kỳ vọng, chuẩn mực và mối quan tâm của họ [19].CLCS được đánhgiá trên bốn lĩnh vực chính: sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm lý, các mối quan
hệ xã hội và môi trường sống [20],[21],[22] CLCS là một khái niệm mangtính chất khái quát hơn khái niệm sức khỏe, nó mang giá trị tinh thần hơn làsức khỏe thể chất đơn thuần, phản ánh mối quan hệ gia đình, hoạt động xãhội, nghề nghiệp, đời sống tinh thần, sự sáng tạo, niềm hy vọng, sự thànhđạt.v.v Đây cũng được coi là một chỉ số tổng hợp thể hiện về trí tuệ, tinh thần
và vật chất của con người, là mục tiêu phấn đấu nhằm đáp ứng sự phát triểnbền vững của mọi quốc gia CLCS càng cao thì con người càng có nhiều khảnăng lựa chọn cho mình hướng phát triển cá nhân cũng như cách hưởng thụgiá trị vật chất và tinh thần mà xã hội tạo ra [23] Nếu như sức khỏe thể chấttốt, ít ốm đau, bệnh tật là điều kiện căn bản cho một cuộc sống có chất lượngthì các yếu tố như sức khỏe tinh thần, giao tiếp và vị thế xã hội, tình trạngkinh tế, tín ngưỡng, điều kiện sống, môi trường.v.v cũng đóng vai trò quantrọng để nâng cao CLCS [24],[25]
Ảnh hưởng sức khỏe răng miệng lên chất lượng cuộc sống là rõ ràng Với tình trạng răng miệng tốt (răng còn đầy đủ, khỏe mạnh …), ta sẽ đảm bảo đượcchức năng ăn nhai, thẩm mỹ, phát âm rõ, giúp tự tin hơn trong công việc cũng như trong cuộc sống Ngược lại, tình trạng SKRM không tốt (mất nhiều răng, sâu răng, đau răng, các bệnh lý nha chu…) sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sốnghằng ngày, gây cảm giác khó chịu, ăn uống kém, thiếu tự nhiên trong giao tiếp, đôi khi gặp khó khăn ngay cả trong những công việc thông thường …
Nhằm đánh giá chính xác vấn đề này, bộ câu hỏi tiêu chuẩn OHIP-14 đãđược Slade đưa ra năm 1997 OHIP-14 được rút ngắn từ OHIP-49, gồm 14câu hỏi, đánh giá ảnh hưởng của các vấn đề răng miệng lên khả năng ăn uống,tâm lý, các công việc hằng ngày cũng như giao tiếp trong xã hội của conngười Các câu hỏi sẽ được trả lời bằng tần suất gây khó chịu trong vòng 12tháng với 5 mức độ, tương ứng với các mã: 0: Chưa bao giờ, 1: Hiếm khi, 2:
Trang 28Thỉnh thoảng, 3: Thường xuyên, 4: Rất thường xuyên [26]
Trên thế giới đã có một số nghiên cứu sử dụng chỉ số OHIP-14 [27],[28].Năm 2011, Dahl KE, Wang NJ đã tiến hành nghiên cứu mối liên quan giữasức khỏe răng miệng và chất lượng cuộc sống của nhóm đối tượng từ 68–77tuổi tại Nauy Theo kết quả thu được, tỷ lệ người cao tuổi bị ảnh hưởng bởibệnh răng miệng là 42%, tỷ lệ người bị đau đớn về thể chất là 43%, khôngthoải mái về tinh thần là 28% và khuyết tật về tâm thần là 28%, chỉ có 13%trả lời là có khuyết tật về mặt xã hội Trong số những vấn đề răng miệng, vấn
đề thường gặp nhất là đau, sau đó là không thoải mái khi ăn uống, tất cả đềuthuộc lĩnh vực đau đớn thể chất [29]
1.6 Vấn đề chăm sóc sức khỏe răng miệng người cao tuổi
Tỷ lệ người cao tuổi mắc các bệnh về răng miệng rất cao, đặc biệt làsâu răng và viêm quanh răng, dẫn tới tình trạng mất răng, từ đó kéo theonhiều các vấn đề sức khỏe liên quan khác
Trên cơ sở hiểu biết về nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ, nhiều bệnhrăng miệng đã được phòng ngừa một cách hiệu quả Theo từng lứa tuổi màngười ta đưa ra các biện pháp phòng bệnh, khám chữa bệnh, theo dõi bệnhphù hợp như đối với trẻ em, qua chương trình nha học đường đã đem lại hiệuquả rất lớn là hạ thấp tỷ lệ bệnh răng miệng ở trẻ em trên phạm vi thế giới.Đối với người cao tuổi, chương trình chăm sóc sức khoẻ răng miẹng cũng đãđược quan tâm tập trung vào 3 biện pháp là giáo dục nha khoa, tổ chức các cơ
sở dịch vụ khám chữa định kì và kiểm tra theo dõi Kết quả thu được, trướchết phụ thuộc vào chính các đối tượng nhận sự chăm sóc, tiếp đó là khả năngchuyên ngành đồng thời có sự quan tâm về chính sách của xã hội thông quavai trò trợ giúp của phúc lợi xã hội, bảo hiểm y tế như: Fluor hóa nước uống,vấn đề giáo dục cộng đồng, khám chữa bệnh răng miệng
Trang 291.6.1 Vấn đề giáo dục nha khoa.
Vấn đề giáo dục cộng đồng cần được thực hiện ở các cộng đồng dân cưthông qua các hình thức truyền tải nội dung giáo dục như truyền thanh, truyềnhình, báo, tờ rơi….với các nội dung như giáo dục kĩ năng chải răng, sử dụngchỉ tơ nha khoa, máy bơm rửa, nước súc miệng….khuyến cáo loại bỏ các thóiquen có hại như bỏ thuốc lá, uống rượu, xỉa tăm, ăn trầu….để từ đó người caotuổi có thêm các hiểu biết về phòng bệnh, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ răngmiệng qua đó mà có thái độ cũng như thực hành phù hợp Khuyến khích giáodục cá nhân thông qua gặp gỡ, tiếp xúc, thảo luận, câu lạc bộ hoặc ngay tạicác phòng khám chữa răng
1.6.2 Các biện pháp phòng bệnh tích
Khám định kì 3-6 tháng/lần đối với những người có nguy cơ mắc bệnhcao nhằm mục tiêu phát hiện bệnh sớm và can thiệp kịp thời để ngăn chặn sựphát triển của bệnh Có thể tổ chức các đội chăm sóc răng miệng lưu động,
có trang bị phương tiện tối thiểu để được chăm sóc sức khỏe răng miệng banđầu tại các trung tâm điều dưỡng hay các câu lạc bộ của người cao tuổi, thựchiện các biện pháp điều trị cũng như kiểm tra, kiểm soát vệ sinh răng miệng
và thực hiện các biện pháp dự phòng như lấy cao răng, nạo túi lợi, sửa chữahàm giả…
1.6.3 Vấn đề quản lý, theo dõi.
Theo dõi quản lý, hướng dẫn và giám sát vệ sinh răng miệng, lập hồ sơ
và có kế hoạch theo dõi cụ thể tránh để bệnh tái phát sau điều trị và xuất hiệntình trạng mới Hướng dẫn chế độ ăn uống, loại bỏ các thói quen có hại Cũngnhư hướng dẫn bệnh nhân biết tự kiểm tra, phát hiện những biểu hiện bệnh lýbất thường vùng răng miệng
Trang 301.7 Nghiên cứu về bệnh quanh răng ở người cao tuổi trên Thế Giới và Việt Nam
* Ở Việt Nam:
Tại Việt Nam, từ năm 1960 đến nay đã có nhiều công trình điều tra vềbệnh quanh răng ở một số địa phương Các kết quả điều tra đều cho thấy bệnhquanh răng chiếm tỷ lệ cao và ở mức báo động [30],[31],[32] Trần VănTrường và Lâm Ngọc Ấn đã tiến hành điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốcqua 2 đợt thì nhận thấy rằng qua 2 lần tỷ lệ bệnh quanh răng của nhóm tuổi
>45 tuổi không biến đổi nhiều, đều trên 90% [2]
Về tình hình bệnh tổ chức quanh răng, theo điều tra cơ bản tại khu vực
Hà Nội của Nguyễn Đức Thắng [33] với lứa tuổi 45-64 và cỡ mẫu (n=150) thì
có CPITN 1 tỉ lệ là 1,33% và CPITN 2 chiếm tỷ lệ cao nhất 64,67% NguyễnVăn Cát và Renneberg T và cs (1992) khám 181 người từ 44 đến 64 tuổikhông thấy người nào có mô quanh răng lành mạnh, chỉ số CPITN 1 tỉ lệ là1,2 cao nhất là chỉ số 3 có tỉ lệ 45,8 Theo tác giả Dương Thị Hoài Giang năm
2009 khám trên 303 người từ 60 tuổi trở lên tại Hoàng Mai – Hà Nội thấy tỷ
lệ người mắc bệnh quanh răng là 93,1% [34]
Theo tác giả Thiều Mỹ Châu năm 1993 khám trên 394 đối tượng từ 60tuổi trở lên tại thành phố Hồ Chí Minh thấy tỷ lệ CPITN0 chỉ có 1,58% trongkhi CPITN3 và CPITN4 chiếm tới 85% [35]
Trần Văn Trường năm 2000 khám 999 đối tượng từ 45 tuổi trở lên, tỷ
lệ người có túi lợi nông là 35,7%,túi lợi sâu là 10,5%[2]
Năm 2004 Phạm Văn Việt khám 996 người có tuổi > 55 tại Hà Nộithấy tỷ lệ người có bệnh quanh răng là 96,1% Trong ñó tuổi > 60 (n = 850),chỉ có 3,92% người có vùng quanh răng lành mạnh, túi lợi nông 55,22%, túilợi sâu 0,63%[36]
* Thế giới:
Bảng 1.1 Trên thế giới
Trang 31Tên nước, tác giả Năm Tuổi Người
Túi lợi nông (%)
Túi lợi sâu (%)
Trung bình cao răng
Trung bình túi lợi
Bergman J.D và Cs,
Australian [37] 1990 60-69 303 15,2 2,00 1,60Galan D và Cs,
Canada [38] 1993 ≥ 60 54 37,0 49,0
Miyazaky H và Cs,
Japan [39] 1994 65-74 60,0 10,0 2,70 1,10Một số điều tra khác như; theo điều tra sức khỏe quốc gia 1971-1974của Mỹ, tình hình bệnh nha chu theo độ tuổi [40] như sau: với độ tuổi 55-64(có nam bệnh nha chu chiếm 46,9%, còn nữ chiếm 35,8%) Theo điều tra của
P D Barnard năm 1988 ở Astraulia thì số trung bình lục phân có số CPITNcao nhất ở lứa tuổi từ 65 tuổi trở lên thì thấy tỷ lệ CPITN 4 chiếm tới 70%[41] Theo Brown và cộng sự 1981 ở Mỹ 65% người lứa tuổi từ 19-65 có túilợi sâu ≥ 3 mm, 28% có túi lợi sâu 4-6 mm và 8% có túi lợi sâu > 6 mm [42]
Các bệnh răng miệng không những làm ảnh hưởng tới chức năng ăn nhai,thẩm mỹ mà còn ảnh hưởng tới sức khỏe toàn thân, thậm chí nếu không điều trịkịp thời nó còn có thể gây nhiều biến chứng nặng nề tại chỗ hoặc toàn thân
1.8 Một số đặc điểm sinh thái của thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
1.8.1 Hà Nội
- Vị trí nằm chếch phía tây bắc trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sônghồng, với diện tích 3.3324,92 km2 Với dân số năm 2011 là 6.699.600 ngườiđứng thứ nhì về dân số, với dân số thành thị là 2.931.300 người Hà Nội nằmgiữa đồng bằng sông Hồng trù phú, nơi đây là trung tâm chính trị và tôn giáongay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam
Hiện nay Hà Nội có 30 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 12 quận, 17huyện, 1 thị xã
Trang 32Kinh tế đứng vị trí quan trọng thứ hai sau thành phố Hồ Chí Minh.Năm 2010 GDP chiếm 12,73% của cả quốc gia và khoảng 41% so với Đồngbằng sông Hồng.
Hiện nay ở Hà Nội có tới gần 7,2% dân số là người cao tuổi Ngoàinhững người có cuộc sống bình thường còn rất nhiều người cao tuổi khác cóđiều kiện kinh tế nhưng thiếu người chăm sóc
Thành phố Hồ Chí Minh có tổng diện tích là 2.095,6 km² gồm 19 quận
và 5 luyện, với dân số hiện nay là 7.750.000 người (số liệu thống kê tháng 12năm 2012 của Cục Thống kê thành phố) trên 2 triệu hộ gia đình
Số hộ nghèo thành phố là 13.040 hộ chiếm tỷ lệ 0,71% tổng số hộ dânthành phố Trong đó hộ nghèo có người cao tuổi là 2.731 hộ chiếm tỷ lệ20,94% tổng số hộ nghèo thành phố
Thực trạng người cao tuổi:
Trang 33Tổng số người cao tuổi thành phố năm 2013 là 469.353 người, chiếm tỷ
khỏe răng miệng và nhu cầu điều trị của họ Trên cơ sở đó đề xuất một số
kiến nghị nhằm nâng cao sức khỏe răng miệng của người cao tuổi ở 2 thànhphố đặc biệt của Việt Nam, nhằm đảm bảo chất lượng cuộc sống cho ngườicao tuổi
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu
Trang 34Thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 9/2014 đến tháng 9/2015
2.3 Đối tượng nghiên cứu
Là người cao tuổi (Luật người cao tuổi của Việt Nam năm 2009 quyđịnh người cao tuổi là lớn hơn hoặc bằng 60 tuổi)
2.3.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
Những người có độ tuổi từ 60 trở lên tại thời điểm điều tra và có khảnăng tham gia vào nghiên cứu (trả lời được phỏng vấn và tham gia vào khámrăng miệng)
2.3.2 Tiêu chuẩn loại trừ
* Những người dưới 60 tuổi tại thời điểm điều tra
* Những người từ 60 tuổi trở lên tại thời điểm điều tra nhưng không trảlời được phỏng vấn, đang mắc bệnh toàn thân cấp tính hoặc có rối loạntâm thần tại thời điểm điều tra
* Những người đến sinh sống tạm thời trong thời gian ngắn ở địa bàn điều tra
* Những người không hợp tác để khám hoặc phỏng vấn điều tra
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
p p Z
n 12 /2 ( 12 )
Trang 35n: Cỡ mẫu nghiên cứu cần có.
p: Tỉ lệ người có bệnh ở người cao tuổi, lấy p = 96,7% [2].
: Mức chính xác tương đối, lấy bằng 0,05 của p.
α: Mức ý nghĩa thống kê; lấy α = 0,05, nên Z 1-α/2= 1,96
DE: Hệ số thiết kế mẫu nghiên cứu, (DE = 1,5).
Áp dụng công thức này, tính được cỡ mẫu cần có trong nghiên cứu là
<1350 người ở mỗi thành phố Do nghiên cứu là 1 phần của đề tài cấp bộ vìvậy chúng tôi lấy toàn bộ cỡ mẫu được chọn là 1350 người ở mỗi thành phốvào nghiên cứu
Cách chọn mẫu:
Bước 1: Thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
Bước 2: Mỗi thành phố chọn 30 chùm ngẫu nhiên, mỗi chùm là 1 xã(phường)
Bước 3: Chọn đối tượng nghiên cứu: Lên danh sách người cao tuổitrong xã (phường), chọn ngẫu nhiên đơn khoảng 45 người cao tuổi từ danhsách đó
2.4.3 Kỹ thuật thu thập số liệu
Nghiên cứu sẽ thu thập thông tin qua các kỹ thuật:
* Thăm khám lâm sàng: ở từng đối tượng nghiên cứu, chủ yếu là
quan sát bởi các giác quan bằng nhìn, sờ, gõ răng Thăm khám với sự trợ giúpcủa các dụng cụ thăm khám như gương, kẹp nha khoa, thám châm, khaykhám và sonde khám nha chu do tổ chức y tế thế giới (WHO) quy định
- Sonde khám nha chu (Periodontal Probe) của WHO :
Đây là dụng cụ thăm khám quanh răng đặc biệt của tổ chức y tế thếgiới Mục đích đo độ sâu của túi lợi, phát hiện cao răng dưới lợi, chảy máutrong và sau khi thăm khám
Trang 36Cây thăm dò có tay cầm mảnh, nặng 30 gam, đầu cây thăm dò có hìnhcầu đường kính 0,5 mm, có đánh dấu vạch màu đen, giới hạn dưới của vạchđen cách đầu tận cùng của cây thăm dò 3,5 mm, giới hạn trên của vạch màuđen cách đầu tận cùng của cây thăm dò 5,5 mm
Hình 2.1: Sonde khám nha chu của WHO [42]
Hình 2.2 : Phần đầu của sonde khám nha chu [48]
Cách sử dụng cây thăm dò:
- Cầm cây thăm dò sao cho trục của cây thăm dò song song với trục củarăng được khám, đưa đầu cây thăm dò nhẹ nhàng vào trong túi lợi (giữakhoảng cách răng và lợi) tới độ sâu nhất định cảm giác được
Trang 37- Túi quanh răng:
+ Xác định vị trí của túi quanh răng: Dùng cây thăm dò quanh răng củaWHO thăm ở mặt ngoài và mặt trong của các răng
+ Đo độ sâu túi quanh răng: Là khoảng cách từ bờ của đường viền lợitới đáy của túi quanh răng Thăm túi quanh răng ở các mặt răng để xác định vịtrí của túi đồng thời đo và ghi lại chiều sâu của túi Lấy giá trị đo được ở vị trísâu nhất của túi tương ứng với mỗi mặt răng Mỗi răng đo 2 mặt (trong vàngoài), đo ở tất cả các răng (trừ răng 8)
- Mức mất bám dính quanh răng: Được tính từ chỗ nối men- xươngrăng tới đáy túi quanh răng Đo ở mặt trong và mặt ngoài của răng và lấy sốliệu ở vị trí sâu nhất cho mỗi mặt răng
- Theo dõi hiện tượng chảy máu lợi trong vòng khoảng 10 giây
* Phỏng vấn trực tiếp từng đối tượng theo bộ câu hỏi: được xây
dựng theo cấu trúc có sẵn (phụ lục 1)
2.4.4 Chỉ số nghiên cứu chính
a Thông tin chung của bệnh nhân: giới (nam/nữ), nhóm tuổi (60-64,
65-74 và 75+) [40], hiện sống với ai, điều kiện kinh tế, trình độ học vấn
Trang 38Hình 2.3: Cách dùng sonde khám nha chu [45]
1 Chỉ số nhu cầu điều trị quanh răng cộng đồng CPITN (Community Periodontal Index of Treatment Need) Ainamo và cs năm 1983:
Để đánh giá 3 tiêu chí là: chảy máu lợi, cao răng và túi lợi
Dựa trên cơ sở miệng với hai cung răng được chia thành 6 phần(sextant) lục phân Một vùng chỉ được tính khi còn ≥ 2 răng và các răng nàykhông có chỉ định nhổ
Hình 2.4: Biểu diễn cách chia vùng lục phân [46].
Các răng chỉ định để đánh giá tình trạng viêm nhiễm và mất bám dính quanh răng như sau:
Trang 3917 /16 11 26/ 27
47 /46 31 36/ 37
* Tiêu chuẩn :
Mã số 0: Lành mạnh
Mã số 1: Chảy máu lợi trực tiếp hay ngay sau khi thăm khám
Mã số 2: Cao răng trên và dưới lợi phát hiện được trong khi thăm dònhưng toàn bộ vạch đen của cây thăm dò túi lợi còn nhìn thấy
Mã số 3: Túi lợi sâu 4-5 mm, bờ lợi viền răng nằm trong lòng vạch đencủa cây thăm dò túi lợi
Mã số 4: Túi sâu > 6 mm, vạch đen của cây thăm khám không nhìn thấy Đánh dấu X vào vùng lục phân bị loại (do hiện có ít hơn 2 răng)
Mã số 3
Mã số 2
Mã số 4
Trang 40Hình 2.5: Phân loại CPI [47]
Chú ý: không được lấy cao răng trước khi đi khám
Phân loại nhu cầu điều trị quanh răng (TN):
* III (mức độ 4): điều trị kết hợp I và II, phẫu thuật quanh răng và phục hình
2 OHIP-14:
Bộ câu hỏi đánh giá về ảnh hưởng của các vấn đề răng miệng lên chất lượng cuộc sống gồm 14 câu, bao gồm 7 lĩnh vực: Ảnh hưởng các cơ năng (phát âm, vị giác) (câu 1, câu 2); cảm giác đau (câu 3, câu 4); tâm lý không thoải mái (câu 5, câu 6); hạn chế ăn nhai (câu 7, câu 8); hạn chế tâm lý (câu 9, câu 10); hạn chế giao tiếp
xã hội (câu 11, câu 12); bất lợi về chức năng và tâm lý (câu 13, câu 14) Các khía cạnh được ghi trên thang điểm Likert từ 0 đến 4 như sau: 0= chưa bao giờ; 1= hiếm khi; 2= thỉnh thoảng; 3= thường xuyên; 4= rất thường xuyên [49].