MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Lịch sử xã hội loài người từ trước đến nay trải qua năm hình thái kinh tế xã hội với bốn kiểu nhà nước là Nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản và XHCN. Cả bốn kiểu nhà nước này đều có liên hệ mật thiết với pháp quyền. Nhà nước pháp quyền mà chúng ta quan niệm không phải là một kiểu nhà nước gắn liền với một giai cấp như nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản, xã hội chủ nghĩa, mà là một hình thức tổ chức nhà nước, một trình độ phát triển của nhà nước về phương diện tổ chức quyền lực để bảo đảm Hiến pháp và pháp luật giữ địa vị tối cao. Hay nói một cách khác đó là hệ thống các tư tưởng, quan điểm đề cao pháp luật, pháp chế trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và trong đời sống xã hội. Nhà nước pháp quyền là nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật. Quan điểm xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được thể hiện trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo nhà nước ta. Từ khi còn hoạt động bí mật đến sau Cách mạng Tháng Tám thành công, quan điểm này đã được khẳng định ngay trong Hiến pháp năm 1946 và tiếp theo được thể hiện ngày càng rõ nét hơn phù hợp với từng giai đoạn cách mạng trong các bản Hiến pháp 1959, 1980. Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định : Nước ta là một nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích là vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương đều do dân cử. Cương lĩnh Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1991 và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đều khẳng định : Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta nhấn mạnh nhiệm vụ đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, trong đó nhiệm vụ cốt lõi là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đó và trong khuôn khổ của môn học, nhằm nhận thức rõ hơn về vấn đề này, em chọn đề tài Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay làm đề tài cho nghiên cứu.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử xã hội loài người từ trước đến nay trải qua năm hình thái kinh
tế xã hội với bốn kiểu nhà nước là Nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản vàXHCN Cả bốn kiểu nhà nước này đều có liên hệ mật thiết với pháp quyền.Nhà nước pháp quyền mà chúng ta quan niệm không phải là một kiểu nhànước gắn liền với một giai cấp như nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản, xãhội chủ nghĩa, mà là một hình thức tổ chức nhà nước, một trình độ phát triểncủa nhà nước về phương diện tổ chức quyền lực để bảo đảm Hiến pháp vàpháp luật giữ địa vị tối cao Hay nói một cách khác đó là hệ thống các tưtưởng, quan điểm đề cao pháp luật, pháp chế trong tổ chức, hoạt động của bộmáy nhà nước và trong đời sống xã hội Nhà nước pháp quyền là nhà nướcquản lý xã hội theo pháp luật
Quan điểm xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ViệtNam đã được thể hiện trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo nhà nước ta Từ khicòn hoạt động bí mật đến sau Cách mạng Tháng Tám thành công, quan điểmnày đã được khẳng định ngay trong Hiến pháp năm 1946 và tiếp theo đượcthể hiện ngày càng rõ nét hơn phù hợp với từng giai đoạn cách mạng trongcác bản Hiến pháp 1959, 1980 Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh từngkhẳng định : "Nước ta là một nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích là vì dân, baonhiêu quyền hạn đều là của dân, chính quyền từ xã đến Chính phủ Trungương đều do dân cử" Cương lĩnh Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1991 vàHiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đều khẳngđịnh : "Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân"
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta nhấn mạnh nhiệm vụ đẩy mạnhcải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cườngpháp chế, trong đó nhiệm vụ cốt lõi là xây dựng Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa
Trang 2Trên cơ sở đó và trong khuôn khổ của môn học, nhằm nhận thức rõ hơn
về vấn đề này, em chọn đề tài Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay làm đề tài cho nghiên cứu.
2 Tình hình nghiên cứu
Trong chính trị học, nhà nước là phạm trù trung tâm nên được sự quantâm nghiên cứu hàng đầu của các nhà khoa học chính trị Hơn nữa, nhà nướckhông chỉ có các nhà khoa học chính trị nghiên cứu mà còn được các nhà luậthọc… nghiên cứu Chính vì vậy vấn đề nhà nước nói chung mà nhà nướcpháp quyền XHCN ở nước ta nói riêng đã được sự quan tâm nghiên cứu khá
kỹ lưỡng của nhiều nhà khoa học Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu
* Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận chung về nhà nước pháp quyền nóichung và Nhà nước pháp quyền XHCN nói riêng
Trang 3- Phản ánh thực trạng quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
ở nước ta
- Đưa ra những quan điểm và phương hướng xây dựng nhà nước phápquyền XHCN ở nước ta trong thời gian tới
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng lý luận, phương pháp luậnnghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp thu thập tàiliệu, phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, hệ thống, so sánh…
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết kuận và danh mục tài liệ tham khảo, đề tàigồm 3 chương 8 tiết
Trang 4Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 1.1 Khái niệm nhà nước pháp quyền
Trong thời gian gần đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng cũngnhư trong giới nghiên cứu khoa học nói rất nhiều về vấn đề nhà nước phápquyền Vậy nhà nước pháp quyền là gì? Phải hiểu nó như thế nào mới đúng?
Nhà nước pháp quyền không phải là vấn đề mới lạ, mà là một phạm trù
có nguồn gốc lịch sử Sự ra đời và phát triển của tư tưởng: “Nhà nước phápquyền” gắn liền với sự ra đời và phát triển của dân chủ, của tư tưởng loại trừ
sự chuyên quyền, độc đoán, vô chính phủ, vô pháp luật Nhà nước phápquyền đòi hỏi phải có sự thống nhất giữa tính tối cao của pháp luật với hìnhthức pháp lý của tổ chức, thực hiện quyền lực Nhà nước Đó là hai yếu tốkhông thể thiếu được khi nói đến Nhà nước pháp quyền nói chung
Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội có mối quan hệ mậtthiết với nhau Nhà nước tồn tại không thể thiếu pháp luật, ngược lại thiếuNhà nước, pháp luật trở nên vô nghĩa Bởi vì, pháp luật do Nhà nước banhành và đảm bảo thực hiện Nhà nước cần đến pháp luật vì thông qua phápluật, dựa vào pháp luật, nhà nước mới quản lý được đời sống xã hội Dựa trênpháp luật và các công cụ khác, Nhà nước thiết lập một trật tự xã hội Tuy vậy,lịch sử cho thấy không phải khi nào có nhà nước, có pháp luật là có ngay Nhànước pháp quyền Nhà nước pháp quyền không phải là kiểu nhà nước xét theohọc thuyết Mác-Lênin về hình thái kinh tế xã hội Nhà nước pháp quyền rađời ở một giai đoạn phát triển nhất định của xã hội
Nhà nước pháp quyền từ quan điểm, tư tưởng đã dần trở thành thực tếlịch sử
Trong khoa học pháp lý bàn về khái niệm Nhà nước pháp quyền vẫncòn nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau Có ý kiến cho rằng Nhà
Trang 5nước pháp quyền là một hình thức nhà nước Ý kiến khác lại cho rằng Nhànước pháp quyền là một phương thức quản lý xã hội và thực hiện quyền lựcnhà nước Nhiều ý kiến cho rằng có nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nướcpháp quyền XHCN, nhưng nhà nước pháp quyền XHCN ở trình độ phát triểncao hơn nhà nước pháp quyền tư sản.
Tuy vậy, Nhà nước pháp quyền được hiểu tập trung theo hai khía cạnhchủ yếu sau:
Ở nghĩa chung nhất, Nhà nước pháp quyền là Nhà nước trong đó phápluật thống trị trong xã hội Nhà nước phải điều chỉnh được các quan hệ xã hộibằng pháp luật, một quốc gia nào đó chủ yếu điều chỉnh bằng văn bản dướiluật thì quốc gia đó chưa đủ về chất của Nhà nước pháp quyền
Mặt khác, Nhà nước pháp quyền còn được hiểu là một hình thức tổchức Nhà nước và hoạt động chính trị quyền lực công khai, thể hiện mối quan
hệ bình đẳng giữa các cá nhân và Nhà nước dựa trên cở sở của pháp luật
Tại hội thảo về Nhà nước pháp quyền của các nước cùng sử dụng tiếngPháp, tổ chức tại Bê-nanh tháng 9 năm 1991, từ các giác độ khác nhau, luậtgia của trên 40 nước đã đưa ra các quan điểm như sau:
Nhà nước pháp quyền là Nhà nước mà ở đó quyền và nghĩa vụ của tất cả
và của mỗi người được pháp luật ghi nhận và bảo hộ; Nhà nước pháp quyềnđược định nghĩa chung là một chế độ mà ở đó Nhà nước và các cá nhân phảituân thủ pháp luật, tức là một thứ bậc các quy phạm pháp luật được bảo đảmthực hiện bằng toà án độc lập; Nhà nước pháp quyền có nghĩa vụ tôn trọng giátrị cao nhất của con người; Nhà nước phải tuân thủ pháp luật và bảo đảm chocông dân được chống lại chính sự tuỳ tiện của Nhà nước, Nhà nước đề ra phápluật đồng thời phải tuân thủ pháp luật, tự đặt cho mình và các thiết chế củamình trong khuôn khổ pháp luật Phải có các cơ chế khác nhau để kiểm tra tínhhợp pháp và hợp hiến của pháp luật cũng như các hành vi của bộ máy hànhchính đặc điểm của Nhà nước pháp quyền là Nhà nước phải tạo ra cho công
Trang 6dân sự bảo đảm rằng người ta không bị đòi hỏi cái ngoài hoặc trên những điềuđược quy định trong Hiến pháp và pháp luật Nhà nước pháp quyền là một chế
độ mà ở đó Hiến pháp thống trị, nhưng phải là một Hiến pháp được xây dựngtrên sự tự do và quyền công dân được bảo đảm thực hiện
Trong cuốn tìm hiểu một số khái niệm trong Văn kiện Đại hội IX củaĐảng có định nghĩa: Nhà nước pháp quyền mà chúng ta quan niệm không phải
là một kiểu nhà nước, trong lịch sử chỉ có bốn kiểu nhà nước: chủ nô, phongkiến, tư sản, xã hội chủ nghĩa Nhà nước pháp quyền nói một cách khái quát là
hệ thống các tư tưởng, quan điểm đề cao pháp luật, pháp chế trong tổ chức,hoạt động của bộ máy nhà nước và trong đời sống xã hội Nhà nước phápquyền là nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật Đương nhiên, bao giờ phápluật cũng mang tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của giai cấp cầm quyền
Tại bài viết về “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, dodân và vì dân” của Chủ tịch nước Trần Đức Lương đăng trên Tạp chí Cộngsản số 1/ 2002 có đoạn viết: Nhà nước pháp quyền, nói một cách khác là hệthống các tư tưởng, quan điểm đề cao pháp luật, pháp chế trong tổ chức, hoạtđộng của bộ máy nhà nước và trong đời sống xã hội Nhà nước pháp quyền lànhà nước quản lý xã hội theo pháp luật và đề cao quyền con người, quyềncông dân
Như vậy, lý luận về nhà nước pháp quyền là hệ thống các quan điểm, tưtưởng rất phức tạp, phong phú và có nhiều cách tiếp cận khác nhau: Tiếp cậnnhà nước pháp quyền dưới giác độ tư tưởng, lý luận, bàn về các quan điểm,quan niệm về nhà nước pháp quyền Lý luận về Nhà nước pháp quyền và Nhànước pháp quyền XHCN đang còn là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trongchương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước KX - 04
Khái niệm Nhà nước pháp quyền có nhiều cách tiếp cận khác nhau,nhưng chung quy lại Nhà nước pháp quyền là khái niệm bao hàm những nộidung rất phong phú, chứa đựng những đặc trưng, những mặt cơ bản, ghi nhận
Trang 7một trạng thái phát triển, một trình độ phát triển của Nhà nước và tiến bộ xãhội Tựu chung các ý kiến thường lấy các dấu hiệu đặc trưng để xác định nộihàm của khái niệm nhà nước pháp quyền, như: tính tối cao của Luật, sự phâncông quyền lực, dân chủ và bảo đảm quyền con người, trách nhiệm qua lại
giữa nhà nước và công dân; tính độc lập của nền tư pháp Theo đó: Nhà
nước pháp quyền hiểu chung nhất là Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, trong đó mọi chủ thể kể cả nhà nước đều phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật - một hệ thống pháp luật có tính phổ biến cao (đề cao tính tối cao của Hiến pháp và luật), phù hợp với ý chí, thể hiện đầy đủ những giá trị cao cả nhất của xã hội, của con người.
1.2 Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
1.2.1 Bản chất nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Chủ nghĩa duy vật lịch sử và thực tiễn chỉ ra cho chúng ta thấy rằng bất
kỳ nhà nước nào cũng là nền chuyên chính của giai cấp thống trị Giai cấpnắm quyền thống trị về kinh tế sẽ nắm quyền thống trị về chính trị thông qua
bộ máy nhà nước của mình Trong chế độ ta, giai cấp công nhân giữ vai tròlãnh đạo xã hội Vì vậy, nhà nước ta mang bản chất giai cấp công nhân, đượcthể hiện ở toàn bộ hoạt động của nhà nước từ pháp luật, cơ chế, chính sách,đến nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước, nhằm từng bước thực hiện
ý chí và nguyện vọng của nhân dân, phục vụ lợi ích giai cấp, nhân dân laođộng và cả dân tộc
Lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dântộc là thống nhất Sự thống nhất ấy bắt nguồn từ bản chất của cách mạngXHCN do giai cấp công nhân lãnh đạo Vì vậy, nhà nước ta mang bản chấtgiai cấp công nhân, đồng thời cũng gắn bó chặt chẽ với tính dân tộc, tính nhândân Bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân hoà quyệnvào nhau, được quán triệt, cụ thể hoá, thể chế hoá trên mọi lĩnh vực, mọi tổchức, mọi hoạt động của nhà nước Và cũng chỉ có nhà nước mang bản chất
Trang 8giai cấp công nhân do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo mới đại biểu cholợi ích chung của nhân dân lao động, của dân tộc Tính nhân dân thể hiện ởchỗ nhà nước là của dân, quyền lực thực sự ở nơi dân, chính quyền do dân lậpnên và tham gia quản lý; nhà nước thể hiện ý chí, lợi ích và nguyện vọng củanhân dân; cán bộ công chức nhà nước là công bộc của dân Tính dân tộc củanhà nước được thể hiện ở chỗ, tổ chức và hoạt động của nhà nước ta kế thừa
và phát huy những truyền thống, bản sắc tốt đẹp của dân tộc và con ngườiViệt Nam Nhà nước có chính sách dân tộc đúng đắn, chăm lo lợi ích mọi mặtcho các dân tộc trong cộng đồng người Việt Nam và thực hiện đoàn kết dântộc, coi “đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân là đường lối chiến lược và độnglực to lớn để xây dựng và bảo vệ tổ quốc; giữ vững quan điểm của Đảng vềđộc lập, tự chủ trong quan hệ đối ngoại; kết hợp đúng đắn chủ nghĩa yêu nướcchân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân”
1.2.2 Những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Xuất phát từ lý luận (các Văn kiện của Đảng cộng sản Việt nam vàHiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, các công trình nghiêncứu khoa học về nhà nước pháp quyền) và thực tiễn) có thể khái quát nhữngđặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền XHCN Việt nam như sau:
Một là, Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Nội dung này luôn đượckhẳng định là một trong những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo việc xây dựng nhànước Hiến pháp 1946, bản hiến pháp đầu tiên đã quy định tại Điều 1: “NướcViệt Nam là một nước dân chủ cộng hòa Tất cả quyền bính trong nước là củatoàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo,giai cấp, tôn giáo” Nguyên tắc đó được tiếp tục khẳng định trong các hiếnpháp tiếp theo và đến Hiến pháp 1992 được thể hiện toàn diện hơn, sâu sắchơn: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền
Trang 9lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp côngnhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Điều 2).
Khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân không chỉ là nguyêntắc cơ bản được ghi nhận trong các Hiến pháp nước ta mà còn gắn với việcthiết lập cơ chế bảo đảm thực hiện quyền lực thực sự của nhân dân, là tưtưởng chỉ đạo bao quát toàn bộ nội dung của các hiến pháp, được thể hiện cụthể trong các quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhànước từ Trung ương đến địa phương, của các cơ quan lập pháp, hành pháp và
tư pháp
Hai là, xác định quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công
rành mạch và sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện cácquyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Đây vừa là nguyên tắc tổ chức và hoạtđộng của bộ máy nhà nước ta, vừa là quan điểm chỉ đạo quá trình tiếp tụcthực hiện việc cải cách bộ máy nhà nước “Quyền lực nhà nước là thống nhất,
có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiệncác quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Đó là hai mặt của một vấn đề trong
tổ chức, xây dựng nhà nước” Quán triệt quan điểm quyền lực nhà nước thốngnhất sẽ tác động trực tiếp đến việc tăng cường trách nhiệm và sự phối hợp củacác cơ cấu thực hiện quyền lực của bộ máy nhà nước, bảo đảm cho bộ máynhà nước vận hành đồng bộ, thống nhất và có hiệu lực, hiệu quả Mặt khác,tăng cường việc phân công, phân nhiệm rành mạch, hợp lý, rõ ràng và chútrọng phối hợp chặt chẽ trên tinh thần “vì dân, do dân” giữa các cơ quan trongviệc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp chính là điều kiện đểphát huy tốt hiệu lực của quyền lực nhà nước thống nhất Xuyên suốt các bảnhiến pháp của nước ta đều thể hiện rõ quan điểm nêu trên trong việc xây dựngnhà nước Quốc hội luôn được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhândân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan duy nhất có quyền lậphiến và lập pháp, quyết định những vấn đề cơ bản, quan trọng của đất nước vàthực hiện quyền giám sát tối cao Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc
Trang 10hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội chủnghĩa Việt Nam Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụchính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhànước Vị trí, vai trò của cơ quan tư pháp nước ta mà trung tâm là hệ thống cácTòa án luôn được đề cao Các nguyên tắc: “khi xét xử, Thẩm phán và Hộithẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”; “Tòa án nhân dân xét xử tập thể vàquyết định theo đa số”; “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm” luôn phảiđược tôn trọng trong hoạt động tư pháp Tổ chức và hoạt động của chínhquyền địa phương được thể hiện qua các hiến pháp với việc hình thànhHĐND mà các vị đại biểu HĐND do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra vàviệc HĐND bầu các thành viên của UBND
Thực tiễn chứng minh rằng, việc phân công và phối hợp trong thựchiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam mấy chục năm qua đã tạo điều kiện để
bộ máy nhà nước vận hành thông suốt; đồng thời bảo đảm tăng cường ngàycàng có chất lượng hơn cơ chế kiểm tra và tự kiểm tra, thanh tra của hệ thống
cơ quan hành chính nhà nước, cơ chế kiểm sát đối với các hoạt động tư phápcủa Viện kiểm sát, cơ chế giám sát của Quốc hội, HĐND các cấp đối với các
cơ quan nhà nước và cơ chế giám sát thường xuyên của nhân dân đối với hoạtđộng của bộ máy nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước
Ba là, Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí cao nhất trong điều chỉnh các
quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Pháp luật phải thể hiện đúng đắn ý chí của nhân dân, phù hợp với hiệnthực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội Pháp luật phải được chính Nhànước, cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước và mọi người, mọi tổchức trong xã hội tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Trong các văn bảnquy phạm pháp luật của Nhà nước ta, đặc biệt Hiến pháp - đạo luật cơ bản đãxác định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cườngpháp chế xã hội chủ nghĩa Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xãhội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành
Trang 11Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các viphạm Hiến pháp và pháp luật” (Điều 12 Hiến pháp 1992) Nghĩa vụ tuân theoHiến pháp, pháp luật không loại trừ đối với bất cứ ai.
Ngay Đảng Cộng sản Việt Nam, được toàn thể nhân dân Việt Nam thừanhận vị trí, vai trò lãnh đạo đất nước và Hiến pháp xác định: Đảng là lựclượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thì cũng tại Điều 4 của Hiến pháp 1992khẳng định: Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp vàpháp luật
Bốn là, Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công
dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, thực hành dânchủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật Đây là một đặc trưng mà kể từkhi thành lập nước Việt Nam DCCH cho đến nay, Nhà nước ta đặc biệt quantâm Trong các văn bản pháp luật, các nội dung về quyền con người đều đượcquy định đầy đủ Hiến pháp 1992 đã dành trọn một chương (Chương V) với
34 điều quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Sinh thời, Bác
Hồ đã viết: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao chonước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào aicũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”
Như vậy, nguyện vọng thiết tha và mục tiêu cao cả của Đảng ta và Bác
Hồ về giá trị con người đã được chú trọng đề cao trong thực tế, được thể chếhóa thành pháp luật và Nhà nước luôn quan tâm phấn đấu thực hiện
Năm là, Nhà nước tôn trọng và thực hiện đầy đủ các điều ước quốc tế
mà Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Trong gần 20 năm đổi mới, Việt Nam đã ký kết nhiều điều ước quốc tếsong phương, trong đó chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực thương mại, thuế,viện trợ phát triển, ngân hàng Việt Nam cũng đã là thành viên của nhiều đềuước quốc tế đa phương Trong việc ký kết các điều ước quốc tế, Việt Namkhông chỉ dừng lại ở việc ký với các nước XHCN trước đây, các nước láng
Trang 12giềng như trước thời kỳ đổi mới mà ngày càng mở rộng, đặc biệt phải kể đếnviệc Việt Nam là thành viên của nhiều tổ chức tài chính lớn trên thế giới nhưNgân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Việt Nam tham gia Hiệphội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á -Thái Bình Dương (APEC), v.v Việc “tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đốingoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động hội nhập kinh tếquốc tế theo lộ trình phù hợp điều kiện của nước ta và bảo đảm thực hiệnnhững cam kết trong quan hệ song phương và đa phương như AFTA, APECIHiệp định thương mại Việt - Mỹ, tiến tới gia nhập WTO ” là một trongnhững chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta.
Sáu là, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà
nước pháp quyền XHCN, sự giám sát của nhân dân và sự phản biện xã hộicủa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước từ thời kỳ đầucủa cách mạng Việt Nam cho đến nay đã có một thời kỳ ở nước ta tồn tạinhiều đảng chính trị hoạt động trong đời sống xã hội; tuy nhiên, qua thử tháchcủa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mấy chục năm vô cùng ác liệt và côngcuộc xây dựng và bảo vệ đất nước đầy gay go quyết liệt, nhân dân Việt Nam
đã thừa nhận vị trí, vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Namđối với Nhà nước và xã hội Sự lãnh đạo của Đảng được chính thức ghi nhậntrong Hiến pháp, đó là sự khẳng đỉnh thành quả đấu tranh cách mạng củanhân dân ta Hiến pháp 1992 khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sảnViệt Nam đối với Nhà nước và xã hội; đồng thời cũng quy định rõ các tổ chứccủa Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
Với những sáu nêu trên, nhà nước ta thể hiện những tư tưởng quanđiểm tích cực, tiến bộ, phản ánh ước mơ và khát vọng của nhân dân đối vớicông lý, tự do, bình đẳng trong một xã hội còn giai cấp
Trang 13Hiện nay, đất nước đang tiến hành đổi mới, chúng ta đặt vấn đề đẩymạnh cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước theo định hướng xây dựngnhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, thực chất là tiếp thu những quanđiểm tích cực, tiến bộ và khoa học về nhà nước pháp quyền nhằm xây dựngnhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thực sự là nhà nước của dân, do dân
và vì dân, dựa trên khối đoàn kết dân tộc mà nền tảng là liên minh giai cấpcông nhân - nông dân - trí thức do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Đó là,Nhà nước đảm bảo tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nhà nước là công cụchủ yếu để thực hiện quyền lực nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất,
có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiệncác quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Đó là
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế, xử lýnghiêm minh, kịp thời mọi vi phạm pháp luật nhằm thực hiện và bảo vệ đượccác quyền tự do dân chủ và lợi ích hợp pháp của nhân dân, ngăn ngừa sự tuỳtiện từ phía cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước, ngăn ngừa hiệntượng dân chủ cực đoan, vô kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm hiệu lực và hiệu quảhoạt động của nhà nước
Nhà nước mà mọi cơ quan nhà nước, các tổ chức, kể cả tổ chức Đảng,cán bộ, công chức đều phải hoạt động theo pháp luật, tuân thủ pháp luật, chịutrách nhiệm trước nhân dân về các hoạt động của mình Mọi công dân đều cónghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật
Trang 14Chương 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở
NƯỚC TA
Để có một cái nhìn toàn diện và đúng đắn về thực trạng xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN Việt Nam không phải là vấn đề đơn giản Tuy nhiênchúng ta cũng có thể có được một cái nhìn tương đối khi xem xét qua nhữngvấn đề sau: những kết quả trong nhận thức đặt nền tảng cho hành động; kếtquả trong phát triển nghiên cứu lý luận về xây dựng nhà nước pháp quyền vànhững kết quả đạt được bước đầu trong thực tiễn của quá trình xây dựng nhànước pháp quyền XHCN Việt Nam Cụ trhể là:
2.1 Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam - bước đổi mới quan trọng trong nhận thức và hành động của Đảng và Nhà nước ta
Trong tình hình mới của cách mạng Việt nam, Đảng và nhà nước ta đãsáng suốt khẳng định nhiệm vụ cốt lõi của cải cách tổ chức và hoạt động củaNhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế là xây dựng nhà nước phápquyền XHCN của dân, do dân, vì dân Nói cách khác việc xây dựng nhà nướcpháp quyền XHCN Việt nam là một tất yếu khách quan Nhận thức này đượccoi là một thắng lợi của quá trình đổi mới trong tiến trình xây dựng nhà nướcXHCN ở nước ta
Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định: Xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN Việt Nam là cách thức cơ bản để phát huy quyềnlàm chủ của nhân dân, bảo đảm mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân;nhà nước pháp quyền XHCN Việt nam là công cụ chủ yếu để thực hiện quyềnlực nhân dân Hiến pháp 1992 khẳng định: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân
Sở dĩ Đảng ta đặt vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ViệtNam vì những lý do cơ bản sau:
Trang 15Thứ nhất, Đặt vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt nam
vì bản thân lý luận về nhà nước pháp quyền có những điểm tiến bộ, hợp lýtrong việc thực hành quyền dân chủ, trong việc tổ chức, hoạt động của nhànước Nhà nước pháp quyền trong đặc trưng của nó có nhiều điểm phù hợpvới bản chất của nhà nước ta Tuy nhiên vì nhà nước và pháp luật luôn mangbản chất giai cấp sâu sắc, vì vậy Đảng ta xác định rõ: xây dựng nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnhđạo của Đảng cộng sản Việt Nam
Thứ hai, Đặt vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
còn xuất phát từ thực trạng tổ chức, hoạt động của nhà nước ta còn nhiềukhiếm khuyết, yếu kém, chưa thực sự là nhà nước tuân thủ pháp luật và thựchiện quản lý xã hội bằng pháp luật Bên cạnh những thành tựu rất to lớn đạtđược,bộ máy nhà nước ta chưa thực sự trong sạch, vững mạnh; tình trạngtham nhũng, lãng phí, quan liêu còn nghiêm trọng, chưa được ngăn chặn; hiệulực quản lý điều hành còn chưa nghiêm; kỷ cương xã hội bị buông lỏng làmgiảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta Quản lý nhànước chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ mới Tổ chức bộ máy nhà nướccòn nặng nề, sự phân công phối hợp giữa cac cơ quan nhà nước trong việcthực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp còn những điểm chưa rõ vềchức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ phân cấp giữa trung ương và địa phươngcòn một một số mặt chưa cụ thể làm cho tình trạng tập trung quan liêu cũngnhư phân tán, cục bộ chậm được khắc phục Do đó Đại hội Đảng toàn quốclần thứ IX nhấn mạnh nhiệm vụ đẩy mạnh cải cách tổ chức, hoạt động củanhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, trong đó cốt lõi là xâydựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạocủa Đảng cộng sản Việt Nam
Thứ ba, Đặt vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt nam
còn xuất phát từ tính tất yếu khách quan của sự phát triển của đất nước theođịnh hướng XHCN Sự tất yếu khách quan ấy xuất phát từ định hướng xây