Đề tài: CHÍNH SÁCH ĐỎI MỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ GIÁO DỤC TRONG PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MỞ ĐẦU Để đưa đất nước ta thật sự trở nên giàu mạnh và văn minh,trong xu thế hội nhập nền kinh tế thị trường hiện nay thì Đảng,nhà nước cùng nhân dân ta phải xây dựng cho mình một tiềm lực tổng thể vũng mạnh. Một trong những chiến lược đó là phát triển và mở rộng hệ thống giáo dục đào tạo,đặt biệt là GDĐH nhằm bổi dưỡng nguổn nhân lực có trình độ cho đất nước, đúng như Bác Hổ đã nói:”một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” tư tưởng đó còn được khẳng định qua các kỳ đại hội đảng toàn quốc cũng cho rằng giáo dục là quốc sách Hàng đẩu Đó là tất cả nhũng gì tốt đẹp mà Đảng.nhà nước và nhân dân ta đã tùng tin tưởng.kỳ vọng vào GD sẽ đem lại. đặc biệt trong xu thế phát triển hiện nay nếu không có tri thức và khoa học chúng ta sẽ bị tụt hậu so với các nước khác. Tuy nhiên khi nhũng lợi ích tốt đẹp ấy vẫn đang còn là ước mơ thì người ta lại nhìn thấy nhiều hơn những bất cập, tổn tại làm ảnh hưởng xấu tới GD nước ta hiện nay. Nếu không nói là rơi vào tình trạng bế tắc thì cũng giống như "cành củi giữa dòng nước xoáy”. Nếu như trước đó hàng trăm nghìn thí sinh ngày đêm dùi mài kinh sử với hy vọng được bước vào giảng đường đại học thì ngay sau đó lại cảm thấy chán trường với cảnh học đại học hiện nay. Có rất nhiều sinh viên bỏ bê công việc chính là học tập mà cảm thấy hứng thú với các trò chơi game trên mạng, có những người đủ tỉnh táo thì lại boăn khoăn với câu hỏi: học xong ra trường mình sẽ làm gì? Câu hỏi đó không chỉ là nỗi lo lắng của các sinh viên mà còn là lý do để em chọn làm đề tài này. với mong muốn tất cả chúng ta(dù là sinh viên hay giảng viên, cơ quan QLGD...)cùng bắt tay tháo gỡ những thắc mắc đó đưa GD vào thực tế nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất. Hiện nay đang có một cuộc đối mặt giữa thế hệ GD cũ với thế hệ mới. Có một sự chúng minh âm thầm rằng, trong giai đoạn cũ, nền GD của chúng ta tốt hơn, và những quan chức nhà nước cũ ở lứa tuổi cao, vì không thỏa mãn với phong cách chính trị trong đời sống GD bây giờ, nên kéo nhau ra mở trường tư.Tất cả nhũng chuyện đó cũng mới chỉ giải quyết một cách tạm bợ nhũng vấn đề của GD Việt Nam.Lối thoát để giải quyết vấn đề GD Việt Nam, là phải học nhũng kinh nghiệm mở cửa về kinh tế như cách đây 20 năm. Phải có thái độ của những người như Tổng bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã thể hiện với đầu tư nước ngoài trong giai đoạn trước thì đất nước mới đổi mới được. Vấn đề cần quan tâm với hệ thống GD nước ta hiện nay là rất cấp thiết, không chỉ xét từng bộ phận mà còn phải xét một cách tổng thể. Do đó ở đây em chỉ dùng lại tìm hiểu thực trạng GD đại học hiện nay ở nước ta. Dựa trên cơ sở là các phương pháp luận như tổng hợp.đánh giá.luận chúng và một số phương pháp khác; trong đó có sử dụng phương pháp luận triết học duy vật biện chúng để đánh giá. Nội dung bài viết này chia làm ba chương : chương l.chương 2, chương 3.
Trang 1đó còn được khẳng định qua các kỳ đại hội đảng toàn quốc cũngcho rằng giáo dục là quốc sách Hàng đẩu
Đó là tất cả nhũng gì tốt đẹp mà Đảng.nhà nước và nhândân ta đã tùng tin tưởng.kỳ vọng vào GD sẽ đem lại đặc biệt trong
xu thế phát triển hiện nay nếu không có tri thức và khoa học chúng
ta sẽ bị tụt hậu so với các nước khác
Tuy nhiên khi nhũng lợi ích tốt đẹp ấy vẫn đang còn là ước
mơ thì người ta lại nhìn thấy nhiều hơn những bất cập, tổn tại làmảnh hưởng xấu tới GD nước ta hiện nay Nếu không nói là rơi vào
Trang 2tình trạng bế tắc thì cũng giống như "cành củi giữa dòng nướcxoáy” Nếu như trước đó hàng trăm nghìn thí sinh ngày đêm dùimài kinh sử với hy vọng được bước vào giảng đường đại học thìngay sau đó lại cảm thấy chán trường với cảnh học đại học hiệnnay Có rất nhiều sinh viên bỏ bê công việc chính là học tập màcảm thấy hứng thú với các trò chơi game trên mạng, có nhữngngười đủ tỉnh táo thì lại boăn khoăn với câu hỏi: học xong ratrường mình sẽ làm gì? Câu hỏi đó không chỉ là nỗi lo lắng củacác sinh viên mà còn là lý do để em chọn làm đề tài này với mongmuốn tất cả chúng ta(dù là sinh viên hay giảng viên, cơ quan
QLGD )cùng bắt tay tháo gỡ những thắc mắc đó đưa GD vào
thực tế nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất
Hiện nay đang có một cuộc đối mặt giữa thế hệ GD cũ vớithế hệ mới Có một sự chúng minh âm thầm rằng, trong giai đoạn
cũ, nền GD của chúng ta tốt hơn, và những quan chức nhà nước cũ
ở lứa tuổi cao, vì không thỏa mãn với phong cách chính trị trongđời sống GD bây giờ, nên kéo nhau ra mở trường tư.Tất cả nhũngchuyện đó cũng mới chỉ giải quyết một cách tạm bợ nhũng vấn đềcủa GD Việt Nam.Lối thoát để giải quyết vấn đề GD Việt Nam, làphải học nhũng kinh nghiệm mở cửa về kinh tế như cách đây 20năm Phải có thái độ của những người như Tổng bí thư Đỗ Mười
Trang 3và Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã thể hiện với đầu tư nước ngoàitrong giai đoạn trước thì đất nước mới đổi mới được.
Vấn đề cần quan tâm với hệ thống GD nước ta hiện nay làrất cấp thiết, không chỉ xét từng bộ phận mà còn phải xét một cáchtổng thể Do đó ở đây em chỉ dùng lại tìm hiểu thực trạng GD đạihọc hiện nay ở nước ta Dựa trên cơ sở là các phương pháp luậnnhư tổng hợp.đánh giá.luận chúng và một số phương pháp khác;trong đó có sử dụng phương pháp luận triết học duy vật biệnchúng để đánh giá Nội dung bài viết này chia làm ba chương :chương l.chương 2, chương 3
Trang 4B phần nội dung Chương 1 khái quát tình hình chung.
1 Khái niệm giáo dục
Giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng nhũng tác động có
ý thức từ bên ngoài, góp phẩn đáp úng các nhu cẩu tổn tại và phát triển của con người trong xã hội đương đại
2 Cơ sở lý luận
Với vị trí và vai trò như ở trên thì GD quả là niềm hy vọnglớn lao cho đất nước ta hiện nay, với mục tiêu công nghiệp hóahiện đại hóa đất nước, chúng ta đi lên từ nghèo nàn lạc hậu cóđược thành quả như ngày nay có thể nói là bước phát triển thẩn
kỳ tuy nhiên ở bất cứ xã hội nào , thời đại nào và trên lĩnh vựcnào nó cũng luôn tuồn tại hai mặt: mặ tích cực mà xã hội đó đã
Trang 5làm được va nhũng hạn chế chưa làm được ở nước ta cũng vậyviệc phát triển GD ngày càng hoàn thiện đòi hỏi phát huy thếmạnh và khắc phục khó khăn mới đạt kết quả cao.
Phải khẳng định rằng những gì chúng ta đã làm được trong
GD là rất to lớn vì lợi ích “mười năm trồng cây, trăm năm trồngngười” theo tư tưởng Hồ Chí Minh vĩ đại mà sự nghiệp GD ởnước ta đã nhận được sự quan tâm của toàn Đảng, toàn dân, củađông đảo các sinh viên, giảng viên và các tầng lớp tri thức
Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đang đòi hỏiGDĐH Việt Nam phải nhanh chóng đổi mới cách quản lý để đảmbảo và ngày càng nâng cao chất lượng đào tạo Bài viết này nêutổng quan về quan điểm chất lượng trong
GDĐH tại Việt Nam qua các giai đoạn, hệ thống và cơ chếđảm bảo chất lượng GDĐH hiện nay, cùng các thành quả và cácvấn đề cần giải quyết để tiếp tục đẩy mạnh triển khai đảm bảo chấtlượng GDĐH tại Việt Nam
So với các thời kỳ trước, Giáo dục đại học Việt Nam chođến giữa thập niên 1980 vẫn cơ bản là giáo dục dục tinh hoa.Vìvậy, trong giai đoạn này vấn đề chất lượng giáo dục đại học hầunhư không được đặt ra, trong một thời gian dài, hệ thống giáo dụcđại học Việt Nam đã quan niệm quản lý chất lượng giáo dục đổng
Trang 6nghĩa với việc kiểm soát đầu vào thông qua các kỳ thi tuyển mangtính cạnh tranh cao độ Năm 1986 đánh dấu sự bắt đẩu của côngcuộc đổi mới giáo dục đại học tại Việt Nam, trong đó một trongnhũng mục tiêu quan trọng của việc đổi mới giáo dục đại học tạiViệt Nam là tăng cường “khả năng cung úng” của các cơ sở giáodục, mở rộng tối đa cơ hội tiếp cận cho người học Để đạt mụctiêu này, trong vòng gẩn hai thập niên kể từ khi giáo dục đại họcViệt Nam bắt đẩu đổi mới, rất nhiều biện pháp đã được thực hiện
để đạt được mục tiêu nói trên, mà kết quả là số lượng người họccũng như các cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam đã tăng lênmột cách đột biến
Nhìn chung hệ thống GD nước ta phát khá hoàn thiện với
đủ các loại hình:trường công lập, bán công, nội trú, các học viện,trung tâm giáo dục kết hợp vừa học vừa làm Các hình thức đàotạo cũng phong phú từ chính quy, cao học, tại chức, liên thông,đào tạo từ xa, du học mỗi năm có hàng chục trường được xây
dụng và nâng cấp thu hút hàng trăm nghìn sv theo học.
2.1 vai trò của nhà nước và cơ quan quản lý giáo dục Trước hết phải nói đến vai trò của nhà nước Trong nhữngnăm qua, để thúc đẩy giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượngdạy và học, Nhà nước đã thực hiện xã hội hóa để huy động tiềm
Trang 7năng của các thành phần kinh tế cho giáo dục và đào tạo Ngânsách Nhà nước đầu tư cho giáo dục và đào tạo đã tăng từ 15% năm
2000 lên 18% năm 2005 với cơ cấu tăng chi cho những nhiệm vụtrọng tâm của ngành như đổi mới chương trình, bổi dưỡng giáoviên, tăng cường giáo dục miền núi hàng loạt các chính sách đượcban hành Cụ thể là, Triển khai nghiêm túc trong toàn hệ thốngChỉ thị số 296/CT-TTg ngày 27/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ
và Chương trình hành động của Bộ về đổi mới quản lý giáo dụcđại học giai đoạn 2010-2012 Đến hết ngày 15/8/2010 đã có 311trường đại học, cao đẳng báo cáo tình hình triển khai thực hiệnChỉ thị 296 (đạt tỷ lệ 76,4%), trong đó, có 300 trường (đạt tỷ lệ96,5%) thành lập Ban chỉ đạo đổi mới công tác quản lý giai đoạn2010-2012; có 183 trường (đạt tỷ lệ 58,8%) xây dựng và công bốchuẩn đầu ra ngành đào tạo; có 218 trường (đạt tỷ lệ 70,1%) tổchức xây dụng, rà soát, bổ sung các chỉ số trong chiến lược pháttriến trường giai đoạn 2011-2015, định hướng đến 2020 Đặc biệt
là các chính sách Ưu đãi cho sv Đối với sv có hoàn cảnh khó khănthì có biện pháp hỗ trợ về vốn (vay vốn, miễn giảm học phí), tặnghọc bổng đối với những sv có thành tích học tập tốt, lựa chọnnhững sv Ưu tú gủi đi đào tạo ở nước ngoài Theo báo cáo củaNgân hàng Chính sách xã hội, đến hết tháng 6/2010, đã có
Trang 81.915.774 học sinh, sinh viên của 1.723.782 hộ gia đình được vayvốn, với tổng dư nợ là 23.745,595 tỷ đổng Trong đó, 786.739 sinhviên đại học được vay vốn, dư nợ 10.376,171 tỷ đổng Từ ngày26/8/2009, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định tăng mức cho vay
uu đãi từ 800.000 đ/sinh viên/tháng lên 860.000đ/sinh viên/tháng
2.2 vai trò của các trường
Còn về bản thân các trường để thu hút sv đã liên tục đổi mớitrang thiết bị dạy và học, thay đổi phương pháp dạy, xây dựng cáctrương trình chuẩn quốc tế, liên kết đào tạo với nước ngoài, thuêgiảng viên nước ngoài giỏi về giảng dạy, tuyển chọn đọi ngũ giảngviên có kinh nghiệm, đồng thời triển khai mạnh mẽ chủ trươngđào tạo nhân lực theo nhu cầu xã hội Năm học vừa qua, cáctrường ĐH trong cả nước tiếp tục triển khai tích cực các văn bảnthoả thuận đã ký kết với các các doanh nghiệp, các địa phương đểđào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp, như: Tậpđoàn Than và khoáng sản Việt Nam, tập đoàn Hồng Hải (ĐàiLoan), Intel, Campal Electrronic Company, tập đoàn Dệt
May, các doanh nghiệp đã hỗ trợ kinh phí, trang bị chocác trường cơ sở vật chất, trang thiết bị, tạo điều kiện cho sinhviên thực hành, thực tập và tiếp nhận sinh viên sau tốt nghiệp vềlàm việc tại doanh nghiệp
Trang 92.3 vai trò của gia đình và xã hội.
Đối với gia đình và xã hội cũng rất quan tâm đến đầu tư chogiào dục có nhiều gia đình mặc dù hoàn cảnh khó khăn vẫn cốgắng lo cho 2, thậm chi là ba người con đi học ĐH Có nhiều tổchức, doanh nghiệp đã tổ chức hội chợ việc làm cho sv, tạo điềukiện làm thêm cho sv
2.4 vai trò của sinh viên
về bản thân sv, do được sự quan tâm của Đảng, nhà nước,gia đình và xã hội đã cố gắng học tập tốt và đạt được nhiều kếtquả cao Mới đây khi được tin giáo SƯ Ngô Bảo Châu đã đạt đượcgiải thưởng toán học quốc tế Fields như một hiện tượng làm vinhquang không chỉ cho đất nước mà còn lá tấm gương cho các bạn
sv học tập có rất nhiều sv đã đoạt giải cao trong các kỳ thi olimpicquốc tế.chúng ta đã có bốn thí sinh xuất sắc đều đoạt giải Olimpictoán cũng như các cuộc thi Robocon vừa qua Việt Nam đạt giảinhì(năm 2010)
3 Những khó khăn
Trên đây là nhũng thánh tựu rất đáng tự hào củ chúng ta Vìvậy để nâng cao vị thế GD Việt Nam trên trường quốc tế và nângcao chất lượng đào tạo, đòi hỏi chúng ta không chỉ xem xét khíacạnh đã làm được mà còn phải dũng cảm đối diện với những gì
Trang 10chưa làm được vì đó là vấn đề quan tâm của toàn xã hội hiện nay.Nếu như một vài năm gần đây, cả nước bừng tỉnh với con số hàngtrăm nghìn thí sinh trượt đai học mỗi năm và phát hiện nguyênnhân chính là kết quả của căn bệnh thành tích thì từ đó đến naychúng ta lai quá quen thuộc với nó Hàng ngày chúng ta đã quáquen thuộc khi đề cập đến các căn bệnh trong GD như‘bệnh thànhtích”, “bệnh đối phó”, “bệnh đấu đá”, “bệnh thiếu trung thực”đang tràn lan khắp nơi, ở mọi người kể cả thầy lẫn trò mà hiệntượng quay cóp đang hoành hành, trở thành quốc nạn Đảng vànhà nước ta đã có chủ trương rất đúng đắn: “Giáo dục là quốc sáchhàng đầu” và cũng đã có những biện pháp cụ thể cải cách giáodục Tại sao ngành giáo dục vẫn loay hoay lúng túng, chưa đápúng yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với giáo dục? Tại saokhi ta cởi trói cho nông dân và cho các nhà doanh nghiệp, thì nôngnghiệp và doanh nghiệp phát triển? Tại sao chúng ta không cởitrói cho giáo dục để giáo dục phát triển? nếu như một thầy thuốcthì cần chẩn đoán đúng bệnh và cho đúng thuốc, thuốc đắng giãtật, bệnh nặng đến đâu cũng chữa được Phải thẳng thắn nhìn vào
sự thật nhũng căn bệnh trầm kha của giáo dục Việt Nam nói trên
Và phải biết trị tận căn, mới mong chất lượng giáo dục của ViệtNam được cải thiện
Trang 113.1 Trong quản lý giáo dục.
Thời đại hiện nay, thế kỷ XXI, khoa học quản trị, nhất làquản trị chất lượng trở nên rất hệ trọng cho sự phát triển Sau mộtthời gian đổi mới, tư tưởng bao cấp, duy ý chí, quản trị theo cảmtính vẫn còn tàn dư, khoa học quản trị chất lượng chưa thật sự đivào nền nếp đời sống quản trị giáo dục từ cấp Bộ xuống đến cấp
cơ sở giáo dục Nếp sống văn hóa chất lượng chưa được hìnhthành Lãnh đạo Bộ cũng như cấp trường vẫn chưa thật sự quantâm đến khuyến cáo của các chuyên gia và thực sự chưa xây dựngđược một đội ngũ chuyên gia hùng hậu có chuyên môn cao, cókhả năng thuyết phục cao, nhất là thích úng với hoàn cảnh đổimới, vẫn thường quyết định theo cảm tính hoặc do duy ý chí Nhưtại Thái Lan, đối với các trường công lập thì lo quản lý chặt chẽ vềtài chánh, chuyên môn thì để trường hoàn toàn lo Đối với các đạihọc tư, nhà nước lại không quản lý tài chánh, quản lý nhân sự lãnhđạo, song lại quản lý rất chặt chẽ về chuyên môn Khi muốn mởmột ngành mới, nhà nước quy định cứ 100 sinh viên thì phải có 3tiến sĩ, 3 thạc sĩ, 1 cử nhân Tất cả các trường đều phải tuân thủ,thượng tôn luật pháp
Các khâu định hướng, mục tiêu, kế hoạch, thanh tra, sửdụng, quản lý nhân sự về chất lượng đào tạo còn nhiều hạn chế,
Trang 12bất cập, thiếu nhất quán ổn định Tiêu chí chuyên môn, hiệu quảchưa thật sự được coi trọng.
Không lấy sinh viên làm trung tâm trong quá trình dạy học.Khi giảng viên áp dụng phương pháp chủ động, lại gặp quá nhiềukhó khăn do hạn chế phương tiện thiết bị giảng dạy hay thư việncòn rất hạn chế hoặc sinh viên lại rất thụ động, có thói quen lườisuy nghĩ, không làm theo hướng dẫn của giảng viên
.Các trường đại học vẫn chưa thật sự quan tâm đến thựchành, thực tập
Bài tập càng nhiều, kỹ năng càng được rèn luyện, tính thưchành, thực tiễn càng cao Ngay giáo trình cũng thiếu vắng các bàitập Thiếu hẳn một hệ thống trợ giảng (giảng viên) hay trợ giáo,
Trang 13kèm cặp (tutoring, sinh viên giỏi đàn anh phụ trách, được cấp tiềnbổi dưỡng tượng trưng từng giờ hay tùng buổi phụ việc).
Các trường đại học ở Việt Nam chưa quan tâm đến phươngpháp học nhóm, các thư viện chưa bố trí những phòng học nhóm,chưa có trường nào bố trí rất nhiều bàn ghế để cho bất cứ sinhviên lúc chưa đến giờ học hay giờ trống đến ngồi gặp gỡ nhau.Các giảng viên cũng không bắt buộc những bài tập làm theonhóm, chấm điểm theo nhóm
3.3 Đội ngũ giảng viên
Nếu học vị tiến sĩ là điều kiện chuẩn có khả năng dạy đạihọc thì hiện nay số lượng giảng viên có học vị này còn quá thấp sovới khu vực ASEAN cũng như các nước phát triển trên thế giới
Dĩ nhiên cũng có các trường hợp ngoại lệ chỉ có bằng cử nhânnhung vẫn là người giảng viên đại học giỏi, đầu ngành, đượcphong hàm giáo sư hay phó giáo sư Đối với các nước trên thếgiới, người có học vị cử nhân chỉ có thể làm trợ giảng mà khôngđược phép dạy lý thuyết Điều này ta chưa làm được, rõ ràng đãphản ánh chất lượng yếu kém của đội ngũ giảng viên đại học ởViệt Nam
Đội ngũ giảng viên đại học tại Việt Nam còn rất yếu kém vềnghiên cúli sáng tạo, hiện chỉ mang tính đối phó, mang tính phong
Trang 14trào, làm lấy lệ, rất ít người say mê nghiên cứu và giành nhiều thờigian cho công tác nghiên cúli ngay cả những người có khả năngnghiên cứu
Các giảng viên phải lo kiếm sống, nên việc lo tròn tráchnhiệm của một người giảng viên bình thường đã là điều rất khó,chứ chưa thể nghĩ tới trách nhiệm nghiên cứu hay đi xa hơn nữa làhoàn thành nhiệm vụ xuất sắc ngay như nhũng người có tinh thẩntrách nhiệm cao nhất
Hiện tượng đấu đá không nhũng phổ biến trong giới lãnhđạo để tranh quyền lực mà ngay trong các cán bộ giảng viên bìnhthường để tranh giành các danh hiệu thi đua, đã tạo ra một môitrường làm việc không được lành mạnh, làm sao công tác giảngdạy và nghiên cúu có thực chất
3.4 Sinh viên
Rất ít các sv chọn học được ngành học và trường đại học
thích hợp với sở trường và sở thích đích thực của mình và trường
cũng không chọn được sinh viên mà mình muốn đào tạo sv chỉ
học đối phó, cốt lấy điểm, học cho qua, trở thành bệnh thành tích,
bệnh hình thức, thiếu thực chất ngay cả sv khá giỏi cũng sẵn
sàng quay cóp nhất là đối với những môn học khó nhớ, lại quá
Trang 15nhiều giờ học, mà không phải ngành nào cũng như nhau khiến sv
không thích học
Theo PGS.TS Nguyễn Công Khanh, mỗi sv lớn lên trong
môi trường văn hoá, xã hội khác nhau, hình thành những thóiquen, cách suy nghĩ, các năng lực nhận thức, hứng thú cũng khácnhau Điều này tạo nên sự đa dạng và sự phong
Có 55,9% sv thường suy ngẫm để tìm ra các phương pháp
học phù hợp và hiệu quả khi học các loại tài liệu khác tuỳ theomục đích và hoàn cảnh cụ thể
Có 68,2% sv thường suy nghĩ về cách học, cách thức tự
quản lí việc học của mình sao cho hiệu quả
Có 50,9% sv cho rằng mình tự học hiệu quả nhờ biết kết
hợp các phương pháp học khác nhau phù hợp với nhiệm vụ họctập cụ thể
Nhưng chỉ có 29,2% sv cho rằng mình đã lập thời gian biểu học tập và cố gắng thực hiện đúng thời gian biểu; có 36% sv được
Trang 16khảo sát cho rằng mình đã tìm được những phương pháp học phùhợp với đặc điểm nhận thức của cá nhân và tất nhiên 64% sinhviên còn lại là mơ hổ về phương pháp học.
về tinh thẩn tích cực và năng động của sinh viên, ôngKhanh cũng cảm thấy rất đáng tiếc khi có tới 36,1% biểu lộ phongcách học thụ động: ngại nêu thắc mắc, ngại nói ra ý tưởng riêng
của mình trong các cuộc thảo luận trên lớp; Có 22,9% sv chỉ thích
giáo viên giảng cho mình nghe hơn là chủ động hỏi, nêu thắc mắc
(chưa kể 42,7% sv cũng có quan điểm gần gần như vậy);
41,1% cho rằng mình học chủ yếu từ vở ghi, giáo trình và ít
Hơn 40% cho rằng mình không có năng lực tự học;
Gần 70% sv cho rằng mình không có năng lực tự nghiên
cứu;
việc nắm kiến thức hơn là phát triển các năng lực tư
Gẩn 55% sv được hỏi cho rằng mình không thực sự hứng
thú học tập
Trang 17sv yếu nhất ở các nhóm: Kĩ năng thuyết trình, kĩ năng sử dụng máy vi tính, kĩ năng viết báo cáo tham luận, kĩ năng vận
dụng vào thực tế
sv mạnh hơn ở các nhóm kĩ năng: Phân tích và giải thích,
giải quyết vấn đề, nghe ghi và hiểu bài giảng (PGS.TS NguyễnCông Khanh)
3.5 Trương trình đào tạo
Định hướng, mục tiêu, phương pháp dạy học và phươngthức lượng giá hẩu như không thấy ghi trong chương trình hoặc rất
sơ sài, phản ảnh sự thiếu chuyên môn trong việc soạn các chươngtrình dạy học, chưa được thiết thực, đáp úng được nhu cầu của xãhội trong thời kỳ đổi mới, hội nhập vào thế giới
Cấu trúc chương trình nhiều điểm chưa hợp lý, chiếm quánhiều thời gian lên lớp về lý thuyết, rất ít giờ bài tập, rất ít giờhoạt động ngoại khoá tự học, tự nghiên cứu Nhiều nội dungchương trình lạc hậu hay nặng nề, không còn phù hợp, tạo sự chánnản cho sinh viên, khiến sinh viên không đi sâu vào ngành học,nhất là năm đầu tiên có quá ít môn của ngành học
Cơ sở vật chất đại học ở Việt Nam kể cả công lập và dânlập đều rất yếu kém, từ quy mô đến chất lượng, tính hiệu quả phục
vụ sự giảng dạy cũng như học tập, nghiên cúu , nhất là các
Trang 18trường đại học dân lập thì hầu như chưa có, bởi một vài trường córổi chỉ là tạm bợ, chưa có thể là quy mô hay chất lượng của mộttrường đại học, nếu chưa muốn nói chưa được là một trường trunghọc phổ thông trung bình Cũng có thể chỉ ở Việt Nam mới xảy ratình trạng cơ sở vật chất trường đại học như vậy.
Chương 2 Khái quát tình hình chung.
đề tài KH&CN trọng điểm cấp Bộ Đã hỗ trợ gẩn 1.300 NCSthông qua các đề tài NCKH cấp cơ sở có nội dung gắn với luận án
Trang 19tiến sĩ từ nguồn kinh phí sự nghiệp KHCN Đã có hơn 960 bài báo
và CTKH đăng trên các tạp chí quốc tế, gẩn 4.100 bài báo, côngtrình đăng trên các tạp chí khoa học trong nước
Một thành tựu đáng kể đến là có rất nhiều sv Việt Nam duhọc ở nước ngoài và có rất nhiều người tốt nghiệp loại xuất sắc,nhiều CTNC được đánh giá rất cao đưa GD Việt Nam sánh ngangvới thế giới, theo thống kê của hội du học thì số sv Việt Nam duhọc tại mỹ đứng thứ 9 thế giới, dưới đây là thống kê NCKH củamột số nước trong khu vực:
Bức tranh NCKH của 11 nước Đông Á (Hình 1) cho thấy
không có bất cứ lý do nào để khước từ CBQT nếu chúng ta muốnđất nước sánh vai với các nước