1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu một số đặc điểm sử DỤNG máu, CHẾ PHẨM máu THEO NHÓM ABO ở BỆNH NHÂN được TRUYỀN máu tại BỆNH VIỆN BẠCH MAI 2016 – 2017

95 73 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sàng lọc đủ 5 bệnhnhiễm trùng theo yêu cầu của Tổ chức y tế thế giới trên phạm vi toàn quốc:HIV, giang mai, sốt rét, HBV, HCV [8],[9].Sản xuất và chuẩn hoá các chế phẩm máu bao gồm: Khối

Trang 1

NGUYỄN THỊ HUYÊN

NGHI£N CøU MéT Sè §ÆC §IÓM Sö DôNG M¸U, CHÕ

PHÈM M¸U THEO NHãM ABO ë BÖNH NH¢N §¦îC TRUYÒN M¸U

T¹I BÖNH VIÖN B¹CH MAI 2016 – 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HUYÊN

NGHI£N CøU MéT Sè §ÆC §IÓM Sö DôNG M¸U, CHÕ

PHÈM M¸U THEO NHãM ABO ë BÖNH NH¢N §¦îC TRUYÒN M¸U

T¹I BÖNH VIÖN B¹CH MAI 2016 – 2017

Chuyên ngành: Huyết học - Truyền máu

Mã số: 60720151

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

GS.TS Phạm Quang Vinh

Trang 3

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn:

Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Bộ môn Huyết học - Truyềnmáu Trường Đại học Y Hà Nội, Khoa Huyết học - Truyền máu Bệnh việnBạch Mai

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn GS.TSPhạm Quang Vinh - người thầy hướng dẫn đã dành cho tôi nhiều tâm sức đểhướng dẫn, chỉ bảo sâu sắc và động viên, khích lệ tôi trong quá trình hoànthành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn:

BSCKII Đỗ Mạnh Tuấn, Trưởng phòng Truyền máu, Khoa Huyết học-Truyền máu Bệnh viện Bạch mai và Ths Nguyễn Thị Hồng đã tạo điều kiệnthuận lợi cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Các anh chị nhân viên Phòng Truyền máu, Khoa Huyết học - Truyền máuBệnh viện Bạch Mai đã luôn giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luậnvăn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo trường, lãnh đạo Khoa Xét nghiệmcùng cán bộ trong khoa đã giúp đỡ động viên và tạo mọi điều kiện, cũng nhưgánh vác trách nhiệm cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Với những tình cảm đặc biết nhất, tôi xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể giađình, tới chồng yêu và con trai tôi đã luôn động viên, ủng hộ và hết lòng vì tôitrong học tập cũng như trong cuộc sống

Hà Nội, ngày 21 tháng 11 năm 2017

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi tham gia thực hiện tạiBệnh viện Bạch Mai Các số liệu thông tin trong nghiên cứu do tôi thu thập làhoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan

Kết quả nghiên cứu này chưa được đăng tải trên bất kỳ một tạp chí haycông trình khoa học nào

Hà Nội, ngày 21 tháng 11 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Huyên

Trang 5

ACD Acid Citrate Dextrose BVBM Bệnh viện Bạch Mai

CPD - A Citrate Photphate Dextrose có Adenin

HTĐL Huyết tương đông lạnh HTTĐL Huyết tương tươi đông lạnh

KTCGT Khối tiểu cầu gạn tách

TM, TMTM Thiếu máu, thiếu máu tan máu STX, XT Suy tủy xương, Xơ tủy

XHGTC Xuất huyết giảm tiểu cầu RLST Rối loạn sinh tủy

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Lịch sử truyền máu 3

1.1.1 Lịch sử truyền máu trên thế giới 3

1.1.2 Lịch sử truyền máu tại Việt Nam 7

Trang 6

1.2.2 Khối hồng cầu 9

1.2.3 Khối hồng cầu rửa 10

1.2.4 Khối hồng cầu nghèo bạch cầu, tiểu cầu 10

1.2.5 Khối tiểu cầu 10

1.2.6 Khối bạch cầu 11

1.3 Nhóm máu hệ ABO 12

1.3.1 Lịch sử phát hiện 12

1.3.2 Đặc điểm của nhóm máu hệ ABO 12

1.4 Mối liên quan giữa nhóm máu ABO và một số bệnh lý 16

1.5 Tình hình sử dụng máu và chế phẩm 19

1.5.1 Tình hình sử dụng máu trên thế giới 19

1.5.2 Tại Việt Nam 20

1.5.3 Tại bệnh viện Bạch Mai 23

1.6 Một số nghiên cứu về tình hình sử dụng máu và chế phẩm máu 24

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đối tượng nghiên cứu 28

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 28

2.2.2 Các biến số nghiên cứu 28

2.2.3 Phương tiện nghiên cứu 29

2.2.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 33

2.2.5 Các bước tiến hành 33

2.2.6 Phương pháp thu thập thông tin 34

2.2.7 Phương pháp phân tích số liệu 34

2.3 Đạo đức nghiên cứu 34

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

Trang 7

3.1.1 Sử dụng chế phẩm máu theo nhóm máu hệ ABO tại BVBM từ

tháng 5/2016 – 4/2017 36

3.1.2 Sử dụng chế phẩm máu truyền khác nhóm 37

3.2 Sử dụng từng loại chế phẩm máu theo nhóm máu hệ ABO theo thời gian37 3.2.1 Sử dụng KHC theo nhóm máu hệ ABO theo tháng và theo mùa 37

3.2.2 Sử dụng chế phẩm máu HTTĐL theo nhóm máu hệ ABO theo tháng và theo mùa 40

3.2.3 Sử dụng chế phẩm KTCGT theo nhóm máu hệ ABO theo tháng và theo mùa 42

3.2.4 Sử dụng KTC theo nhóm máu hệ ABO theo tháng và theo mùa 44

3.2.5 Sử dụng tủa yếu tố VIII theo nhóm máu hệ ABO theo tháng và theo mùa 46

3.3 Sử dụng máu, chế phẩm máu theo nhóm máu hệ ABO tại các khoa lâm sàng BVBM 47

3.4 Sử dụng chế phẩm máu theo nhóm máu hệ ABO ở một số nhóm bệnh tại BVBM từ tháng 5/2016 – 4/2017 49

3.4.1 Nhóm bệnh máu 49

3.4.2 Nhóm bệnh tim mạch 52

3.4.3 Nhóm bệnh tiêu hóa 54

Chương 4: BÀN LUẬN 59

4.1 Tình hình sử dụng máu, chế phẩm máu theo nhóm máu hệ ABO từ tháng 5/2016 – 4/2017 59

4.2 Sử dụng chế phẩm máu hệ ABO theo thời gian 60

4.2.1 Sử dụng KHC 60

4.2.2 Sử dụng HTTĐL 64

Trang 8

4.2.5 Sử dụng tủa VIII 67

4.3 Tình hình sử dụng chế phẩm máu theo nhóm máu ABO phân bố theo các khoa lâm sàng 68

4.4 Sử dụng chế phẩm máu theo nhóm máu ABO ở một số nhóm bệnh 69

4.4.1 Nhóm bệnh máu 69

4.4.2 Nhóm bệnh Tim mạch 71

4.4.3 Nhóm bệnh tiêu hóa 72

4.4.4 Nhóm bệnh ung thư 74

KẾT LUẬN 77

KIẾN NGHỊ 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

Bảng 1.1 Đặc điểm của các nhóm máu chính hệ ABO 13

Bảng 1.2 Tỷ lệ nhóm máu hệ ABO theo nghiên cứu một số tác giả trong và ngoài nước 15

Bảng 1.3 Tỉ lệ nhóm máu ABO giữa người Việt Nam 16

Bảng 1.4 Mối liên quan giữa nhóm máu hệ ABO và một số bệnh lý 18

Bảng 1.5 Mối liên quan giữa bệnh lý ung thư và nhóm máu hệ ABO 18

Bảng 3.1 Số đơn vị và tỷ lệ KHC được sử dụng theo nhóm ABO từng tháng 37

Bảng 3.2 Số đơn vị và tỷ lệ % KHC theo nhóm ABO theo mùa 39

Bảng 3.3 Số đơn vị và tỷ lệ HTTĐL theo nhóm ABO từng tháng 40

Bảng 3.4 Số đơn vị và tỷ lệ HTTĐL theo nhóm ABO theo mùa 41

Bảng 3.5 Số đơn vị và tỷ lệ KTCGT theo nhóm ABO từng tháng 42

Bảng 3.6 Số đơn vị và tỷ lệ KTCGT theo nhóm máu ABO theo mùa 43

Bảng 3.7 Số đơn vị và tỷ lệ KTC theo nhóm máu ABO từng tháng 44

Bảng 3.8 Số đơn vị và tỷ lệ KTC theo nhóm máu ABO theo mùa 45

Bảng 3.9 Sử dụng tủa yêú tố VIII theo nhóm máu ABO từng tháng 46

Bảng 3.10 Sử dụng tủa VIII theo nhóm máu ABO theo mùa 47

Bảng 3.11 Số đơn vị và tỷ lệ chế phẩm máu theo nhóm máu hệ ABO tại các khoa lâm sàng BVBM từ 5/2016 – 4/2017 47

Bảng 3.12 Số đơn vị và tỷ lệ sử dụng KHC theo nhóm ABO ở nhóm bệnh máu theo tháng 49

Bảng 3.13 Số đơn vị và tỷ lệ sử dụng chế phẩm máu theo nhóm ABO ở một số bệnh máu 50

Bảng 3.14 Số đơn vị và tỷ lệ % chế phẩm máu theo nhóm ABO ở một số bệnh tim mạch theo tháng 52

Bảng 3.15 Số đơn vị và tỷ lệ chế phẩm máu theo nhóm máu ABO ở một số bệnh nhóm tim mạch 53

Trang 10

Bảng 3.17 Số đơn vị và tỷ lệ chế phẩm máu theo nhóm máu hệ ABO ở một

số bệnh tiêu hóa 55Bảng 3.18 Số đơn vị và tỷ lệ KHC theo nhóm ABO ở nhóm bệnh ung thư

theo tháng 56Bảng 3.19 Số đơn vị, tỷ lệ theo nhóm ABO ở một số bệnh nhóm ung thư 58Bảng 4.1 Số đơn vị và tỷ lệ % sử dụng chế phẩm máu theo nhóm ABO và

tỷ lệ phân bố nhóm máu ABO trong cộng đồng 59Bảng 4.2 Tỷ lệ nhóm máu hệ ABO theo một số tác giả 60Bảng 4.3 Số đơn vị và tỷ lệ sử dụng KHC theo nhóm ABO vào tháng

3/2017 và phân bố nhóm máu ABO trong cộng đồng 61Bảng 4.4 Số đơn vị và tỷ lệ sử dụng KHC theo nhóm ABO vào tháng

7/2016, 12/2016 và tháng 1/2017 và phân bố nhóm máu ABO trong cộng đồng 61Bảng 4.5 Số đơn vị và tỷ lệ KHC theo nhóm ABO vào mùa đông và phân

bố nhóm máu ABO trong cộng đồng 63Bảng 4.6 Số đơn vị và tỷ lệ sử dụng theo nhóm ABO ở nhóm bệnh máu và

phân bố nhóm máu hệ ABO trong cộng đồng 71Bảng 4.7 Số đơn vị và tỷ lệ sử dụng chế phẩm máu theo nhóm ABO ở

nhóm bệnh tim mạch và phân bố nhóm máu hệ ABO trong cộng đồng 72Bảng 4.8 Số đơn vị, tỷ lệ sử dụng theo nhóm ABO ở nhóm bệnh lý dạ dày

– tá tràng và phân bố nhóm máu ABO trong cộng đồng 73Bảng 4.9 Số đơn vị, tỷ lệ sử dụng theo nhóm ABO ở nhóm xuất huyết dạ

dày và phân bố nhóm máu ABO trong cộng đồng 74Bảng 4.10 Số đơn vị, tỷ lệ sử dụng theo nhóm ABO ở nhóm bệnh ung thư

và tỷ lệ phân bố nhóm máu ABO trong cộng đồng 75

Trang 11

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ sử dụng chế phẩm máu theo nhóm máu hệ ABO 36

Biểu đồ 3.2 Số đơn vị chế phẩm máu truyền khác nhóm hệ ABO 37

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Cấu trúc kháng nguyên nhóm máu hệ ABO 14

Hình 2.1 Định nhóm máu hệ ABO tự động trên máy 30

Hình 2.2 Ngưng kết trong ống nghiệm 31

Hình 2.3 Các mức độ ngưng kết trong ống nghiệm 31

Hình 2.4 Nguyên lý của kỹ thuật ngưng kết cột gel 32

Hình 2.5 Các mức độ ngưng kết của kỹ thuật ngưng kết cột gel 32

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Máu và chế phẩm máu là loại thuốc đặc biệt sử dụng trong cấp cứu

và điều trị bệnh Cho đến nay, dù loài người đã tiến rất xa trong lĩnh vựckhoa học kỹ thuật nhưng vẫn chưa điều chế được chất thay thế máu bởi vậynguồn cung cấp máu và chế phẩm máu vẫn phải lấy từ người hiến máu Yhọc càng tiến bộ đòi hỏi nhu cầu máu càng cao Theo WHO thì cần phải có2% dân số của một nước cho máu 1 lần/năm để đáp ứng nhu cầu máu củaquốc gia [1] Dân số Việt nam tính đến ngày 22 tháng 03 năm 2017 là95.145.144 người như vậy cần khoảng 1.902.902 người hiến máu 1 lần/nămmới đủ máu cho điều trị [2] Chuyên ngành truyền máu Việt Nam trongnhững năm gần đây đã có những tiến bộ vượt bậc trong việc cung cấp chếphẩm máu an toàn Phong trào vận động hiến máu tình nguyện phát triểnrộng khắp dần tiến tới xoá bỏ tình trạng tiếp nhận máu từ người hiến máuchuyên nghiệp Sử dụng máu và chế phẩm máu chỉ đạt hiệu quả khi có chỉđịnh đúng và đáp ứng kịp thời do vậy cần có máu lưu trữ để đáp ứng kịp thờicho cấp cứu, điều trị, quốc phòng, an ninh và phòng thảm hoạ

Bệnh viện Bạch Mai (BVBM) là một bệnh viện lớn của nước ta, nơi tậptrung một số lượng lớn bệnh nhân Cùng với khoa lâm sàng bệnh máu, cácviện, khoa, phòng khác thuộc BVBM đều có nhu cầu sử dụng máu cho điềutrị rất lớn Phần lớn lượng máu, chế phẩm máu đều do Viện Huyết học -Truyền máu Trung ương cung cấp Tuy vậy, một thực trạng hiện nay là thiếumáu cho điều trị và thiếu không đồng đều giữa các nhóm máu Ở Việt Namtrong nhiều năm qua luôn luôn có hiện tượng trong thời gian thiếu máu thìđặc biệt thiếu nhóm O, nhóm A và luôn dư nhóm B Hiện tượng này khôngchỉ một vài năm mà liên tục gần mười năm nay, không chỉ ở một mà ở nhiềubệnh viện Theo tổng hợp số liệu dự trù của trên 120 bệnh viện, nhu cầu

Trang 13

máu nhóm A và O luôn cao hơn khoảng 3% so với tỷ lệ người có nhómmáu này trong cộng đồng Chính vì vậy, tình trạng thiếu nhóm máu A, Orất hay xảy ra Thực tế đáp ứng được khoảng trên 80% dự trù máu nhóm A

và O, trong khi đó tỷ lệ cấp phát nhóm máu B, AB gần như luôn là 100%,thậm chí thừa so với nhu cầu Việc xác định lý do sự thiếu máu không đồngđều như một quy luật là nhu cầu cần thiết Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiêncứu đề tài này nhằm mục tiêu:

1 Đánh giá thực trạng sử dụng máu, chế phẩm máu theo nhóm ABO

ở bệnh nhân được truyền máu tại bệnh viện Bạch Mai từ tháng 5/2016 – 4/2017.

2 Phân tích tình hình sử dụng máu theo nhóm ABO ở một số nhóm bệnh tại bệnh viện Bạch Mai.

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Lịch sử truyền máu

1.1.1 Lịch sử truyền máu trên thế giới

1.1.1.1 Truyền máu trước năm 1990

Năm 1492, tại Rome, Đức Giáo Hoàng Innocent VIII bị một cơn độtquỵ, ông bị yếu và hôn mê Bác sĩ khuyên truyền máu như một biện pháp điềutrị cho căn bệnh của Đức Giáo Hoàng Do y học chưa phát triển, bệnh tìnhcủa Đức Giáo Hoàng không cải thiện và qua đời vào cuối năm đó [3], [4], [5]

Năm 1628, bác sĩ người Anh William Harvey (1578-1657) mô tả chứcnăng của tim và sự tuần hoàn của máu Ông chỉ ra rằng tim là một máy bơm

và sự co bóp của tim đẩy máu vào các động mạch và máu đó quay trở lại timsau khi lưu thông qua các tĩnh mạch Do đó, máu lưu thông tuần hoàn trong

cơ thể Harvey suy luận chức năng của các van là để ngăn chặn máu chảyngược vào trong các tĩnh mạch [3], [4], [5]

Năm 1678, truyền máu từ động vật sang người đã được thử nghiệm bằngnhiều cách khác nhau, nhưng không thành công và sau đó bị cấm bởi Hiệp hộicác bác sĩ Paris vì xảy ra nhiều biến chứng dẫn đến tử vong [3], [4], [5]

Năm 1818, James Blundell, một bác sĩ sản khoa người Anh, đã thànhcông khi thực hiện truyền máu của người cho một bệnh nhân bị băng huyếtsau sinh Người cho máu chính là chồng của bệnh nhân, ông lấy một lượngmáu nhỏ từ cánh tay của người chồng, sử dụng một ống tiêm, truyền trực tiếpcho người vợ Giữa những năm 1825 và 1830, ông đã thực hiện 10 lần truyềnmáu, 5 trong số đó chứng minh có lợi cho bệnh nhân và kết quả được công

bố Ông cũng phát minh ra những công cụ khác nhau để thực hiện truyền máu[3], [4], [5]

Trang 15

Năm 1840, tại London, Anh, Samuel Armstrong Lane được sự trợ giúpcủa chuyên gia tư vấn - Tiến sĩ Blundell, lần đầu tiên thực hiện thành côngtruyền máu để điều trị bệnh Hemophilia [4], [5].

Từ năm 1873 đến năm 1880, trong những năm này, các bác sĩ Mỹ ghinhận, đã truyền sữa (từ bò, dê) cho người [3]

Năm 1884, truyền nước muối thay thế sữa như "chất thay thế máu", dotần số phản ứng bất lợi với sữa tăng [3], [4], [5]

1.1.1.2 Truyền máu sau năm 1990

Năm 1901, Karl Landsteiner, một bác sĩ người Áo, cá nhân quan trọngnhất trong lĩnh vực truyền máu, lần đầu tiên 3 nhóm máu người được ghinhận A, B và O Năm 1902, nhóm máu chính thứ 4 là AB của người được ghinhận bởi A Decastrello và A Sturli [3], [4], [5], [6]

Năm 1907, Hektoen cho rằng an toàn của việc truyền máu có thể đượccải thiện bằng thực hiện phản ứng chéo (cross-matching) giữa máu của ngườicho và người bệnh để loại trừ các hỗn hợp không tương thích ReubenOttenberg lần đầu tiên truyền máu theo nhóm máu và thực hiện phản ứngchéo (cross-matching) Ottenberg cũng áp dụng quy luật của Menden vàonhóm máu và O là nhóm được công nhận phổ biến nhất [3], [4], [5]

Năm 1908, bác sĩ phẫu thuật người Pháp, Alexis Carrel đề xuất mộtphương pháp để ngăn chặn đông máu Phương pháp của ông đòi hỏi phải nốiđông mạch của người cho trực tiếp với tĩnh mạch của người nhận qua đườngkhâu của vết mổ Ông lần đầu tiên sử dụng kỹ thuật này để cứu sống con traicủa một người bạn với ba bệnh nhân là người cho máu Quy trình này khôngkhả thi cho truyền máu, mở đường cho việc cấy ghép nội tạng thành công saunày, Carrel nhận giải Nobel năm 1912 [3]

Năm 1915, tại bệnh viện Mt Sinai ở thành phố New York, RichardLewisohn được ghi nhận là đã sử dụng natri citrat như một chất chống đông

Trang 16

máu, làm thay đổi quy trình truyền máu trước đây thành quy trình truyền máu

cơ bản như hiện nay và hoạt động Ngân hàng máu cơ bản đã hình thành Hơnnữa, cùng thời gian này, R Weil chứng minh tính khả thi của bảo quản lạnhcũng là hình thức chống đông máu [3], [4], [5]

Năm 1916, Francis Rous và J R Turner giới thiệu một dung dịchcitrate glucose có thể lưu trữ máu trong vài ngày sau khi lấy máu Ngoài ra,năm 1915, Lewisohn khám phá điều này cho phép máu được lưu trữ trong cácthùng chứa để truyền sau và phương pháp truyền trực tiếp từ tĩnh mạch đếntĩnh mạch ra đời (vein-to-vein) Phát hiện này cũng trực tiếp dẫn đến việcthành lập "kho máu" đầu tiên của Anh trong Thế chiến I Oswald Robertson

đã được ghi nhận là tác giả của "kho máu" này [3], [6]

Năm 1937, Bernard Fantus, giám đốc điều trị tại Bệnh viện CookCounty ở Chicago, Illinois (Mỹ), thành lập ngân hàng máu bệnh viện đầu tiên

ở Mỹ Với phòng thí nghiệm bệnh viện có khả năng giữ và lưu trữ máu củangười hiến, Fantus gọi là "Ngân hàng máu" Trong vài năm, các ngân hàngmáu bệnh viện và cộng đồng bắt đầu được thành lập trên khắp nước Mỹ Tại

Mỹ, một số Ngân hàng máu sớm nhất được ghi nhận là ở Cincinnati, Miami,New York và San Francisco [3]

Năm 1940, Edwin Cohn, một giáo sư sinh hóa tại Trường Y Harvard,

đã phát triển một ethanol phân đoạn lạnh, quá trình phân tách huyết tương rakhỏi các thành phần khác của máu Albumin, một loại protein có đặc tínhthẩm thấu mạnh, cộng với gamma globulin và fibrinogen đã bị tách riêng vàsẵn sàng sử dụng trong lâm sàng Hiệu quả của việc sử dụng albumin trongtruyền máu lần đầu tiên đã được chứng minh bởi John Elliott [3]

Năm 1943, J F Loutit và P L Mollison giới thiệu dung dịch acidcitrate dextrose (ACD), làm giảm thể tích chất chống đông máu, cho phéptruyền khối lượng máu lớn hơn và lưu trữ máu lâu hơn [4], [5], [6]

Trang 17

Năm 1947, hiệp hội các ngân hàng máu Mỹ (AABB) được thành lập để

"thúc đẩy các mục tiêu chung của các ngân hàng máu và hiến máu cộng đồng

Mỹ ra đời" [5], [6]

Năm 1950, Carl Walter và W P Murphy giới thiệu các túi nhựa để thuthập máu Thay thế chai thủy tinh dễ vỡ bằng những túi nhựa Phát triển kỹthuật này kéo theo sự phát triển của hệ thống thu gom an toàn và dễ dàng hơn,điều chế nhiều thành phần máu từ một đơn vị máu toàn phần duy nhất [3]

Năm 1972, chiết tách tiểu cầu "Apheresis" đã được sử dụng để tách tiểucầu [3]

Năm 1979, một chất chống đông máu mới là CPDA-1 có tác dụng kéodài thời gian lưu trữ của máu và các tế bào máu đến 35 ngày, tăng cường cungcấp máu và tạo điều kiện chia sẻ máu giữa các ngân hàng máu với nhau [3]

Năm 1983, chất nuôi dưỡng hồng cầu mới được giới thiệu, kéo dài thờigian lưu trữ máu đến 42 ngày [3], [5]

Năm 1985, các xét nghiệm sàng lọc máu đầu tiên để phát hiện HIVđược cấp phép và thực hiện bởi các Ngân hàng máu Mỹ [3]

Năm 1987, hai xét nghiệm gián tiếp để sàng lọc viêm gan C được pháttriển và thực hiện: anti-HBc và kiểm tra men gan alanine (ALT) [3]

Năm 1989, tại Mỹ, lần đầu tiên thực hiện sàng lọc virus HTLV-I (antiHTLV-I) ở người hiến máu [3]

Năm 1990, xét nghiệm sàng lọc phát hiện viêm gan C (loại viêm gankhông phải A, B) [3]

Năm 1992, xét nghiệm sàng lọc kháng thể kháng HIV-1 và kháng thểHIV-2 đã được thực hiện [3]

Năm 1996, xét nghiệm kháng nguyên p24 HIV [3]

Năm 1999, kỹ thuật khuếch đại acid nucleic (NAT) được sử dụngtrong sàng lọc máu được FDA công nhận NAT trực tiếp phát hiện các vật liệu

di truyền của virus như viêm gan C và HIV [3]

Trang 18

1.1.2 Lịch sử truyền máu tại Việt Nam

Trước năm 1954, trung tâm truyền máu thuộc quyền quản lý của quânđội Pháp Hòa bình lập lại (năm 1954), trung tâm truyền máu đầu tiên củanước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã được thành lập tại bệnh viện Trung ươngquân đội 108 Năm 1956, bệnh viện Việt Đức thành lập Khoa “Lấy máu vàTruyền máu” Năm 1970 tại bệnh viện Bạch Mai, giáo sư Bạch Quốc Tuyên

đã thành lập “Khoa Lấy máu” Truyền máu ở nước ta giai đoạn này chủ yếu làphục vụ cho chiến tranh, cho quân đội, truyền máu toàn phần là chủ yếu, lấymáu vào chai thủy tinh và truyền máu trong ngày, chưa có phương tiện để bảoquản máu dài ngày và chưa triển khai điều chế các thành phần máu [7], [8],[9] Các bệnh lây truyền qua đường truyền máu chỉ mới sàng lọc được tácnhân gây bệnh sốt rét và giang mai, chỉ có một vài cơ sở triển khai sàng lọcđược HBsAg cho người hiến máu Truyền máu được thực hiện ở hầu hết ở cácbệnh viện trung ương, các bệnh viện tỉnh và 100% trường hợp bệnh nhânđược truyền máu toàn phần, chưa có chương trình quốc gia về an toàn truyềnmáu [8], [9]

Từ năm 1975 đến năm 1992: Nhu cầu máu gia tăng, nguồn máu thu đượcchủ yếu là từ người bán máu (trên 90%) Thu gom máu được lấy vào chai vớiquy trình hở, an toàn truyền máu về mặt miễn dịch chủ yếu mới thực hiệnđịnh nhóm máu hệ ABO và làm phản ứng chéo ở phòng xét nghiệm để tìmđơn vị máu tương đồng Các bệnh lây truyền qua đường truyền máu chỉ mớisàng lọc được tác nhân gây bệnh sốt rét và giang mai, chỉ có một vài cơ sởtriển khai sàng lọc được HBsAg cho người hiến máu Truyền máu được thựchiện ở hầu hết ở các bệnh viện trung ương, các bệnh viện tỉnh và 100% trườnghợp bệnh nhân được truyền máu toàn phần, chưa có chương trình quốc gia về

an toàn truyền máu [8], [9], [10].

Từ năm 1993 đến năm 2005: Truyền máu Việt Nam đã phát triển toàndiện theo xu hướng phát triển hiện đại của truyền máu trong khu vực và thế

Trang 19

giới Phong trào vận động cho máu tình nguyện trên quy mô toàn quốc đã bắtđầu được khởi động từ ngày 24/1/1994 Đổi mới các trang bị thu gom và bảoquản máu: Thay chai bằng túi chất dẻo, thay giường bằng ghế lấy máu, tủlạnh bảo quản máu và quầy lạnh bảo quản huyết tương Sàng lọc đủ 5 bệnhnhiễm trùng theo yêu cầu của Tổ chức y tế thế giới trên phạm vi toàn quốc:HIV, giang mai, sốt rét, HBV, HCV [8],[9].

Sản xuất và chuẩn hoá các chế phẩm máu bao gồm: Khối hồng cầunghèo bạch cầu, khối tiểu cầu pool, khối tiểu cầu được tách từ một cá thể trên

hệ thống máy tự động, huyết tương tươi, huyết tương tươi đông lạnh, tủa lạnhyếu tố VIII và khối bạch cầu hạt trung tính [8], [9], [10]

Từ 2005 đến nay, bước đầu chúng ta đã tập trung hoá được một sốtrung tâm truyền máu và xây dựng các trung tâm truyền máu khu vực(TTTMKV), những trung tâm này trở thành những cơ sở cung cấp máu lớn,chịu trách nhiệm cung cấp máu cho các bệnh viện, các tỉnh mà trung tâm baophủ Các cơ sở truyền máu nhỏ thuộc diện bao phủ của TTTMKV đã khôngcòn tổ chức tiếp nhận, sàng lọc, điều chế các sản phẩm máu mà chỉ tập trungvào lưu trữ, phát máu an toàn và truyền máu lâm sàng hợp lý và hiệu quả [11],[12] Bước đầu chúng ta đã xây dựng được phong trào HMTN phát triển bềnvững, Ban chỉ đạo vận động HMTN cấp quốc gia và các cấp tỉnh, huyện đãđược thành lập, công tác tổ chức vận động hiến máu được thực hiện một cáchhiệu quả, đã duy trì nguồn người HMTN ổn định Chúng ta từng bước hoànthiện qui trình tổ chức hiến máu, tiếp nhận máu từ các tỉnh về TTTMKV, hoànthiện quy trình chăm sóc và tư vấn sức khoẻ người hiến máu Chúng ta đã xâydựng được cơ chế tài chính cho công tác tuyên truyền vận động HMTN mộtcách hợp lý và hiệu quả; xây dựng quy chế tôn vinh người HMTN; mở rộngphạm vi cung cấp máu của các TTTMKV; từng bước hoàn thiện qui trìnhcung cấp máu từ các trung tâm đến các tỉnh, các bệnh viện [11], [13], [14]

1.2 Các chế phẩm máu và chỉ định sử dụng

Trang 20

a Nguyên tắc, chỉ định sử dụng

Truyền máu cứu sống bệnh nhân đồng thời truyền máu có thể gây nguyhiểm cho người bệnh vì vậy để truyền máu hiệu quả, an toàn, hợp lý khi chỉđịnh truyền máu, bác sĩ điều trị cần tôn trọng các nguyên tắc sau:

Đánh giá đúng, chính xác tình trạng lâm sàng của bệnh nhân để xem xétbệnh nhân có cần truyền máu không, cần thành phần gì, số lượng bao nhiêu

Phải dựa vào quy chế truyền máu của Bộ Y tế và bảng kiểm 10 điểmdành cho bác sĩ lâm sàng khi truyền máu của Tổ chức Y tế Thế giới

Xem xét trong kho máu có máu không, có sản phẩm gì

Nắm được đặc điểm của sản phẩm máu hiện có trong ngân hàng máu

và kho máu bệnh viện để có chỉ định sát thực tế và có hiệu lực [15]

b Máu, các chế phẩm máu, cách dùng

1.2.1 Máu toàn phần

MTP là máu tĩnh mạch của người hiến máu được lấy cho vào túi nhựa

dẻo đã có sẵn dung dịch chống đông [16], [17]

Chỉ định

+ Mất máu trên 30% thể tích tuần hoàn

+ Thay thế khối hồng cầu trong mất máu cấp kèm giảm thể tích tuần hoàn + Bệnh nhân cần truyền khối hồng cầu nhưng không có sẵn khối hồng cầu.

Từ máu toàn phần bằng phương pháp ly tâm phân lớp, người ta có thểsản xuất ra được nhiều chế phẩm của máu như khối hồng cầu (KHC), khốitiểu cầu (KTC), khối bạch cầu (KBC) hạt, huyết tương tươi đông lạnh(HTTĐL) và tủa lạnh yếu tố VIII

1.2.2 Khối hồng cầu

KHC là máu toàn phần đã loại bỏ phần lớn huyết tương, có hematocrit

không vượt quá 75% [16], [17]

Chỉ định

Trang 21

+ Thiếu máu mạn tính, Hb< 80 g/l.

+ Mất máu cấp dưới 30% thể tích tuần hoàn

+ Thiếu máu kèm theo bệnh tim mạch

1.2.3 Khối hồng cầu rửa

Là khối hồng cầu đã được rửa nhiều lần bằng dung dịch nước muốiđẳng trương hoặc nước muối pha loãng [16], [17]

Chỉ định

+ Thiếu máu, tan máu miễn dịch có hoạt hóa bổ thể

+ Bệnh nhân có kháng thể chống IgA gây phản ứng dị ứng

+ Phản vệ khi truyền máu có IgA

1.2.4 Khối hồng cầu nghèo bạch cầu, tiểu cầu

Là khối hồng cầu đã loại bỏ bạch cầu trong túi máu bằng cách sửdụng lọc bạch cầu hoặc ly tâm, có thể điều chế trong hệ thống kín hoặc hở[16], [17]

Chỉ định

+ Phòng ngừa nguy cơ gây miễn dịch hệ HLA trên bệnh nhân ghép tạng + Giảm nguy cơ lây truyền HIV, CMV…

1.2.5 Khối tiểu cầu

1.2.5.1 Khối tiểu cầu từ người cho máu ngẫu nhiên

Là tiểu cầu được tách ra từ máu toàn phần bằng máy ly tâm, thườngđược điều chế từ bốn túi máu toàn phần [16], [17]

Chỉ định

+ Phòng xuất huyết cho bệnh nhân có số lượng tiểu cầu dưới 20 G/l.+ Bệnh nhân có số lượng tiểu cầu giảm nặng dưới 10 G/l, có biểu hiệnxuất huyết nặng

+ Bệnh nhân phẫu thuật có rối loạn chức năng tiểu cầu

1.2.5.2 Khối tiểu cầu phù hợp HLA

Trang 22

+ Là tiểu cầu được điều chế bằng máy tách tiểu cầu tự động từ mộtngười cho máu có HLA tương đồng với bệnh nhân[16], [17]

từ người cho huyết tương [16], [17]

Huyết tương tươi đông lạnh: Là huyết tương được tách từ máu toàn phầntrong 6h đầu kể từ khi lấy máu, bảo quản ở -20ºC -30ºC trong 6 tháng

Chỉ định

+ Rối loạn đông máu do các yếu tố đông máu

+ Bệnh Hemophilia

+ Đông máu rải rác trong lòng mạch

Huyết tương thường: huyết tương thu được sau 8 giờ Huyết tương nàygiảm một số yếu tố đông máu V, VIII, bổ thể và các thành phần khác còn tốt Huyết tương đã lấy tủa lạnh yếu tố VIII: huyết tương này còn nguyên cácprotein nhưng các yếu tố đông máu còn rất ít do một phần tách ra cùng yếu tốVIII, phần khác tự hủy do thời gian và thao tác

Trang 23

Huyết tương giàu kháng thể chống virus viêm gan B: dùng tốt cho bệnhnhân viêm gan virus B.

Các sản phẩm chiết tách từ huyết tương: huyết tương có nhiều sản phẩmquý nếu chiết tách từng phần thì hiệu quả truyền máu của truyền máu càng cao.+ Tủa lạnh F-VIII: yếu tố VIII+ sợi huyết

+ Albumin: dung dịch 5%, 20% tiêm tĩnh mạch

+ Gamma globulin

+ Yếu tố VIII cô đặc

+ Một số men có giá trị trong điều trị

1.3.2 Đặc điểm của nhóm máu hệ ABO

Trang 24

Hệ nhóm máu ABO có bốn nhóm chính là nhóm A, nhóm B, nhóm AB

và nhóm O Bốn nhóm máu này được nhận biết dựa vào sự có mặt hoặckhông có mặt của kháng nguyên A, kháng nguyên B trên bề mặt hồngcầu và sự có mặt hoặc không có mặt của kháng thể chống A, kháng thểchống B trong huyết thanh Kháng nguyên của hệ nhóm máu ABOthường xuất hiện sớm vào khoảng tuần thứ năm sau khi thụ thai Khángthể chống A và kháng thể chống B thường là kháng thể tự nhiên có bảnchất là IgM, thích hợp hoạt động ở 4°C, xuất hiện sau khi sinh, tăngdần hiệu giá và đạt cực đại vào 5-10 tuổi, không qua được hàng ràonhau thai, không bao giờ có trong huyết thanh của cá thể có khángnguyên tương ứng trên bề mặt hồng cầu Kháng thể chống A và chống

B cũng có thể là kháng thể miễn dịch, có bản chất là IgG, thích hợphoạt động ở 37°C, được hình thành qua một quá trình đáp ứng miễndịch do tiếp xúc với kháng nguyên của hệ ABO gặp trong trường hợpbất đồng nhóm máu giữa mẹ và con, truyền máu không hoà hợp hệABO, các kháng thể này có thể lọt qua hàng rào nhau thai, có khả năngkết hợp với bổ thể và gây tan máu trong lòng mạch [5], [18], [19], [20],[21], [22], [23]

Bảng 1.1 Đặc điểm của các nhóm máu chính hệ ABO

Nhóm máu Kháng nguyên trên bề

Các gen mà tạo nên kháng nguyên A và B của hệ nhóm máu ABO được

mã hoá bởi enzyme glycosyltransferases của a.a 354 Các enzyme này khithêm một đường đặc biệt vào vị trí của một carbohydrat cột trụ mà kết thúc

Trang 25

bằng đường fucose (Kháng nguyên H) sẽ dẫn tới làm thay đổi lượng khángnguyên A (N acetyl D galactosamine) hoặc lượng kháng nguyên B (D-galactose) trên bề mặt hồng cầu và chính vì lượng kháng nguyên A và B trên

bề hồng cầu sẽ quyết định một cá thể nào đó có nhóm máu A hoặc B, hoặc

AB, hoặc O Người có nhóm máu Bombay là do đường fuctose (Khángnguyên H) được thêm ở (1,2) glycosyltransferases, enzyme này được mã hoábởi một gen có tên là FUT và chính điểm biến đổi này trong gen này sẽ làmtăng số lượng các hồng cầu thiếu hụt chất H và kết quả là làm cho các khángnguyên A, kháng nguyên B không biểu lộ Sự khác nhau chính giữa các gen

mã hoá transferases đặc hiệu của nhóm máu A và B bao gồm 7 nucleotid, chỉ

4 trong số 7 nucleotid này có sự thay thế các a.a (Arg 179 gly, Gly 235 Ser,Leu 266 Met, Gly 268 Ala) là có thể dẫn tới sự xuất hiện một nhóm máu mớicủa hệ nhóm máu ABO Do vậy hiện nay với kỹ thuật sinh học phân tử người

ta đã phát hiện có rất nhiều dưới nhóm của hệ thống nhóm máu ABO (Ví dụ:

A2, Ax, cis AB, Ael, Bm ), tất cả các dưới nhóm này đều có liên quan đếnnhững đột biến điểm và mất đoạn trong gen transferase (Trên exons 6 và 7),kết quả của việc giảm hoạt động của các enzyme là làm các kháng nguyên A

và B yếu đi Hiểu biết cơ bản về cấu trúc phân tử của Alleles giúp chúng ta cóthể định nhóm chính xác các trường hợp A yếu, B yếu và để phân biệt chúngvới nhóm O và các trường hợp thiếu hụt H [24], [25], [26]

Trang 26

Hình 1.1 Cấu trúc kháng nguyên nhóm máu hệ ABO [27].

Ngoài bốn nhóm máu chính đã được trình bầy ở trên, năm 1911 VonDungerm và Hirszfeld đã phát hiện nhóm máu A gồm có hai loại khác nhau lànhóm A1 và A2 Nhóm máu A2 thường gặp hơn ở người Châu Âu (20%), trong

số những người có nhóm máu A2 thì có khoảng 1-8 % là có kháng thể tự nhiênchống lại hồng cầu A1 và khoảng 35% người có nhóm A2B có kháng thể tựnhiên chống lại hồng cầu A1 Cho đến nay người ta đã phát hiện được khánhiều dưới nhóm của nhóm máu A và B như A3, Ax, B3, Bx, Bm [18], [20], [23],

[28], [29], [30]

Nhóm máu hệ ABO có tỷ lệ rất khác nhau tuỳ thuộc vào chủng tộc và cáckhu vực khác nhau trên thế giới Bảng 6 dưới đây cho thấy tỷ lệ của các nhómmáu hệ ABO của một số nước, chủng tộc qua nghiên cứu của số tác giả trong

và ngoài nước [5], [18], [23], [31], [32], [33], [34]

Bảng 1.2 Tỷ lệ nhóm máu hệ ABO theo nghiên cứu một số tác giả trong

và ngoài nước

Trang 27

Tên nước, chủng tộc Tỷ lệ các nhóm máu hệ ABO (%)

454979

10184

34

42,145,044,544,8

30,128,329,929,4

5,75,445,45,3

Bảng 1.3 Tỉ lệ nhóm máu ABO giữa người Việt Nam

KT trong huyết tương

1.4 Mối liên quan giữa nhóm máu ABO và một số bệnh lý

Bên cạnh vai trò quan trọng trong thực hành truyền máu, nhóm máuABO đã được khẳng định liên quan đến một số bệnh lý Sự hiểu biết về nhóm

Trang 28

máu và bệnh lý rất quan trọng, một số bệnh lý thường gặp hơn ở những ngườinhóm máu đặc biệt [26], [35], [36], [37].

Mối liên quan giữa nhóm máu ABO với bệnh lý lần đầu tiên được đềcập đến là bệnh vàng da tan huyết ở trẻ sơ sinh do bất đồng nhóm máu mẹ con

hệ ABO, qua thống kê người ta thấy tai biến này gặp với tỷ lệ 1/150 ở trẻ sơsinh Tai biến truyền nhầm nhóm máu hệ ABO cũng đặc biệt nghiêm trọng vìgây tan máu cấp trong lòng mạch [26], [35], [36], [37]

Tác giả Van Loghem, Gold và Tovey qua nghiên cứu đã cho thấy tínhkháng nguyên A ở những bệnh nhân lơxêmi thường bị yếu đi và tính khángnguyên sẽ mạnh trở lại tuỳ thuộc vào tình trạng lui bệnh của bệnh nhân Tácgiả Starling và Fernbach đã nhiên cứu 30 bệnh nhi lơ xê mi nhóm máu Atrong vòng 12 tháng, hồng cầu của 11/30 cháu có biểu hiện yếu đi của khángnguyên A và có một sự khác nhau đáng kể về sự thiếu hụt kháng nguyên A vớicác phương pháp điều trị hoá chất khác nhau, tuy nhiên không thấy có sựtương quan giữa tình trạng bệnh và mức độ yếu đi của kháng nguyên A Tácgiả Scott và Rasbride cũng thông báo một bệnh nhân Hodgkin có biểu hiệncủa thiếu hụt cả kháng nguyên A và I [26], [35], [36], [37]

Năm 1929, tác giả Hilber và Hirzfeld đã tiến hành nghiên cứu trongquần thể người Trung Quốc tại Singapore và đưa ra nhận xét rằng có mộtmối liên quan giữa nhóm máu hệ ABO và bệnh lao phổi, người có nhómmáu B, AB có nguy cơ mắc bệnh lao phổi cao hơn so với những người cónhóm máu khác [26], [35], [36], [37]

Nhóm máu ABO cũng liên quan đến bệnh tim mạch, theo tác giảMourant (1978) thì những người có nhóm máu A có nguy cơ mắc bệnh timmạch cao hơn so với những người có nhóm máu khác Tác giả Hafeezullahnghiên cứu 252 người bị nhồi máu cơ tim trong quần thể người Nam Á và 75

Trang 29

người khỏe mạnh bình thường cũng nhận xét tương tự là những người cónhóm máu A có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim cao hơn những người nhóm máukhác của hệ ABO [26], [35], [36], [37]

Tác giả Madhu (1980), nhóm máu A hay bị sốt rét hơn những nhómmáu khác

Theo tác giả Saha (1985) và Kanbay và Emmanuel (2005) thì nhómmáu A dễ bị ung thư dạ dày, ung thư tử cung, ung thư đại tràng, các bệnh vềđường mật hơn những người có nhóm máu khác [26], [35], [36], [37]

Người nhóm máu O dễ mắc các bệnh như loét dạ dày và đường tiêuhóa, von Willebrand hơn những người nhóm máu khác [26], [35], [36], [37]

Tác giả Gill và cộng sự cho rằng hệ nhóm máu ABO chi phối nồng độVWF trong huyết tương Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy nhóm máu O

có nồng độ VWF thấp hơn có ý nghĩa so với những cá thể nhóm máu khác[26], [35], [36], [37]

George (2005) cho thấy mối liên quan giữa ung thư dạ dày, loét và ungthư biểu mô ruột kết, ung thư vú và ung thư phế quản với nhóm máu hệ ABO.Người có nhóm máu A có nguy cơ mắc ung thư dạ dày cao hơn 20% so vớinhững người có nhóm máu O [26], [35], [36], [37]

Qua nghiên cứu người ta cũng thấy có một mối liên quan giữa nhómmáu hệ ABO với sức khoẻ như: Người có nhóm máu O có răng chắc khoẻnhất Theo Aird và cộng sự cho thấy có một mối liên quan giữa ung thư dạdầy, loét và ung thư biểu mô ruột kết, trực tràng, ung thư vú và phế quản vớinhóm máu hệ ABO Người có nhóm máu A có mối liên quan chặt chẽ với ungthư dạ dầy, người có nhóm máu B và kháng nguyên Tn liên quan đến ung thưđại tràng, kháng nguyên Lex với các di căn ung thư, nhóm máu hệ Duffy vớisốt rét Những người có nhóm máu A cũng có nguy cơ cao mắc một số loạiung thư hơn so với người có nhóm O (bảng 1.4, bảng 1.5) [35], [36], [37]

Trang 30

Bảng 1.4 Mối liên quan giữa nhóm máu hệ ABO và một số bệnh lý

Bảng 1.5 Mối liên quan giữa bệnh lý ung thư và nhóm máu hệ ABO

Ung thư Tăng mối liên quan (Nhóm A/O)

Tỷ lệ bị viêm loét dạ dày hành tá tràng ở những người nhóm máu O cao hơnnhóm máu khác khoảng 30- 35% Người nhóm máu A có nguy cơ dễ mắc cácbệnh ung thư hơn các nhóm máu khác khoảng 13% [37]

Mối liên quan giữa nhóm máu hệ ABO và một số bệnh tật đã được giảithích một cách khoa học như sau:

Vi khuẩn gây bệnh đậu mùa mang một kháng nguyên giống khángnguyên A, do đó người nhóm máu A không thể tạo được kháng thể chống Agóp phần vào loại trừ vi khuẩn này, còn nếu trong trường hợp người nhóm máu

A có thể tạo kháng thể chống A thì lúc đó hồng càu người đó lại bị ngưng kếtbởi kháng thể kháng A có trên bề mặt hồng cầu người này gây tan máu

Hồng cầu người có nhóm máu O có kháng nguyên H nhiều hơn so với

3 nhóm còn lại, vi khuẩn gây bệnh dịch hạch mang kháng nguyên giống

Trang 31

kháng nguyên H Vì thế người nhóm máu O không thể tạo kháng thể chống H

do vậy dễ mắc dịch hạch hơn [37]

Việc nghiên cứu mối liên quan giữa nhóm máu hệ ABO và bệnh lý cóvai trò quan trọng trong truyền máu, chẩn đoán và tiên lượng bệnh

1.5 Tình hình sử dụng máu và chế phẩm

1.5.1 Tình hình sử dụng máu trên thế giới

Tổ chức y tế thế giới đã đặt ra mục tiêu là mỗi quốc gia trên thế giới cầnphải tự cung tự cấp càng an toàn càng tốt máu và chế phẩm máu với mức chiphí hợp lý và phù hợp với nhu cầu mỗi quốc gia [38]

Hầu hết các nước châu Âu, châu Mỹ, châu Á đều có chương trình quốcgia về truyền máu và an toàn máu, có ngân hàng máu thực sự đủ máu để cungcấp cho nhu cầu điều trị và cấp cứu người bệnh Các kỹ thuật mới về ATTMđược áp dụng một cách hệ thống: Truyền máu từng phần, truyền máu tự thân,lọc bạch cầu trước bảo quản, sàng lọc kháng thể bất thường Việc sàng lọccác bệnh nhiễm trùng bằng các kỹ thuật hiện đại như kỹ thuật miễn dịch, kỹthuật phân tử PCR đã giúp rút ngắn giai đoạn cửa sổ, nâng cao chất lượngsàng lọc, nhờ vậy ATTM ở các nước trên đã đạt đến mức cao [39]

Năm 1999, tại Wild Kreuth (Đức), cộng đồng châu Âu đã thực hiện mộtbước mới, lập ra hướng dẫn kỹ lưỡng về quy trình truyền máu lâm sàng(TMLS) và sự cần thiết phải truyền máu đúng và đủ Quy định mới cũnghướng dẫn: Không nên lạm dụng truyền máu để tránh các hậu quả về cácbệnh lây qua đường truyền máu, gây ra các bệnh tự miễn, nhiễm sắt, đáiđường, lãng phí kinh tế của bệnh nhân, lãng phí nguồn máu hiếm Tuy nhiênquy định này cũng đề cập là: cần phải nhận định rõ những trường hợp cấp cứucần truyền máu để cứu người bệnh, vì vậy cần thiết phải xây dựng các ngânhàng máu có chất lượng, an toàn, hiệu quả [40], [41]

1.5.2 Tại Việt Nam

Trang 32

Việc sử dụng máu và chế phẩm vẫn đóng vai trò chính trong điều trị cácbệnh về máu, ngoại khoa, sản khoa và một số bệnh thuộc nhiều chuyên khoakhác Nhu cầu máu ngày càng tăng, trong khi đó, chưa có đủ máu cho nhucầu điều trị Theo WHO, số lượng đơn vị máu cần cho một quốc gia bằng2% dân số

Nhu cầu máu cần cho cấp cứu và điều trị là rất lớn.Tình trạng khan hiếmmáu nghiêm trọng thường xuyên diễn ra tại các cơ sở điều trị, đặc biệt lànhững cơ sở chuyên sâu và hiện đại Theo ước tính của tổ chức y tế thế giớihiện nay toàn thế giới mới chỉ đáp ứng 20-25% máu đáp ứng cho điều trị Còntại Việt Nam máu vẫn thiếu hằng năm, chưa đáp ứng được nhu cầu máu tốithiểu do tổ chức y tế thế giới đưa ra [23]

Phát triển truyền máu lâm sàng: chỉ định và sử dụng hợp lý máu và sản phẩm máu Truyền máu từng phần đã được thực hiện cho 100% bệnhnhân được truyền máu và chế phẩm tại các bệnh viện trực thuộc Trung tâmtruyền máu Hà Nội Đây là một thay đổi lớn về nhận thức và thói quen truyềnmáu toàn phần của các bác sỹ ở các bệnh viện Truyền máu từng phần giúptránh được những tác dụng phụ của truyền máu toàn phần như phản ứng tanmáu, sốt, dị ứng, tăng sắt huyết thanh, các biến chứng chuyển hóa, nguy cơlây truyền các bệnh truyền nhiễm Truyền máu từng phần là sử dụng hiệu quảnhất nguồn máu quý giá, tránh lãng phí do một đơn vị máu có thể tách ra cácthành phần máu khác nhau và được truyền cho nhiều bệnh nhân [15]

các-Tuy vậy, ở một số nơi vẫn sử dụng máu toàn phần để điều trị (tuy khôngnhiều) Việc sử dụng máu toàn phần vừa lãng phí, vừa có nguy cơ xảy ra phảnứng miễn dịch trong truyền máu do bất đồng hệ thống HLA (hệ thống khángnguyên bạch cầu, tiểu cầu) và hệ thống kháng nguyên huyết tương [7]

Sử dụng máu hoàn hồi còn rất hạn chế tự phát, chưa có qui trình thugom, kiểm tra, theo dõi truyền máu theo tiêu chuẩn quốc gia, chưa có chỉ đạo

Trang 33

thống nhất triển khai truyền máu tự thân, có kế hoạch bằng cách lấy máutrước mổ và pha loãng máu trong phẫu thuật

Hiện nay ngành truyền máu Việt Nam cũng như thế giới đang đứngtrước những khó khăn, thử thách lớn:

+ Năng lực chẩn đoán, cấp cứu và điều trị ngày càng cao dẫn đến nhucầu sử dụng máu ngày càng tăng

+ Mô hình bệnh tật ngày càng phức tạp: Ung thư, chấn thương, tai nạnlao động… Ở các nước phát triển, với hệ thống y tế tiên tiến, nhu cầu về máutiếp tục tăng để trợ giúp các thủ thuật và phẫu thuật phức tạp, điều trị chấnthương và các rối loạn về máu

+ Sự gia tăng dân số cũng đòi hỏi chăm sóc y tế nhiều hơn cũng đòi hỏităng nhu cầu về máu

+ Ngoài ra ở những nước còn nhiều khó khăn về điều trị, phần lớn chỉđịnh truyền máu là để điều trị những biến chứng trong quá trình thai nghén vàsinh con, thiếu máu nặng ở trẻ em, chấn thương và rối loạn bẩm sinh

+ Phong trào Hiến máu tình nguyện ở nước ta chính thức được triển khaitrong gần hai mươi năm qua Nếu như năm 1994, cả nước mới tiếp nhận hơn100.000 đơn vị máu (chủ yếu từ người bán máu) thì đến năm 2011 cả nước đãvận động, tiếp nhận được 776.427 nghìn đơn vị máu trong đó tỉ lệ hiến máu tựnguyện đạt 88,5% Năm 2016, toàn quốc đã vận động tiếp nhận được1.203.041 đơn vị máu, đạt 109,1% kế hoạch, tăng gần 4% so với năm 2015,trong đó 97,5% là hiến máu tình nguyện, tương đương 1,52% dân số hiến máu,

số nguơi hiến máu nhắc lại đạt gần 40%, đáp ứng khoảng 75% nhu cầu điều trị[42] Tuy vậy, lượng máu tiếp nhận hằng năm vẫn chỉ đáp ứng được 40% nhucầu điều trị Do đó, tình trạng các bệnh nhân cấp cứu, chờ mổ, người cần chếphẩm máu để truyền phải tạm hoãn vẫn diễn ra ở các cơ sở y tế

Trang 34

+ Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, để đảm bảo an toàntruyền máu cho một quốc gia, lượng máu tiếp nhận hằng năm cần đạt 2% dân

số [1] Trong khi đó tỉ lệ này ở nước ta mới chỉ đạt 0,88%, vì vậy nguyênnhân chính dẫn đến tình trạng thiếu máu ở nước ta là do thiếu người hiến máutình nguyện Việc thiếu máu ở nước ta diễn ra theo mùa Tình trạng thiếu máuhay xảy ra vào dịp nghỉ Tết Nguyên Đán, dịp hè, là lúc học sinh, sinh viênnghỉ học vì đây là thành phần chính tham gia hiến máu tình nguyện ở nước ta.Còn thực tế tại các địa phương, công tác chỉ đạo, tuyên truyền HMTN chưađược quan tâm, chưa sát với thực tế nên người dân chưa hiểu hết được tầmquan trọng và ý nghĩa của việc HMTN

Công tác truyền máu và ATTM còn nhiều khó khăn, thiếu nguồn ngườihiến máu, thiếu trang thiết bị, chưa phát triển được các kỹ thuật mới và hiện đại.Phong trào hiến máu nhân đạo tuy đã có những tiến bộ đáng kể nhưng cònchưa phát triển một cách sâu rộng, nhận thức của người dân về hiến máu nhânđạo còn thấp Tỷ lệ bệnh nhiễm trùng qua đường truyền máu, tai biến miễn dịchcòn cao [43]

Kiến thức về truyền máu lâm sàng của các bác sỹ còn hạn chế Theonghiên cứu của tác giả Đỗ Trung Phấn, David và cộng sự (2001) tại 6 bệnhviện tuyến TW và tuyến tỉnh, tuyến huyện cho thấy [43]

+ Phần lớn bệnh viện chưa có văn bản thành lập hội đồng truyền máubệnh viện hoạt động theo định kỳ và đúng chức năng

+ 36% các bác sỹ chỉ định truyền máu dựa vào nồng độ Hb, số còn lạidựa vào lâm sàng, hematocrit, số lượng hồng cầu

Vì vậy, cần thiết phải lập kế hoạch đào tạo và thống nhất nội dung đàotạo về truyền máu lâm sàng trong cả nước Thành lập ban giám sát ATTM tạicác bệnh viện, báo cáo đầy đủ, thường xuyên về tình hình truyền máu, đặc

Trang 35

biệt là các tai biến truyền máu.

1.5.3 Tại bệnh viện Bạch Mai

Là bệnh viện đa khoa trung ương, tuyến cuối tiếp nhận các bệnh nhân

từ các tỉnh, thành phố trong cả nước Bệnh viện khám, cấp cứu và điều trịbệnh nhân thuộc nhiều chuyên khoa khác nhau, đồng thời phát triển ngàycàng cao các kỹ thuật hiện đại chuyên sâu

Hiện nay bệnh viện với gần 2.000 giường bệnh, 3 Viện, 8 Trung tâm,

23 khoa Lâm sàng Quy mô phát triển ngày càng mở rộng, tiến tới thực hiệncác kỹ thuật chuyên sâu ngang tầm với khu vực và trên thế giới thì nhu cầu vềmáu và chế phẩm của bệnh viện ngày càng lớn và không ngừng tăng lên.Truyền máu từng phần đã được bệnh viện áp dụng tới nay đã thực hiện là100% các trường hợp truyền máu từng phần [41] Nguồn máu sử dụng tạiBạch Mai do viện HHTMTW cung cấp Để góp phần đáp ứng kịp thời chonhững nhu cầu về máu và chế phẩm cho bệnh viện, chỉ định truyền máuhợp lý (truyền đúng, đủ, cần gì truyền nấy, không cần, không truyền) , phải

có những chiến lược, kế hoạch dự trù máu, chế phẩm cụ thể và phổ cập cáckiến thức về chỉ định truyền máu cho toàn bộ các bác sỹ làm việc tại cácKhoa lâm sàng

1.6 Một số nghiên cứu về tình hình sử dụng máu và chế phẩm máu

Nghiên cứu tình hình sử dụng máu tại các khoa lâm sàng BVBM của Kiều Thị Thanh năm 2000-2003 [44].

+ Nhóm máu O chiếm 45%, nhóm A chiếm 21,1%, nhóm B chiếm29,4% và 4,5% là nhóm AB

+ Chế phẩm máu được sử dụng thấp nhất vào tháng 2 và có xu thế tăngcao vào các tháng cuối năm

Trang 36

Nghiên cứu tình hình sử dụng máu và các sản phẩm máu phục vụ cho cấp cứu và điều trị tại bệnh viện Bạch mai của Nguyễn Thị Hồng từ tháng 1/2005 đến hết tháng 6/2006 [45].

+ Nhóm máu O chiếm 44,49%, nhóm A chiếm 18,59%, nhóm B chiếm

31,31% và 5,61% là nhóm AB

- Nghiên cứu tình hình sử dụng máu và các chế phẩm máu tại Bệnh viện Bạch

Mai trong năm 2012 của Trần Ngọc Định năm 2012 [46].

+ Nhóm máu A chiếm 19,3%, nhóm máu B chiếm 27,4%, nhóm máu

AB chiếm 6,3%, nhóm máu O chiếm 47%

Trang 37

Nguyễn Ích Việt, Bùi Thị Mai An, Nguyễn Quang Tùng, Nguyễn Anh Trí nghiên cứu tình hình sử dụng máu, chế phẩm máu tại Viện huyết học truyền máu trung ương năm 2010 – 2011 [47].

+ Nhóm máu O được sử dụng (46,9%), nhóm máu AB được sử dụng(5,1%), nhóm máu A chiếm (19,3%), nhóm máu B chiếm (28,7%)

“ Nghiên cứu tình hình sử dụng máu, chế phẩm máu tại bệnh viện Việt

Đức“ của Lưu Thị Tố Uyên từ tháng 7/2015 đến tháng 6/2016 đã sử dụng:

62.221 đơn vị máu và chế phẩm, trong đó chế phẩm KHC được sử dụng nhiềunhất là 36.284 đơn vị, chiếm tỷ lệ 58,31% Khối hồng cầu được sử dụng nhiềunhất vào tháng 3 và tháng 10 [48]

+ Sử dụng chế phẩm máu theo nhóm máu hệ ABO

+ Tổng lượng máu tiếp nhận năm 2010 là 6.289 đơn vị, tăng hơn đáng

kể so với năm 2008 Tỷ lệ tiếp nhận máu từ người hiến máu tình nguyện năm

2010 chiếm 99%

+ Hệ nhóm máu ABO gặp nhiều nhất là nhóm O (42,9%), thấp nhất lànhóm AB (5,4%)

Trang 38

Nghiên cứu của Hà Hữu Nguyện, Trần Ngọc Quế, Ngô Mạnh Quân, Phạm Tuấn Dương về Tình hình tiếp nhận máu tại viện huyết học truyền máu trung ương năm 2009 – 2013 [50].

+ Số lượng máu tiếp nhận qua các năm tăng rất cao năm 2013 là

179161 đơn vị gấp 1,6 lần so với năm 2009

Nguyễn Thị Diệu Hương, Nguyễn Quang Tùng nghiên cứu tình hình sử dụng các chế phẩm máu tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2010 – 2011 [51].

+ Tỷ lệ sử dụng theo thứ tự giảm dần là: O, B, A, AB

+ Khoa nội tổng hợp và ung bướu là 2 khoa sử dụng chế phẩm máunhiều nhất

+ Việc cung cấp của viện huyết học truyền máu trung ương khác nhautùy từng loại chế phẩm

Tác giả Bùi Thị Mai An và Phí Thị Quỳnh Anh (2009), khi nghiên cứu

về mối liên quan giữa nhóm máu ABO và bệnh lý huyết học cũng đưa ra nhận xét [52].

+ Nhóm máu O có nguy cơ mắc Lơ xê mi cao hơn 1,26 lần nhóm máuB; Những người có nhóm máu O có nguy cơ mắc bệnh đa u tủy xương thấphơn 0,5 lần so với nhóm máu A

+ Những người có nhóm máu O có nguy cơ mắc bệnh xuất huyết giảmtiểu cầu cao hơn 1,58 lần so với những người nhóm máu A

Trang 39

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

95.453 đơn vị máu, chế phẩm máu truyền cùng nhóm máu hệ ABOđược sử dụng tại các khoa lâm sàng bệnh viện Bạch Mai từ tháng 5/2016 –4/2017

Bệnh nhân được truyền máu tại BVBM từ tháng 5/2016 – 4/2017.2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang, hồi cứu và tiến cứu trong đó:

+ Giai đoạn từ tháng 5/2016 - 9/2016: Hồi cứu

+ Giai đoạn từ tháng 10/2016 – 4/2017: Tiến cứu

- Thiết kế nghiên cứu theo mục tiêu nghiên cứu

2.2.2 Các biến số nghiên cứu

- Tháng, năm phát đơn vị máu và chế phẩm máu;

- Nhóm máu hệ ABO của bệnh nhân: nhóm máu A, nhóm máu AB,nhóm máu B, nhóm máu O;

- Khoa phòng bệnh nhân đang được điều trị;

- Loại chế phẩm máu yêu cầu: KHC, HTTĐL, KTC, KTCGT, tủa lạnhyếu tố VIII;

Trang 40

- Mùa: Theo lịch vạn niên

+ Mùa hè: Từ 18/05/2016 đến 6/8/2016;

+ Mùa thu: 7/8/2016 – 6/11/2016;

+ Mùa đông: 7/11/2016 – 2/2/2017;

+ Mùa xuân: 3/2/2017 – 4/5/2017

2.2.3 Phương tiện nghiên cứu

2.2.3.1 Phần mềm Labcom quản lý cấp phát máu và hồ sơ bệnh nhân được truyền máu; các thông tin khi được chỉ định truyền máu (ngày, tháng, năm

yêu cầu máu, họ tên bệnh nhân, nhóm máu ABO của bệnh nhân, tuổi, giớitính, chẩn đoán lâm sàng, số giường, khoa phòng bệnh nhân được điều trị)

2.2.3.2 Trang thiết bị

- Trang thiết bị định nhóm máu ABO của bệnh nhân, đơn vị máu người cho và làm phản ứng chéo;

- Tủ lạnh bảo quản sinh phẩm và mẫu máu;

- Máy ly tâm ống máu;

2.2.3.3 Vật liệu nghiên cứu

- Ống nghiệm tan máu, đầu côn nhựa Pipetman, Pipet pasteur, lamkính, cốc mỏ, ống đong, bút marker, bông, gạc

2.2.3.4 Sinh phẩm

Ngày đăng: 06/06/2020, 14:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Nguyễn Anh Trí (2010). Chuyên khoa Huyết học - Truyền máu Việt Nam trong quá trình đổi mới hội nhập. Một số chuyên đề Huyết học Truyền máu, Nhà xuất bản y học, 3, 7-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên khoa Huyết học - Truyền máu Việt Namtrong quá trình đổi mới hội nhập
Tác giả: Nguyễn Anh Trí
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2010
22. Clausen H., Hakomori S. (1989), ABH and Related Histo-Blood Group Antigens; Immunochemical Diifferences in Carrier Isotype and their Distribution, Vox Sang, 56, pp. 1 – 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ABH and Related Histo-Blood GroupAntigens; Immunochemical Diifferences in Carrier Isotype and theirDistribution
Tác giả: Clausen H., Hakomori S
Năm: 1989
23. Daniels G., Bromilow I. (2007), Esseltial Guide to Blood Group, Blackwell Publishing Ltd, 2 nd end, pp. 1 – 103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guide to Blood Group
Tác giả: Daniels G., Bromilow I
Năm: 2007
24. Bùi Thị Mai An (2004), Ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử trong nghiên cứu kháng nguyên nhóm máu hệ hồng cầu, Một số chuyên đề Huyết học - Truyền máu, 1, 177-187 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử trongnghiên cứu kháng nguyên nhóm máu hệ hồng cầu
Tác giả: Bùi Thị Mai An
Năm: 2004
25. Daniel P. Stites; Abba I. Terr, Tristram G. Parsloww (1994), Basic &amp;Clinical Immunology, A Lange Medical Book, pp. 216-229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Basic &"Clinical Immunology
Tác giả: Daniel P. Stites; Abba I. Terr, Tristram G. Parsloww
Năm: 1994
26. Helmut Schenkel – Brunner (2000), Human Blood Groups- Chemical and Biochemical- Basis of Antigen specificifi, pp. 54-622.27 https://en.wikibooks.org/wiki/Structural_Biochemistry/Carbohydrates/Blood_Type Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human Blood Groups- Chemicaland Biochemical- Basis of Antigen specificifi
Tác giả: Helmut Schenkel – Brunner
Năm: 2000
(2002), The clinical significance of blood group antibodies, Transfusion Med, 12, pp. 287 – 295 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The clinical significance of blood group antibodies
30. Pruss A., Heymanm G. A., Braun J., Kiesewetter, Salama A. (2006),“Detection of a new weak A blood group allele (A w 11)”, Vox Sang, 90(3), pp. 195 – 197 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Detection of a new weak A blood group allele (A"w" 11)”
Tác giả: Pruss A., Heymanm G. A., Braun J., Kiesewetter, Salama A
Năm: 2006
32. Chester A. M., Olsson M. L. (2001), The ABO blood group gene: a locus of cóniderable gêntic diversity, Transfus Med Rev, 15, pp. 177 – 200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The ABO blood group gene
Tác giả: Chester A. M., Olsson M. L
Năm: 2001
33. Daniels G. (2011), Blood Grouping by molecular genetics, ISBT Science Series, Wiley – Blackwell, 6(2), pp. 257-260 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Blood Grouping by molecular genetics
Tác giả: Daniels G
Năm: 2011
34. Bạch Quốc Tuyên (1991), An toàn truyền máu, Bài giảng Huyết học Truyền máu,Nhà xuất bản Y học, 207-214 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An toàn truyền máu
Tác giả: Bạch Quốc Tuyên
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1991
35. Denise M. Harmening (1999), Modern blood banking and transfusion practise, Book promotion &amp; service, fourth edition, pp: 90-213 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Modern blood banking and transfusionpractise
Tác giả: Denise M. Harmening
Năm: 1999
37. Bùi Thị Mai An (2010). Đặc điểm một số nhóm máu hệ hồng cầu và mối liên quan với bệnh lý. Một số chuyên đề Huyết học – Truyền máu, Nhà xuất bản y học, 3, 102 - 108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm một số nhóm máu hệ hồng cầu và mốiliên quan với bệnh lý
Tác giả: Bùi Thị Mai An
Nhà XB: Nhàxuất bản y học
Năm: 2010
39. Đỗ Trung Phấn (2000), An toàn truyền máu, NXB y học, Hà Nội,trang 7- 8,21,88-150,259-260 (14) Sách, tạp chí
Tiêu đề: An toàn truyền máu
Tác giả: Đỗ Trung Phấn
Nhà XB: NXB y học
Năm: 2000
40. The European Community (1998), Quality management for blood collection, Prossessing and ditribution, Brusell Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality management for bloodcollection, Prossessing and ditribution
Tác giả: The European Community
Năm: 1998
41. The Rules governing Medicinal prodúct in the EC (1999), Blood safety in the European community an innitiave for optimal use: Conlusion and the recommendation, Wildbad Kreuth, Germany Sách, tạp chí
Tiêu đề: Blood safetyin the European community an innitiave for optimal use
Tác giả: The Rules governing Medicinal prodúct in the EC
Năm: 1999
44. Bùi Thị Mai An, Kiều Thị Thanh (2004), “Tình hình sử dụng máu tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Bạch Mai (2000-2003), Y học thực hành, 497, 126-128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sử dụng máu tại cáckhoa lâm sàng Bệnh viện Bạch Mai (2000-2003), "Y học thực hành
Tác giả: Bùi Thị Mai An, Kiều Thị Thanh
Năm: 2004
45. Nguyễn Thị Hồng (2006), “Nghiên cứu tình hình sử dụng máu và các sản phẩm máu phục vụ cho cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai”.Luận văn thạc sĩ Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu tình hình sử dụng máu và cácsản phẩm máu phục vụ cho cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai”
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng
Năm: 2006
46. Trần Ngọc Định (2012), “Nghiên cứu tình hình sử dụng máu và các chế phẩm máu tại Bệnh viện Bạch Mai”, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình sử dụng máu và các chế phẩmmáu tại Bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Trần Ngọc Định
Năm: 2012
47. Nguyễn Ích Việt (2011), “ Nghiên cứu tình hình sử dụng máu và các chế phẩm tại viện Huyết học – Truyền máu Trung ương 2010 -2011”, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình sử dụng máu và các chếphẩm tại viện Huyết học – Truyền máu Trung ương 2010 -2011”
Tác giả: Nguyễn Ích Việt
Năm: 2011

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w