MỤC LỤC CHƯƠNG I : NGHIÊN CỨU MẪU HÌNH TRANG PHỤC CÁC DÂN TỘC MIỀN NÚI PHÍA BẮC VÀ VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 06 1.1.NGHIÊN CỨU MẪU HÌNH TRANG PHỤC PHỤ NỮ DÂN TỘC KINH 1.1.1.VÀI NÉT SƠ LƯỢ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
-o0o -
GIÁO TRÌNH
NGHIÊN CỨU CÁC TRANG PHỤC
DÂN TỘC VIỆT NAM
Chủ biên: PGS.TS Nguyễn Lan Hương Giảng viên: ThS Trần Hữu Tiến
LƯU HÀNH NỘI BỘ, NĂM 2018
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG I : NGHIÊN CỨU MẪU HÌNH TRANG PHỤC CÁC DÂN TỘC MIỀN NÚI PHÍA BẮC VÀ VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 06 1.1.NGHIÊN CỨU MẪU HÌNH TRANG PHỤC PHỤ NỮ DÂN TỘC KINH
1.1.1.VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ TRANG PHỤC, TRANG ĐIỂM CỦA PHỤ NỮ VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
a.Trang phục thời kỳ Hùng Vương 09 b.Trang phục phụ nữ vùng đồng bằng bắc bộ thời phong kiến 11 c.Trang phục phụ nữ vùng đồng bằng bắc bộ thời kỳ nhà Nguyễn 32 d.Trang phục phụ nữ vùng đồng bằng Bắc bộ thời kỳ Pháp thuộc 33 e.Trang phục phụ nữ vùng đồng bằng Bắc bộ từ năm 1954 tới nay 35 1.1.2 NGHIÊN CỨU MẪU HÌNH TRANG PHỤC PHỤ NỮ DÂN TỘC
1.1.3 NGHIÊN CỨU MẪU HÌNH TRANG PHỤC PHỤ NỮ DÂN TỘC THÁI 48 1.1.4 NGHIÊN CỨU MẪU HÌNH TRANG PHỤC PHỤ NỮ DÂN TỘC TÀY - NÙNG
2.2 NGHIÊN CỨU MẪU HÌNH TRANG PHỤC PHỤ NỮ CƠ TU 123
Trang 3CÂU HỎI PHẦN NGHIÊN CỨU MẪU HÌNH TRANG PHỤC PHỤ NỮ CÁC DÂN TỘC VÙNG MIỀN NÚI, TRUNG DU, ĐỒNG BẰNG TRUNG BỘ 129
CHƯƠNG III NGHIÊN CỨU MẪU HÌNH TRANG PHỤC PHỤ NỮ CÁC DÂN TỘC MIỀN NÚI, TRUNG DU, ĐỒNG BẰNG NAM BỘ (TRANG PHỤC
3.1 NGHIÊN CỨU MẪU HÌNH TRANG PHỤC DÂN TỘC BA NA
3.2 NGHIÊN CỨU TRANG PHỤC DÂN TỘC GIA RAI 134 3.3 NGHIÊN CỨU TRANG PHỤC NGƯỜI Ê ĐÊ 139 CÂU HỎI PHẦN NGHIÊN CỨU MẪU HÌNH TRANG PHỤC CÁC DÂN TỘC VÙNG MIỀN NÚI, TRUNG DU, ĐỒNG BẰNG NAM BỘ (TRANG PHỤC TÂY
DANH MỤC THÀNH PHẦN CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM 148
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong bất kỳ một dân tộc nào trên thế giới, người phụ nữ bao giờ cũng là người biết tự làm đẹp cho bản thân, và cũng là người luôn luôn giàu óc sáng tạo, cải tiến và phát triển để đi đến hoàn thiện ngôn ngữ ăn mặc cho dân tộc mình Từ việc tìm kiếm, trổng trọt, chăn nuôi để tạo ra nguyên liệu, đến việc chế ra các loại sợi, dệt thành vải, cắt may, thêu thùa ,cộng với sự khéo léo, cần mẫn, kết hợp với óc thẩm mỹ của mình ngẫu nhiên họ đã đóng góp cho nhân loại cả một kho tàng quý báu về trang phục
Trang phục truyền thống, không phải tự nó sinh ra mà nó được hình thành trên cơ sở thừa kế, là những giá trị văn hoá mang tính cộng đổng ổn định tương đối được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác Những giá trị quý báu
đó vừa là kết quả, vừa là cơ sở, và là động lực phát triển nghệ thuật trang phục trong quá trình dựng nước, giữ nước, và giao lưu văn hoá suốt chiều dài lịch sử dân tộc
Trang phục truyền thống là một bộ phận cấu thành trong nền văn hoá của mỗi dân tộc, mang những nét đặc trũng phong phú và đa dạng, như miếng ăn (ẩm thực), nếp nhà ở (kiến trúc), đến những lề thói làm ăn, đi lại, vui chơi ca hát, hội hè, thờ cúng, tang ma, cưới xin của mỗi dân tộc trên trái đất
Hầu như các dân tộc trên toàn thế giới đều coi các phong tục tập quán thuộc văn hoá ứng xử, họ coi phong tục tập quán là những thói quen, những lề lối sinh hoạt, bao gổm cả tín ngưỡng dân gian được hình thành trong lịch sử và trở thành truyền thống của mỗi tộc người Dựa vào đó mà ta có thể phân biệt được giữa dân tộc này với dân tộc khác Trong đó, trang phục (văn hoá mặc), tiếng nói (ngôn ngữ) là nổi rõ, điều mà ta có thể nhận biết, phân biệt được giữa dân tộc nọ với dân tộc kia
Nói đến văn hoá mặc là nói đến bản sắc dân tộc, vì mỗi dân tộc đều hình thành cho mình một cách ăn mặc riêng, một sắc thái riêng mà không có dân tộc nào giống dân tộc nào Các tộc người khác nhau đó sớm tìm cho mình cách thức riêng về ăn mặc, từ kiểu cách may đến hình thức trang trí, màu sắc của trang phục đều có sự khác biệt Thông qua các bộ trang phục người ta có thể
Trang 5nhận biết được người đó thuộc dân tộc nào, sống ở đâu, làm nghề gì, giới tính, tôn giáo, địa vị xã hội ra sao
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với tổng số 54 dân tộc Dân tộc Việt (Kinh) chiếm 87% dân số cả nước, sống tập trung chủ yếu trong vùng châu thổ sông Hồng, các đồng bằng ven biển miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long và các thành phố lớn 53 dân tộc khác, tổng cộng hơn 8 triệu người, phân bổ chủ yếu trên các vùng núi ( chiếm 2/3 lãnh thổ ) trải dài từ Bắc vào Nam Trong số các dân tộc thiểu số, đông nhất là Tày, Thái, Mường, Hoa, Khơ-me, Nùng mỗi dân tộc trên dưới một triệu người; nhỏ nhất là Brau, Romam, O-du chỉ vài trăm người
Dân tộc Việt ngay từ thế kỷ thứ 10 đã thiết lập được một nền quân chủ tập trung Người Chăm đã từng sớm có một nền văn hoá rực rỡ Người Tày, Nùng
và Khơ-me đã đạt đến một giai đoạn phát triển cao với sự xuất hiện các tầng lớp xã hội khác nhau Người Mường, H’mông, Dao, Thái tập trung dưới quyền giám hộ của tù trưởng địa phương Nhiều dân tộc còn chia thành đẳng cấp, đặc biệt là các bộ tộc sống trên các vùng núi
Một số dân tộc ít người đã biết các kỹ thuật canh tác khá thành thục Họ đã sớm canh tác lúa trên ruộng ngập nước và tiến hành tưới tiêu Số khác tiến hành săn bắn, đánh cá, hái lượm và sống bán du mục Mỗi nhóm dân tộc đều
có nền văn hoá riêng biệt, giàu có và độc đáo Tín ngưỡng và tôn giáo của các dân tộc cũng hết sức khác biệt
Cùng chung sống lâu đời trên một đất nước, các dân tộc có truyền thống yêu nước, đoàn kết giúp đỡ nhau trong chinh phục thiên nhiên và đấu tranh xã hội, suốt quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng phát triển đất nước.Lịch sử chinh phục thiên nhiên là bài ca hùng tráng, thể hiện sự sáng tạo
và sức sống mảnh liệt, vượt lên mọi trở ngại thích ứng với điều kiện tự nhiên
để sản xuất, tồn tại và phát triển của từng dân tộc Với điều kiện địa lý tự nhiên (địa mạo, đất đai, khí hậu ) khác nhau, các dân tộc đã tìm ra phương thức ứng xử thiên nhiên khác nhau Ở đồng bằng và trung du, các dân tộc làm
Trang 6ruộng, cấy lúa nước, dựng nên nền văn hóa xóm làng với trung tâm là đình làng, giếng nước cây đa, bao bọc bởi lũy tre xanh gai góc đầy sức sống dẻo dai Đồng bằng, nghề nông, xóm làng là nguồn cảm hứng, là "bột" của những tấm áo mớ ba mớ bảy, của dải yếm đào cùng nón quai thao, của làn điệu dân
ca quan họ khoan thai mượt mà và của khúc dân ca Nam Bộ ngân dài chan chứa sự mênh mông của đồng bằng sông Cửu Long ở vùng thấp của miền núi, các dân tộc trồng lúa nước kết hợp sản xuất trên khô để trồng lúa nương, trồng ngô, bước đầu trồng các cây công nghiệp lâu năm (cây hồi, cây quế ), thay thế cho rừng tự nhiên Họ sống trên những nếp nhà sàn, mặc quần, váy,
áo màu chàm với nhiều mô típ hoa văn mô phỏng hoa rừng, thú rừng Đồng bào có tục uống rượu cần thể hiện tình cảm cộng đồng sâu sắc Người uống ngây ngất bởi hơi men và đắm say bởi tình người
Ở vùng cao Việt Bắc, Tây Nguyên, đồng bào chọn phương thức phát rừng làm rẫy - là cách ứng xử thiên nhiên ở thời đại tiền công nghiệp Vùng cao, khí hậu á nhiệt đới, việc trồng trọt chủ yếu thực hiện trong mùa hè thu Để tranh thủ thời tiết và quay vòng đất, từ ngàn xa người vùng cao đã phát triển xen canh gối vụ, vừa tăng thu nhập vừa bảo vệ đất khỏi bị xói mòn bởi những cơn mưa rào mùa hạ Bàn tay khéo léo và tâm hồn thẩm mỹ của các cô gái đã tạo
ra những bộ trang phục: váy, áo với những hoa văn sặc sỡ hài hòa về màu sắc, đa dạng về mô típ, mềm mại về kiểu dáng, thuận cho lao động trên nương, tiện cho việc đi lại trên đường đèo dốc Núi rừng hoang sơ cùng với phương thức canh tác lạc hậu là mảnh đất phát sinh và phát triển các lễ nghi đầy tính thần bí, huyền ảo Hầu hết người dân Tây Nguyên đều có tục đâm trâu làm lễ cúng Giàng (trời), cầu xin sự phù hộ của Giàng cho người sức khỏe, cho gia súc và cho mùa màng bội thu Đây cũng là vùng tiềm ẩn nhiều truyện thần thoại, nhiều sử thi anh hùng mà giá trị của nó có thể so sánh được các truyện thần thoại của Trung Quốc, Ân Độ nhưng chưa được sưu tầm và nghiên cứu đầy đủ Đồng bào là chủ nhân sáng tạo ra những bộ đàn đá, đàn T'rưng, đàn Krông pút những bộ cồng chiêng và những điệu múa tập thể dân dã, khỏe khoắn kết bó cộng đồng Dọc theo bờ biển từ Bắc vào Nam, các dân tộc sống
Trang 7bằng nghề chài lưới Cứ sáng sáng đoàn thuyền của người dân giăng buồm ra khơi, chiều lại quay về lộng Cuộc sống ở đây cũng nhộn nhịp, khẩn trương như nông dân trên đồng ruộng ngày mùa Ở khắp nơi, con người hòa nhập vào thiên nhiên, thiên nhiên cũng biết chiều lòng người, không phụ công sức người Sống trên mảnh đất Đông Dương - nơi cửa ngõ nối Đông Nam Á lục địa với Đông Nam Á hải đảo, Việt Nam là nơi giao lưu của các nền văn hóa trong khu vực ở đây có đủ 3 ngữ hệ lớn trong khu vực Đông Nam Á, ngữ hệ Nam đảo và ngữ hệ Hán - Tạng
Mặc dù tiếng nói của các dân tộc thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau, song do các dân tộc sống rất xen kẽ với nhau nên một dân tộc thường biết tiếng các dân tộc có quan hệ hàng ngày, và dù sống xen kẽ với nhau, giao lưu văn hóa với nhau, nhưng các dân tộc vẫn lưu giữ được bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình ở đây cái đa dạng của văn hóa các dân tộc được thống nhất trong qui luật chung - qui luật phát triển đi lên của đất nước, như cái riêng thống nhất trong cái chung của cặp phạm trù triết học
Giáo trình giúp sinh viên hiểu rõ tầm quan trọng của việc nghiên cứu mẫu hình trang phục phụ nữ các dân tộc Hiểu được phong tục tập quán, tín ngưỡng và tôn giáo của mỗi dân tộc với các vùng miền địa lý khác nhau
Nắm vững được đặc điểm trang phục của từng dân tộc, có khả năng phân tích những nét khác biệt giữa các tộc người khác nhau
Khai thác tiềm ẩn của trang phục từng dân tộc, nắm bắt được những đường nét thiết kế, hình thức ăn mặc thông qua nghiên cứu trang phục truyền thống, giúp sinh viên tìm hiểu gọt giũa, chắt lọc, … vẻ đẹp trang phục truyền thống dân tộc, kế thừa và phát triển trang phục theo xu thế hiện đại
Sinh viên có khả năng nhận biết được mục đích yêu cầu của môn học, hỗ trợ kiến thức hiểu biết về đặc điểm, hình thức mặc của từng dân tộc Hình thành cho sinh viên khả năng tự tìm tòi nghiên cứu
Trang 8
CHƯƠNG I : NGHIÊN CỨU MẪU HÌNH TRANG PHỤC CÁC DÂN TỘC MIỀN NÚI PHÍA BẮC VÀ VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
1.1 NGHIÊN CỨU MẪU HÌNH TRANG PHỤC PHỤ NỮ DÂN TỘC KINH
1.1.1.VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ TRANG PHỤC, TRANG ĐIỂM CỦA PHỤ
NỮ VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
Việt Nam bao gồm nhiều dân tộc, trong đó người Việt (Dân tộc Kinh) có
số dân đông nhất và là một trong những tộc người có gốc tích lâu đời trên dải
Trang 9đất này Mỗi dân tộc mang đậm nét một bản sắc văn hóa độc đáo Do đó, trang phục nói chung của từng tộc người nói riêng thật phong phú đa dạng và đầy tính năng qua từng thời kỳ của lịch sử Việt Nam từ trước đến ngày nay Thông qua cái nhìn lịch đại kết hợp với đồng đại, ta thấy trang phục người Việt, từ dạng kiểu đơn sơ, giản dị, đẹp như tâm hồn người Việt cổ tiếp tục phát triển, hài hòa với môi trường khắc nghiệt của thiên nhiên nhiệt đới, khỏe khoắn với bao cuộc chiến tranh chống ngoại xâm liên miên Trang phục người Việt là một trong những gì thân thiết nhất đối với con người Việt Nam Sự gắn bó có tâm hồn này chính là điều xuất phát từ những trái tim yêu thương quê hương đất nước
Trang phục là một nhu cầu vật chất quan trọng trong đời sống của nhân dân
ta Với tính chất thực dụng, nó là một sản phẩm; dưới góc độ thẩm mỹ, nó lại là một tác phẩm Chức năng cơ bản trước nhất của nó là bảo vệ con người Về mặt này, trang phục dân tộc Việt đã đạt được hiệu quả cao
Nhiều người chỉ thấy trang phục là đối tượng của thị giác nên đòi hỏi nó phải biểu hiện được những chuẩn mực cho sự nhìn Để đáp ứng yêu cầu này, trong suốt quá trình lịch sử, trang phục người Việt đã có sự chọn lọc về hình dáng, kiểu thức, màu sắc, hoa văn trang trí, chất liệu Nhưng nhìn qua bộ trang phục của người Việt từ đầu thế kỷ XX trở về trước, chúng ta thấy rõ ngoài việc đáp ứng yêu cầu nhìn, còn có cả nghe, mùi vị và tất nhiên dẫn đến cả xúc cảm nữa Có thể nhắc đến trang phục của người Việt cổ ở Làng Vạc vào thời dựng nước với những âm vang của chất liệu đồng thau cho đến bộ xà tích bạc đầu thế kỷ này Phải chăng, tiếng sột soạt của bộ áo váy mới cũng là sự dụng tâm thích thú của người mặc Bên cạnh tầng lớp giàu sang, quý phái biết sử dụng các loại hương liệu đắt tiền để ướp quần áo, nhân dân thường dùng những thứ phổ biến như: hạt mùi để bọc áo khăn; lá mùi, lá sả để gội đầu, hoa bưởi, hoa nhài để cài tóc Việc chọn lựa các chất để nhuộm màu, cũng tạo cho áo quần những mùi vị nhất định
Tính đa dạng của trang phục người Việt thể hiện rõ nhất qua từng địa phương Có khi tính đa dạng này hoàn toàn do kỹ thuật Nhân dân lao động với
Trang 10áo quần bằng vải, thường hay mặc trước rồi mới nhuộm sau Do thị hiếu và cũng vì lý do khách quan để cho bền màu, người ta thường nhuộm lót trước: lót xanh cho màu đen, lót đỏ cho màu gụ v.v Vì thế tuy chỉ cùng một bộ, nhưng Đông Xuân, ta gặp nhiều người mặc màu cháo lòng, màu xanh, màu gạch non đến Hè Thu lại là những áo quần màu nâu, màu đen, màu gụ v.v
Từ khi giành lại được quyền độc lập, tự chủ vào thế kỷ X, các vương triều phong kiến đã lưu ý đến một sự thống nhất trong đa dạng, với những quy chế, thể lệ Tính thống nhất này cũng có thể nhận thức được qua tính giai cấp trên trang phục, ở từng mẫu áo, kiểu quần, màu sắc, hoa văn, trang điểm Trang phục thể hiện tôn ti, trật tự phong kiến, ngăn cấm mọi sự vi phạm Ngày nay, trang phục của Quân đội nhân dân đã "vượt khung" khỏi phạm vi của một tộc người cụ thể, trở thành một sự thống nhất Việt Nam
Trong nước, thời phong kiến, đấu tranh với giai cấp thống trị, bản lĩnh của nhân dân ta cũng theo một xu thế ấy Ví dụ như chuyện cấm mặc váy của Minh Mạng Về lý mà nói, cái váy thời Hùng Vương của người Việt cổ đã rất đẹp Cái quần là một mẫu trang phục ngoại lai, chúng ta tiếp thu được từ các tộc du mục Trong việc này, ngoài vấn đề chuyên chế và dân chủ, còn có chuyện tính bản địa và ngoại lai Gần đây một thời kỳ, có cuộc vận động, hô hào phụ nữ nên mặc váy Giới phụ nữ đã không chấp nhận Nhưng ở nam giới, ngày nay hầu hết đều mặc áo quần mà ta vẫn quen gọi là Âu phục Đây là một dẫn chứng cho thấy ở người Việt không hề có sự bài ngoại mù quáng Họ có thể sẵn sàng tiếp thu những mẫu mới từ bên ngoài một cách có ý thức và có sáng tạo để tồn tại lâu dài hoặc chỉ với một thời gian nhất định, nhưng đều được Việt hóa nhanh hoặc dần dần từng bước
Trang phục cũng là một hiện tượng văn hóa về mặt vật chất, hay văn hóa vật chất Các chương trên đã cho thấy những điều kiện kinh tế, xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với trang phục người Việt Trước kia, bên cạnh nghề trồng lúa nước, nghề trồng dâu, nuôi tằm là hoạt động sản xuất cơ bản trong đời sống của xã hội người Việt Vào những thế kỷ đầu Công Nguyên, nhiều người nước ngoài tiếp xúc với Lạc Việt đã phải thốt lên rằng: cây bông ở đây
Trang 11có thể giải quyết được áo chăn cho thiên hạ Dĩ nhiên cách nói có phần khoa trương nhưng đã lột tả được sự giàu có về nguyên liệu quan trọng này Về hàng tơ, chưa kể các loại trong Cung Đình, cho đến thế kỷ XVIII, chúng ta thống kê được gần 30 loại mặt hàng, mỗi loại còn có nhiều kiểu khác nhau, ví
dụ như gấm, có gấm the, gấm láng, gấm mây, gấm hoa
Dân tộc Việt có câu "Đói cho sạch, rách cho thơm" vừa là để nhắc nhở những yêu cầu cụ thể cho cung cách ăn mặc, nhưng đồng thời còn có mục đích giáo dục một phẩm chất thanh cao, một nếp sống đạo đức, dù trong trường hợp nghèo, đói Chúng ta không hẹp hòi, bảo thủ trước sự phát triển, thay đổi các kiểu cách trang phục lành mạnh, nhất là trong thanh niên, nhưng không thể công nhận những hiện tượng may mặc đua đòi, chạy theo "mốt" lố lăng, phô trương, xa hoa, lãng phí xa rời truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Đồng thời cũng cần phản đối hiện tượng cho rằng nền kinh tế của ta chưa phát triển cao, nên có thể ăn mặc tùy tiện, cẩu thả, thiếu thẩm mỹ Từ đó làm giảm giá trị cao đẹp của con người và còn có thể nảy sinh những hậu quả xấu về nhiều mặt Vì trang phục, trong những chừng mực nhất định, còn là phương tiện rất đắc lực của các quan điểm tư tưởng, các ý đồ chính trị, không chỉ thuộc sở thích hay thị hiếu của cá nhân mà đây là cả một vấn đề văn hóa, một vấn đề xã hội, có tác dụng góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội, góp phần xây dựng con người mới hoặc ngược lại
Do đó, trang phục, là đối tượng của thị giác, một trong hai giác quan mà Các Mác cho rằng nó dễ cảm nhận cái đẹp một cách tinh tế, phải là một biểu hiện bên ngoài của một nội dung bên trong mang đầy đủ những chuẩn mực lành mạnh, hài hòa, thanh lịch, thực tiễn
Từ việc tìm hiểu trang phục của những người Việt cổ đến trang phục dân tộc Việt ngày nay và trang phục của các tổ chức chung trong xã hội Việt Nam, chúng ta thấy rõ sự tiếp nối vững vàng giữa truyền thống và hiện đại, trong điều kiện giao lưu văn hóa đa dạng và thường xuyên đã có những sự sáng tạo nhuần nhị và cởi mở giữa tính dân tộc và tính quốc tế Ngày nay, tuy chưa có nhiều cuộc vận động cụ thể, sát sao và thường xuyên về trang phục dân tộc
Trang 12Việt, cũng như nhân dân Việt Nam nói chung, nhưng từ các nghị quyết lớn về kinh tế và văn hóa của Đảng, chúng ta có thể nhận thức được nội dung và tính chất của những điều mà chúng ta đang quan tâm nằm trong phương hướng chung về sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Nước ta là một nước đa dân tộc (54 dân tộc) cùng chung sống trên một dải đất từ bắc vào nam, từ vùng đổng bằng, ven biển, đến những vùng miền núi hoang vu dọc theo biên giới của đất nước Mỗi dân tộc lại có nét riêng biệt, mang đậm đà sắc thái của dân tộc mình, trong đó, đường nét, màu sắc của trang phục cũng đủ để cho chúng ta thấy rõ sự giàu có, phong phú, và đa dạng, giống như một rừng hoa đầy sắc màu
Dân tộc Kinh là một trong 54 dân tộc Việt nam và cũng là dân tộc chiếm số đông hơn cả, phần đông dân sống ở vùng đổng bằng Bắc, Trung, Nam bộ và các đô thị Trang phục, nếp sống, văn hoá của người Kinh còn giữ lại nhiều nét của người Việt cổ (Thời Vua Hùng)
a Trang phục thời kỳ Hùng Vương
Thật khó để có những tư liệu chi tiết về hình thức, kiểu cách ăn mặc vào thời kỳ này Ta chỉ có thể hình dung, mường tượng thông qua những di sản văn hoá như : Trống đổng, tượng đổng, dụng cụ sinh hoạt bằng đổng, đổ gốm với những hình vẽ trang trí hình ảnh chàng trai, cô gái trong các bộ trang phục được miêu tả trên các cổ vật của người xưa để lại Những kiểu váy may hình ống hay mảnh vải quấn quanh thân hình người phụ nữ, với những hoạ tiết trang trí đơn giản như hình chấm gạo, xen lẫn với những vạch song song áo cánh xẻ ngực mặc ngoài, không cài khuy, bên trong là chiếc yếm cổ tròn Những nét xưa đã giúp cho người ta liên tưởng đến cách thức ăn mặc của người Mường, người Kinh sau này
Trang 13Hình thức vấn tóc, đội mũ của phụ nữ thời Hùng Vương
Trang phục thường ngày
Trang phục lễ hội
Theo trình tự lịch sử, càng về sau này ta càng thấy các hình thức ăn mặc của người phụ nữ càng đa dạng và phong phú nhất là các kiểu vấn tóc, chải tóc, kết hợp với những đổ trang sức như các kiểu hoa tai, vòng đá, vòng đổng
có gắn quả nhạc Đặc biệt, ngay từ xa xưa người phụ nữ đã biết phân biệt địa
vị xã hội, địa phương và các vùng miền khác nhau, bằng các hình thức chải, búi, tết tóc
Đặc tả rõ hình ảnh này, ta còn thấy hiện lên cả một khung cảnh làm ăn,
Trang 14sinh sống của người xưa qua những tài nghệ của ngườii nghệ sĩ dân gian mô
tả trên trống đổng, như cảnh giã gạo chày đôi, săn bắn, đua thuyền, đấu vật, chọi gà, nhảy múa, đánh trống, thổi khèn, Mặc dù, người nghệ sĩ đã cách điệu hoá cao độ, ta cũng vẫn thấy rõ được những nét độc đáo và đầy đủ của những
bộ trang phục Hai minh hoạ dưới đây là trang phục tiêu biểu của người phụ nữ thời Hùng Vương
b Trang phục phụ nữ vùng đồng bằng bắc bộ thời phong kiến
Nói đến trang phục thời kỳ này, trước hết phải nói đến sự phát triển và hoàn thiện không ngừng của vật liệu may mặc truyền thống Ngoài những loại vải được dệt bằng tơ chuối, tơ dứa, sơ đay, sơ gai trước đây, đã được thay vào đó bằng các loại vải cao cấp hơn, được dệt bằng sợi bông, tơ tằm tạo ra những loại vải mịn, bóng như vải cát bá, lụa, đũi Khuyến khích và phát triển không ngừng nghề trổng dâu nuôi tằm, trổng bông lấy sợi dệt vải, nghề dệt vải trở thành phổ biến đến từng hộ, từng cá nhân tự cung,
tự cấp cho mình vải mặc, đổng thời nhà nước phong
kiến thời đó cũng chú trọng phát triển các cơ sở trổng
dâu nuôi tằm dệt ra các loại lụa, gấm, vóc, đoạn cung
cấp cho vua quan trong triều Trang phục của người
dân cũng dần được hoàn thiện và trở thành nét độc đáo
của phụ nữ Vùng Đổng Bằng Bắc Bộ
- Y ếm của người phụ nữ Kinh:
Yếm là một phần trang phục của người phụ nữ Kinh
bắc còn giữ lại được vẻ nguyên sơ từ thời Hùng
Vương Cũng như cạp váy của người Mường, khi đến
tuổi trưởng thành (13 tuổi) người phụ nữ đã thầm kín tự
dệt cho mình cạp váy, với sáng tạo của người phụ nữ
Kinh Bắc, chiếc yếm được thiết kế một cách hết sức
giản đơn, nhưng rất kín đáo, chỉ bằng một vuông vải,
đặt chéo đủ để che kín phần ngực, cổ yếm được khoét
Trang 15tròn, hoặc xẻ (cắt hình chữ V trước ngực) với dải dây buộc qua cổ, và hai dải buộc qua Iưng Yếm thường được phân biệt ở kiểu cách may cắt cổ và dải yếm : Yếm cổ xây, còn giữ lại bóng dáng tấm yếm của người Việt cổ, cổ được khoét tròn, viền mép tỉ mỉ, khi mặc làm tăng thêm vẻ đẹp gợi cảm của người phụ nữ Ngoài ra còn nhiều cách khoét cổ khác nhau qua từng thời kỳ nhờ sáng tạo của người phụ nữ tự làm đẹp cho mình, đó là dạng yếm cổ xẻ, hoặc cổ kiềng Kết hợp với màu sắc khác nhau từ hai mép yếm choàng qua sau Iưng, buộc lại, thõng xuống cạp váy Thông qua kiểu dáng, màu sắc của yếm mà ta có thể phân biệt được lứa tuổi, giàu nghèo, thành phần của lớp người.
Trang 16Thường các cô gái ở chốn Đô thành mặc yếm màu trắng, màu hổng đào còn các cô gái vùng thôn quê mặc màu nâu, hoa hiên (sắc màu thiên về màu tối và trầm) Ngày thường nóng bức, người dân quê mùa chỉ mặc yếm không, nên phần lưng và lườn để lộ ra, theo cách nhìn của giới mày râu: 'Đàn bà yếm
thắm hở lườn mới xinh” Riêng lễ hội hàng năm vào tiết xuân, màu sắc của yếm
mới thực sự phong phú, màu đào, màu thắm ý tứ, duyên dáng của người Kinh Bắc bộc lộ rõ ở một phần văn hoá mặc của một dân tộc Cũng như người Mường chọn cái cạp váy là nơi gửi gắm biết bao màu sắc, tài năng, thẩm mỹ thì người phụ nữ Kinh Bắc cũng chọn đặt cái gì tinh tế nhất vào chiếc yếm, chính vì thế ngay từ xa xưa, không ai bán yếm may sẵn, coi đó là lộ liễu, ngay khi giặt, phơi yếm người phụ nữ cũng chọn nơi kín đáo Vì yếm là một phần trang phục dùng để che ngực của người phụ nữ, chính vì vậy, xung quanh chiếc yếm biết bao nhiêu những lời ca ngợi, trữ tình tô vẽ thêm vẻ đẹp của văn hoá Việt nam
Yếm xưa, trang phục thường ngày
của ngũời phụ nữ vùng đổng bằng
Bắc Bộ thường mặc
Bản chất của con ng-ời Việt
nam xưa nói chung và người phụ nữ
nói riêng, ảnh hưởng sâu sắc bởi lễ
giáo phong kiến, ăn mặc của người
phụ nữ cần phải kín đáo, ý tứ,
không chỉ ăn mặc, đi dứng mà ngay
cả màu sắc của trang phục cũng
cho ta thấy vẻ dẹp chân chất của người con gái thôn quê, váy thâm (màu đen),
Trang 17áo nâu sổng đạm bạc, loại trừ một vài phụ nữ mà người xưa cho là "Lẳng lơ", mặcyếm màu đào, màu thắm (Màu sắc loè loẹt), chỉ có những
cô con gái bạo dạn mới dám mặc, khi mặc vào thì đến ai cũng phải mê vì đẹp : Với vẻ đẹp lãng mạn, chiếc yếm của người phụ nữ đã đi vào thơ ca với một phần của tình yêu, tình người ấm áp :
“Trời mưa trời gió kìn kìn Đắp đôi dải yếm hơn nghìn chăn bông”
Dù chỉ là dải yếm cũng đủ để sưởi ấm lòng người
“Thuyền anh mắc cạn lên đây Mượn đôi dải yếm làm dây kéo thuyền”
Hoặc “Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu dải yếm mời chàng sang chơi”
Hình tượng trong thơ ca, tính phi thực tế của cách nói ngoa dụ, trở nên thắm đượm tình yêu đôi lứa thông qua hình ảnh dải yếm
“Trầu em têm tối hôm qua Buộc trong dải yếm mở ra mời chàng”
Hình ảnh dải yếm không còn là ẩn dụ nữa, mà nó trở thành cầu nối, gửi gắm tình yêu trong sáng đến người mình yêu
Vai trò của người phụ nữ còn bộc lộ rõ ở lối sống truyền thống, với đức tính tằn tiện, giản dị, cần cù vượt khó, sáng tạo trong nghệ thuật : “Khéo vá vai, tài vá nách”, với chổng con tận tụy, thương yêu, chung thuỷ,
và lạc quan :
“Chồng em áo rách em thương
Trang 18T r a n g p h ục trong t ran h”H ứn g d ừa ”
(Tra nh dâ n gi an Đô ng H ồ )
Chồng người áo gấm xông hương mặc người ”
Một vài ví dụ trên cho chúng ta thấy, vẻ đẹp của dải yếm không chỉ đẹp ở hình dáng, màu sắc, mà còn đẹp cả về những gì tạo ra cho dải yếm mộc giản dị
nhưng đầy quyến rũ
- Váy c ủa phụ nữ vùng đồng bằng
Bắc bộ
Váy của người Kinh qua từng thời kì có nhiều đổi thay Khác với thời kỳ Hùng Vương, váy không còn
là tấm vải quấn quanh thân, hay hình ống, mà là chiếc váy đã được người phụ nữ tạo hình, thiết kế cho vừa với dáng người, có cạp cho vừa với eo bụng, kết hợp với thắt lưng, hoặc dải rút thắt cho chặt, tuy nhiên, dấu vết của chiếc váy cổ xưa vẫn còn giữ lại qua cách mặc luồn qua đầu, giống như cách mặc váy của người Mường, Thái hiện nay Đặc biệt, tuỳ thuộc vào chất liệu vải khác nhau mà ta phân biệt được lớp người trong xã hội, nghèo thì vận váy vải, khá giả, giàu có thì váy lĩnh, váy sồi màu sắc của váy không chỉ một màu thâm (đen) duy nhất mà trong màu đen của váy ánh lên các màu xanh, đỏ óng ả khác nhau tuỳ thuộc vào từng loại chất liệu Thông qua cách ăn mặc mà ta còn thấy rõ sự khác biệt giữa thành thị
và nông thôn, các cô gái thành thị ăn mặc có chút cầu kì hơn, mặc chiếc váy được ghép từ bảy tấm vải bằng sồi, thân và gấu váy được thiết kế theo hình cong cong (Hình lược), màu thâm của váy làm nền tôn bật màu sắc của những dải lụa có màu sắc tươi tắn như màu hồng đào, màu thắm, màu hoa lý Sự hình thành của chiếc váy, là sự đúc kết của một quá trình, thông qua điều kiện
Trang 19sinh hoạt và điều kiện khí hậu của người Việt nam , với cuộc sống lam lũ của người dân, đầu tắt mặt tối, "Bán mặt cho đất, bán lưng cho trời", ngày đêm lặn lội, mưa dầm dãi nắng, chiếc váy đã mang đến cho người dân những điều khá tiện lợi, phù hợp với thường ngày người phụ nữ mặc váy ngắn, qua chỗ lội, đoạn sông, váy được nâng lên theo kiểu "nước cao đến đâu, váy dâng đến đó",chính lẽ đó dân gian mới có câu nói:
" Có đâu như đất làng mình
Hễ ra tới ngõ Váy nghinh lên đầu"
Đến khi lội ruộng cấy trồng, làm cỏ, bón phân, váy được xắn cao theo kiểu buộc túm gấu váy trước với gấu váy sau, thành quần hai ống, rất tiện lợi và gọn gàng Trong nếp sinh hoạt cũng vậy, váy tiện lợi khi đi đứng, sinh đẻ là một thứ văn hoá ứng xử sinh hoạt độc đáo mà ta thấy nét đẹp của người phụ nữ vùng Đổng bằng Bắc bộ
Minh hoạ dưới đây cho ta thấy rõ, không chỉ những cảnh sinh hoạt của người dân mà còn chi tiết về kiểu cách trang phục, hình thức ăn mặc của phụ
nữ vùng đổng bằng Bắc Bộ thời bấy giờ
Trong các tác phẩm nghệ thuật dân gian, người nghệ sĩ đã khai thác, chắt lọc vẽ lên không chỉ cảnh sinh hoạt của người dân, mà còn diễn tả chiếc váy đầy trữ tình Thể hiện rõ trong các bức tranh "Hứng dừa" (Tranh dân gian Đông Hổ) Trong tranh người nghệ sĩ vẽ cảnh cô gái dùng váy hứng những quả dừa
mà người con trai ở trên cây ném xuống, cũng từ bức tranh đó mới có câu ca
dí dỏm tình tứ :
"Khen ai khéo tạo nên dừa Đấy trèo, đây hứng cho vừa một đôi"
Trang 20Những câu ca ví von trên còn như
muốn nhắc đến những gì nằm dưới
chiếc yếm che hờ trên ngực người phụ
nữ
- Áo cánh
Đi kèm với yếm, ta còn bắt gặp một
kiểu áo khoác ngoài được gọi là "áo
cánh" Thông thường, được thiết kế hết
sức đơn giản, phần thân áo liền với tay,
tiếp phần tay nối dài thêm cho vừa
(không khoét nách như bây giờ), thân
áo cánh may ngắn, cổ tròn, xẻ tà hai
bên, thường mặc không cài cúc, để lộ
rõ yếm bên trong áo cánh được may
bó sát vào cơ thể bằng chất liệu vải thô
nhuộm bằng củ nâu tạo ra nhiều màu
nâu, gụ với tông độ khác nhau, trang
phục này được mặc ở nhà hoặc khi lao
động còn khi tiếp khách hoặc ra đường, đi lễ chùa thường phải mặc thêm áo dài bên ngoài
- Áo dài tứ thân
Áo dài phụ nữ được may từ bốn mảnh vải ghép vào, vì xưa kia, vải do
người phụ nữ tự dệt chỉ đựơc những tấm vải có khổ hẹp (Kích thước từ 30 - 40
cm) phần lưng phải ghép hai khổ vải ở giữa đường sống lưng thành thân sau,
còn hai thân trước thành hai tà áo, khi mặc bỏ buông , có khi thắt hai vạt vào
nhau phía trước bụng, hoặc khi làm việc cho gọn gàng còn buộc hai vạt ra sau
lưng
Trang 21Trong cuộc sống, người phụ nữ không ngừng sáng tạo, cải tiến chiếc áo của mình đạt được ý tưởng phù hợp với điều kiện sinh hoạt thường ngày Cuộc sống của người thôn quê rất vất vả, công việc gánh vác hàng ngày không
tránh khỏi áo sờn vai, rách nách Để may một chiếc áo mới thường không đủ tiền, mà vá áo thì cũng không dễ gì, (dân gian có câu : "Khéo vá vai, tài vá
nách" Tiếp tục truyền thống , sự khéo léo, người phụ nữ sáng tạo ra hình thức thay hai vai là nơi hay bị sờn rách, giữ lại hai vạt áo cũ, chính vì thế mà màu sắc giữa cũ và mới có sự chênh nhau về sắc độ nhưng cũng tạo sự hài hoà về màu sắc, nhìn lâu cũng trở nên đẹp, và ngẫu nhiên trở thành "Mốt" áo thay vai, đổi vạt Về sau ngay từ khi may mới người ta cũng chú tâm may hai vai và hai vạt đặt so le nhau (Khoảng 3-5cm), màu sắc cũng chênh nhau một tông độ, muốn cho mọi người biết đó là "Mốt" chứ không phải áo cũ thay vai đổi vạt
Trang 22Phụ nữ vùng đồng bằng Bắc bộ trong bộ áo tứ thân gánh hàng đi chợ
- Áo dài năm thân :
Áo dài năm thân, xa xưa thường ta chỉ bắt gặp ở người phụ nữ thành thị hay người sang trọng thôn quê; khác với áo tứ thân là : áo có năm thân, hai thân phía trước khâu liền nhau, hai thân phía sau khâu liền nhau đều gọi là vạt
cả, một thân bên trong hẹp hơn nằm ở dưới vạt cả trước gọi là vạt con Loại áo này cài cúc bên sườn, có người không cài khuy mà chỉ dùng thắt lưng buộc lại bên ngoài cho chặt các thân áo Mặc áo dài năm thân với yếm, để khoe một phần yếm bên trong, người ta cố tình không cài mấy hàng cúc ở gần cổ Theo các nhà nghiên cứu trang phục truyền thống dân tộc, áo dài năm thân là tiền thân của áo dài tân thời hiện nay Với áo dài năm thân, phụ nữ xưa còn mặc kiểu gọi là : "Mớ ba", "Mớ bảy", cách mặc cùng một lúc một bộ nhiều áo dài chổng lên nhau, mỗi cái mang màu sắc khác nhau, thường ngoài cùng là áo vải the màu thâm, nâu, hoặc tam giang, làm dịu độ chói chang của các sắc màu áo bên trong, là các màu như màu mỡ gà, cánh sen, vàng chanh, hổ thuỷ Sự cầu
kỳ trong cách ăn mặc này, chúng ta hiểu đó là nghệ thuật của người mặc làm dáng, nhưng vẫn kín đáo Nếu nhìn thẳng, ta chỉ thấy áo ngoài giản dị một màu trầm ấm, tuy vậy, vẫn thấy tà áo trong lấp ló với nhiều màu sắc khác nhau Đặc biệt, khi mặc kiểu áo này, người ta cố tình không cài hàng cúc từ cổ chéo
Trang 23xuống nách, để khoe ra các nếp áo màu bên trong và cố ý để lộ mảng yếm trước ngực Trong dân gian, theo cách nhìn của người xưa thì người con gái
có cổ cao mới là người phụ nữ đẹp:
"Cổ cao ba ngấn, miệng cười trăm hoa", đây cũng là lý do cho người phụ nữ
muốn khoe ra vẻ đẹp của cổ ba ngấn
- Các lo ại áo khoác của phụ nữ vùng đồng bằng Bắc bộ
Khi thời tiết giá lạnh người phụ nữ vùng
đổng bằng Bắc Bộ thường khoác bên ngoài
một chiếc áo bông chần quân cờ, hoặc quả
chám Dân thị thành và những người khá giả ở
thôn quê mặc áo kép, áo mền Áo kép gổm hai
lần vải, lần lót bên trong thường bằng vải màu
tươi tạo vẻ đẹp kín đáo Áo mền cũng như áo
kép, nhưng giữa hai lần vải còn có lớp dựng
bằng vải dày thô Các dạng áo này được mặc
khi đi chơi, hoặc khi làm việc cho ấm Những
người dân nghèo khó còn có áo tơi loại áo
đựơc tạo bằng lá gổi, tách từng rẻ nhỏ ken lại
với nhau thành từng lớp (như kiểu lợp mái
nhà), áo dài từ cổ người mặc xuống tới bắp
chân Khi mặc, người ta choàng quanh người,
có dây buộc quanh cổ, đầu đội nón Có thể nói,
chiếc áo tơi là sản phẩm do người dân sáng
tạo ra từ nguyên liệu sẵn có, nó giúp cho
người dân tránh mưa, tránh nắng, thậm chí chống lại những cái rét thấu xương, loại áo này phổ biến ở vùng đổng bằng Bắc bộ và Trung bộ
Trang 24- Th ắt lưng
Thắt lưng, là một phần trong trang phục Kinh bắc được người phụ nữ quan tâm Một
số tài liệu nghiên cứu cho rằng: Thắt lưng ở
cả nam và nữ, là dấu vết còn lại của dải khố của người Việt cổ Nguyên nhân khác, cũng
do điều kiện khí hậu rét buốt mà người nông dân thường dùng dây chuối buộc ngang lưng cho gọn và đỡ lạnh giá mỗi khi làm việc Thắt lưng, cũng là yếu tố tạo hình làm tăng thêm
vẻ đẹp của người phụ nữ, theo quan niệm xưa, người phụ nữ thắt đáy lưng ong mới đẹp, mông nở nang dễ bề sinh con chính vì vậy, thắt lưng cũng tạo cho cơ thể người phụ
nữ thon thả hơn, tạo cảm giác cho phần mông thêm rộng, kết hợp với sự mềm mại của tà áo
Thắt lưng được tạo ra từ khổ vải hẹp, dài, may bằng nhiễu, sổi, lụa với nhiều màu sắc khác nhau như : màu đào, màu thắm, màu hoa lý, mỡ gà ở hai đầu thắt lưng người ta khâu viền hoặc xe những tua chỉ tạo ra sự mềm mại cho dải lụa Để tính sử dụng cao, người thôn quê còn sáng tạo may thắt lưng thành túi dài mà gọi là ruột tượng, có thể đựng tiền, và những thứ lặt vặt khác kết hợp với thắt lưng, những người giàu sang, buôn bán thường đeo thêm bộ xà tích vào thắt lưng, cùng với ống vôi, quả đào con bằng bạc, cái ngoáy tai, chìa khoá Lúc đi lại, dải thắt lưng phất phơ trước váy, còn bộ xà tích va chạm vào nhau kêu rong reng, tạo nên một nét thẩm mỹ hài hoà trong bộ trang phục của người phụ nữ vùng đổng bằng Bắc Bộ
- Ngh ệ thuật vấn tóc, đội khăn :
Thắt lưng và bộ xà tích trong trang
phục của phụ nữ vùng đồng bằng
Bắc bộ
Trang 25Trang phục ngày lễ hội của phụ nữ Kinh Bắc
"Cái răng, cái tóc là vóc con người", đó là câu ca người xưa răn dạy,
người phụ nữ phải biết làm đẹp cho mình, không chỉ tạo hình dáng cho trang phục mà còn tạo hình , tạo dáng cho cơ thể từ đầu tới chân Chính vì lẽ đó, người phụ nữ Bắc kỳ giàu kinh nghiệm về nuôi tóc, giữ tóc cho dài mượt Thông thường, họ hay sử dụng các loại lá cây như: lá me, lá sấu, lá gáo, bổ kết
là loại lá sẵn có của một vùng nhiệt đới Lá được rửa sạch, nấu lên, lấy nước gội đầu làm tóc đen, mượt và sạch Ngoài ra còn nhiều loại lá có nhiều hương thơm như sả, hương nhu, trầm hương, quả và lá mùi vừa sạch tóc, vừa quyện hương thơm vào tóc, mùi thơm
được lưu giữ trên mái tóc khá lâu Từ xa
xưa, nhân dân ta vẫn giữ thuần phong
mỹ tục, vào những ngày tết, tắm rửa, gội
đầu bằng những thứ lá thơm này, nước
hương bài, mùi thơm thoang thoảng hoà
quyện với mái tóc óng mượt của người
con gái, thầm kín mà đầy khuyến rũ
Vấn tóc, cũng là hình thức làm
đẹp cho người phụ nữ Với cách thức
chải tóc rẽ ngôi giữa, xưa kia có nhiều ý
nghĩa, chứng tỏ mình là người chín
chắn, chững chạc, đoan trang
Những phụ nữ rẽ ngôi lệch một bên
thường bị mọi người nhìn bằng con mắt
đánh giá, cho rằng người con gái đó
thiếu đứng đắn
Ngay cả việc vấn tóc cũng rất cầu kỳ,
thường những người ít tóc phải vấn
thêm độn tóc, hoặc thêm tóc giả thì đó
mới là người sang trọng Khăn vấn quấn tóc thành một con tóc tròn , chắc , cần thiết phải vấn kèm theo cái độn bằng vải bông, khi vấn sao cho một ít đuôi tóc thò ra, thành "đuôi gà" Khi quấn quanh đầu, phần chót của đuôi gà thò ra nằm
Trang 26bên trái hoặc bên phải, tạo vẻ duyên dáng của người con gái, và đó cũng là
"mốt" của một thời xa vắng : "Một thương để tóc đuôi gà", đó là câu ca của các chàng trai đề cao vẻ đẹp của người con gái
Trang phuc và cách đôi khăn của phu nữ vùng đồng bằng Bắc Bô
1 áo năm thân, 2 Yếm cổ sây, 3 Yếm cổ sẻ, 4 áo tứ thân, 5 Quần
6 Giải rút, 7 Váy, 8 Giải khăn, 9 Chải tóc ngôi giữa, 10 Tóc đuôi gà,
13 Dây lưng, 12 Cái đôn tóc, 14 Khăn vuông, 15.16 Chít khăn
để hở hai con mắt
Trang 27
- Nón lá
Chiếc nón lá, không thể tách rời với trang phục của người Phụ nữ vùng Đổng bằng bắc bộ, nó còn là biểu tượng của người con gái Việt nam Chiếc nón gắn liền với cuộc sống của người nông dân như hình với bóng, mỗi khi ra đường, hay khi làm việc đổng áng, chiếc nón trở nên thân thiện che mưa, che nắng Nón hình chóp, được khâu bằng sợi móc chắc, lớp giữa hai lớp lá nón còn lót thêm mo nang cho chắc dầy Khi giải lao sau mỗi khi làm việc mệt mỏi, người ta ngả nón ra ngổi nghỉ dưới gốc cây, lúc khát, vục nón múc nước uống thậm chí, chiếc nón còn thay thế chiếc thúng mủng đựng mớ rau, mớ cỏ, đổng quà tấm bánh khi đi chợ
Hình ảnh người phụ nữ vùng đồng bằng Bắc bộ xưa với bộ
trang phục truyền thống
Trang 28bộ quai thao, còn được gọi là cỗ thao, gồm mười sợi dây tròn, dệt bện bằng tơ, hai đầu có tua, buộc thành nhiều quả thao Thao nhuộm thâm kỹ, buộc vào hai bên nón bằng hai cái thẻ bằng bạc, hình tam giác, trên mặt của thẻ được chạm khắc những hình hoa lá, rồng phượng rất cầu kì và tinh xảo
Nón ba tầm, thường các cụ bà, các vãi đi lễ chùa hay đội, thực tế nó cũng
là nón thúng, nhưng sâu hơn và mảnh dẻ hơn Cũng vào thời kỳ này, phụ nữ vùng đồng bằng Bắc Bộ còn sử dụng nhiều loại nón khác nhau như nón Chuôm, được làm từ làng Chuôm (Hà Tây) và các loại nón từ nơi khác đưa tới,
đó là nón Nghệ, nón Nghệ cũng là loại nón đẹp, nón quý từ xứ Nghệ đưa ra, có thêm cả quai thao Trong nhiều đám cưới, hình ảnh cô dâu cầm chiếc quạt lượt thẹn thò che mặt, cô phù dâu tay cầm nón Nghệ che một lần nữa ra ngoài Các
Trang 293
chị em ở chốn thị thành ra phố đội nón Nghệ, tay trái giữ hờ quai thao Ngoài ra còn nón rứa Huế (còn gọi là nón bài thơ), nón được làm bằng loại lá rứa mỏng, trong suốt, khâu bằng móc nhỏ, nhẹ, đội rất mát Thường trong lần lá nón, người ta ghép hình bài thơ, khi soi lên ánh sáng trông khá rõ, vừa mang tính chất hoa văn trang trí
Sau này, để phù hợp với xu thế cách tân nữ phục truyền thống, những loại nón kể trên cũng dần ít sử dụng đến, chỉ còn lại thông dụng một loại nón chóp, lợp bằng lá gổi, khâu kỹ bằng móc, nhẹ, gọn và tiện lợi cho người sử dụng
- Gu ốc dép
Guốc dép là một trong những bộ phận không thể thiếu đi cùng trang phục, nhất là đối với phụ nữ chốn thị thành vùng Đổng bằng bắc bộ, trong khi đó người phụ nữ thôn quê, khi làm việc đổng áng, lúc mùa hè nóng nực thường hay đi chân đất, chỉ khi những ngày đông lạnh giá, khi đi chơi, dự lễ hội, đình đám người ta mới đi guốc dép, thông thường họ hay đi quốc gộc tre quai ngang (guốc được đẽo từ những gốc tre già, quai ngang bằng da), để guốc liền với mũi chân, khi đi họ thường hay lết trên mặt đất, ngoài ra họ còn sử dụng loại dép da quai ngang, được làm từ miếng da trâu mộc, giữa có quai ngang, đầu dép có vòng da nhỏ để xỏ một ngón chân vào đó mà dép luôn bám chắc vào chân, thuận tiện cho việc đi lại
Những người phụ nữ chốn thị thành, người sang trọng, thì họ lại dùng guốc dép loại sang,như guốc xứ nghệ, Sài gòn (có khắc hoa trang trí), giày đế cao, dép da cong, quai da bọc nhung, giày mang cá, giày mõm ngoé, guốc Kinh (là loại guốc của Kinh đô Huế,đế thường được làm bằng dừa, hay gỗ nhẹ, sơn màu trắng, mũi thêu kim tuyến óng ánh)ngoài ra họ còn sử dụng các loại giày dép có trang trí nhiều như đính hạt cườm, thêu hoa nhiều màu sắc
Trang 30Các kiểu guốc dép
1 Dép g ỗ - 2 Guốc cao - 3 Dép ngón - 4 Dép quai dọc
5 Guốc cong.- 6 Dép quai ngang
Dưới cổ tay, đối với nhà giàu thường đeo vòng vàng, vòng ngọc, còn người nghèo có thể đeo vòng bạc Thông thường ở thành thị, mặc dù có của (giàu có), nhưng biết cách ăn mặc người phụ nữ chỉ đeo ba vòng hạt vàng ở cổ
và một đôi xuyến tay, tạo điểm nhấn vừa đủ trên trang phục
Đeo nhẫn nơi ngón tay cũng là hình thức trang trí, nhưng theo quy ước
từ xưa, những cô gái chưa lấy chổng đeo nhẫn chạm hoa ở ngón tay giữa Các
bà, các cô có chổng đeo nhẫn tròn ở ngón tay nhỡ
Ngoài ra, kết hợp với trang phục phụ nữ vùng đổng bằng Bắc Bộ còn đeo chùm xà tích bằng bạc Chùm xà tích thường có bốn năm dây, mỗi dây mang một thứ như : chìa khoá, díp, ống vôi (ống vôi bạc đánh theo hình quả đào có chạm trổ)
- T ục nhuộm răng đen :
Trang 31Tục nhuộm răng đen, ăn trầu, là nét độc đáo của người phụ nữ Vùng Đổng
bằng Bắc bộ, mà ta thường thấy cũng ở một vài dân tộc khác Nhuộm răng, ăn
trầu là hình thức trang điểm cho vẻ đẹp của người phụ nữ vùng Đổng bằng
Bắc bộ
Thiếu nữ đến tuổi trưởng thành (13-14 tuổi), người mẹ đã hướng dẫn cho
người con cách nhuộm răng, ăn trầu Nhuộm răng đen qua hai bước sau :
Bước 1 - Dùng cánh kiến đỏ hoà với chanh bôi lên răng khoảng từ 7 đến
8 ngày, răng chuyển sang màu đỏ già
Bước 2 - Dùng cánh kiến hoà với phèn đen bôi lên răng để được màu
đen như ý, sau chiết màu răng bằng nước dưa chua hay muội nhựa sọ dừa Răng đen là vẻ đẹp của người phụ nữ xưa kia, người răng đen được xã hội tôn
trọng, được các chàng trai say mê, cũng từ đó mà có những câu ca tán
thưởng:
" Năm quan mua lấy miệng cười
Mười quan mua lấy con người răng đen "
Người con gái cho rằng, việc nhuộm răng là việc rất cần thiết, làm tăng
Trang 32thời nhà Lê
thêm vẻ đẹp, nhằm cuốn hút các chàng trai, để họ trở thành tấm chồng như ý :
"Lổy chồng cho đáng tấm chồng
Bõ công trang điểm má hồng, răng đen"
Theo quan niệm của người xưa, nhuộm răng đen ngoài hình thức trang điểm làm tăng vẻ đẹp của người con gái, còn làm cho răng chắc khoẻ Cũng như nhuộm răng đen, ăn trầu là hình thức làm tăng vẻ duyên dáng của người con gái, khi nhai trầu, nước trầu đỏ tô cho đôi môi
thắm màu không kém gì bôi son, trầu còn là men
say làm đôi má ửng hổng, chẳng cần thoa phấn
Với vẻ đẹp tự nhiên như vậy, nên từ xưa, trầu
cau còn là biểu tượng của tình yêu nam nữ, là
hình tượng của mối quan hệ chung thuỷ
"Trầu vàng sánh với cau xanh
Duyên em xứng với tình anh tuyệt vời" Hoặc:
“Trầu này trầu quế, trầu hồi
Trầu loan, trầu phượng, trầu tôi, trầu mình
Trầu này trầu tính trầu tình
Trầu nhân, trầu ngãi, trầu mình lấy ta.”
Không chỉ tục nhuộm răng ăn trầu, mà người
phụ nữ Kinh bắc còn trang điểm cho mình bằng
nhiều hình thức khác nhau, như tỉa lông mày cho
thanh nhỏ, gọi là lông mày lá liễu, làm tăng thêm
vẻ đẹp của đôi mắt sắc sảo, người xưa ví vẻ đẹp
của người con gái có đôi mắt sắc như dao cau
Tóm lại sự phát triển trang phục vào thời kỳ
này ta thấy rõ nhiều sự đổi thay do ảnh hưởng
giao lưu giữa truyền thống trong nước và nước
ngoài, làm thay đổi diện mạo, cung cách ăn mặc của người dân Thời kỳ nào cũng vậy, sự biến đổi của người dân thuộc tầng lớp lao động, cũng như của người dân nơi thôn quê là rất chậm, bảo lưu tính truyền thống rất bền chắc, ngược lại, những tầng lớp vua quan trong triều đình, những người thuộc tầng
Trang 33lớp cao sang chốn thị thành thì biến đổi hình thức ăn mặc quá nhanh, nhạy bén với thời cuộc, nhanh chóng tiếp thu và thay đổi mốt bởi ảnh hưởng của nước ngoài, nhất là trong thời gian bị đô hộ, sau mỗi lần đất nước được giải phóng các triều đình phong kiến Việt Nam vẫn có ý thức rõ ràng về việc định quy cách
ăn mặc cho các quan, lập lại nghi thức, lễ nghi trong triều đình, nhằm chống lại mưu đổ đổng hoá của kẻ thù Thậm chí, khi vua Quang Trung ra hịch đánh phá quân Thanh, cũng đã đề cao ý tự cường, tự chủ, giữ gìn bản sắc dân tộc :
“Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen rang
Đánh cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn”
Trong thời kỳ nhà Lê, triều đình cũng rất quan tâm đến trang phục của người dân, như cấm người dân không được mặc màu vàng, trên trang phục, thậm chí đổ dùng, vật phẩm không được thêu vẽ, chạm trổ hình rổng phượng Thời kỳ này, phụ nữ vẫn mặc váy, nhưng vẫn còn một số mặc quần do còn rơi rớt lại bởi chính sách đô hộ của thời Minh xưa kia ép buộc
Để di đến sự nhất quán trong ăn mặc của người phụ nữ, năm 1665 vua
Lê Huyền Tông ra chiếu chỉ cấm phụ nữ không được mặc quần, để bảo tổn truyền thống mặc váy khi xưa chiếc váy được chính bàn tay người phụ nữ khâu cho mình, phần cạp được chiết hẹp lại cho vừa với eo, phía dưới xoè rộng trông như cái thúng, người ta quen gọi là váy thúng, để khác biệt với trang phục Hán xưa kia, dân gian có câu đố :
“Cái thúng mà thủng hai đầu Bên ta thì có, bên Tàu thì không”
Người phụ nữ thời kỳ này thường mặc chiếc váy ngắn chùng gối, với chiếc yếm cổ xây, không mặc áo ngoài mà để trần, thắt lưng thả múi phía trước, về sau có áo dài tứ thân buông vạt, để lộ áo cánh, yếm bên trong, tay áo dài, chật, thắt lưng vải buộc múi, xoã mối, màu sắc của váy, áo, yếm thường bị hạn chế Ngoài ra chúng ta còn thấy nhiều kiểu chải, bới tóc khá cầu kỳ, tóc chải rẽ ngôi giữa, rổi quấn tóc ngang đầu Những người khá giả, giàu có thì dùng khăn lượt
để quấn tóc lại rổi mới vấn Người ta đội nhiều kiểu nón khác nhau, phù hợp
Trang 34với điều kiện sinh sống của họ, giữa thành thị với nông thôn, thường phụ nữ thôn quê hay đội nón xuân lôi tiểu lạp (nón sọ nhỏ), hay nón toan bi (nón vỏ bứa), còn ở thành thị thì đội nón liên diệp (nón lá sen)
Riêng phụ nữ thuộc tầng lớp quý tộc, quan lại, cung nữ trong triều đình đều có kiểu cách ăn mặc riêng, ngoài kiểu dáng, người ta có thể còn phân biệt được bằng màu sắc trang phục, và các đổ trang sức đeo trên người Ở điểm này, ta thấy rõ cách thức ăn mặc của vợ vua Lê, cũng yếm cổ tròn mặc trong, ngoài mặc áo dài tứ thân buông vạt, thắt lưng thả múi trước bụng Để cho khác với dân thường, vợ vua có mặc thêm vân kiên rộng, thêu thùa đẹp, đội mũ bằng vàng có hình chạm trổ tinh vi
c Trang phục phụ nữ vùng đồng bằng bắc bộ thời kỳ nhà Nguyễn
Trang phục của phụ nữ vùng đổng bằng Bắc bộ đã phát triển tới mức hoàn chỉnh với các loại váy, yếm, áo cánh, áo dài mặc ngoài kiểu bốn thân, năm thân, kết hợp với thắt lưng, khăn , nón, các kiểu bới, chải tóc, cùng các đổ trang sức như khuyên tai, vòng tay, vòng cổ, xà tích, các loại dép, guốc Đặc biệt màu sắc trang phục thời kỳ này rất phong phú và đa dạng, không còn bị chói buộc như những thời kỳ trước, nhất là trang phục của phụ nữ thị thành Thời kỳ này còn có sự phân tranh giữa hai miền Trong khi vua Lê đàng ngoài
ra chiếu cấm phụ nữ măc quần kiểu phương Bắc để giữ thuần phong mỹ tục xưa, thì chúa Nguyễn đàng trong vào cuối TK XVII, đầu TK XVIII lại khuyến khích phụ nữ mặc quần, do đó trong dân gian mới lưu truyền sự phân biệt văn hoá mặc giữa hai miền Bắc Nam, “Nhà không chái, đái không ngồi”, đó là đặc trưng của phụ nữ phía Bắc Sau này, nhà Nguyễn với chính sách đổi mới tiếp tục khuyến khích phụ nữ mặc quần, năm 1828, vua Minh Mạng ra chiếu cấm phụ nữ mặc váy, chính lẽ đó đã gây ra sự phản kháng mạnh mẽ trong dân, với những câu vè đả kích chua cay:
“Tháng tám có chiếu vua ra Cấm quần không đáy người ta hãi hùng Không đ thì chợ không đông
Đi thì phải mượn quần chồng sao đang
Trang 35Có quần ra quán bán hàng Không quần ra đứng đầu làng trông quan ”
Vào đầu thập kỷ XX, phần lớn phụ nữ vùng đồng bằng Bắc bộ, nhất là ở các chốn thôn quê, người phụ nữ vẫn mặc váy, yếm, áo cánh ngắn mặc ngoài không cài khuy, khi ra đường, mùa lễ hội còn mặc thêm bên ngoài bằng áo tứ thân đơn, hay mớ ba, mớ bảy Khi trang trọng hơn thì mặc áo dài kiểu năm thân và nó cũng là tiền thân của chiếc áo dài tân thời của phụ nữ Bắc kỳ sau này, những dạng trang phục này ta thường bắt gặp qua tranh Tố nữ, tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống
Trang 36d Trang ph ục phụ nữ vùng đồng bằng bắc bộ thời kỳ Pháp thuộc
Vào thời kỳ này, hầu như trang phục của phụ nữ vùng Đổng bằng Bắc bộ
đã đi đến chỗ hoàn thiện và ổn định, nhưng trong điều kiện nước ta lúc bấy giờ
do ảnh hưởng của văn hoá phương tây mà thực dân Pháp khách quan đưa đến, ăn mặc của phụ nữ thời kỳ này lại có nhiều biến đổi Một mặt duy trì truyền thống, mặt khác không thể không cách tân cho phù hợp với thời đại Thay đổi lớn nhất vẫn là phụ nữ nơi thành thị Còn ở nông thôn, về cơ bản trang phục truyền thống không có
gì đổi thay lớn so với trước đó Áo
dài Lơ muya khởi nguổn từ thời kỳ
này Vào những năm 1930, tại Hà
nội, đứng trước tình hình đất nước
đang trong tình trạng Âu hoá,
không chỉ đổi mới trong lối sống,
mà đổi mới cả trong cách ăn mặc,
việc cải biên chiếc áo dài cho phù
hợp là rất cần thiết, nhóm văn sĩ
trong Tự Lực Văn Đoàn đã chủ
xướng cuộc cải cách văn hoá, tư
tưởng mới cho thế hệ trẻ, trong đó
điển hình là hai kiểu áo dài do hai
hoạ sĩ Lê Phổ và Cát Tường khởi
xướng Chiếc áo dài năm thân xưa kia mà tầng lớp thượng lưu ở thị thành thường mặc, kiểu áo rộng (không chiết eo), cổ cao to, gấu, tà, nẹp áo may to bản, chắc chắn, nhưng rất nặng nề Để minh họa cho kiểu dáng này, ta thấy rõ hình ảnh người phụ nữ mặc áo dài, mà các hoạ sĩ dân gian vẽ trong tranh Tố
Nữ (Đông Hổ, Hàng Trống) ông Nguyễn Cát Tường (Le Mur) viết trong tờ báo Phong Hoá, có đoạn : Muốn biết nước nào có tiến bộ, có kỹ thuật cao hay không? Cứ xem y phục người nước của họ, ta cũng đủ hiểu (Phong Hoá số 86, tháng 2- 1934) Hoạ sĩ Lê Phổ cải biên bằng cách, thu nhỏ chiếc cổ cho thanh
Áo dài phụ nữ những năm
1930
Trang 37thoát, đổng thời cả phần gấu, tà áo cũng cho nhỏ bớt đi, hình dáng áo khít với thân hình hơn Còn hoạ sĩ Cát Tường, ông chú ý nhiều đến cổ áo cảm xúc từ các loại cổ tay áo của phụ nữ Âu châu, đưa vào việc cải biên thành các kiểu cổ khác nhau, cổ có ve nhọn, hoặc cổ xoè to như hình lá sen, vai áo bổng, cổ tay loe hình phễu Một nhân vật khác không thể không nhắc đến, đó là bà Trịnh Thục Oanh, một hiệu trưởng của trường nữ Trung học Hà Nội, đã làm thêm một cuộc cải cách táo bạo hơn, bà nhấn eo chiếc áo, tạo cho chiếc áo thêm bó sát vào cơ thể, tạo đường nét mỹ miều duyên dáng cho người phụ nữ Nhưng sau này, các kiểu dáng như vậy cũng không tạo ra thị hiếu cho người phụ nữ,
và tiếp cho việc cải biên mới : Người ta cố tạo ra hình dáng thanh thoát hơn bằng cách bó sát phần ngực, nâng cao phần hông, tạo cảm giác phần mông
nở nang, phần chân dài ra, lộ rõ vẻ đẹp của thân hình người phụ nữ Vào thời
kỳ này, những trang phục thường ngày của phụ nữ vùng đổng bằng Bắc bộ, nhất là chốn thành thị đã nhanh chóng tiếp thu cái mới, chiếc quần đen hoặc trắng đã dần quen thuộc, áo mặc cũng được sửa đổi cho phù hợp thẩm mỹ, nhấn thêm phần eo, tay áo có phần rộng hơn Bên cạnh đó, thì các hình thức chải, bới tóc, uốn theo kiểu châu Âu thời bấy giờ là khá phổ biến, đặc biệt còn
sử dụng nhiều loại mỹ phẩm như : nước hoa, phấn son, các loại khăn, guốc dép và các đổ trang sức Tuy vậy, sự đổi mới này vẫn dựa vào nền tảng của các trang phục truyền thống, không làm mất đi vẻ đẹp của người phụ nữ xưa kia
e Trang phục phụ nữ vùng đồng bằng Bắc bộ từ năm 1954 tới nay
Trang 38Ở chốn thôn quê vùng Đổng bằng Bắc bộ không có gì đổi thay nhiều, số ít những cụ già vẫn mặc chiếc váy truyền thống, còn đại đa số chị em thanh, trung niên đã chuyển sang mặc quần đen, may theo kiểu chân què, hoặc báng súng, còn chiếc áo cánh cũng dần được cải tiến bó sát eo hơn, vạt áo lượn vòng, hạ thấp tà hông, chiết ly trước ngực và sau lưng, các kiểu khoét cổ cũng thay đổi nhiều như : cổ vuông, tròn, hình trái tim Màu sắc phong phú và đa dạng hơn như các tông nâu, gụ, xanh thẫm, trắng và đặc biệt là các loại vải in hoa Chính từ chiếc áo cánh cải tiến này đã chối từ kiểu mặc không cài khuy, chiếc yếm truyền thống cũng dần mất đi và thay vào đó chiếc nịt ngực của
châu Âu, điều này chắc hẳn càng làm tăng thêm vẻ đẹp, duyên dáng của người phụ nữ Trong thời kỳ chiến tranh chống thực dân Pháp và cả cuộc chiến tranh chống Đế quốc Mỹ đánh phá ra Miền Bắc nước ta, in đậm trong tiềm thức của người dân hình ảnh cô gái dân quân Vùng Đổng bằng Bắc bộ, mặc quần đen chít ống, áo cánh bó sát thân, thắt lưng bằng da bản to, đầu chít khăn mỏ quạ, vai khoác súng, chân đi dép cao su, với dáng vẻ khoẻ khoắn, đầy dũng khí
Trang 39Càng về sau này, sự chuyển biến về trang phục càng rõ nét, phong phú cả
về kiểu dáng, chất liệu, và cả về màu sắc Số đông chị em thành thị chuyển sang mặc quần Âu, áo sơ mi với các kiểu khác nhau : Chiết ly, hay không chiết
ly, dài tay, hay ngắn tay, măngset, hay không măngset, cổ có ve, hay không ve đều là sự kết hợp giữa truyền thống và phương Tây, nhưng vẫn mang sắc thái Việt nam Đôi khi, bắt đầu chị em nhất là ở chốn thành thị cũng chạy theo
“Mốt”, ví dụ : Vào những năm 1960 - 1970, do ảnh hưởng của một số kiều bào nước ta ở nước ngoài trở về, đã mang theo những “Mốt” ở các Châu lục khác nhau trên Thế giới, du nhập vào Việt nam Rộ lên “Mốt” quần bò ống tuýp, ống loe, áo phông, áo thun, và rồi áo sơ mi kiểu Hổng Kông thân thẳng (không chiết eo), hơi bó, tay dài, cửa tay có măngset to, hoặc nhỏ, và các kiểu cổ áo như : hai ve, hình lá sen nằm, lá sen đứng, vuông, tròn, ve nhọn, cổ Đức có chân, không chân Phong trào “Mốt” thời kỳ này nhièu khi đi đến chỗ cực đoan, đã gây lên nhiều phản ứng xã hội, nhất là những tầng lớp trí thức, những người lớn tuổi, muốn duy trì bản sắc dân tộc, nhằm bảo vệ và giữ gìn văn hoá truyền thống Mặc dù vậy, những chiếc áo dài truyền thống vẫn giữ nguyên vẻ đẹp thủa ban đầu, chỉ mỗi điều, trong điều kiện nhịp sống hiện đại của công nghiệp, phụ nữ không thường xuyên mặc áo dài như trước kia, mà chỉ mặc trong các dịp lễ, tết, hoặc các buổi hội hè
Do cuộc chiến tranh giặc Mỹ đánh phá ra Miền Bắc, trong thời kỳ này cả nước lao vào cuộc chiến chống quân xâm lược, không còn ai nhắc tới chiếc áo dài nữa, mà cũng không có hoạ sĩ nào để tâm cải biên, cho đến sau 1975 ngày Miền nam hoàn toàn giải phóng, nước ta được thống nhất, và chiếc áo dài truyền thống lại hổi sinh, ăn mặc giữa hai miền Nam Bắc bắt đầu có sự giao lưu, các hoạ sĩ, nhà may lao vào cuộc cải biến mới cho phù hợp với xu thế phát triển của thời đại
NGHIÊN CỨU MẪU HÌNH TRANG PHỤC PHỤ NỮ DÂN TỘC KINH
(Tỷ lệ trang phục được phân tích trên cơ sở tỷ lệ vàng)
Trang 401.1.2 NGHIÊN CỨU MẪU HÌNH TRANG PHỤC PHỤ NỮ DÂN TỘC MƯỜNG
Người Mường có tên tự gọi là Mol (hoặc Mon, Moan, Mual) - Các nhóm địa
phương: Ao Tá (Âu Tá), Mọi Bi
Yếm
Áo tứ thân Thắt lưng
VáyKhăn vấn