4.1 Tình hình hoạt động 4.1.1 Số lượng và phân bố HTX Đến cuối năm năm 2007, toàn tỉnh Hậu Giang có 177 tổ chức HTX bao gồm 112 HTXNN số liệu thống kê của liên minh HTX năm 2007 và 65 H
Trang 1THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HẬU GIANG
Như chúng ta biết thì các HTX đóng vai trò là đại diện cho người lao động, nhất là các lao động nghèo ở vùng nông thôn, nơi mà nhu cầu liên kết là một nhu cầu có thực, xuất phát từ các hiện thực khách quan của kinh tế thị trường Tuy nhiên vai trò này vẫn chưa được thực hiện tốt đối với các HTX NN ở tỉnh Hậu Giang khi mà chỉ có một số ít các HTX NN làm ăn có hiệu quả đem lại lợi ích cho xã viên, còn lại thì hầu như chỉ hoạt động cầm chừng, chờ giải thể, gây mất lòng tin cho cộng đồng Vấn đề đặt ra là làm sao khắc phục được những yếu kém đó, để HTX NN tỉnh Hậu Giang nói riêng và của cả nước nói chung đủ sức đảm nhiệm tốt vai trò cùng với kinh tế nhà nước ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa
4.1 Tình hình hoạt động
4.1.1 Số lượng và phân bố HTX
Đến cuối năm năm 2007, toàn tỉnh Hậu Giang có 177 tổ chức HTX bao gồm 112 HTXNN (số liệu thống kê của liên minh HTX năm 2007) và 65 HTX phi nông nghiệp, trong đó HTXNN bao gồm lĩnh vực nông nghiệp, các HTX kinh doanh nông nghiệp chủ yếu như: HTX cây giống; dịch vụ phân bón; dịch vụ bảo vệ thực vật; dịch
vụ bảo vệ đồng ruông; bơm tưới; dịch làm đất; HTX dich vụ kỹ thuật; dịch vụ thú y; dịch vụ vận chuyên; dịch vụ thu hoạch, sơ chế và bảo quản sản phẩm; dịch vụ tiêu thụ; dịch vụ tín dụng; sản xuất chăn nuôi; dịch vụ cây ăn trái; nuôi trồng thủy sản
Trong lĩnh vực nông nghiệp, các HTXNN tỉnh Hậu Giang phân bố rộng khắp đến tất cả các huyện, thị trên địa bàn tỉnh Trong đó huyện có số lượng HTXNN tập trung nhiều nhất ở các huyện như Châu Thành chiếm 32,14%, Phụng Hiệp chiếm 10,7% và Long Mỹ chiếm 25% số lượng HTXNN thuộc địa bàn tỉnh Bên cạnh đó để HTXNN ngày càng phát triển, tăng lên về số lượng và ngày càng tăng lên về chất lượng thì UBND tỉnh Hậu Giang cũng như các tổ chức Liên minh HTX, Chi cục HTX đã đưa ra nhiều hành động nhằm giúp các HTXNN đang hoạt động ngày càng phát triển hơn và thúc đẩy tạo mọi điều kiện cho các HTXNN mới thành lập, có thể đáp ứng được nhu cầu nguyện vọng của các xã viên Sau đây là bảng thể hiện sự phân bố số lượng HTXNN nằm trên các địa bàn như sau:
Bảng 26: SỐ LƯỢNG, TỶ LỆ PHÂN BỐ CỦA CÁC HTX NN
Trang 2T
Nguồn: Liên minh HTX tỉnh Hậu Giang
Trong danh sách thống kê chính thức của Liên minh HTX thì đến năm 2007 toàn tỉnh Hậu Giang hiện có 112 HTXNN Tuy nhiên, số liệu khảo sát vào thời điểm tháng
2 năm 2008 cho thấy có đến 122 HTX NN Ta có bảng sau:
Bảng 27: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA HTX NN
Tần số Phần trăm
Phần trăm hợp lý
Phần trăm tích luỹ
Hoạt động cầm
(Nguồn: số liệu thống kê từ mẫu điều tra) + Có 45 HTX chiếm 29,6 % HTXNN đang hoạt động
+ Có 9 HTX chiếm 5,9 % HTXNN ngừng hoạt động
+ Có 66 HTX chiếm 43,4 % HTXNN đang chuẩn bị giải thể và đã giải thể
+ Có 2 HTX chiếm 1,3 % HTXNN mới thành lập
Sở dĩ con số thực tế khác biệt nhiều so với số liệu thống kê của Liên minh HTX chủ yếu do các nguyên nhân chủ yếu sau:
- Một số HTX đang gặp khó khăn trong sản xuất, kinh doanh phải ngừng hoạt động tạm thời hoặc ngừng hoạt động do tính thời vụ của sản xuất
- 43,4% HTXNN đang ở trạng thái chờ giải thể do hoạt động kém hiệu quả, công
nợ kéo dài Ủy ban huyện và các cơ quan địa phương đã tổ chức thực hiện tháo gỡ các khó khăn cho các HTX những không mang lại hiệu quả, phải đi đến giải thể, nhưng do
Trang 3chưa có quyết định chính thức của ủy ban huyện, thị nên vẫn chưa đủ thủ tục giải thể, một số HTX do chưa trả được nợ nên chưa được phép giải thể Trong đó HTXNN đã
có quyết định giải thể nhưng số liệu thống kê từ Liên minh HTX chưa cập nhật kịp cho đến thời điểm khảo sát
- 2 % HTXNN mới được thành lập trong năm 2008 mới chỉ thông qua chính quyền địa phương chấp nhận và đồng ý cấp giấy phép kinh doanh nhưng chưa thông qua Liên minh HTX
4.1.2 Tình hình gia tăng HTX
Bảng 28: THỐNG KÊ SỐ NĂM THÀNH LẬP CỦA CÁC HTX
Tần số Phầntrăm Phần trăm hợp lý Phần trămtích luỹ
(Nguồn: số liệu tổng hợp từ các mẫu điều tra)
Số lượng HTX được thành lập qua các năm đều tăng Cụ thể, từ bảng 28 ta thấy, từ năm 2003 trở về trước có 16 HTX (chiếm 10.5%) được thành lập vì đây là những HTX có thời gian tồn tại trên 5 năm Từ năm 2003 đến năm 2005 có thêm 16 HTX nữa được thành lập (chiếm 29.6% tổng số HTX), đây là những HTX có thời gian tồn tại từ 3 – 5 năm Trong thời gian từ năm 2005 đến nay thì số lượng HTX cũng tăng lên nhanh chóng
Có đến 22 HTX được thành lập thêm (chưa kể đến 2 HTX mới được thành lập gần đây) Nhìn chung xu hướng phát triển của HTX ở Hậu Giang là tăng nhanh về số lượng nhưng chất lượng của các HTX thì vẫn chưa được đảm bảo
4.2 Cơ sở thành lập HTX NN
Xem xét cơ sở thành lập hay chính là xem xét đến động cơ gia nhập vào HTX của
xã viên có ý nghĩa vô cùng quan trọng, ảnh hưởng lớn đến khả năng phát triển về sau này của HTX bởi vì nếu tham gia mà không xuất phát từ nhu cầu thực sự sẽ dễ dẫn đến sự ỷ lại, bàng quan với công việc chung của tập thể mà chỉ lo bảo vệ lợi ích của cá nhân Điều này sẽ làm hạn chế sự phát triển chung của HTX về sau
Trang 4Bảng 29: ĐỘNG CƠ GIA NHẬP HTX
Đvt: Hộ
(Nguồn: Số liệu tổng hợp từ mẫu điều tra)
Qua bảng tổng hợp ta thấy, chỉ có 10 HTX (chiếm18.52%) được thành lập trên cơ
sở tham gia tự nguyện Đây là một bộ phận bà con có nhu cầu thực sự, nhận thấy cần phải hợp tác lại để nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển Tuy nhiên, bộ phận HTX như thế này thì không nhiều Có đến 41 hộ (chiếm 75.93%) tham gia HTX là do chính quyền vận động Đây là những hộ khi tham gia mà vẫn chưa nhận thấy được nhu cầu và trách nhiệm của mình, tham gia có phong trào và quan niệm đây là tổ chức do nhà nước vận động nên khi vào sẽ được nhiều lợi ích
Từ đó ta thấy được các HTX NN ở Hậu Giang được thành lập trên nền tảng không vững chắc do không xuất phát từ nhu cầu thực tế mà chỉ thành lập một cách vội vàng, nóng nảy, giáo điều, chạy theo thành tích của các cơ quan chính quyền Vẫn còn tồn tại quan niệm cũ là khi thành lập sẽ nhận được sự bao cấp của nhà nước dẫn đến tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ từ các cấp Chính điều đó khiến cho nhiều HTX sau khi thành lập hoạt động không hiệu quả, thua lỗ, chỉ tồn tại có hình thức và gây mất lòng tin trong nhân dân đối với loại hình kinh tế này
4.3 Ban quản trị
Ban quản trị đóng vai trò quan trọng góp phần quan trọng quyết định đến sự tồn tại
và phát triển của một tổ chức Đối với loại hình HTX thì Ban quản trị có những nhiều nét đặc trưng riêng, khác biệt
4.3.1 Tuổi của ban quản trị
Tuổi tác có đóng vai trò quan trọng đối với sự điều hành của ban quản trị, nó ảnh hưởng nhiều đến khả năng cũng như phong cách điều hành
Bảng 30: TỔNG HỢP ĐỘ TUỔI CỦA BAN QUẢN TRỊ
Tần số Phần trăm hợp lý Valid Tự nguyện tham gia 10 18.52
Chính quyền vận động 41 75.93 Chuyển đổi từ HTX cũ 3 5.55
Tổng 54 100.0
Trang 5Tần số Phần trăm
hợp lý (%)
Tần số Phần trăm hợp
lý (%)
Tần số Phần trăm
hợp lý (%)
(Nguồn: Số liệu tổng hợp từ mẫu điều tra)
Có đến 53 HTX (chiếm 96.3%) có chủ nhiệm ở độ tuổi từ 40 đến trên 60 tuổi Trong đó có đến 27 HTX có chủ nhiệm trong độ tuổi từ 50 – 60 tuổi Nhìn chung đây là
độ tuổi tương đối cao Đối với những người trong độ tuổi này thì họ ít năng động hơn, tư tưởng không được thoáng trong cách làm ăn Ngoài ra vấn đề tiếp thu kiến thức cũng hạn chế do phần lớn là lớn tuổi nên hạn chế về sức khỏe Tuy nhiên, đối với những ban quản trị này thì có lợi thế là có uy tín, nhận được sự tôn trọng từ phía xã viên và những người xung quanh nên dễ dàng truyền đạt quyết định cũng như kêu gọi sự tham gia trong nhiều hoạt động
Trong khi đó đối với kế toán thì số lượng này là 47 HTX (chiếm 87.1%) có tuổi từ
40 đến 60 tuổi, không có trên 60 tuổi Nhiều HTX số lượng kế toán ở tuổi nhỏ hơn 40 cũng khá cao, đây là độ tuổi được xem là trẻ thích hợp cho việc học hỏi, dễ tiếp thu và năng động Nhưng nhìn chung thì độ tuổi lớn hơn 50 vẫn chiếm đa số từ đó tạo nên sự hạn chế trong công tác kế toán của các HTX
Đối với ban kiểm soát thì độ tuổi từ 40 đến trên 60 tuổi chiếm đa số (98.1%) Chỉ
có duy nhất 1 HTX có ban kiểm soát dưới 40 tuổi, trong khi đó độ tuổi từ 50 – 60 chiếm đến 59.3% Đây là vị trí có tuổi cao nhất trong thành phần ban quản trị vì theo tâm lý để
xã viên bầu chọn cho những vị trí này phải là những người có đủ uy tín, được người dân tin tưởng Và những người lớn tuổi thường được xem là lựa chọn đầu tiên
4.3.2 Trình độ của ban quản trị
Hầu như thành phần ban quản trị của các HTX NN đều đi lên từ nông dân thông qua sự bầu chọn của các xã viên nhờ vào sự tín nhiệm, còn trình độ của ban quản trị thì không được xem yếu tố quan trọng cho việc lựa chọn Từ đó dẫn đến một thực tế đó là đa
số thành viên của ban quản trị đều có trình độ thấp:
Trình độ học vấn
Bảng 31: TỔNG HỢP TRÌNH ĐỘ VĂN HÓA CỦA BAN QUẢN TRỊ
Trang 6Chủ nhiệm Kế toán Kiểm soát Tần số Phần trăm hợp
lý
Tần số Phần trăm hợp
lý
Tần số Phần trăm
hợp lý
(Nguồn: Số liệu tổng hợp từ mẫu điều tra)
Qua bảng 31 ta thấy, số HTX có chủ nhiệm đạt trình độ trung học là cao nhất, có đến 30 HTX (chiếm 55.6%), số HTX có chủ nhiệm đạt trình độ phổ thông là 20 HTX (chiếm 37%) Nhìn chung thì các chủ nhiệm đều có trình độ nhưng vẫn chưa thực sự cao Chính từ sự hạn chế trình độ này đã làm cho các chủ nhiệm khó khăn trong việc học hỏi những kiến thức cao hơn
Do tính chất của công việc kế toán thường liên quan đến những con số nên đòi hỏi người thực hiện nó phải có được những trình độ cũng như kiến thức Qua bảng ta thấy có
33 HTX (chiếm 61.1%) có kế toán đạt trình độ trung học và 19 HTX (chiếm 35.2%) có kế toán đạt trình độ phổ thông Tình hình cũng không khả quan hơn nhìn chung thì trình độ vẫn chưa cao Đối với ban kiểm soát thì tình hình vẫn vậy Trình độ tiểu học và phổ thông vẫn chiếm đa số (81.5%%)
Trình độ chuyên môn
Bảng 32: TỔNG HỢP CHUYÊN MÔN CỦA BAN QUẢN TRỊ
Tần số Phần trăm
hợp lý
Tần số Phần trăm
hợp lý
Tần số Phần trăm
hợp lý Không có 12 22.2 9 16.7 21 38.9
Sơ cấp 26 48.1 28 51.9 22 40.7 Trung cấp 12 22.2 14 25.9 7 13 Đại học -
cao đẳng
4 7.4 3 5.6 4 7.4
Tổng 54 100 54 100 54 100
(Nguồn: Số liệu tổng hợp từ mẫu điều tra)
Từ bảng 32 ta thấy:
Đối với chủ nhiệm thì trình độ sơ cấp chiếm nhiều nhất 26 HTX (chiếm 48.1%)
Số lượng HTX được đào tạo trung cấp là 12 HTX (chiếm 22.2%) Chỉ có 4 HTX có chủ
Trang 7nhiệm được đào tạo qua cao đẳng hoặc đại hoc Trong khi đó số lượng chủ nhiệm không qua đào tạo, chỉ quản lý bằng kinh nghiệm hoặc học hỏi từ những buổi hội thảo là 12 (chiếm 22.2%)
Đối với kế toán thì có đến 32 HTX (chiếm 77.8%) có kế toán được đào tạo ở trình
độ sơ cấp và trung cấp (trong đó sơ cấp là 28 HTX và trung cấp là 12 HTX) Chỉ có 3 HTX có kế toán có trình độ cao đẳng và đại học Vẫn còn đến 9 HTX (chiếm 16.7%) có
kế toán không được đào qua đào tạo
Đối với ban kiểm soát thì tình hình còn tệ hơn Có đến 43 HTX (chiếm 79.6%) có ban kiểm soát không được đào tạo hoặc chỉ được đào tạo ở trình độ sơ cấp (cụ thể sơ cấp
là 22 và không được đào tạo gì cả là 21) Số lượng HTX có ban kiểm soát được đào tạo trung cấp chỉ dừng lại ở con số 7 và con số này đối với đại học là 4
Nói tóm lại một thực tế đối với ban quản trị HTX NN từ kết quả phỏng vấn như sau:
Thành phần ban quản trị đi lên chủ yếu từ tầng lớp nông dân thông qua sự bầu chọn tín nhiệm của các xã viên
Đa phần các thành viên trong ban quản trị HTX có độ tuổi trung bình khá lớn Trình độ văn hóa nhiều nhất chỉ đạt tới cấp 2, kế đến là cấp 1 Chỉ một số lượng ít
có trình độ phổ thông
Trình độ chuyên môn thì hầu như chỉ đạt tới sơ cấp, một ít được đào tạo trung cấp
và cao đẳng hoặc đại học, một số lượng khá lớn không được đào tạo gì cả Đôi khi chỉ được huấn một vài khóa ngắn hạn về kiến thức quản lý nhưng kết quả thu được chẳng bao nhiêu
Trình độ thấp, khả năng tiếp thu kiến thứ hạn chế đã khiến cho ban quản trị thường thụ động, không linh hoạt trong việc nắm bắt thông tin thị trường cũng như khả năng điều hành hoạt động của HTX NN Từ đó làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động chung của toàn bộ HTX
4.3.3 Chế độ lương bổng dành cho ban quản trị
Bảng 33: TÌNH HÌNH LƯƠNG CỦA BAN QUẢN TRỊ
Tần số Phần trăm Tần số Phần trăm Tần số Phần trăm
Trang 8500 < Lương<
(Nguồn: Số liệu tổng hợp từ mẫu điều tra)
Từ bảng 33 ta thấy, đa phần các thành viên trong ban quản trị đều hoạt động không
có lương Có đến 30 HTX các thành viên đều hoạt động không lương Những HTX mặc
dù có trả lương nhưng nhìn chung vẫn chỉ là hình thức khi mà mức lương dưới 500.000 đồng vẫn chiếm đa số Nguyên nhân là do các HTX này hoạt động không có hiệu quả, không tạo được nguồn thu chung cho HTX Có những HTX làm theo mùa vụ chẳng hạn như HTX bơm nước tưới tiêu thì có được thu nhập nên chia lãi cho các xã viên trong đó
có thành phần ban chủ nhiệm, nhưng mức chia này nhìn chung thuờng rất ít Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến ban chủ nhiệm hoạt động không thật sự nhiệt huyết cho HTX, không cảm thấy có trách nhiệm cho công việc chung, và đây cũng
là nguyên nhân không thu hút được nguồn lực có tri thức từ đó dẫn đến hoạt động kém hiệu quả của HTX
4.4 Vốn
Bảng 34: TÌNH HÌNH VỐN CỦA HTX NN
Đvt: 1000 đồng
Tình hình vốn điều lệ Tình hình vốn sử dụng kinh doanh (listwise)Valid N
N 54 54
Nhỏ nhất 4500 10000
Lớn nhất 500000 500000
Tổng (sum) 2888595 3665832
Trung bình(Mean) 53492.50 73316.64
Độ lệch chuẩn 87908.389 107618.758
(Nguồn: Số liệu xử lý từ kết quả điều tra) Tổng vốn điều lệ của tất cả các HTX là 3.377.732.000 đồng Trung bình vốn điều của mối HTX NN là 67.554.640 đồng Độ lệch chuẩn là 118376803 đồng, cho thấy có sự chênh lệch về đồng vốn của các HTX HTX có vốn điều lệ thấp nhất là 4.500.000 đồng và cao nhất là 500.000.000 đồng Ta thấy các HTX NN thường xuyên ở trong tình trạng thiếu vốn khi nhu cầu vốn kinh doanh luôn cao hơn vốn điều lệ Nguyên nhân là do các
xã viên chỉ góp vốn ở một mức cố định thường phổ biến 100.000 – 1.000.000 đồng trong khi đó các HTX thì không có nhiều xã viên, mỗi lần vận động tăng vốn đều rất khó khăn
Trang 9đặc biệt là đối với các HTX hoạt động kém hiệu quả Từ đây phát sinh nhu cầu tìm nguồn vốn tài trợ để bổ sung vốn hoạt động Tuy nhiên vấn đề ở đây là nhu cầu đó của các HTX được giải quyết ở đâu và ở mức độ như thế nào
Theo số liệu khảo sát từ 54 HTX NN thì vay từ NHNN có 24 HTX (phụ lục 71), vay từ NH khác có 17 HTX (phụ lục 72), vay từ chương trình dự án phát triển có 11 HTX (phụ lục 73), vay từ nguồn vốn tư nhân có 20 HTX (phụ lục 74)
Ta thấy khả năng tiếp cận với nguồn vốn tín dụng của các HTX là chưa cao bởi vì theo đánh giá của các HTX thì rất khó khăn để vay được những nguồn vốn này
- Có 44 HTX cho rằng việc đi vay ở NHNN là khó và rất khó (phụ lục 75)
- Có 48 HTX cho rằng việc đi vay ở các quỹ tín dụng nhân là là khó và rất khó (phụ lục 78)
- Có 44 HTX gặp khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn vay ở tư nhân (phụ lục 79) và con số này là 51 HTX đối với các tổ chức phi chính phủ (phụ lục 80)
Nguyên nhân là do các HTX thường không có tài sản thế chấp, phương án kinh doanh trình bày không rõ ràng (điều này xuất phát từ hạn chế về phía của ban quản trị) Bên cạnh đó, các HTX vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức từ phía các ban ngành
có liên quan trong việc vay vốn
Nói tóm lại, các HTX đang gặp vấn đề về vốn như sau:
Hầu hết các HTX đều trong tình trạng thiếu vốn vì các nguồn vốn điều lệ thì thấp nhưng nhu cầu lại rất nhiều (vốn dầu tư tài sản, vốn xây dựng trụ sở, vốn kinh doanh, mở rộng phương án kinh doanh…)
Khả năng tiếp cận với nguồn vốn vay từ các tổ chức là rất khó khăn nguyên nhân chủ yếu là không có đủ tài sản làm đảm bảo, thiếu phương án kinh doanh rõ ràng, nhiều HTX đã gây mất uy tín đối với các tổ chức cho vay
Không nhận được sự hỗ trợ về phía các ban ngành quản lý đặc biệt là các liên minh HTX
Thiếu vốn kinh doanh cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ trong hoạt động của các HTX Nhiều Ban quản lý HTX có nhiệt huyết, có hướng phát triển kinh doanh cho HTX nhưng khi tiếp cận đến nguồn vốn từ các tổ chức thì hoàn toàn không được từ đó khiến nhiều người nản chí không muốn phát triển HTX, không còn muốn hoạt
Trang 10động nữa Đây là trường hợp rất điển hình của nhiều HTX NN đã ngưng hoạt động ở tỉnh Hậu Giang
4.5 Trụ sở hoạt động
Trụ sở hoạt động được xem là bộ mặt của cả tổ chức Việc xây dựng một trụ sở lớn hay nhỏ tùy thuộc vào sự hoạt động mạnh hay yếu của tổ chức đó
Bảng 35: THỐNG KÊ TRỤ SỞ HOẠT ĐỘNG CỦA HTX
Tần số Phần trăm hợp lý Valid Không có trụ sở 42 77.78
Có trụ sở 12 22.22
Tổng 54 100
(Nguồn: Số liệu tổng hợp từ mẫu điều tra) Chỉ có 12 HTX (chiếm 22.22% tổng số HTX) có trụ sở hoạt động Trong khi đó số lượng không có trụ sở hoạt động lên đến 42 HTX (chiếm 77.78%) Điều này đã phản ánh thực tế thiếu hụt vốn của các HTX như vừa phân tích ở trên Tuy mang tiếng là trụ sở hoạt động nhưng thực tế thường chỉ là những căn nhà được xây cất tạm bợ, hoặc thường
là mượn nhà của các thành viên của ban quản trị Điều này thể hiện tính không chuyên nghiệp trong khâu tổ chức của một tổ chức như HTX, điều này thông thường ảnh hưởng không tốt đến cả quá trình hoạt động, cũng là một nguyên nhân gián tiếp làm hạn chế sự phát triển của HTX
4.6 Hiệu quả sản xuất kinh doanh
Kết quả hoạt động của HTX có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với các HTX còn đối với xã viên vì nó cho biết được nguồn thu nhập của xã viên từ các HTX mà mình góp vốn
Bảng 36: KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA HTX QUA 2 NĂM 2006 – 2007
Đvt: 1000 đồng
2006 8450898 5552426 2898472
2007 13949610 10332396 3617214
(Nguồn: Kết quả tổng hợp từ mẫu điều tra)
Nhìn chung, thì chi phí kinh doanh của các HTX tăng lên qua 2 năm, điều này chứng tỏ là các HTX NN đã có bước chuyển mạnh, chấp nhận đầu tư vốn để mở rộng