Ngôi chùa giờ không chỉ là một công trình kiến trúc văn hóa tâmlinh mà nó còn đồng hành cùng dân tộc nay đã trở lên gần gũi là một phầntrong tâm hồn, là niềm tự hào về trí tuệ và tài nă
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG: ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI TÍCH LỊCH SỬ
CHÙA KEO (Xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, Tp.Thái Bình)
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS PHẠM BÍCH HUYỀN Sinh viên thực hiện : VƯƠNG THỊ HIỀN
Lớp : QLVH 18C
Năm học: 2019-2020
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2.Mục đích nghiên cứu 3
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4.Bố cục 3
Chương 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH TỒN TẠI CỦA DI TÍCH CHÙA KEO 4
1.1.Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 4
1.2.Sự hình thành và quá trình phát triển của di tích 5
1.3.Tình hình kinh tế - văn hóa – xã hội 7
1.3.1.Tình hình kinh tế 7
1.3.2.Văn hóa xã hội 9
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ CỦA CHÙA KEO 12
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển lễ hội chùa Keo 12
2.2 Đặc điểm kiến trúc – nghệ thuật của chùa Keo 14
2.3 Đặc điểm lễ hội chùa Keo 18
CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐỐI VỚI VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI TÍCH 23
3.1 Ảnh hưởng của lễ hội chùa Keo 23
3.1.1 Ảnh hưởng tích cực 23
3.1.2 Ảnh hưởng tiêu cực 25
3.2 Những yêu cầu về việc bảo tồn và phát huy lễ hội chùa Keo 26
3.2.1 Phục hồi và phát triển 26
3.2.2 Bảo tồn 28
3.3 Phương hướng và giải pháp 30
3.3.1 Xu hướng 30
3.3.2 Giải pháp 31
KẾT LUẬN 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
PHỤ LỤC ẢNH 37
Trang 3xã hội văn hóa của từng vùng miền mà còn nắm bắt được toàn phong cáchcủa cả một thời kỳ phát triển của đất nước Những công trình kiến trúc nghệthuật dần dần trở thành một kho sử liệu vô cùng phong phú, là phương tiện đểkết nối con người hiện tại với quá khứ Đại đa số các công trình kiến trúcnghệ thuật tiêu biểu nhất tập trung là các ngôi đình, chùa, phủ, điện, miếu, Với người Việt, tinh hoa của trời đất là sông núi, tinh hoa của sông núi là thầnlinh Vì vậy tất cả hững tinh hoa, trí tuệ và tài năng của nghệ nhân đều tậptrung khắc họa trên những chi tiết nhỏ nhất trong các công trình.
Cùng với sự du nhập của Phật giáo vào Việt nam từ buổi đầu côngnguyên, các ngôi chùa dần mọc lên trên đất nước cho đến nay mỗi làng mộtngôi chùa “Đất Vua Chùa làng" có thể hiểu được điều này mới hiểu được cấutrúc của xã hội văn hóa của dân tộc trong bề dài lịch sử.Trải qua biến cốthăng trầm đầy biến động, cha ông ta vẫn gìn được mái “Chùa che chở hồndân tộc"” Ngôi chùa giờ không chỉ là một công trình kiến trúc văn hóa tâmlinh mà nó còn đồng hành cùng dân tộc nay đã trở lên gần gũi là một phầntrong tâm hồn, là niềm tự hào về trí tuệ và tài năng của thế hệ đi trước đầy tựhào đã để lại cho thế hệ đi sau vài vậy ta phải có trách nhiệm bảo vệ giữ gìnnhững di sản quý báu mà cha ông đã để lại Việc tìm hiểu về Chùa Keo(huyệnVũ Thư, thành phốThái Bình) cũng như những ngôi chùa cổ ở Việt Nam thực
sự rất quan trọng và hữu ích Chùa Keo là một công trình kiến trúc cổ mang
Trang 4đậm phong cách kiến trúc từ thời Lý,sư tổ của chùa chính là Lý Triều QuốcSư: Nguyễn Minh Không Qua đó, ta có thể hiểu thêm phần nào về đặc trưnglịch sử, văn hóa Việt Nam Tuy nhiên, hiên nay chùa Keo đang có nguy cơ bịxâm phạm và đánh mất những giá trị vốn có Là sinh viên khoa Quản lí vănhóa nghệ thuật, tôi mong muốn được sử dụng những kiến thức trong nhàtrường để áp dụng vào việc tìm hiểu, nghiên cứu đầy đủ về giá trị của di tíchđình Chùa Keo
2 Mục đích nghiên cứu
Phân tích những đặc điểm tiêu biểu của Chùa Keo, trên cơ sở đó đánhgiá trị của ngôi đình này về phương diện: giá trị lịch sử, kiến trúc – nghệthuật, văn hóa – giáo dục
Trên cơ sở khảo sát thực tế, đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần bảo tồn
và phát huy cao nhất giá trị của di tích với khả năng hiểu biết của bản thân
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là di tích Chùa Keo, xã Duy Nhất, huyện VũThư, thành phố Thái Bình
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu khái quát toàn cảnh di tích Chùa Keotrong không gian, thời gian lịch sử, văn hóa, xã hội huyện Vũ Thư
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điền dã
Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp tư liệu
Phương pháp liên ngành sử học, văn hóa học
4 Bố cục
Chương 1: Lịch sử hình thành và quá trình tồn tại của di tích
Chương 2: Đặc điểm và giá trị tiêu biểu của Chùa Keo
Chương 3: Những vấn đề đặt ra đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị
di tích Chùa Keo
Trang 5Chương 1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH TỒN
TẠI CỦA DI TÍCH CHÙA KEO
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên.
Duy Nhất là một xã thuộc huyện Vũ Thư Huyện nằm ở phía Nam củatỉnh Thái Bình, có tọa độ 20020’ đến 20032’ vĩ độ Bắc; 10010’ đến 16022’
kinh độ Đông được bao bọc bởi hệ thống sông Hồng và sông Trà Lý.Vũ Thư có quốc lộ số 10 chạy qua chia huyện làm đôi (đường số 10 chạy từthành phố Thái Bình kéo đến điểm kết thúc, thuộc địa bàn huyện là cầu Tân
Đệ, có tọa độ 20°26'30,90" vĩ bắc và 106°13'12,45" kinh đông) Huyện VũThư có phía Tây và Nam giáp tỉnh Nam Định (ranh giới là sông Hồng, có cầuTân Đệ bắc qua) Phía Bắc và Đông Bắc lần lượt giáp các huyện Hưng Hà vàĐông Hưng của Thái Bình (ranh giới là sông Trà Lý, Vũ Thư nằm kề ngã basông Hồng và sông Trà Lý) Phía Đông giáp thành phố Thái Bình và huyệnKiến Xương của Thái Bình Xã Duy Nhất nói riêng có diện tích 10.14 km2 vàhuyện Vũ Thư nói chung có diện tích đất đai là 19513.84 ha, diện tích đấtnông nghiệp là 12890.56 ha
Về Cấu trúc địa hình: Vũ Thư là huyện thuộc vùng đồng bằng sôngHồng nên địa hình của huyện tương đối bằng phẳng Độ cao trung bình từ 1đến 1.5m so với mực nước biển Địa hình của huyện có dạng song lượn, cóhướng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam tương tự như địa hình chungcủa toàn tỉnh Đất đai thấp, chạy ven sông Hồng và sông Trà Lý, dải đất caonằm ở giữa huyện chạy dọc sông Kiến Giang Nhìn chung địa hình của huyện
ít phức tạp, tuy đất đai bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi và mương mángnhưng sự chia cắt đó không gây nhiều khó khăn cho sản xuất và chỉ tạo ra sự
đa dạng trong thâm canh tăng vụ, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất,tăng thu nhập cho người dân
Trang 6Về Khí hậu của tỉnh Thái Bình, huyện Vũ Thư nói chung và xã DuyNhất nói riêng là khí hậu đặc trưng vùng đồng bằng sông Hồng, đó là khí hậunhiệt đới gió mùa Khí hậu của huyện được chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa hènóng, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10; mùa đông khô và lạnh từ tháng 11đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 220C -240C,chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm khoảng 80C- 100C Độ ẩm không khí85- 90% Mùa hè nhiệt độ rất cao, cao nhất là 38.50C- 39.50C, những ngàydịu mát nhiệt độ trung bình khoảng 240C- 250C Nhiệt độ trung bình mùađông tại huyện là 200C Nhiệt độ thấp nhất không dưới 4.50C Huyện Vũ Thư
có một mạng lưới sông ngòi dày đặc, ngoài 2 hệ thống sông lớn là sông Hồng
và sông Trà Lý, huyện còn có nhiều hệ thống sông như sông Kiến Giang,sông Búng, sông Cư Lâm, sông Trạch… cùng hệ thống kênh mương đượcphân bố phù hợp cho tưới tiêu phục vụ sản xuất Với vị trí và điều kiện tựnhiên thuận lợi, bằng phẳng, nguồn nước và khí hậu thuận lợi nên nơi đây đãthu hút được sự sinh tụ của con người Trong quá trình đó, văn hóa vật chất,văn hóa tinh thần đã được sản sinh ra và trởthành những giá trị bất diệt củađời sống cộng đồng
1.2 Sự hình thành và quá trình phát triển của di tích.
Lịch sử hình thành và phát triển của xã Duy nhất cũng trải qua nhiềubiến động cùng với những thay đổi hành chính của huyện Vũ Thư Huyện VũThư ngày nay vốn được nhập từ hai huyện trước kia của tỉnh Thái Bình là VũTiên và Thư Trì Riêng 13 xã: Vũ Đông, Vũ Tây, Vũ Sơn, Vũ Lạc, Vũ Quý,Vũ Trung, Vũ Thắng, Vũ Công, Vũ Lễ, Vũ An, Vũ Ninh, Vũ Hòa, Vũ Bìnhsáp nhập về huyện Kiến Xương
Thời nhà Hậu Lê, toàn huyện Vũ Thư thuộc phủ Kiến Xương trấn SơnNam Thời nhà Nguyễn, năm 1832 (triều Minh Mạng) Vũ Thư (VũTiên-Thư Trì) thuộc phủ Kiến Xương tỉnh Nam Định (cũ) (Vũ Thư nằm ởkhoảng giữa tỉnh Nam Định cũ), năm 1890 (triều Thành Thái) toàn huyện VũThư thuộc phủ Kiến Xương tỉnh Thái Bình Trước khi hợp nhất: Huyện Vũ
Trang 7Tiên có 27 xã: Vũ An, Vũ Bình, Vũ Chính, Vũ Công, Vũ Đoài, Vũ Đông, VũHòa, Vũ Hội, Vũ Hồng, Vũ Hợp, Vũ Lạc, Vũ Lãm, Vũ Lễ, Vũ Nghĩa, VũNinh, Vũ Phong, Vũ Phúc, Vũ Quý, Vũ Sơn, Vũ Tây, Vũ Thắng, Vũ Thuận,Vũ Tiến, Vũ Trung, Vũ Vân, Vũ Việt, Vũ Vinh.Huyện Thư Trì có 26 xã:Bách Thuận, Đông Phú, Đồng Thanh, Dũng Nghĩa, Hiệp Hòa, Hòa Bình,Hồng Xuân, Minh Khai, Minh Lãng, Minh Quang, Nguyên Xá, Phú Xuân,Phúc Thành, Song An, Song Lãng, Tam Quang, Tam Tỉnh, Tân Hòa, TânLập, Tân Phong, Thuận Vi, Tiền Phong, Trung An, Tự Tân, Việt Hùng, XuânHòa Sau khi hợp nhất 2 huyện trên và chuyển 13 xã của huyện Vũ Tiên vềhuyện Kiến Xương quản lý, huyện Vũ Thư có 40 xã: Bách Thuận, Đông Phú,Đồng Thanh, Dũng Nghĩa, Hiệp Hòa, Hòa Bình, Hồng Xuân, MinhKhai,Minh Lãng, Minh Quang, Nguyên Xá, Phú Xuân, Phúc Thành, Song An,Song Lãng, Tam Quang, Tam Tỉnh, Tân Hòa, Tân Lập, Tân Phong, Thuận Vi,Tiền Phong, Trung An, Tự Tân, Việt Hùng, Vũ Chính, Vũ Đoài, Vũ Hội, VũHồng, Vũ Hợp, Vũ Lãm, Vũ Nghĩa, Vũ Phong, Vũ Phúc, Vũ Thuận, VũTiến,Vũ Vân, Vũ Việt, Vũ Vinh, Xuân Hòa
Ngày 18 tháng 12 năm 1976:
- Hợp nhất 3 xã Hồng Xuân, Tam Tỉnh và Đồng Thanh thành xã Hồng Lý
- Sáp nhập xã Thuận Vi vào xã Bách Thuận
- Hợp nhất 2 xã Vũ Hồng và Vũ Phong thuộc huyện Vũ Thư thành xãHồng Phong
- Hợp nhất 2 xã Vũ Hợp và Vũ Nghĩa thuộc huyện Vũ Thư thành xãDuy Nhất
- Hợp nhất 2 xã Vũ Lãm và Vũ Chính thuộc huyện Vũ Thư thành xãChính Lãm
- Sáp nhập xã Đông Phú thuộc huyện Vũ Thư vào xã Song Lãng
- Hợp nhất 2 xã Vũ Thuận và Vũ Việt thuộc huyện Vũ Thư thành xãViệt Thuận
Ngày 5 tháng 4 năm 1982:
Trang 8- Thành lập xã Tân Bình trên cơ sở tách thôn Đồng Thanh của xã TiềnPhong và 3 thôn: Trường Mai, Tân Quán, Tú Linh của xã Phú Xuân.
ha diện tích tự nhiên với 1.575 nhân khẩu của xã Hòa Bình
-Ngày 13 tháng 1 năm 1989, chia xã Hồng Lý thành hai xã: Hồng Lý
xã ngày càng được nâng cao và ổn định hơn Về văn hóa - xã hội có sựchuyển biến tích cực, an ninh trật tự, an toàn xã hội được giữ vững
1.3 Tình hình kinh tế - văn hóa – xã hội
1.3.1 Tình hình kinh tế
Huyện Vũ Thư có tổng diện tích đất tự nhiên là 19513.84 ha với diện
Trang 9tích đất nông nghiệp bình quân hộ năm 2008 là 2397.74 m2 Diện tíchđất nông nghiệp chiếm tỉ trọng khá cao và đang có xu hướng giảm Năm 2006diện tích đất nông nghiệp là 13307.60 ha chiếm 67.06% đến năm 2007 là12968.62 ha chiếm 65.36% và đến năm 2008 giảm xuống còn 12649.74 hachiếm 63.74% Nguyên nhân 1 phần đất nông nghiệp đã bị lấn chiếm sử dụngsang các mục đích khác như đất thổ cư, đất chuyên dùng, còn lại phần lớn là
do quy hoạch các khu công nghiệp Trong những năm vừa qua huyện đã córất nhiều cố gắng trong phần đất chưa sử dụng hoặc đất chưa sử dụng đúngmục đích để tăng dần diện tích đất canh tác như: Chương trình dồn điền đổithửa,dồn nhiều thửa nhỏ thành thửa lớn cho các hộ gia đình, từ đó làm tăngđáng kể diện tích đất canh tác
Hệ thống điện: Bao gồm các tuyến đường liên tỉnh, liên huyện, liên xã,
đã được nhựa hóa và khá hoàn chỉnh, trong đó có 250.278 km đường trụcchính được trải nhựa với bề mặt > 4m Số còn lại chủ yếu được trải đá cấpphối và bê tông hóa phục vụ tốt cho nhu cầu đi lại, vận chuyển vật tư, sảnxuất của người dân Ngoài ra còn có 782.42 km đường đất chủ yếu là hệthống giao thông nội đồng
Hệ thống công trình thủy lợi: Đến nay huyện đã có 148 trạm bơm và 58máy bơm điện dầu Ngoài ra huyện có hệ thống mương máng nội đồng gồmcác mương cấp 1, cấp 2, cấp 3 với tổng chiều dài 292.02 km trong đó cứnghóa 99.58 km cò lại bằng đất Bên cạnh 2 tuyến đê với tổng chiều dài là96.32km huyện còn có 21 kè với chiều dài 24.4 km và 29 cống dưới đê làmnhiệm vụ lấy nước, phù sa
Nhìn chung cơ cấu kinh tế của huyện đã và đang chuyển đổi tích cựctheo hướng tăng dần tỉ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, đồng thờigiảm tỉ trọng ngành nông nghiệp Mặc dù cơ cấu của các ngành Nông –LâmThủy sản đang có xu hướng giảm nhưng giá trị kinh tế mà ngành đạtđược không ngừng tăng Nguyên nhân của sự chuyển đổi tích cực này là dohuyện đã và đang tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất
Trang 10hàng hóa, chú trọng sản xuất những cây giống và con giống có năng xuất vàgiá trị kinh tế cao.
Trên đà phát triển của ngành nông nghiệp, những ngành khác cũng pháttriển ngày một bền vững và ổn định Ngành công nghiệp là ngành thu hútđược nhiều lao động góp phần chuyển dịch co cấu lao động theo hướng tăngdần tỉ trọng lao động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, giảm dần tỉ trọngnông nghiệp Công nghiệp phát triển là điều kiện tốt để giải quyết công ănviệc làm cho người lao động, đồng thời tăng ngân sách cho huyện Do đó cóthể khẳng định càng ngày đời sống của người dân trong huyện ngày càngđược nâng cao và ổn định hơn
Cũng giống như toàn huyện Vũ Thư xã Duy Nhất có nền kinh tế đangtừng bước phát triển, có sự kết hợp của sản xuất nông nghiệp với công nghiệp
- tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ Tổng giá trị sản xuất của xã năm
2013 đạt 66 tỷ 512 triệu đồng, tăng 8,1% so với năm 2012 trong đó sản xuấtnông nghiệp tăng 0,87%, công nghiệp - xây dựng tăng 16,3%, dịch vụ thươngmại tăng 14,9% Tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 5,45% Trong sản xuất nôngnghiệp, nông nghiệp thâm canh thì xã Duy Nhất vẫn giữ được giống lúa nếptruyền thống của địa phương với năng suất cao và chất lượng tốt Xã thựchiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con vật nuôi, đưa các loại cây, con vật nuôi
có giá trị kinh tế cao vào thâm canh đồng thời áp dụng những tiến bộ khoahọc - kĩ thuật trong sản xuất Về công nghiệp của xã đã bước đầu được quantâm đầu tư phát triển, thu hút được người dân lao động.Thương mại- dịch vụcủa xã cũng phát triển, hoạt động trao đổi buôn bán diễn ra khá tấp nập vớicác hoạt động buôn bán liên xã, liên huyện Sự phát triển của các hoạt độngkinh tế đã làm cho đời sống nhân dân được nâng cao, bộ mặt thôn xóm thayđổi từng ngày
1.3.2 Văn hóa xã hội
Hệ thống cơ sở hạ tầng của huyện Vũ Thư nhìn chung được trang bịtương đối tốt, đáp ứng được nhu cầu phát triển
Trang 11Công trình phúc lợi:Toàn huyện đã có 34 trường mầm non, 36 trườngtiểu học, 30 trường THCS, 5 trường THPT, 1 trung tâm giáo dục thườngxuyên, 1 trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp và 31 trung tâm học tậpcộng đồng ở 31 xã - thị trấn Đã có 2/34 trường mầm non, 27/36 trường tiểuhọc, 6/30 trường THCS, 2/6 trường THPT đạt chuẩn quốc gia mức độ một,trung tâm giáo dục thường xuyên có cơ sở vật chất tốt, các trung tâm hỗ trợcộng đồng có cơ sở vật chất bước đầu đáp ứng các hoạt động chuyển giaokhoa học kỹ thuật cho người lao động ở nông thôn Hệ thống trường lớp này
về cơ bản được trang bị khá đầy đủ và đáp ứng được nhu cầu đào tạo vàtruyền bá kiến thức tới học sinh trong huyện
Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn huyện đã vàđang được quan tâm đầu tư đáng kể Toàn huyện có 1 bệnh viện trung tâm và
30 cơ sở y tế xã, đảm bảo mỗi xã có 1 cơ sở y tế Trạm y tế các xã, thị trấnđược củng cố cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tổ chức cán bộ
Bệnh viện đa khoa huyện đã được nhà nước đầu tư cả về cơ sở vật chất
và đội ngũ cán bộ Nhiều trang thiết bị hiện đại đã được đưa vào sửdụng Các phòng khám chữa bệnh theo yêu cầu đã được nhân dân tin tưởng
và sử dụng nhiều hơn Các cơ sở hành nghề y, dược tư nhân có xu hướng pháttriển cả về số lượng và quy mô Đến nay trên toàn huyện có 135 cơ sở hànhnghề y dược tư nhân được quản lý, hoạt động theo quy định Đây là điều kiệntốt để chăm sóc sức khỏe cho người dân
Thông tin liên lạc, vui chơi giải trí, giao lưu văn hóa trên địa bàn huyệnphát triển tương đối tốt Toàn huyện có 100% số xã có bưu điện văn hóa xã, 1nhà văn hóa Toàn huyện có 21 chợ và 100% số xã có đài phát thanh Đây làđiều kiện để phục vụ sản xuất của huyện và công tác thông tin tuyên truyềnphổ biến thông tin tới mọi người dân
Đối với Xã Duy Nhất, theo số liệu điều tra vào năm 1999 số dân của xã
là 9.144 người Mật độ dân số là khoảng 902 người/km2 Trong lĩnh vực vănhóa- xã hội có sự chuyển biến tích cực, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Trang 12được giữ vững Công tác giáo dục đào tạo được xã ưu tiên, do vậy chất lượngcác cấp, ngành học đã đạt kết quả vượt bậc Tỷ lệ học sinh mầm non trong độtuổi đến trường >90%, mẫu giáo đạt khoảng 99%, tỷ lệ học sinh lên lớp bậctiểu học, trung học cơ sở cao… Trường tiểu học đã đạt chuẩn quốc gia, hàngnăm đều được khen thưởng của huyện Toàn xã có nhiều gia đình văn hóahiếu học và dòng họ hiếu học.
Về y tế thì xã có 1 trạm y tế nằm ngay trung tâm xã, hệ thống y tế chămsóc sức khỏe cho người dân được quan tâm đầu tư cả về cơ sở vật chất lẫncon người, do đó các chương trình chăm sóc sức khỏe được thực hiện tốt,phục vụ đủ nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân, không để xảy ra dịchbệnh Các cơ sở hành nghề y, dược tư nhân có xu hướng phát triển cả về sốlượng và quy mô đây là điều kiện tốt để chăm sóc sức khỏe cho người dân
Thông tin liên lạc, vui chơi giải trí, giao lưu văn hóa trên địa bàn xãphát triển tương đối tốt Xã có 1 bưu điện văn hóa xã, 1 nhà văn hóa và đàiphát thanh phục vụ sản xuất của xã và công tác thông tin tuyên truyền phổbiến thông tin tới mọi người dân
Về văn hóa: công trình kiến trúc lịch sử tiểu biểu nhất của xã là chùaKeo đã được Nhà nước công nhận từ năm 1957 Chùa được xây dựng năm
1630 với quy mô to lớn, chạm gỗ tinh xảo, thể hiện phong cách thời Lê Hàngnăm lễ hội chùa Keo được tổ chức vào tháng 9 âm lịch thu hút đông đảongười dân tham gia cũng như khách du lịch
Trang 13CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ CỦA CHÙA KEO
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển lễ hội chùa Keo
Cách đây gần ngàn năm, dưới triều vua Lý Thánh Tông đã tiến hànhxây dựng nhiều cung điện nguy nga lộng lẫy, nhiều đền chùa mọc lên Chùa
Nghiêm Quang được coi là danh thắng và có quy mô bề thế của nướcĐại Việt bấy giờ
Lịch sử chùa Keo được gắn liền với sự tích của Thiền sư Không Lộ.Thiền sư Không Lộ tên húy là Minh Nghiêm, sinh ngày 14 tháng 9 nămBính Thìn dưới triều vua Lý Thái Tổ, niên hiệu Thuận Thiên năm thứ VII.Quê mẹ của Ngài ở làng Hán Lý, phủ Ninh Giang, tỉnh Hải Dương Quê cha ởlàng Giao Thủy, phủ Hải Thanh đến đời Trần đổi là phủ Thiên Trường Giađình Ngài sinh sống tại làng Giao Thủy chuyên nghề chài lưới ven sông.Thiền sư Không Lộ được dân gian suy tôn là Thánh tổ và được thờ phụng ởrất nhiều nơi trong cả nước Tương truyền Không Lộ là người dị thường cónhiều tài năng xuất chúng, là một danh sư uyên thâm, một lương y nổi tiếnglại biết làm thơ, ngâm vịnh, hiểu biết nhiều và thường đi du ngoạn khắp nơi
Năm 1062, Thiền sư Không Lộ cùng hai người bạn tu hành của Ngài làGiác Hải và Từ Đạo Hạnh đi sang Tây Trúc để cầu phép lạ Khi ba vị đếnnước Kim gặp một ngã ba sông lớn nhưng không có thuyền để sang bờ Sau
có một chiếc thuyền nhỏ chở được hai người, Đức Không Lộ và Giác Hải lênthuyền dặn Từ Đạo Hạnh ngồi chờ ở bến Hai Ngài đã được Phật tổ Như Laitruyền cho phép Phật và được giác ngộ nên đã về thẳng không qua chỗ ĐạoHạnh ngồi chờ, Đạo Hạnh ngồi chờ mãi sau được biết hai bạn đã về lâu rồi.Đạo Hạnh đã được bà già chỉ cho phép rút ngắn đường vượt biển, vượt sôngcho nên ngài đã đuổi kịp hai người bạn Ngài vào rừng biến thành hổ thử tàihai ông rồi nhảy nhót gầm thét như muốn vồ lấy hai người Không Lộ và GiácHải biết đó là Đạo Hạnh hoa thành nên mới bảo rằng: đã muốn như thế, kiếp
Trang 14sau sẽ phải chịu Bấy giờ Đạo Hạnh lấy làm hổ thẹn rồi tạ lỗi hai người và nóirằng nếu kiếp sau nghiệp chướng chưa trả xin cứu giúp cho Sau khi đi TâyTrúc về, Thiền sư Không Lộ trở về làng Giao Thủy dựng chùa Nghiêm Quang
và tu tại đó
Trong dân gian còn truyền lại rất nhiều câu chuyện về tài đức uyênthâm của Đức Thiền sư Ngài là người có công phò vua giúp nước, giảm sưucao thuế nặng cho dân, góp phần giải phóng con người lao động khổ cực.Ngàicòn là người chế ngự thiên nhiên, khai thác thủy hải sản, sản xuất lúa gạo,chinh phục sông nước, chiến thắng hải tặc làm chủ biển khơi Đặc biệt Thiền
sư là ông tổ nghề đúc đồng Việt Nam đã khôi phục và làm sống lại kỹ nghệđúc đồng nước nhà mà một thời như bị mai một
Ngày 3 tháng 6 năm Giáp Tuất, Đức Thánh Tổ Thiền Sư Không Lộhóa, Ngài thọ 79 tuổi Sau khi Ngài mất, hàng năm nhân dân đã tổ chức lễ hội
để tưởng nhớ công ơn của Ngài Hội được mở từ ngày 13 tháng 9 tức 100ngày sau khi Thiền sư Không Lộ qua đời Ngày 14 là ngày sinh của Ngài, hội
mở đêm rằm là lễ tiết hàng tháng của đạo Phật Hội chùa Keo tháng chínmang đậm tính hội lịch sử, hội văn nghệ, gắn liền với cuộc đời của Thiền sưKhông Lộ
Chùa Keo ở Thái Bình hiện nay thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư,một di tích kiến trúc nghệ thuật nổi tiếng của Thái Bình được nhà nước côngnhận từ năm 1957 Chùa được xây dựng với quy mô lớn, chạm gỗ tinh xảo,thể hiện phong cách thời Lê Theo văn bia và địa bạ chùa Keo Thái Bình thìdiện tích toàn khu kiến trúc rộng 28 mẫu, bề ngang gần 500m, chiều sâu tính
từ chân đê đến sát con ngòi thôn Bồng Tiên xã Vũ Thư dài trên 200m Nếuchỉ tính 154 gian của 21 công trình, chùa đã có diện tích 58.000m2 Hiện naytoàn bộ kiến trúc của chùa còn lại 17 công trình, gồm 128 gian
Từ dốc đê, qua một sân rộng gần một mẫu, khách đến thăm chùa sẽđược chiêm ngưỡng một tổng thể kiến trúc cổ truyền của Việt Nam Đó làTam quan ngoại, tam quan nội, chùa Hộ, chùa Phật, chùa Tam Bảo Khu đền
Trang 15Thánh được nối tiếp với khu thờ Phật gồm tòa Giá roi, tòa Thiêu Hương, tòaPhục Quốc và thượng điện Những công trình này nối tiếp nhau tạo thành mộtkiểu kết cấu chữ công và sau khi xuyên suốt mỗi bên 33 gian hành lang đếnhai tòa tả vũ, hữu vũ, khách sẽ bắt gặp tòa gác chuông 3 tầng, cuối cùng làkhu tăng xá…
Một điều khác biệt so với các ngôi chùa cổ ở nước ta, gác chuôngchùa Keo được xây dựng ở vị trí gần cuối cùng của khu di tích Gác chuông
có chiều cao 11,04m với ba tầng mái thiết kế theo kiểu cổ các chồng diêm.Toàn bộ sức nặng của gác chuông được đặt trên bốn cột lớn Mỗi gác đựngmột cột góc, hai cột hiên Tất cả được liên kết với nhau bằng hệ xà ngang xànách Tầng một có bốn cột lớn đi thẳng lên sàn mái hai tầng Tường sau lắpngưỡng đơn, trên ngưỡng tượng mỗi chiều để một cửa nhỏ, hàng con songtiện tôn thêm vẻ đẹp…Tầng hai có bốn cột ăn thẳng sàn mái, hệ thống cộthiên thu rút vào tâm 0,4m liên kết với tầng qua hệ xà dầm Tầng này đượctrang trí rất công phu, mỗi mặt chia thành ba khoang, bạo ngang hai lớp uốnthành cửa võng Ván dưới là những cánh sen cách điệu… Tầng ba lại thu nhỏthêm, không có cột thông xuống thềm
Gác tầng thượng được chia thành 12 ô, điểm dưới lắp một đài sencánh vuông Ô lớn đặt ở giữa, ô nhỏ đặt đối xứng nhau lùi về bốn góc, điểmhoa, cánh hoa đan quyện vào nhau.Mái tầng thượng trông có dáng như nhàrông Ba tầng gác chuông với 12 con đao loan cuốn bay làm cho gác chuôngthêm thanh thoát, nhẹ nhàng…Có thể nói, gác chuông chùa Keo đã đạt tới sựtuyệt mỹ trong tổng thể kiến trúc Đó là sự kết hợp hài hòa trong tỷ lệ ,khoảng cách giữa các cột đã tạo nên cho gác chuông có dáng đẹp và khỏe vềthể lực… Tất cả đã phản ánh trình độ cao của người thủ công xưa kia
2.2 Đặc điểm kiến trúc – nghệ thuật của chùa Keo
Chùa Keo là một quần thể kiến trúc bao gồm nhiều hạng mục côngtrình, được xây dựng theo hai công năng thờ phụng kiểu “tiền Phật hậuThánh” Theo địa bạ và văn bia chùa Keo, tổng diện tích toàn khu chùa rộng
Trang 1628 mẫu với 21 công trình gồm 154 gian, diện tích xây dựng khoảng 58.000m².Qua thời gian, bên cạnh những công trình còn khá nguyên vẹn cũng có một sốcông trình đã được trùng tu tôn tạo nên mang tính hiện đại hơn, nhưng vẫngiữ được cốt cách của phong cách kiến trúc thời Hậu Lê Hiện chùa còn lại 12tòa gồm 102 gian của các công trình chính và 4 tòa gồm 24 gian của các côngtrình phụ trợ.
Chùa Keo là công trình kiến trúc có quy mô lớn nhưng bố cục lại rấtchặt chẽ, hơn một trăm gian lớn nhỏ khác nhau được bố trí thành một khốikiến trúc đăng đối liên hoàn: Tam quan ngoại, hồ nước lớn, Tam quan nội,chùa Phật, đền Thánh và cuối cùng là gác chuông Các kiến trúc được đốixứng qua trục dọc là hai dãy hành lang Đông và Tây, phía sau là hai hồ nướclớn Tuy có đến hàng trăm tòa nhà, gian nhà nhưng qua bàn tay phù phép củanhững bậc thầy, các kiến trúc không hề tẻ nhạt hay đơn điệu bởi chúng đượcthu, mở với những tỷ lệ, kích thước, độ cao khác nhau Ngay cả hai dãy hànhlang Đông và Tây được thiết kế mỗi bên 33 gian nhà với chiều dài các giancộng lại là 91m để tạo thế đối xứng, nhưng thực tế kích thước của mỗi gian lạikhông giống nhau, có gian chỉ bé 1,65m, có gian lại rộng đến 3,25m, còn lại
có đủ kích thước từ 2,4m đến 3,15m
Hai dãy hành lang nối qua hai tòa Tả vu, Hữu vu, gác chuông và Tamquan nội đã tạo thành ô chữ “quốc” bao bọc bên ngoài, bên trong là hai khuthờ Phật và thờ Thánh được bố trí gồm ba ngôi nhà nối vào nhau theo lối chữ
“công” Tại khu thờ Phật, ngôi ở ngoài là tòa Ông Hộ có 7 gian với tổng chiềudài 24m, rộng 6m, hai ngôi ở giữa là tòa Ông Muống và ở trong là tòa TamBảo nhỏ hơn được làm theo kiểu “lòng thuyền tứ trụ, thượng dường hạ kẻ”.Khu đền Thánh thờ thiền sư Dương Không Lộ với tòa Thiêu Hương, tòa PhụQuốc và tòa Thượng Điện Điểm đặc biệt là trước khu đền Thánh có thêmmột tòa Giá Roi, nơi người xưa sử dụng vào việc xử kiện, phạt vạ, bổ báncông điền, công thổ của làng – điều này đã cho biết chùa Keo xưa còn là mộttrung tâm hành chính của thôn xã cổ
Trang 17Chùa Keo là một công trình kiến trúc tiêu biểu thời Hậu Lê Tại đây, từviệc sử dụng gỗ, gạch lát, tường xây bằng ván bưng, mái ngói mũi hài… đến
tổ chức không gian với cây xanh, vườn hoa, hồ nước…, tất cả đều mang tínhnghệ thuật đặc sắc tạo nên vẻ lung linh và cho cảm giác cao hơn của côngtrình Những người thợ xây dựng chùa Keo không chỉ giỏi về việc xử lý hìnhkhối mà còn khéo tạo ra độ giãn cách hợp lý giữa các khối nhà, tạo một nhịpđiệu kiến trúc “chống mỏi” bằng cách thu ngắn dần Mỗi cụm kiến trúc củachùa Keo có chiều cao và chiều rộng mái khác nhau, cao nhất là bộ mái gácchuông, thấp nhất là bộ mái của hai dãy hành lang Đông, Tây Hệ thống tamquan là một công trình rất riêng của chùa Keo Tam quan ngoại là một khônggian mở với ngôi nhà ba gian không có tường bao và cửa, toàn bộ hệ thốngcông trình chỉ được nâng đỡ bởi bốn hàng cột gỗ lim vững chắc tạo nên vẻthông thoáng Tam quan nội là một ngôi nhà ba gian với đầy đủ hiên và cửa,song thực tế chỉ có ba hàng cột, bộ cánh cửa và ngưỡng cửa lắp vào hàng cộtcái, đang khi hàng cột cái lại chọi thẳng vào nóc nhà Cấu trúc cả trước lẫnsau chỉ có một hàng cột, vừa là cột hiên cũng đồng thời là cột quân cho phépnhìn phía nào cũng chỉ thấy cửa và hiên mà không có long – đây là lối kiếntrúc độc đáo thể hiện thuyết “sắc sắc không không” của đạo Phật Đặc biệt bộcánh cửa gian giữa tam quan gồm hai cánh, mỗi cánh cao 2,2m, rộng 1,3m,khi khép lại tạo thành một bức phù điêu hoàn chỉnh khắc họa đề tài “lưỡnglong mẫu tử chầu nguyệt” rất sinh động
Trong khu thờ Phật, tòa Ông Hộ có hệ thống kẻ tiền chạm trổ công phu,
kẻ góc cách điệu thành cá hóa rồng hoặc chạm rồng phượng; hệ thống chắngió chỗ chạm rồng qùy, chỗ chạm long ấn, long ám, long quần, nhiều tấmchắn gió chạm hoa văn sóng nước cuốn thành hoa dây, song cuốn thành hoaCúc, hoa Sen, thành hình con Dơi theo kiểu “ngũ phúc lâm môn”; những đầu
dư bẩy, kẻ đều chạm những đầu rồng to khỏe… Tại tòa Ông Muống và tòaTam Bảo, những đường soi nét bào được trau chuốt tạo vẻ thanh nhã, nổi bậtvới bức cuốn thư hình con phượng lớn tại gian trung tâm trong tư thế xòe
Trang 18cánh, dáng nửa đậu nửa bay rất đẹp Khu đền Thánh được xây dựng hoànhtráng với bộ mái được chia thành bốn loại: tòa Phụ Quốc mái chảy, tòa GiáRoi theo kiểu hồi triêng, hai tòa Thiêu Hương, Thượng Điện theo lối chéođao, tàu góc Trên bờ nóc chỗ trổ chìm, chỗ đắp nổi hoa Chanh, bờ cánh chỗtỉa chỗ thủng đường dây hoa Thị, xô hồi kìm nóc khá đẹp, càng sinh động vớinhững ngạc long ôm bờ nóc…
Khu gác chuông sẽ là thiếu sót khi đề cập đến kiến trúc chùa Keo màkhông quan tâm đến gác chuông, một công trình tiêu biểu ẩn chứa trong nógiá trị nghệ thuật kiến trúc độc đáo, được đánh giá là công trình to đẹp vàohàng bậc nhất trong số gác chuông của các ngôi chùa cổ Việt Nam Gácchuông chùa Keo là điểm nhấn, góp phần làm cho ngôi chùa trở thành mộtcông trình kiến trúc Phật giáo sáng giá nhất Được dựng trên nền gạch xâyvuông vắn cao 0,6m, gác chuông chùa Keo có mặt bằng gần vuông với cạnh8,53m và 8,92m Toàn bộ công trình cao 11,04 m gồm ba tầng chồng diêm cổcác được cấu trúc hoàn toàn bằng gỗ với những kết cấu thật tài tình tạo ấntượng đồ sộ Bốn cây cột chính có đường kính 0,6m được đặt trên bốn tảng đálớn chạm cánh sen thắt cổ đồng, cao suốt hai tầng theo kiểu “thượng thu hạthách”, liên kết với hệ thống cột biên, xà ngang, xà nách, kẻ góc tạo nênkhung gánh lực vững chắc Ở mỗi tầng của gác chuông đều có bốn mái tỏa vềbốn hướng, được liên kết và tạo dáng thành các đầu đao đắp hình loan phượnguốn cong mềm mại, gợi hình ảnh một bông sen thanh thoát là biểu tượng caoqúy trong quan niệm Phật giáo Cấu trúc của các tầng rất hợp lý, dưới hệthống tàu mái của mỗi tầng xếp 84 cánh rui bay thành 3 tầng, 28 cụm lớn liênkết với nhau bằng những thanh xà mảnh như dàn cánh tay đỡ mái Hệ thốngdàn rui bay này được đặt trên dàn đấu củng đối trọng vào bên trong qua 3hàng tay đòn thẳng gối tựa xà lách Cùng với hệ thống cột biên, những hànglan can con tiện được khéo léo kết nối tạo nên một chỉnh thể cân đối Độ thugiữa các tầng, cự ly giản cách giữa các cột đều chuẩn xác, độ thu trả vừa phảicủa các tầng hiên, tầng mái và đưa thêm dàn đấu củng, rui bay, tập hợp các
Trang 19thanh mảnh thành cụm, thành dàn, thành lớp đã phản ảnh trình độ khoa họcvật lý khá cao của công trình sư và những người thợ thủ công điêu luyện ngàytrước Cùng với ba quả chuông đồng nặng gần 2 tấn được đúc về sau và treo ởchính tâm gác chuông (chuông lớn treo ở tầng hai đúc năm 1686, hai chuôngnhỏ treo ở tầng ba và tầng thượng đều đúc năm 1796), sức nặng của dàn mái
đã tạo lực trọng trường, giữ các mộng gắn chặt với nhau tạo thế vững chắccho gác chuông Điểm nổi trội của kiến trúc gác chuông là tỷ lệ cân đối giữacác tầng, các bờ nóc, bờ thẳng, bờ mềm, độ vươn của bờ nóc gác đao, sự phâncách hợp lý của các lớp mái… đã tạo được sự hài hòa trong tổng thể kiến trúc
2.3 Đặc điểm lễ hội chùa Keo
Lễ hội chùa Keo - một hình thức thể hiện văn hóa cộng đồng, qua quátrình lịch sử phát triển và biến đổi không ngừng vừa thể hiện tính liêntục vừa kế thừa mang tính hiện đại Trong mỗi giai đoạn lịch sửlễ hội chùaKeo ở Thái Bình lại mang trong nó nhiều lớp văn hóa, lớp mới phủ lên lớp cũ,đan xen vào nhau, tác động lẫn nhau Lễ hội chùa Keo mang tính cộng đồng,bước vào lễ hội người tham dự như đi vào một không gian và thời gian nửathực nửa hư, nửa trần tục nửa thiêng liêng Họ cảm nhận thú vui của nhữngtrò chơi dân gian quen thuộc không chỉ có ý nghĩa giải trí mà còn giúp ích chocuộc sống Toàn bộ các hoạt động của lễ hội là một thể thống nhất với nhữngđặc điểm cơ bản:
- Lễ hội chùa Keo Thái Bình là lễ hội của cộng đồng làng xã người Việtđồng bằng Bắc Bộ Đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi hình thành cộng đồng dântộc Việt Nam, từ nơi đây cùng với sự tăng trưởng dân số, kinh tế phát triển,cương vực đất nước được mở mang thì người Việt lấn biển, nam tiến nhưngnhững năm trở lại đây thì có xu hướng quay trở lại khai sơn ở Việt Bắc, TâyBắc, Tây Nguyên…, sống hòa vào các dân tộc anh em Do vậy lễ hội chùaKeo được coi là lễ hội của cộng đồng người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, mangnhững giá trị tiêu biểu nhất cho lễ hội truyền thống của người Việt Nam Lễhội chùa Keo là sự vui chơi giải trí, lễ hội là thời điểm đánh dấu mốc thời gian
Trang 20của quá trình kết thúc và tái sinh, kết thúc một chu trình sản xuất và sinh hoạt,bắt đầu một chu trình sản xuất và sinh hoạt mới Đây là dịp để cho mọi ngườivui chơi giải trí, thu nạp năng lượng, bù đắp như những thiếu hụt trong quátrình vận động và phát triển, bắt đầu tái tạo cuộc sống mới với những điều tốtđẹp Trong lễ hội có nhiều trò chơi dành cho mọi tầng lớp dân cư vui chơi giảitrí như bơi trải, múa ếch… Lễ hội chùa Keo chính là thời điểm mà ở đó đôngđảo các tầng lớp nhân dân dành thời gian nhàn rỗi, tiền bạc của mình cho quátrình vui chơi, giao thoa với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, giảitỏa những ức chế tâm lý nảy sinh trong công việc, trong cuộc sống thườngnhật Mỗi kỳ lễ hội là dịp nghỉ ngơi sau những tháng ngày mùa vụ bận rộn,vất vả, đây là dịp gặp gỡ đón tiếp và giao lưu giữa những người bà con, họhàng, giữa những người hàng xóm láng giềng nhưng quanh năm lam lũ, vất
vả Đây cũng là dịp để cho người lao động được giao thoa với những ngườianh em, bạn hữu trong từng vùng, từng khu vực Lễ hội chùa Keo còn là dịp
để những người con xa quê về gặp gỡ gia đình,bạn bè… sau những thángngày bươn chải kiếm sống nơi “đất khách quê người”
Lễ hội chùa Keo đã sáng tạo ra các hình thức văn hóa Ngoài nghi thức
Lễ là phần Hội với các hình thức như bơi trải, múa rối… đây là sản phẩm củavăn hóa cộng đồng, của quần chúng sáng tạo, chỉnh sửa, hoàn thiện theo thờigian Lễ hội làng vì thế mà góp phần quan trọng tạo nên văn hóa làng, liênlàng… góp phần tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam
Lễ hội chùa Keo tạo ra sự cân bằng tâm thái con người Lễ hội giúp conngười hưởng thụ văn hóa do chính mình sáng tạo ra hoặc do người thân haychòm xóm sáng tạo, thể hiện Lễ hội tạo sự hòa hợp giữa người với người,giữa người với thiên nhiên Đến với lễ hội là đến với không gian thiêng liêng,tất cả đều được bảo vệ, gìn giữ như nhau, đến với không gian lễ hội con ngườiđược dịp thả hồn vào với cây cỏ hoa lá, lấy lại sự cân bằng, sự thanh thản, tạmquên đi những mệt nhọc lam lũ thường ngày