Y học cổ truyền có nhiều phương pháp để điều trị mất ngủ như dùngthuốc, châm cứu, bấm huyệt, khí công, dưỡng sinh…mỗi phương pháp đều có ưu điểm riêng và có những hạn chế nhất định, do v
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn giấc ngủ (RLGN) là một chứng bệnh thường gặp ảnh hưởngđến 1/3 dân số thế giới và ngày càng trở thành một hiện tượng khá phổ biếntrong xã hội hiện đại, do áp lực của cuộc sống và chế độ ăn không phù hợp[1] Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, mọi giới, do nhiều nguyên nhân khác nhau,bệnh biểu hiện dưới 4 hình thái chủ yếu: Mất ngủ, ngủ nhiều, cận giấc ngủ vàrối loạn nhịp thức ngủ, trong đó mất ngủ là hay gặp nhất trên lâm sàng, đó là
lý do chủ yếu khiến bệnh nhân phải đi khám bệnh [2]
Khi mất ngủ kéo dài có thể dẫn tới suy nhược nặng, và nguy cơ tử vong
có thể xảy ra Mất ngủ mạn tính làm giảm chất lượng cuộc sống, người bệnhmệt mỏi, giảm tập trung chú ý, giảm trí nhớ… ảnh hưởng đến chất lượngcông việc hàng ngày [3]
Mặc dù giấc ngủ có tầm quan trọng, nhưng sự hiểu biết về giấc ngủ vềcác rối loạn giấc ngủ và điều trị các rối loạn này vẫn còn chưa hoàn chỉnh
Rối loạn giấc ngủ trong Y học cổ truyền gọi là chứng “Thất miên”, “Bấtmị”, “Bất đắc miên” Nguyên nhân từ các tạng Tâm, Tỳ, Can, Thận, chủ yếu
là do Tâm và Tỳ hư, âm hư hoả vượng, khí của Tâm và Đởm hạ, Vị khôngđiều hoà và bị suy nhược sau khi bị bệnh Sách Cảnh Nhạc toàn thư ghi: “Ngủ
là gốc ở phần âm mà thần làm chủ, thần yên thì ngủ được” Thần sở dĩ khôngyên một là do tà khí nhiễu động, hai là do tinh khí không đủ [4], [5]
Y học cổ truyền có nhiều phương pháp để điều trị mất ngủ như dùngthuốc, châm cứu, bấm huyệt, khí công, dưỡng sinh…mỗi phương pháp đều có
ưu điểm riêng và có những hạn chế nhất định, do vậy việc tìm kiếm, nghiêncứu các phương pháp điều trị RLGN có hiệu quả cho bệnh nhân là một việclàm cần thiết
Song song với các phương pháp đó, từ xưa nhĩ châm cũng đã được ápdụng và cho thấy đây là một trong những phương pháp điều trị mất ngủ có
Trang 2hiệu quả Năm 1962 đến nay ngoài phương pháp thể châm, thủy châm, điệnchâm, GS Nguyễn Tài Thu đã tiến hành nghiên cứu nhĩ châm, sử dụng nhữnghuyệt trên loa tai để phòng và chữa bệnh.
Với ưu điểm là tiện lợi, không tốn kém, dễ ứng dụng ở các tuyến cơ sở, rútngắn thời gian điều trị, nên nhĩ châm được ứng dụng rộng rãi, điều trị được nhiềubệnh như liệt, các chứng đau, mất ngủ… đem lại hiệu quả tốt [6], [7], [8]
Nhóm điểm Thần môn, Giao cảm, Tâm, Thận, Tỳ từ lâu được biết là
nhóm huyệt trên loa tai có tác dụng an thần, điều hòa chức năng tạng phủ.Vậy nhĩ châm phối hợp nhóm điểm trên có tác dụng điều trị rối loạn giấc ngủnhư thế nào?
Nhằm phát huy vốn quý của Y học cổ truyền và trả lời câu hỏi trên
chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá tác dụng cải thiện giấc ngủ của nhĩ châm trong điều trị bệnh nhân rối loạn giấc ngủ theo thang điểm
Pittsburgh” với 2 mục tiêu:
1 Đánh giá tác dụng cải thiện giấc ngủ theo YHHĐ của nhĩ châm các
điểm, Thần môn, Giao cảm, Tâm, Thận, Tỳ trong điều trị rối loạn giấc ngủ theo thang điểm Pittsburgh
2 Đánh giá tác dụng cải thiện giấc ngủ theo YHCT của nhĩ châm các
điểm, Thần môn, Giao cảm, Tâm, Thận, Tỳ trong điều trị rối loạn giấc ngủ theo thang điểm Pittsburgh trên 2 thể: Tâm Tỳ hư và Tâm Thận bất giao.
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giấc ngủ bình thường
1.1.1 Sinh lý giấc ngủ
Ngủ là một trạng thái sinh lý bình thường của cơ thể có tính chất chu kỳngày đêm; trong đó toàn bộ cơ thể được nghỉ ngơi, tạm ngừng các hoạt độngtri giác và ý thức, các cơ bắp giãn mềm, các hoạt động hô hấp tuần hoàn giảmchậm lại [3] Hoạt động của não trong giấc ngủ là một hoạt động hiệu quảnhằm đảm bảo sự sống và phục hồi sức khoẻ của cơ thể sau một thời gianhoạt động Ngay từ khi lọt lòng mẹ, đứa trẻ ngủ 20 giờ một ngày Càng lớn lêntrẻ ngủ giảm dần, đến 6 tuổi trẻ vẫn còn ngủ 10-12 giờ mỗi ngày Người trưởngthành ở lứa tuổi hoạt động mạnh nhất (18- 45 tuổi), nhu cầu mỗi ngày từ 7-8giờ Sau 60 tuổi có thể 6 giờ là đủ, thậm chí những người già ngủ ít hơn [9], [2].Nói chung cả cuộc đời một người khoẻ mạnh dành 1/3 thời gian cho ngủ và 2/3thời gian thức
1.1.2 Các giai đoạn của giấc ngủ
Giấc ngủ được chia thành 2 trạng thái riêng biệt: Trạng thái ngủ có cửđộng nhãn cầu nhanh (Rapid Eye Movement - REM) và trạng thái ngủ không
có cử động nhãn cầu nhanh (Non-Rapid Eye Movement - NREM); sự thay đổihoạt động điện của não thể hiện rõ nét trên điện não đồ [10], [11], [12], [13]
Giấc ngủ NREM được chia thành 4 giai đoạn: [10], [12], [13]
- Giai đoạn 1: Là khoảng thời gian ngủ lơ mơ, là giai đoạn chuyển từtrạng thái thức sang trạng thái ngủ, sóng điện não và hoạt động của cơ chậmxuống và có thể bắt gặp giật cơ đột ngột trong giai đoạn này
- Giai đoạn 2: Là giai đoạn ngủ nhẹ nhàng, mắt ngừng chuyển động,sóng điện não trở nên chậm hơn và thỉnh thoảng có những đợt sóng nhanh,các cơ bắp giãn mềm, nhịp tim chậm và nhiệt độ cơ thể giảm xuống
Trang 4- Giai đoạn 3 và 4: Được gọi chung là giai đoạn sóng chậm Đặc trưngtrên điện não đồ là các sóng chậm (sóng Delta) xuất hiện rải rác cùng với cácsóng nhỏ hơn và nhanh hơn, huyết áp giảm, nhịp thở chậm, thân nhiệt giảmxuống thấp hơn, cơ thể bất động, giấc ngủ sâu hơn, không có chuyển độngmắt, giảm hoạt động cơ Khi một người đang trong giấc ngủ sóng chậm họ rấtkhó bị đánh thức, những người bị thức dậy trong giai đoạn này có cảm giáclảo đảo, mất phương hướng trong một vài phút sau khi thức dậy Ở một vài trẻ
em có thể có đái dầm, chứng hoảng sợ trong khi ngủ, chứng miên hành tronggiai đoạn này
Giấc ngủ REM [10], [12], [13]
Giấc ngủ REM là giai đoạn được đánh dấu bởi hoạt động mạnh mẽ củanão, mức độ hoạt động có thể tương đương lúc thức Sóng điện não nhanh vàmất đồng bộ Nhịp thở trở nên nhanh hơn, không đều và nông, mắt chuyểnđộng nhanh theo các hướng khác nhau, cơ tay, chân biểu hiện liệt tạm thời.Nhịp tim, huyết áp tăng Giấc mơ xảy ra hầu hết trong giai đoạn này
Hình 1.1: Hình ảnh điện não thay đổi theo các giai đoạn thức, ngủ [14]
(a) Thức, nghỉ ngơi (nhắm mắt).(b) Giai đoạn 1 giấc ngủ NREM
(c) Giai đoạn 2 giấc ngủ NREM.(d) Giấc ngủ sóng Delta.
(e) Giấc ngủ REM.
Trang 51.1.3 Cấu tạo giấc ngủ
Ở giấc ngủ bình thường, giai đoạn REM và NREM thay đổi qua lại trongsuốt đêm Một chu kỳ ngủ đầy đủ, bao gồm chu kỳ REM và NREM xen kẽ nhaumỗi 90 - 110 phút, được lặp lại 4 - 6 lần mỗi đêm
Hình 1.2: Các giai đoạn ngủ trong 1 đêm ở người trưởng thành [12]
Ở người trưởng thành, phân bố các giai đoạn giấc ngủ như sau [13]:
3: Giấc ngủ REM 4: Giấc ngủ sóng chậm.
5: Giai đoạn 2 6: Giai đoạn 1.
Trang 61.1.4 Chức năng của giấc ngủ
Hầu hết các nhà nghiên cứu đồng ý rằng giấc ngủ giúp phục hồi sức khỏe,giúp làm cân bằng nội môi và có vai trò quyết định trong điều hòa thân nhiệt vàbảo tồn năng lượng Giấc ngủ NREM tăng lên khi luyện tập thể dục và khi đói,tình trạng này có thể liên quan đến nhu cầu thỏa mãn chuyển hóa [13]
Giấc ngủ REM đã được chú ý và tiến hành nghiên cứu từ lâu, và cónhiều kết quả được đưa ra Một số vai trò của giấc ngủ REM đáng chú ý là:
- Lọc sạnh các chất chuyển hóa tích tụ trong hệ thần kinh
- Đảm bảo cho nguồn phát các xung động để kích thích vỏ não
- Chuyển trí nhớ ngắn hạn thành trí nhớ dài hạn
- Bảo đảm cảm xúc diễn ra trong giấc mơ thích ứng được với môitrường xung quanh khi thức - tỉnh
- Tổ chức lại luồng xung động thần kinh bị RL trong giấc ngủ NREM,
là giai đoạn chuyển tiếp sang thức - tỉnh, chuẩn bị tiếp nhận thông tin mới
1.2 Rối loạn giấc ngủ (RLGN)
1.2.1 khái niệm và phân loại RLGN
Nhu cầu ngủ của mỗi người là khác nhau Những người ngủ nhiều cần 9-10 tiếng mỗi đêm và một số người lại ngủ ít Tuy nhiên, độ dài của giấc ngủ
Về phân loại RLGN hiện nay vẫn chưa hoàn toàn thống nhất giữa hai
hệ thống phân loại bệnh quốc tế (ICD) và phân loại theo Hội Tâm Thần học
Mỹ (DSM)
Trang 7Phân loại theo ICD – 10 RLGN bao gồm [16]:
Trên lâm sàng người ta chia làm 4 nhóm cơ bản: Mất ngủ, ngủ nhiều,
cận giấc ngủ, các rối loạn nhịp thức ngủ [17], [2]:
- Mất ngủ:
+ Phàn nàn chủ yếu là khó đi vào giấc ngủ, khó duy trì giấc ngủ hoặc
không hồi phục sức khỏe sau ngủ dậy, kéo dài ít nhất 1 tháng
+ Mất ngủ là nguyên nhân gây ra các triệu chứng khó chịu rõ rệt; ảnh hưởngxấu đến hoạt động xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực quan trọng khác
- Ngủ nhiều:
+ Luôn than phiền ngủ quá nhiều trong vòng 1 tháng (ít hơn nếu táiphát) với những giấc ngủ kéo dài hoặc có nhiều giấc ngủ ngày diễn ra hầu nhưhàng ngày
Trang 8+ Ngủ quá nhiều là nguyên nhân ảnh hưởng đến chức năng xã hội, nghềnghiệp và các chức năng quan trọng khác.
- Cận giấc ngủ:
+ Lặp đi lặp lại các lần thức giấc đột ngột khi ngủ buổi tối hoặc khichợp mắt, do bệnh nhân có những giấc mơ vô cùng hãi hùng mà họ vẫn nhớđược các chi tiết của giấc mơ
+ Ác mộng và những lần thức giấc là nguyên nhân gây ra các triệuchứng trên lâm sàng, ảnh hưởng đến các chức năng xã hội, nghề nghiệp vàcác chức năng quan trọng khác
- Rối loạn nhịp thức ngủ:
+ Rối loạn bền vững và tái diễn đối với giấc ngủ dẫn đến ngủ quá nhiềuhoặc mất ngủ, nguyên nhân là do rối loạn nhịp thức ngủ của người bệnh đốivới môi trường bên ngoài
+ Rối loạn nhịp thức ngủ là nguyên nhân gây ra các dấu hiệu lâm sàng
rõ rệt, làm tổn thương các chức năng xã hội, nghề nghiệp và các chức năngquan trọng khác
tỷ lệ này cao hơn ở người cao tuổi [18] Năm 2000, tại Pháp, Lerger và cộng
sự nghiên cứu trên 12778 cá nhân thấy 29% bị mất ngủ thường xuyên [19].Năm 2001, Sutton và cộng sự báo cáo 24% dân số Canada độ tuổi từ 15 trởlên bị mất ngủ [20] Năm 1999, nghiên cứu cuả Ishigooka và cộng sự trên
6277 bệnh nhân ngoại trú của 11 bệnh viện ở Nhật Bản thấy có 20,3% bị mấtngủ, trong đó có 11,7% bị mất ngủ từ 1 tháng trở lên
Trang 9- Ở Hoa kỳ: 10-20% người mất ngủ đáng kể, trong đó đa số các trườnghợp không được quan tâm đúng mức và điều trị thích hợp [21].
- Theo TCYTTG, nghiên cứu 15 khu vực khác nhau trên thế giới ướctính 26,8% người trên thế giới bị mất ngủ được khám và điều trị tại các trungtâm chăm sóc sức khoẻ ban đầu [3]
- Ở Việt Nam, trong 1 năm, có khoảng 30-45% người lớn có mất ngủ[2] Năm 1995 thông qua công trình nghiên cứu 1310 người tới khám tạiphòng khám ngoại trú Viện sức khỏe tâm thần Trung ương từ 30/6/1993 đến10/8/1993 thì có tới 116 người mất ngủ, chiếm tỷ lệ 9% [22]
Về tuổi, nhiều nghiên cứu cho rằng, tuổi cao là một yếu tố nguy cơ củamất ngủ Năm 2001, Ohayon và cộng sự nghiên cứu 13057 đối tượng có độtuổi từ 15 trở lên thuộc nhiều quốc gia khác nhau gồm Anh, Đức, Ý nhận thấy
có hơn 1/3 số người từ độ tuổi 65 trở lên có triệu chứng mất ngủ [23]
Về giới, nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mất ngủ ở nữ cao hơn nam.Theo Rit Grewal và Karl Doghramji, hầu hết các nghiên cứu dịch tễ đều chothấy mất ngủ ở nữ cao hơn nam, và tỷ lệ này thường là 1,5/1 [24] TheoLương Hữu Thông tỷ lệ mất ngủ khác nhau ở 2 giới: Nam 34,5-40%, nữ 60-65,5% Theo tổ chức y tế thế giới (1996), số phụ nữ mất ngủ cao khoảng 1,5lần so với nam giới dù không có sự gia tăng đáng kể theo tuổi tác [22], [25]
Một số yếu tố nguy cơ khác gây mất ngủ nhưng tỷ lệ thấp hơn, bao gồmtình trạng độc thân, thu nhập thấp, làm việc theo ca, nhân cách, bệnh tật vàcác vấn đề tinh thần [26]
1.2.3 Nguyên nhân gây rối loạn giấc ngủ
Có nhiều nguyên nhân có thể gây RLGN [27]:
- Do rối loạn lịch thức ngủ trong ngày như thay đổi lịch làm việc, thayđổi múi giờ khi đi ra nước ngoài…
- Do sử dụng các chất kích thích: Trà, rượu, cà phê…
- Do các yếu tố môi trường, thói quen người ngủ cùng…
Trang 10- Do stress.
- Các bệnh lý tâm thần: Trầm cảm, hưng cảm, rối loạn lo âu lan tỏa,nghiện chất, tâm thần phân liệt…
- Các bệnh lý đa khoa: Viêm khớp, hen, bệnh tim…
- Các bệnh lý liên quan đến giấc ngủ như: Ác mộng, mộng du, chứng
ngừng thở khi ngủ…
1.2.4 Ảnh hưởng của rối loạn giấc ngủ
- Ảnh hưởng đầu tiên của RLGN là tình trạng buồn ngủ, ngủ nhiều banngày, tình trạng này thường xảy ra khi người thiếu ngủ ngồi hoặc đứng im(khi đang xem phim, đang trong phòng họp), hoặc khi thực hiện các động tácđơn điệu (ví dụ như đang lái xe, đang ghi chép)
- Ảnh hưởng lên cảm xúc: Cảm giác khó chịu, thiếu động lực, bồnchồn, triệu chứng trầm cảm
- Ảnh hưởng lên khả năng thực hiện động tác: Thiếu tập trung, thiếuchú ý, giảm sự cảnh giác với nguy hiểm, phản ứng chậm hơn, dễ bị xaonhãng, thiếu năng lượng mệt mỏi, thiếu đồng bộ giữa các giác quan, giảm khảnăng ra quyết định, hay quên, gây ra nhiều thiếu sót vv
- Ảnh hưởng lên sức khỏe: Thiếu ngủ đã được chứng minh làm tăngnguy cơ gây ra các bệnh tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, béo phì, tiểu đường
Để cơ thể trở lại trạng thái cân bằng và duy trì sự tỉnh táo trong các hoạtđộng ban ngày, cách duy nhất là tăng thời gian ngủ vào ban đêm để bù đắpnhu cầu ngủ cần thiết của cơ thể
1.2.5 Các phương pháp đánh giá rối loạn giấc ngủ
Phương pháp đánh giá trên lâm sàng:
- Thời lượng giấc ngủ giảm
- Khó đi vào giấc ngủ
- Hay tỉnh giấc vào ban đêm
Trang 11- Hiệu quả của giấc ngủ.
- Chất lượng giấc ngủ
Đánh giá rối loạn giấc ngủ bằng Test tâm lý:
* Test Beck: Bậc thang đánh giá trầm cảm (Beck Depression Inventory: BID)
Test này do A.T Beck và cộng sự giới thiệu năm 1974 gợi ý từ nhữngquan sát lâm sàng bệnh nhân trầm cảm nhất là từ liệu pháp phân tâm Test nàynhằm đánh giá lâm sàng mức độ trầm cảm
Phân tích kết quả: < 14 điểm: Không có trầm cảm; 14- 19 điểm: Trầmcảm nhẹ; 20- 29 điểm: Trầm cảm vừa, > 30 điểm: Trầm cảm nặng
* Test (SAS) – Zung (1974): Thang đánh giá lo âu của Zung gồm 20
câu hỏi dành cho người bệnh tự đánh giá số thứ tự 20 mục với 4 mức độ,cường độ và thời gian, được ghi điểm từ 1-4, tổng điểm là 80
Phân tích kết quả: ≤ 44 điểm: Không lo âu; 45- 59 điểm: Lo âu nhẹ;60- 74 điểm: Lo âu nặng; 75- 80 điểm: Lo âu rất nặng
Cả 2 test này được Tổ chức y tế thế giới thừa nhận là các test hỗ trợ lâmsàng chẩn đoán lo âu và trầm cảm
* Đánh giá chất lượng giấc ngủ bằng thang Pittsburgh (PSQI) của
Daniel J.Buyse năm 1989, nhằm đánh giá các chỉ số về chất lượng giấc ngủ[28].Bảng điểm PSQI được coi là công cụ hữu hiệu được sử dụng nhiều nơi trênthế giới (được dịch ra 56 thứ tiếng tính đến thời điểm tháng 11/2013)
Năm 2001, ở Việt Nam PSQI đã được chuẩn hóa, Cao Văn Tuân sửdụng nghiên cứu RLGN trên người Việt Nam [29] Các tác giả đã nhận thấythang đo này có giá trị sử dụng đáng tin cậy trong lâm sàng để đánh giá mức
độ mất ngủ và có thể dùng nó để theo dõi tiến triển mất ngủ [30], thang có độnhạy và độ lập lại cao Chỉ số PSQI là tổng điểm của một bảng câu hỏi màngười được hỏi tham gia trả lời gồm: 4 câu hỏi có kết thúc mở, 14 câu hỏi khitrả lời cần dựa trên tần suất sự kiện và các mức độ tốt xấu khác nhau trên 7phương diện trong thời gian 1 tháng:
Trang 12 Thời gian ngủ.
Tỉnh giấc giữa đêm
Mức độ khó ngủ
Mức ảnh hưởng đến hoạt động ban ngày do thiếu ngủ
Hiệu quả giấc ngủ
Tự đánh giá chất lượng giấc ngủ
Sử dụng thuốc ngủ
Cách cho điểm:
(I) Điểm mục 9: Rất tốt = 0 điểm Tương đối tốt = 1điểm
Tương đối kém = 2 điểm Rất kém = 3 điểm(II) Điểm mục 2: < 15phút (0 điểm), 16-30 phút (1 điểm), 31-60 phút (2
điểm), > 60 phút (3 điểm) + Điểm mục 5a
Tổng 0 = 0 điểm, 1-2 = 1 điểm, 3-4 = 2 điểm, 5-6 = 3 điểm
(III) Điểm mục 4: >7 (0 điểm), 6-7 (1 điểm), 5-6 (2 điểm), < 5 (3 điểm).(IV) Tổng số giờ ngủ được/tổng số giờ đi ngủ x 100%
(>85%= 0 điểm, 75-84%= 1 điểm, 65-74%= 2điểm, <65%= 3điểm) (V) Điểm 5b-5j: (0 = 0 điểm, 1-9 = 1 điểm, 10-18 = 2 điểm, 19-27 =
3điểm)
(VI) Điểm mục 6: Không có = 0 điểm Ít hơn 1 lần/tuần = 1 điểm
1 hoặc 2 lần/tuần = 2 điểm 3 hoặc hơn 3 lần/tuần = 3 điểm (VII) Điểm mục 7 + điểm mục 8: (0 = 0 điểm, 1-2 = 1 điểm, 3-4 = 2 điểm,
5-6 = 3 điểm)
Chất lượng giấc ngủ được tính bằng thang điểm có giá trị từ 0 – 21, sẽđược báo cáo dưới 2 dạng là:
- Tổng điểm chung của các câu hỏi hoặc
- Hai nhóm “chất lượng giấc ngủ kém’’ hay “chất lượng giấc ngủ tốt’’:
+ Tổng điểm PSQI ≤ 5 liên quan đến chất lượng giấc ngủ tốt (không córối loạn giấc ngủ)
+ Tổng điểm PSQI > 5 liên quan đến chất lượng giấc ngủ kém (có rối
Trang 13loạn giấc ngủ).
Đánh giá rối loạn giấc ngủ bằng điện não đồ:
Trong những năm gần đây, một số tác giả sử dụng điện não đồ như mộtphương tiện để chẩn đoán, theo dõi diễn tiến và điều trị bệnh tâm căn suynhược [31] Các sóng điện não là những dao động có tần số, biên độ, hìnhdáng khác nhau [31], [32] Để đánh giá một bản điện não đồ, người ta dựa vàomột số tiêu chuẩn hoặc đặc tính như sau:
- Tần số của mỗi sóng (tính bằng Hz)
- Biên độ của sóng (tính bằng μV)
- Hình dáng các sóng
- Vị trí, điều kiện xuất hiện các sóng
- Điều kiện làm thay đổi các sóng [32]
Dựa vào các tiêu chuẩn trên người ta xác định được các sóng trên điệnnão đồ cơ sở ở người
* Nhịp alpha (α):
Nhịp alpha được Berger mô tả lần đầu tiên năm 1920, nên còn gọi lànhịp Berger [31] Bình thường ở người trưởng thành, nhịp alpha xuất hiện đềuđặn Biên độ nhịp alpha rất khác nhau giữa các cá thể, thay đổi theo trạng thái
và thời gian trên một cá thể Biên độ nhịp alpha thường ở khoảng 35-70 μV,cao nhất ở vùng chẩm Berger cho rằng sóng alpha có biên độ 15-20 μV, còntheo Cobb biên độ sóng alpha dao động từ 0 đến 40-60 μV Đa số nhịp alpha
có biên độ từ 5-20 μV, rất hiếm trên 100μV ở người trưởng thành[32] Tần sốnhịp alpha khoảng 8-13Hz, thường gặp 9-10Hz Chỉ số nhịp alpha bìnhthường khoảng 70% ở vùng chẩm
Nhịp alpha ghi ở những điểm đối xứng của hai bán cầu não thường cótính chất đồng bộ cả hai bên Nếu tình trạng không đối xứng về biên độ khôngvượt quá 25-30% thì vẫn coi là bình thường [31] Nhịp alpha thường có dạng
Trang 14hình sin, thành chuỗi sóng hình thoi, xuất hiện rõ và nhiều nhất ở vùng chẩm,khi nhắm mắt, không suy nghĩ, không vận cơ, không bị kích thích khác củamôi trường tác động.
ở hai bán cầu não Tần số nhịp beta khoảng 14-35Hz, hay gặp ở 14-24Hz.Nhịp beta ghi được ở nữ giới nhiều hơn ở nam giới Biên độ nhịp beta bìnhthường khoảng 5-15μV, hay gặp 8-10μV, đôi khi đạt đến 30μV Chỉ số nhịpbeta trên từng người rất ổn định, chỉ số beta tăng lên biểu thị của tăng trươnglực của vỏ não [31], [32]
Hình ảnh điện não đồ trên bệnh nhân tâm căn suy nhược cho thấy giảmbiên độ và chỉ số nhịp alpha, sóng điện não dẹt, chỉ có 30-35% trường hợp cóxuất hiện từng đợt sóng alpha Có sóng nhanh beta, sóng chậm theta, deltatrên tất cả vùng não [32]
1.2.6 Các phương pháp điều trị rối loạn giấc ngủ theo y học hiện đại
Các phương pháp điều trị bằng thuốc, can thiệp hành vi và thay đổi lốisống có thể góp phần điều trị mất ngủ
Can thiệp không dùng thuốc:
- Vệ sinh giấc ngủ: Là phương pháp giáo dục được thiết kế cho nhữngngười mất ngủ cũng như cho cộng đồng, bao gồm các hướng dẫn để làm thếnào có được nhịp thức ngủ lành mạnh
- Liệu pháp kiểm soát kích thích: Để cải thiện giấc ngủ, người tathường thay đổi môi trường phòng ngủ Tránh bất kỳ mọi hoạt động kích
Trang 15thích và tăng độ tỉnh táo trước khi đi ngủ như xem ti vi, đọc các sách có tácdụng hưng phấn, quan sát chuông đồng hồ Nếu bệnh nhân không thể ngủđược sau 20 phút họ nên rời khỏi giường, ra khỏi phòng ngủ và chỉ quay lạiphòng khi cảm thấy đủ mệt để buồn ngủ trở lại Việc này có thể lặp đi lặp lạicho đến khi bệnh nhân ngủ được.
- Liệu pháp hạn chế giấc ngủ, tăng xu hướng ngủ và dễ đi vào giấc ngủ:
Để hạn chế thời gian thức tỉnh trên giường và tăng hiệu quả giấc ngủ, bệnhnhân không nên đi ngủ quá sớm
- Liệu pháp hành vi - nhận thức: Nội dung giáo dục là khuyến khíchbệnh nhân xác định rõ yếu tố nào là yếu tố thuận lợi, khởi phát của mất ngủ
Từ đó giải quyết các suy nghĩ thích nghi kém hoặc sự tin tưởng không đúng
về mất ngủ
- Rèn luyện thư giãn: Bệnh nhân nên thực hiện thư giãn cơ bắp hàngngày, tập các bài thư giãn vào buổi tối, không nên làm việc căng thẳng trongkhoảng 60 phút trước khi đi ngủ
Điều trị bằng thuốc: Hội nghị khoa học về mất ngủ năm 2005 đã kết
Nếu sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, phương pháp tốt nhất cho điều trị mấtngủ vẫn là dùng thuốc thì thuốc được lựa chọn nên là nhóm thuốc ngủ Non-Benzodiazepam, đây cũng là nhóm thuốc có tác dụng ngắn thế hệ mới được
Trang 16Hiệp hội thuốc và thực phẩm công nhận.
1.3 Quan niệm của Y học cổ truyền về rối loạn giấc ngủ
Rối loạn giấc ngủ nói chung hay mất ngủ nói riêng theo Y học cổtruyền thuộc chứng thất miên, bất mị, bất đắc miên…chứng này có nhiều tìnhtrạng khác nhau, có khi không ngủ được từ lúc bắt đầu nằm xuống, có khi ngủđược nhưng dễ tỉnh, nặng thì trằn trọc, suốt đêm không nhắm được mắt [33], [5]
Nguyên nhân mất ngủ khá phức tạp, theo Y học cổ truyền, chứng mấtngủ do huyết hư, hoặc do thận âm suy kém, hoặc do hoả của can đởm bốchoặc do vị khí không điều hoà hoặc do sau khi ốm bị suy nhược không ngủđược Theo sách cảnh nhạc toàn thư chứng không ngủ tóm tắt thành năm thểbệnh chính là: Tâm Tỳ hư, Tâm Thận bất giao, Khí của Tâm và Đởm hư, Vịkhông điều hoà [5], [4], [34] Trong đó 2 thể Tâm Tỳ hư và Tâm Thận bấtgiao là 2 thể hay gặp trên lâm sàng
1.3.1 Thể Tâm Tỳ hư
Chứng Tâm Tỳ hư là tên gọi chung chỉ những chứng trạng do Tâmhuyết hao tổn, Tỳ khí bị tổn hại dẫn đến Tâm thần mất nuôi dưỡng, Tâm lànơi chứa Thần, Can là nơi chứa phách, Tỳ là nơi chứa ý sinh ra huyết, phàmchứng mất ngủ là do âm huyết hư kém, thần, hồn và ý đều bị hư tổn [33],bệnh phần nhiều do tư lự quá độ, ăn uống không điều độ, hoặc sau khi ốmchăm sóc không chu đáo và bệnh xuất huyết mạn tính gây nên, Tỳ bị tổnthương mất khả năng sinh hoá chất tinh vi, huyết hư khó hồi phục, tâm thầnmất sự nuôi dưỡng mà thành mất ngủ
Biểu hiện chủ yếu là hồi hộp hay quên, ngủ ít hay mê, sắc mặt úa vàng,kém ăn mỏi mệt, bụng trướng đại tiện nhão, đoản hơi, tinh thần bạc nhược hoặcxuất huyết dưới da; phụ nữ kinh nguyệt không đều, ra sắc nhợt lượng nhiều, bănglậu hoặc kinh ít, kinh bế, chất lưỡi nhạt bệu, rêu lưỡi trắng, mạch tế nhược
Bệnh bất mị - mất ngủ xuất hiện trong chứng Tâm Tỳ hư có đặc điểm là
mê nhiều dễ thức giấc, giấc ngủ không yên Trương Cảnh Nhạc nói “nhọc mệtnghĩ quá độ thì tất nhiên làm cho huyết dịch bị hao tổn, thần hồn không yên
Trang 17tĩnh cho nên không ngủ” Sách Loại chứng trị tài cũng viết: “Tư lự thương Tỳ,
Tỳ huyết bị tổn hại, quanh năm mất ngủ, điều trị theo phép bổ ích Tâm Tỳ,dùng bài Quy Tỳ thang hoặc Dưỡng tâm thang [35]
1.3.2 Thể Tâm Thận bất giao
Tâm với thận trong tình huống bình thường, chủ yếu là có mối quan hệtrên và dưới cùng giao nhau, thuỷ với hoả cùng giúp đỡ nhau Nếu do bẩm tốtiên thiên bất túc, hoặc hư lao ốm lâu, hoặc phòng thất quá đáng vv khiến choThận thuỷ hư suy ở dưới không thể giúp cho Tâm hoả ở trên Tâm hoả vượng ởtrên không thể giao với Thận ở dưới, hoặc do mệt nhọc tinh thần quá độ, ngũ chíquá cực đến nỗi Tâm âm bị hao tổn ngấm ngầm, Tâm dương quá thịnh, Tâm hoảkhông thể giao với Thận ở dưới, Tâm hoả không giáng xuống, Thận thuỷ khôngthăng lên tạo thành tình thế thuỷ hoả của Tâm Thận không giúp đỡ nhau sẽ hìnhthành bệnh biến, lâm sàng gọi là chứng Tâm Thận bất giao
Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là Tâm phiền, mất ngủ, hay mê, di tinh,lưng đùi ê mỏi, triều nhiệt đổ mồ hôi trộm, hoa mắt ù tai, hoặc hồi hộp, hoặckhô họng, hoặc tiểu đêm nhiều lần, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít hoặc không córêu, mạch tế sác
Bệnh bất mị - mất ngủ xuất hiện trong chứng Tâm Thận bất giao có đặcđiểm là hư phiền, không ngủ, hay mê, ngũ tâm phiền nhiệt, miệng khô tândịch ít, lại kiêm cả chứng váng đầu, ù tai, hồi hộp, lưỡi đỏ, mạch tế sác; Đây
là do mệt nhọc nội thương, Thận thuỷ bất túc, Tâm hoả mạnh một phía gâynên; Điều trị theo phép tráng thuỷ chế hoả, tư âm thanh nhiệt, dùng bài Giaothái hoàn
1.3.3 Các phương pháp điều trị mất ngủ bằng thuốc y học cổ truyền
* Tâm sen, lá vông, lạc tiên, củ bình vôi, cây húng hôi
Nhiều trường hợp cho kết quả tốt, nhưng thực tế các chất này có tác dụngkhông vững bền nên chỉ có công hiệu với các trường hợp mới bị và nhẹ mà thôi.Đối với người bị chứng mất ngủ mạn tính bao gồm các loại mất ngủ kéo dài từ vàitháng đến vài năm, có hai loại thảo mộc có ích cho họ, đó là cây Đào gai
Trang 18(anbespine) làm dịu đi những lo âu căng thẳng và cây Lạc tiên (Passiflore) giúpcho dễ dàng đi vào giấc ngủ trong trường hợp người bệnh thường thức giấc lúc 4-
5 giờ sáng và không ngủ lại được thì cây Húng hôi (baloote) là thứ dược phẩmthiên nhiên hữu ích Nó chứa một chất xoa dịu rất mạnh, có tác dụng làm mất đicảm giác lo sợ bất an và kéo dài thời gian ngủ [33]
* Một số bài thuốc kinh điển
Tâm và Tỳ hư dùng Quy Tỳ thang hoặc bài Dưỡng Tâm thang, hoặc Lý thịbất mị nghiệm phương để bổ huyết, ích khí trấn tâm an thần, Triệu thị nhị nhụcthang để ích Tâm Tỳ, sinh khí huyết, bổ Can Thận, Lăng thị thất miên phương để
bổ Thận dưỡng Tâm [35] Mất ngủ do chân âm kém, hoả vượng dùng các bài Hoàngliên a giao thang, Chu sa thần hoàn, Thiên vương bổ tâm đan Mất ngủ do khí củaTâm và Đởm hư: Toan táo nhân thang hoặc bài An thần định trí hoàn Mất ngủ do Vịkhông điều hoà do đờm hoả ngăn chặn dùng bài: Ôn đởm thang, bán hạ truật mễthang Thức ăn trệ lại không tiêu: Bảo hoà hoàn Sau khi ốm dậy mà không ngủđược: Quy Tỳ thang Do huyết hư can nhiệt: Bách hổ phách đa mị hoàn Tâm Thậnkhông giao nhau dùng bài Giao thái hoàn [4] hoặc Triệu thị tử linh thang để bồi bổtrung tiêu, ích tinh, mạnh sự ăn uống, giao thông Tâm Thận [35]
1.4 Điều trị rối loạn giấc ngủ bằng nhĩ châm
1.4.1 Khái niệm nhĩ châm
Nhĩ châm tức là dùng kim châm vào những điểm mẫn cảm trên loa tai, rồi vê kim bằng tay hoặc lưu kim ở loa tai trong thời gian nhất định theo yêu cầu chữa bệnh đối với từng chứng bệnh, từng bệnh nhân [6]
Nhĩ châm là một trong những hình thức của châm cứu, có tác dụngchẩn đoán và điều trị Ở nhiều nước Châu á, Châu âu như: Trung Quốc, NhậtBản, Ai cập, Ý, Pháp, Bồ Đào Nha có sử sách ghi về những tác động vào loatai để chữa bệnh
1.4.2 Cơ sở khoa học của nhĩ châm
1.4.2.1 Theo giải phẫu, thần kinh - sinh lý học [6], [36]
Trang 19Có rất nhiều thần kinh được phân bố ở loa tai, đó là các nhánh của dâythần kinh tai to, dây thần kinh chẩm nhỏ, nhánh thái dương của dây thần kinhsinh ba, nhánh tai của thần kinh mặt, nhánh tai sau của dây phế vị (hình1.4)
- Nhánh trước của dây thần kinh tai - thái dương: Nhánh này đi từdây thần kinh tai - thái dương của dây thần kinh V cho ra 3 đến 4 nhánh nhỏ,phân bố
+ Trên da của gờ bình tai và phía trước của hố tam giác
+ Tại chân dưới của đối bình, ở trên và trước
+ Tại xoắn tai trên, bình tai và dái tai lỗ tai và màng nhĩ
Hình 1.4: Thần kinh liên quan đến tai
- Dây thần kinh tai to: Xuất phát từ đám rối cổ, men theo bề mặt của cơ
ức đòn chũm, đi lên ngang dái tai, phân ra hai nhánh:
Trang 20+ Nhánh trước tai xuyên qua dái tai ra mặt trước của loa tai, cho mộtnhánh lên phân bố ở 2/3 dưới của thuyền tai, đối luân, đầu nhọn của hố tamgiác, xoắn tai trên và một phần của rễ luân.
+ Nhánh sau tai phân bố tại da của phần giữa của mặt sau loa tai
- Nhánh tai của dây X: Nhánh này bắt đầu phát ra từ hạch thần kinhcảnh của dây phế vị, ra phía trước hợp lại với sợi của thần kinh VII trong ốngcủa dây này, men theo rãnh của mặt sau loa tai tách ra hai nhánh phân bố tạixoắn tai dưới và ống tai ngoài
- Nhánh tai của dây thần kinh VII: Sau khi ra khỏi lỗ trâm chũm, dâyVII cho ra nhánh tai phân bố ở mặt sau tai và xoắn tai trên
- Dây thần kinh chẩm nhỏ: Xuất phát từ đám rối cổ, đi lên theo cơ ứcđòn chũm, phát ra một số phân nhánh tới phần trên của loa tai; 1/3 da mặt sauloa tai, nhánh trước tai và nhánh đâm xuyên phân bố ở luân tai, phần trên củathuyền tai, chân trên của đối luân và một phần của hố tam giác
Phân bố mạch máu và bạch mạch của loa tai
- Loa tai được cung ứng máu khá đầy đủ, chủ yếu dựa vào động mạchthái dương nông của động mạch cổ ngoài và động mạch sau tai Động mạchthái dương nông nuôi dưỡng khu vực trước tai, còn động mạch sau tai cónhánh sau tai và nhánh trước tai Nhánh động mạch sau tai đi đến mặt trướcloa tai, nuôi dưỡng vùng 2/3 dưới của thuyền tai, đối luân, đỉnh của hố tamgiác, xoắn tai trên và một phần vành tai
- Các tĩnh mạch nhỏ của mặt trước loa tai đổ vào tĩnh mạch thái dươngnông Tĩnh mạch của mặt sau loa tai hợp lại thành 3 - 5 tĩnh mạch của mặtsau loa tai đổ vào tĩnh mạch sau tai
- Bạch mạch của loa tai khá phong phú, hình thành một mạng lưới tạiloa tai Bạch mạch ở mặt trước loa tai chảy vào mang tai Đại bộ phận bạchmạch ở mặt sau loa tai đổ về hạch sau tai
Trang 21Với sự phân bố thần kinh như trên, loa tai là ngã rẽ của nhiều đườngthần kinh làm cho nó gắn liền mật thiết với toàn thân Nhờ sự phân bố thầnkinh cảm giác của nó, loa tai được liên hệ với:
- Các đường tủy: Nhờ vào đám rối cổ nông là nơi đã phát ra dây thầnkinh tai to
- Não bộ: Chủ yếu dựa vào dây thần kinh V
- Hệ thần kinh thực vật:
+ Hệ giao cảm: Có rất nhiều sợi của thần kinh giao cảm cổ được liên hệvào các nhánh của đám rối tủy cổ nông, của dây X, của dây X và của dây XI.Dây XI lại được liên hệ trực tiếp với đám rối giao cảm của xoang cảnh (rấtquan trọng trong sự điều hòa vận động tim mạch)
+ Hệ phó giao cảm: Gồm các nhánh mạch và bài tiết nước bọt của dâyphó giao cảm thuộc hành não, dây XI và chủ yếu là dây X
1.4.2.2 Theo YHCT [6], [37]
Trong những tài liệu kinh điển của châm cứu đều có đề cập mối liênquan giữa tai và các kinh mạch Trong Linh khu có nêu “Tai là nơi tụ hội củatổng mạch” hoặc “Khí huyết của 12 kinh mạch, 365 lạc đều lên mặt để tướicho 5 quan, 7 khiếu, não tủy ở đầu mặt trong đó có khí huyết tách ra để tướinhuận cho tai Tai là một điểm trọng yếu trực tiếp thông với kinh Đởm, kinhTâm, kinh Can, kinh Tam tiêu, kinh Tiểu trường, gián tiếp thông với kinhThận, kinh phế, kinh Tâm bào Như vậy tất cả các kinh âm và kinh dươngchính đều thông với nhau qua kinh nhánh của chúng và hầu hết các kinh âm
và dương chính đều có liên quan đến tai
Trong Linh Khu và Tố Vấn và các tài liệu kinh điển cho thấy rõ mốiquan hệ giữa tai với các tạng phủ trong cơ thể: “Thận khí thông ra tai Thậnhóa thì tai nghe được ”, “Tâm khai khiếu ở tai ”, “Tỳ không đầy đủ thì
9 khiếu không thông”, “Tủy hải không đủ thì tai ù”, “Bệnh ở can hư thìtai không nghe được, khí nghịch thì đau đầu, điếc tai”, “Phế khí hư thì khíít , tai điếc”, “Phế chủ âm thanh, làm tai nghe được âm thanh”
Trang 22Như vậy tai có quan hệ mật thiết với 12 kinh mạch và tất cả các tạngphủ và trong cơ thể Đây cũng chính là cơ sở lý luận về YHCT của phươngpháp nhĩ châm có tác dụng điều hòa khí huyết và lập lại cân bằng âm dương.
1.4.3 Những thay đổi bệnh lý và phân vùng huyệt trên loa tai
Bình thường da ở loa tai thấy đồng màu, cũng có thể thấy những chấmhay những mảng sắc tố Khi cơ thể có bệnh, từng vùng da trên loa tai có thểthay đổi trở nên đỏ hoặc tái đi, xù xì, thô ráp, bong vảy khác với xung quanh.Tại các vùng hay điểm nói trên, điện trở sẽ thấp hơn những vùng gần đấy, khinắn hoặc dùng que tù đầu ấn vào, bệnh nhân thấy đau trội hơn ở vùng kế cận
Trên lâm sàng ta có thể quan sát các hiện tượng sau [8], [37]:
- Ở loa tai có vùng phản ứng hoặc điểm phản ứng trong khi ở đường kinhtương ứng với vùng bệnh không tìm thấy điểm phản ứng hoặc vùng phản ứng
- Ở loa tai không có vùng phản ứng hoặc điểm phản ứng trong khi ởđường kinh tương ứng với vùng bệnh có điểm phản ứng hoặc vùng phản ứng
- Ở loa tai và trên đường kinh tương ứng với vùng bệnh đều có điểmphản ứng hoặc vùng phản ứng
- Riêng loa tai: Điểm phản ứng hoặc vùng phản ứng có khi xuất hiện ở
cả 2 loa tai; có khi chỉ có ở 1 loa tai; có khi một bệnh nhân có nhiều điểmphản ứng hoặc vùng phản ứng, có khi cùng một bệnh trên các đối tượng khácnhau lại có những vùng phản ứng hoặc điểm phản ứng ở các vị trí khác nhau,không theo một quy luật rõ rệt
Thực tiễn lâm sàng cho thấy: Khi cơ thể có bệnh trong đa số trườnghợp trên mặt của loa tai, tại những vị trí của loa tai có quan hệ với nơi đang bịbệnh xuất hiện những vùng phản ứng bệnh lý Khi bệnh giảm hoặc khỏi, cảm giác
ấn đau ở điểm này cũng giảm và mất đi và khi điện trở da trở lại bình thường
Nguyễn Tài thu đã viết trên tạp chí châm cứu nhấn mạnh trên mỗi phầncủa loa tai đều có những khu vực gọi là vùng huyệt khác nhau, đại diện vùngchức năng của các cơ quan, các bộ phận trong cơ thể Các biểu hiện sinh lý vàcác biến đổi bệnh lý của các cơ quan tạng phủ đều thể hiện trên các vùnghuyệt tương ứng đó
Trang 23Có nhiều sơ đồ loa tai khác nhau trên thế giới và một số vùng huyệt tiêubiểu cho các cơ quan, tạng phủ, của cơ thể trên loa tai không giống nhau hoàntoàn Tháng 6 năm 1987 tại Seoul (Nam Triều Tiên) Hội đồng châm cứu Tây TháiBình Dương đã lấy ba sơ đồ loa tai của ba nước: Việt Nam (Nguyễn Tài thu),Trung Quốc (Vương Thế Tài), Pháp (P.Noigier) để so sánh nghiên cứu và sơ bộcông nhận 44 vùng huyệt (Hình1.5) thống nhất trên loa tai như sau [38].
Hình 1.5: Các vùng huyệt chủ yếu trên loa tai
(Theo sơ đồ loa tai của Giáo sư Nguyễn Tài Thu)
E Đùi Chân, Thần Kinh Tọa P4 Buồng Trứng, Tinh Hoàn F2 Thực Quản, Thanh Quản, Da P5 Bàng Quang, Niệu Đạo H1 Vai, Cánh Tay
H2 Khuỷu Tay C3 Vai
P1 Dạ Dày, Vị P2 Tiểu Trường P3 Đại Trường
Trang 24Q3 Miệng, Thực Quản, Thanh Quản
H3 Cổ Tay, Bàn Tay
O3 Tâm Bào, Thần Kinh Thực Vật
C1 Buồng Trứng, Tinh Hoàn
C2 Cổ Giáp Trạng
O2 Tử Cung, Sinh Dục
Q2 Tam Tiêu
D1 Đầu Gối F1 Mũi
G Não Tủy P6 Thận P7 Tỳ, Can, Đởm Q1 Phổi, Tâm Bào Q4 Tai, Thính Giác
1.4.4 Tác dụng của nhóm huyệt điều trị
+ Vị trí: Ở bờ dưới gờ đối luân tai dưới, trên huyệt Tiểu trường
+ Tác dụng: Bổ ích đối với não, thận, hệ thống mạch máu, cải thiệngiảm trí nhớ, đau đầu, hoa mắt, ù tai, giảm thị lực
+ Vị trí: Ở chính giữa chỗ lõm xoắn tai dưới
+ Tác dụng: An thần, hạ áp, cải thiện các rối loạn tinh thần…
Tỳ - P7
+ Vị trí: Ở phía sau huyệt Vị dưới huyệt Can
+ Tác dụng: Điều trị cơ thể suy nhược, tiêu hóa không tốt…
1.4.5 Ứng dụng nhĩ châm ở Viêt Nam
Từ năm 1962 đến năm 1992 Giáo sư Nguyễn Tài Thu đã tiến hành
Trang 25nghiên cứu nhĩ châm, khảo sát những điểm đau ở loa tai, để chẩn đoán phòng bệnh và chữa bệnh.
Từ năm 1992 đến nay Viện châm cứu Việt Nam đã thành lập nhómnghiên cứu nhĩ châm của viện đặt ở phòng Kế hoạch tổng hợp để tiếp tụcđánh giá tác dụng của nhĩ châm trên lâm sàng
Từ năm 1970 đến năm 1976 tạp chí đông y và tạp chí Y học Việt Namcũng đã công bố kết quả điều trị bằng phương pháp nhĩ châm đối với một sốchứng bệnh: Hen phế quản, đau đầu, cao huyết áp…của các tác giả NguyễnTài thu, Trần Thúy, Phạm Duy Nhạc, Kiều Xuân Dũng, Nguyễn Thị Thanhvân, Nguyễn Văn Tâm
1.5 Một số nghiên cứu liên quan tới điều trị rối loạn giấc ngủ
- Kết quả điều tra của Viện nghiên cứu vệ sinh Tâm thần Mỹ có 1/3 dân
số có rối loạn giấc ngủ và 100% bệnh nhân cao tuổi có rối loạn trầm cảm cóbiểu hiện RLGN nặng Người bệnh khó đi vào giấc ngủ, cảm giác lo lắng sợhãi khi lên giường (khi lên giường được 35-40 phút mà vẫn trằn trọc khôngngủ được) Khi ngủ được thì giấc ngủ không sâu, dễ tỉnh giấc, khi tỉnh giấc thìkhông thể ngủ tiếp [1]
- Năm 2004, Ahmed Bahamman nghiên cứu 67 bệnh nhân mất ngủ mạntính thấy thời gian vào giấc trung bình là 42,6 ± 7,74 phút, hiệu quả giấc ngủtrung bình là 69,9 ± 2,5% Đặc biệt dựa vào đa ký giấc ngủ, có 83,6% có chẩnđoán đa ký, trong đó mất ngủ chủ quan chiếm 40,3% và mất ngủ liên quanđến nhịp thở chiếm 25,4% [39]
- Năm 2011, một nhóm tác giả người Mỹ và Canada nghiên cứu trên
3282 đối tượng nam, nữ nhận thấy có 21,4% bị mất ngủ, những người mấtngủ này thường mác ít nhất một bệnh lý kèm theo [40]
- Nghiên cứu so sánh chất lượng giấc ngủ trong các rối loạn tâm thầnvới nhóm chứng bằng thang PSQI của Yuriko và cộng sự, khảo sát trên 24
Trang 26Bệnh nhân Rối loạn lo âu lan tỏa thấy điểm PSQI trung bình bằng 9,63 [41].
- Năm 2008, nghiên cứu đặc điểm lâm sàng RLGN trong mối liên quanđến stress của Lý Duy Hưng khảo sát trên 51 bệnh nhân ở Viện sức khỏe tâmthần cho thấy, RLGN ở những bệnh nhân liên quan đến stress 100% là mấtngủ, thời gian ngủ được trung bình mỗi đêm ngắn (3,6 ± 0,2 giờ), 100% bệnhnhân biểu hiện mệt mỏi khi thức giấc, điểm trung bình thang PSQI là 15,5 ±0,4 Mất ngủ trong các rối loạn liên quan đến stress (RLLQS) xảy ra trướchoặc cùng các triệu chứng khác của bệnh RLLQS chủ yếu là mất ngủ(100%), nhất là mất ngủ đơn thuần và biểu hiện ở cả 3 giai đoạn của giấc ngủ(80,4%) [42]
- Năm 2011, Trần Mai Phương Thảo khảo sát tình hỉnh sử dụng thuốcngủ điều trị mất ngủ tại bệnh viện Lão khoa Trung ương trên 50 bệnh nhân, đãchỉ ra được một số đặc điểm lâm sàng của mất ngủ, đồng thời cho thấy hiệuquả điều trị của các nhóm thuốc ngủ là khác nhau [43]
- Năm 2011, Đỗ Như Dần nghiên cứu “ Đánh giá tác dụng của điệnnhĩ châm trong điều trị mất ngủ do Tâm Tỳ khuy tổn’’ cho thấy hiệu quả vềchất lượng giấc ngủ đạt loại tốt 96,65%, thời lượng giấc ngủ sau khi điềutrị tăng lên 3-4 giờ so với trước khi điều trị, 100% bệnh nhân không thứcgiấc giữa đêm [44]
- Năm 2011, nghiên cứu của Đoàn Văn Minh “ Đánh giá tác của điệnchâm trong điều trị mất ngủ không thực tổn” cho kết quả không còn bệnh nhânnào mất trên 60 phút để vào giấc, chất lượng giấc ngủ có kết quả tốt và kháchiếm tỷ lệ cao 93,4% [45]
Trang 27CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương tiện nghiên cứu
Các dụng cụ dùng cho khám bệnh và điều trị cho bệnh nhân:
- Kim châm nhĩ hoàn: Là kim thép vô khuẩn, có băng vô khuẩn bảo vệđường kính 0,1 cm, chiều dài 0,2-0,3 cm, sản xuất tại Trung Quốc
- Bông vô trùng, cồn 700, kẹp kocher, khay quả đậu
- Ống nghe, huyết áp kế, đồng hồ bấm giây do Nhật Bản sản xuất
- Bệnh án nghiên cứu
- Bảng trắc nghiệm tâm lý PSQI
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm tất cả bệnh nhân được chẩn đoán có rối loạn giấc ngủ, có tuổi từ
18 tuổi trở lên đến khám và điều trị tại Bệnh viện Y học cổ truyền trung ươngthỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ được trình bày dưới đây:
2.2.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân theo y học hiện đại
- Đủ tiêu chuẩn chẩn đoán các RLGN theo Phân loại bệnh Quốc tế lầnthứ 10 ICD 10 (trình bày tại mục 1.2.1)
- Có RLGN biểu hiện qua: Mất ngủ, ngủ nhiều, cận giấc ngủ, rối loạnnhịp thức ngủ (trình bày tại mục 1.2.1)
- Điểm tổng cộng của thang Pittsburgh > 5 (trình bày tại mục 1.2.5 vàphụ lục 2)
- Bệnh nhân tư nguyện tham gia vào nghiên cứu
2.2.2 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân theo y học cổ truyền
Trong nghiên cứu này chúng tôi dựa theo phương pháp khám (tứ chẩn) để
Trang 28quy nạp theo các hội chứng và chọn bệnh nhân thể Tâm Tỳ hư và thể Tâm Thận bất giao, là hai thể thường gặp trên lâm sàng với biểu hiện như sau:
Thể lâm sàng
Vọng
Sắc mặt úa vàng, chất lưỡinhạt bệu, rêu lưỡi trắng,tinh thần bạc nhược
Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi íthoặc không có rêu
Văn Tiếng nói nhỏ, rõ, hơi thở
Tâm phiền, mất ngủ, hay
mê, nam giới di tinh, lưngđùi ê mỏi, triều nhiệt đổ
mồ hôi trộm, hoa mắt ùtai, hồi hộp, khô họng,tiểu đêm nhiều lần
2.2.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân có tổng điểm thang Pittsburgh ≤ 5
- Bệnh nhân quá già yếu
- Bệnh nhân không tuân thủ liệu trình điều trị
- Những bệnh nhân có bệnh lý cơ thể nặng
2.2.4 Tiêu chuẩn đánh giá tác mức độ cải thiện giấc ngủ
- Đánh giá bằng thang điểm Pittsburgh (chi tiết tại mục 1.2.5): Thang
gồm 7 thành tố có cách cho điểm cho từng thành tố: Thời lượng giấc ngủ, thờigian vào giấc ngủ, hiệu quả giấc ngủ, rối loạn trong giấc ngủ, rối loạn banngày, việc sử dụng thuốc ngủ, tự đánh giá chất lượng giấc ngủ Đánh giá từng
Trang 29thành tố trong thang PSQI được chia ra các mức độ:
+ Không có rối loạn giấc ngủ: 0 điểm
+ Rối loạn nặng: 3 điểm
Và đánh giá tác dụng cải thiện theo điểm của từng thành tố, điểm tổngcộng của 7 thành tố:
+ Điểm càng cao mức độ cải thiện giấc ngủ càng kém (PSQI > 5: Có RLGN).+ Điểm càng thấp mức độ cải thiện giấc ngủ càng tốt (PSQI ≤ 5: Không
có RLGN)
2.2.5 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
- Cỡ mẫu nghiên cứu: Chọn 60 bệnh nhân được chẩn đoán có rối loạn giấcngủ, sau đó chia thành 2 nhóm:
Nhóm 1 (thuộc thể Tâm Tỳ hư): Gồm 30 bệnh nhân.
Nhóm 2 (thuộc thể Tâm Thận bất giao): Gồm 30 bệnh nhân.
- Chúng tôi sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện, chọn thu thập bệnhnhân điều trị tại Khoa Lão - Bệnh viện YHCT Trung ương từ 10/2015 - 7/2016,đáp ứng tiêu chuẩn chọn lựa nghiên cứu và tiêu chuẩn loại trừ loại trừ
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp thử nghiệm lâmsàng so sánh trước và sau điều trị, so sánh giữa 2 thể Tâm Tỳ hư và Tâm Thậnbất giao
2.3.2 Chỉ số và biến số nghiên cứu
Các yếu tố ảnh hưởng đến RLGN:
- Tuổi: Tuổi của đối tượng tham gia nghiên cứu, tính bằng năm
- Giới: Là nam hay nữ
Trang 30- Nghề nghiệp: Nghề nghiệp bệnh nhân làm trước khi bị bệnh.
- Hoàn cảnh gia đình: Bao gồm tình trạng hôn nhân, mức sống theo trảlời của người bệnh
Các đặc điểm lâm sàng của RLGN:
- Thời gian bị RLGN: Khoảng thời gian từ khi bắt đầu bị RLGN đếnkhi tiến hành nghiên cứu
- Thời gian đi vào giấc ngủ: Thời gian bắt đầu đi ngủ đến khi ngủ được
- Thời lượng giấc ngủ: Mỗi đêm ngủ trung bình được mấy tiếng
- Chất lượng giấc ngủ: Đánh giá theo chủ quan bệnh nhân
- Những rối loạn trong giấc ngủ: Có hay thức giấc trong đêm không
- Những rối loạn về ban ngày: Đánh giá hậu quả của RLGN lên hoạtđộng nghề nghiệp của bệnh nhân và các tình trạng ban ngày như mệt mỏi, sútcân, giảm trí nhớ, giảm tập trung chú ý…
- Hiệu quả giấc ngủ: Tính bằng (số giờ ngủ/ số giờ nằm trên giường) x 100%
- Điểm Test Pittsburgh
2.3.3 Công cụ thu thập thông tin
- Bệnh án nghiên cứu: Được thiết kế để thu thập thông tin đáp ứngđược mục tiêu nghiên cứu
- Chỉ báo chất lượng giấc ngủ Pittsburgh
2.3.4 Kỹ thuật thu thập thông tin
- Phỏng vấn bệnh nhân và người nhà bệnh nhân để thu thập các thôngtin về đối tượng: Thông tin cá nhân, tiền sử bản thân, gia đình, quá trình điềutrị trước đó, số ngày mất ngủ
- Khám lâm sàng: Xác định các triệu chứng như thời gian ngủ mỗiđêm, kiểu RLGN, các triệu chứng hậu quả của RLGN, các bệnh lý cơ thểkhác nếu có
- Làm test tâm lý: Pittsburgh
2.4 Quy trình nghiên cứu
Trang 312.4.1 Chọn bệnh nhân và chia nhóm
- Các bệnh nhân mất ngủ vào viện được thăm khám lâm sàng toàn diện,thăm khám theo phương pháp Y học cổ truyền để lựa chọn thể bệnh
- Ghi kết quả Test PSQI được đánh giá trước và sau quá trình điều trị
- Tất cả các đối tượng nghiên cứu được ghi chép nhất quán theo mẫubệnh án
- Chọn các bệnh nhân thoả mãn các yêu cầu của đối tượng nghiên cứu(60 bệnh nhân) và chia các bệnh nhân đã lựa chọn vào hai nhóm tương ứngvới thể bệnh nghiên cứu (thể Tâm Tỳ hư 30 bệnh nhân, thể Tâm Thận bất giao
+ Bệnh nhân nằm, hoặc ngồi ở tư thế thoải mái
+ Sau khi chọn được huyệt dùng cán kim ấn xuống huyệt định châm saocho để lại dấu vết ấn, sau đó sát trùng vùng huyệt châm rồi tiến hành châm, châmchính xác vào điểm phản ứng để kim ngập sâu hết mũi kim chừng 1mm cho tới tổchức mềm ở tai, sau đó băng giữ kim lại bằng băng vô trùng
+ Châm bình bổ bình tả: Thần môn, Giao cảm, Tâm, Thận, Tỳ
- Thời gian lưu kim: 5 ngày, mỗi lần châm cả hai bên tai
- Liệu trình điều trị: 20 ngày (5 ngày nhĩ châm 1 lần × 4 lần)
- Quy ước thời điểm đánh giá: Trước khi điều trị (D0); sau điều trị 5 ngày(D5); sau 10 ngày điều trị (D10); sau 20 ngày điều trị (D20)
2.5 Địa điểm nghiên cứu
Trang 32- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Lão - Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương.
2.6 Thời gian nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 7 năm 2016
2.7 Phương pháp xử lý số liệu
Nhập số liệu, làm sạch và mã hóa số liệu, xử lý số liệu theo phươngpháp thống kê Y sinh học bằng máy vi tính với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS20.0 Sử dụng các thuật toán thống kê T-test, khi bình phương, giá trị p đượctính để xác định sự khác biệt
2.8 Đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu này được sự đồng ý, cho phép của Ban Giám đốc, KhoaLão - Bệnh viện y học cổ truyền Trung ương
- Bệnh nhân tham gia nghiên cứu hoàn toàn tự nguyện, được giải thích
rõ ràng trước và trong khi nghiên cứu
- Nghiên cứu mang lại lợi ích thiết thực trong điều trị cho bệnh nhân,đảm bảo các chế độ chăm sóc điều trị
- Được hướng dẫn cách phòng ngừa bệnh mất ngủ và loại bỏ các yếu tốgây mất ngủ
Để giải quyết 2 mục tiêu của luận văn, nội dung nghiên cứu được tiếnhành theo mô hình sau:
Trang 33Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Mô tả đặc điểm đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Phân bố tuổi và giới trong mẫu nghiên cứu
Bảng 3.1 Phân bố tuổi của đối tượng nghiên cứu
- Tổng số có 60 bệnh nhân, trong đó tỷ lệ mất ngủ cao nhất ở nhóm ≥
70 có 41 bệnh nhân chiếm 68,3%, nhóm 60-69 có 25 bệnh nhân chiếm 25%,nhóm 50-59 có 03 bệnh nhân chiếm 5,0%, thấp nhất ở nhóm 18-49 có 01bệnh nhân chiếm 1,7%
- Tuổi trung bình bị rối loạn giấc ngủ trong nghiên cứu cao 73,73 ±
10,78 tuổi
Trang 35Nam; 33%
Nữ; 67%
Nam Nữ
Biểu đồ 3.1 Phân bố giới
- Nghề nghiệp mắc cao nhất là viên chức, hưu trí có 30 bệnh nhân
chiếm 50% tiếp đó là nhóm công nhân với 15 bệnh nhân chiếm 25%, nhómlàm ruộng và nhóm buôn bán tự do đều có 07 bệnh nhân chiếm 11,7%
- Nghề nghiệp mắc ít nhất là sinh viên có 01 bệnh nhân chiếm 1,7%.
Bảng 3.3 Đặc điểm hôn nhân và hoàn cảnh gia đình
Trang 36- Với tình trạng hôn nhân: Tỷ lệ mắc mất ngủ cao nhất ở đối tượng có
vợ có chồng 40 bệnh nhân chiếm 66,6%, ly thân 8,4%, góa bụa 25%
- Về hoàn cảnh gia đình: Số người sống cùng con cháu chiếm đa số53,3%, sống cô đơn 26,7%, sống hai ông bà 10%, hoàn cảnh khác 10%
Biểu đồ 3.2 Các yếu tố thúc đẩy RLGN
Nhận xét:
- Yếu tố stress là yếu tố chính thúc đẩy bệnh nhân rối loạn giấc ngủ
chiếm 71,7%, yếu tố khác 5%, không có yếu tố thúc đẩy chiếm 21,7%
3.1.4 Các stress thường gặp ở bệnh nhân RLGN
Trang 37Bảng 3.4 Các stress thường gặp
3.1.5 Tính chất xuất hiện
20.00%
80.00%
Xuất hiện đột ngột Xuất hiện từ từ
Biểu đồ 3.3 Tính chất xuất hiện RLGN
Nhận xét:
- Về tính chất xuất hiện cho thấy RLGN xuất hiện từ từ chiếm đa số80%, xuất hiện đột ngột chiếm 20%
3.1.6 Phân loại rối loạn giấc ngủ trong mẫu nghiên cứu
Bảng 3.5 Phân loại rối loạn giấc ngủ
Trang 383.1.7 Thời gian mất ngủ trung bình ở bệnh nhân RLGN
Với quy ước: Trước khi nhĩ châm (D0); sau 5 ngày nhĩ châm (D5); sau
10 ngày nhĩ châm (D10); sau 20 ngày nhĩ châm (D20)
Trang 393.2.1 Hiệu quả trên thời lượng giấc ngủ
Bảng 3.7 Sự thay đổi thời lượng giấc ngủ qua các giai đoạn điều trị
(1)
D5 (n = 60) ± SD
(2)
D10 (n = 60) ± SD
(3)
D20 (n = 60) ± SD
3.2.2 Hiệu quả trên thời gian đi vào giấc ngủ
Trang 40Bảng 3.8 Thời gian đi vào giấc ngủ theo giai đoạn điều trị
Thời gian
Giai đoạn
Đánh giá
Số bệnh nhân
< 15 phút
15-30 phút
31-60 phút