1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao học , Thực trạng giao thông tiếp cận đối với bến xe bus thành phố, liên tỉnh, nơi để xe ở việt nam hiện nay

32 119 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU 1. Đặt vấn đề. Giao thông tiếp cận là một khái niệm mới ở Việt Nam, được hiểu là một hệ thống giao thông hoàn chỉnh, thuận lợi và an toàn không chỉ cho người bình thường mà còn cho người khuyết tật, người cao tuổi và người có khó khăn khác trong hệ vận động của cơ thể khi tham gia giao thông. Trên thế giới, giao thông tiếp cận đã được ứng dụng từ hơn 30 năm qua ở nhiều nước trên thế giới và khu vực như: CHLB Đức, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Anh, Thụy Điển, Canada, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Lào… từng bước đã tạo ra được một xã hội hòa nhập, không vật cản và vì quyền con người. Giao thông tiếp cận hiện đã và đang phát triển ở nhiều nước trên thế giới. Đã tạo ra hệ thống giao thông thông minh, lịch sự và đáp ứng tối đa nhu cầu đi lại của tất cả mọi người trong xã hội. Việt Nam đã cam kết thực hiện “Khuôn khổ hành động thiên nhiên kỷ BIWAKO” của Hội nghị cấp cao liên Chính phủ tại Nhật Bản, trong đó có mục tiêu xây dựng hệ thống giao thông đảm bảo tiếp cận được với người khuyết tật và người cao tuổi. Trong khi đó, việc loại bỏ các rào cản đối với người khuyết tật trong tham gia giao thông – phát triển theo xu hướng giao thông tiếp cận – đã được luật hóa bằng Luật Người khuyết tật (Quốc hội thông qua vào ngày 17062010) và các đạo luật chuyên ngành giao thông Luật Giao thông đường bộ, Luật Đường sắt, Luật Hàng không dân dụng… Bộ GTVT cũng đã ban hành Thông tư số 392012TTBGTVT hướng dẫn thực iện quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về kết cấu hạ tầng giao thông, công cụ hỗ trợ và chính sách ưu tiên người khuyết tật tham gia giao thông công cộng. Trong thực tế, yếu tố giao thông tiếp cận cũng chưa được thể hiện nhiều, mới chủ yếu trong lĩnh vực hàng không mà một phần do yêu cầu của tiêu chuẩn quốc tế, với các dịch vụ đón và trợ giúp khách là người già yếu, trẻ em đi một mình, phụ nữ có thai, khách khiếm thị, khiếm thính, dịch vụ xe lăn… Lĩnh vực đường sắt gần đây cũng có một số công trình như cải tạo ke ga (lên xuống tàu) thấp hơn cho người đi lại, mang vác đồ lên tàu dễ hơn. Hiện đường sắt Việt Nam đang nghiên cứu lựa chọn tuyến phù hợp để đưa toa xe tiếp cận vào khai thác thí điểm. Đến nay hầu hết địa phương chưa chú trọng đến yếu tố giao thông tiếp cận trong phát triển giao thông địa phương, nội đô. Mới chỉ TP.HCM và Đà Nẵng thí điểm một số tuyến xe buýt tiếp cận với đối tượng phục vụ là người khuyết tật (đi xe lăn), với phương tiện có chỗ cho xe của người khuyết tật, điểm dừng có biển báo, đường lên xuống, nhân viên phục vụ xe được đào tạo vận hành thiết bị và cách phục vụ. Tuy nhiên, nhìn chung, việc hướng đến giao thông tiếp cận vẫn còn chưa đồng bộ, tiến độ ở một số khâu còn chậm, chưa được thực hiện đúng kế hoạch. Ví dụ như ở vấn đề hạ tầng ở các đường phố đô thị, chẳng hạn như thiếu lối lên xuống dành cho xe lăn hay nơi dừng xe buýt không mấy thuận tiện cho trẻ nhỏ, người già. Tại Hà Nội, kỹ sư Lương Minh Hải – Trung tâm nghiên cứu phát triển oto, Vinamotor, khảo sát một số điểm dừng xe buýt ở Hà Nội cũng thấy chiều cao vỉa hè tại các bến xe buýt thay đổi từ o đến 320mm. Yếu tố giao thông tiếp cận chưa được quan tâm đúng mức, theo TS. Chu Mạnh Hùng – nguyên Vụ trưởng Vụ Môi trường, có một trong những nguyên nhân là nhận thức của cộng đồng chưa đầy đủ và đúng mức. Ngoài ra cũng phải kể đến các nguyên nhân về quản lý qua nhiều cấp gây nên sự thiếu đồng bộ và chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành và chính quyền địa phương. Bên cạnh đó, chúng ta chưa có cơ chế, chính sách đặc biệt để động viên, khuyến khích, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế, mọi tổ chức xã hội, đặc biệt là doanh nghiệp vận tải khách cùng tham gia phát triển hệ thống giao thông tiếp cận. 2. Đối tượng nghiên cứu. Giao thông tiếp cận đối với bến xe bus thành phố, bến xe lien tỉnh, nơi để xe.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Đặt vấn đề.

Giao thông tiếp cận là một khái niệm mới ở Việt Nam, được hiểu là một

hệ thống giao thông hoàn chỉnh, thuận lợi và an toàn không chỉ cho người bìnhthường mà còn cho người khuyết tật, người cao tuổi và người có khó khăn kháctrong hệ vận động của cơ thể khi tham gia giao thông

Trên thế giới, giao thông tiếp cận đã được ứng dụng từ hơn 30 năm qua ởnhiều nước trên thế giới và khu vực như: CHLB Đức, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Anh,Thụy Điển, Canada, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Lào… từng bước đã tạo

ra được một xã hội hòa nhập, không vật cản và vì quyền con người Giao thôngtiếp cận hiện đã và đang phát triển ở nhiều nước trên thế giới Đã tạo ra hệ thốnggiao thông thông minh, lịch sự và đáp ứng tối đa nhu cầu đi lại của tất cả mọingười trong xã hội

Việt Nam đã cam kết thực hiện “Khuôn khổ hành động thiên nhiên kỷBIWAKO” của Hội nghị cấp cao liên Chính phủ tại Nhật Bản, trong đó có mụctiêu xây dựng hệ thống giao thông đảm bảo tiếp cận được với người khuyết tật

và người cao tuổi Trong khi đó, việc loại bỏ các rào cản đối với người khuyếttật trong tham gia giao thông – phát triển theo xu hướng giao thông tiếp cận – đãđược luật hóa bằng Luật Người khuyết tật (Quốc hội thông qua vào ngày17/06/2010) và các đạo luật chuyên ngành giao thông Luật Giao thông đường

bộ, Luật Đường sắt, Luật Hàng không dân dụng… Bộ GTVT cũng đã ban hànhThông tư số 39/2012/TT-BGTVT hướng dẫn thực iện quy chuẩn kỹ thuật quốcgia về kết cấu hạ tầng giao thông, công cụ hỗ trợ và chính sách ưu tiên ngườikhuyết tật tham gia giao thông công cộng

Trong thực tế, yếu tố giao thông tiếp cận cũng chưa được thể hiện nhiều,mới chủ yếu trong lĩnh vực hàng không mà một phần do yêu cầu của tiêu chuẩnquốc tế, với các dịch vụ đón và trợ giúp khách là người già yếu, trẻ em đi mộtmình, phụ nữ có thai, khách khiếm thị, khiếm thính, dịch vụ xe lăn… Lĩnh vực

Trang 2

đường sắt gần đây cũng có một số công trình như cải tạo ke ga (lên xuống tàu)thấp hơn cho người đi lại, mang vác đồ lên tàu dễ hơn Hiện đường sắt Việt Namđang nghiên cứu lựa chọn tuyến phù hợp để đưa toa xe tiếp cận vào khai thácthí điểm Đến nay hầu hết địa phương chưa chú trọng đến yếu tố giao thông tiếpcận trong phát triển giao thông địa phương, nội đô Mới chỉ TP.HCM và ĐàNẵng thí điểm một số tuyến xe buýt tiếp cận với đối tượng phục vụ là ngườikhuyết tật (đi xe lăn), với phương tiện có chỗ cho xe của người khuyết tật, điểmdừng có biển báo, đường lên xuống, nhân viên phục vụ xe được đào tạo vậnhành thiết bị và cách phục vụ.

Tuy nhiên, nhìn chung, việc hướng đến giao thông tiếp cận vẫn còn chưađồng bộ, tiến độ ở một số khâu còn chậm, chưa được thực hiện đúng kế hoạch

Ví dụ như ở vấn đề hạ tầng ở các đường phố đô thị, chẳng hạn như thiếu lối lênxuống dành cho xe lăn hay nơi dừng xe buýt không mấy thuận tiện cho trẻ nhỏ,người già Tại Hà Nội, kỹ sư Lương Minh Hải – Trung tâm nghiên cứu pháttriển oto, Vinamotor, khảo sát một số điểm dừng xe buýt ở Hà Nội cũng thấychiều cao vỉa hè tại các bến xe buýt thay đổi từ o đến 320mm Yếu tố giao thôngtiếp cận chưa được quan tâm đúng mức, theo TS Chu Mạnh Hùng – nguyên Vụtrưởng Vụ Môi trường, có một trong những nguyên nhân là nhận thức của cộngđồng chưa đầy đủ và đúng mức Ngoài ra cũng phải kể đến các nguyên nhân vềquản lý qua nhiều cấp gây nên sự thiếu đồng bộ và chưa có sự phối hợp chặt chẽgiữa ngành và chính quyền địa phương Bên cạnh đó, chúng ta chưa có cơ chế,chính sách đặc biệt để động viên, khuyến khích, tạo điều kiện cho mọi thànhphần kinh tế, mọi tổ chức xã hội, đặc biệt là doanh nghiệp vận tải khách cùngtham gia phát triển hệ thống giao thông tiếp cận

2 Đối tượng nghiên cứu.

Giao thông tiếp cận đối với bến xe bus thành phố, bến xe lien tỉnh, nơi để xe

3 Phạm vi nghiên cứu.

Trang 3

Nghiên cứu hiện trạng các phương tiện giao thông trên thế giới và ViệtNam đã tiếp cận như thế nào tới mọi người, nhất là người khuyết tật, người già,những người vận động khó khăn.

4 Mục đích và nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu sự tiếp cận của các phương tiện tới tất cả mọi người nhằm cónhững cái nhìn tổng quan nhất về hiện trạng tiếp cận của phương tiện trên thếgiới và Việt Nam đối với mọi người, đặc biệt là người khuyết tật, người già,những người vận động khó khăn Đồng thời, từ đó xem xét những tồn tại củaphương tiện tiếp cận Rút ra những tồn tại và phương hướng phát triển phươngtiện giao thông tiếp cận phù hợp với mọi người

5 Cấu trúc bài báo cáo

- Chương I: Những vấn đề chung của giao thông tiếp cận

- Chương II: Thực trạng giao thông tiếp cận đối với bến xe bus thành phố,liên tỉnh, nơi để xe

- Chương III: Xây dựng cơ sở kĩ thuật hạ tầng

Trang 4

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA GIAO THÔNG TIẾP CẬN

I Mục tiêu của giao thông tiếp cận

Giao thông tiếp cận hiện đã và đang phát triển ở nhiều nước trên thế giới,với hệ thống giao thông ngày càng văn minh, lịch sự, an toàn, thuận lợi và đápứng tối đa nhu cầu đi lại của tất cả thành viên trong xã hội, trong đó có ngườikhuyết tật (NKT)

Ở Việt Nam, giao thông tiếp cận là một khái niệm còn mới, được hiểu làmột hệ thống giao thông công cộng thuận lợi, từng bước được hoàn thiện bảođảm an toàn, tiện nghi không chỉ cho NKT, người cao tuổi, người có khó khănkhác trong hệ vận động của cơ thể mà còn phục vụ sự thuận tiện cho mọi ngườikhi tham gia giao thông Việc loại bỏ các rào cản để NKT hoà nhập với cộngđồng đang được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, trong đó có nhiệm vụxây dựng môi trường giao thông tiếp cận Đặc biệt, khi Luật Người khuyết tật đãđược Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2011 sẽ phát huyđược vai trò, trách nhiệm của cộng đồng, gia đình và xã hội đối với những đốitượng thiệt thòi là NKT

Trong thời gian qua, Bộ Giao thông Vận tải đã chỉ đạo các cơ quan, đơn

vị trong ngành triển khai tích cực chương trình tiếp cận giao thông đối với NKT

và đưa vào chương trình hành động trong nhiều lĩnh vực như: xây dựng chínhsách, biên soạn tiêu chuẩn kỹ thuật phương tiện, tuyên truyền nâng cao nhậnthức, triển khai thí điểm các đề án Hiện nay, tại một số địa phương đã áp dụngcác tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định vào việc xây dựng đường, hè phố có hiệuquả Tiêu chuẩn ô tô khách thành phố, tiêu chuẩn toa xe khách đã được ban hành

và từng bước được áp dụng trong chế tạo, sản xuất sản phẩm mới

Nhiệm vụ xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, văn bảnđiều hành về các lĩnh vực đường bộ, đường sắt, đường thuỷ và hàng không đểhướng dẫn các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện, tạo thuận lợi cho NKT khitham gia giao thông đã được Bộ Giao thông Vận tải và các cơ quan quản lý Nhà

Trang 5

nước chuyên ngành đặc biệt chú trọng Nội dung “phát triển hệ thống giao thôngtiếp cận cho NKT” đã được đưa vào Chiến lược phát triển giao thông vận tải đếnnăm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tạiQuyết định 35/2009/QĐ-TTg ngày 03/3/2009 Năm 2009, Bộ Giao thông Vậntải đã xuất bản tuyển tập văn bản pháp luật về giao thông tiếp cận và tổ chức hộinghị tuyên truyền, phổ biến tới tất cả 63 tỉnh, thành để các tổ chức, cá nhân dễdàng nắm bắt và thực hiện các quy định về giao thông tiếp cận.

Có thể nói, trong các loại hình giao thông vận tải hiện nay, việc tiếp cậngiao thông đối với NKT đã được thực hiện và từng bước đạt những kết quả quantrọng, nhất là trong các lĩnh vực giao thông hàng không và xe buýt đô thị tại một

số thành phố lớn Tổng Công ty Hàng không Việt Nam đã xây dựng và ban hànhquy trình phục vụ hành khác có nhu cầu sử dụng các loại dịch vụ đặc biệt (dịch

vụ đón và trợ giúp khách là người già yếu, trẻ em đi một mình, phụ nữ có thai,khách khiếm thính, khiếm thị, dịch vụ xe lăn ) Quy trình này được triển khai

cụ thể và chi tiết từ khâu tiếp nhận, xử lý yêu cầu của hành khách tại phòng vé

và trung tâm xử lý dịch vụ đặc biệt đến khâu phục vụ tại sân bay khởi hành, trênmáy bay, tại các sân bay trung chuyển và sân bay nơi đến đối với từng đối tượngkhách như:

- Đối với dịch vụ khách khiếm thị: Tổng Công ty bố trí chỗ ngồi chokhách cạnh người cùng giới; Khi đi cùng khách, tiếp viên nên để khách chủđộng nắm tay mình để tránh cho khách có cảm giác bị kéo đi; Giúp đỡ hànhkhách khi ăn nếu có các dụng cụ cắt; Cử nhân viên giúp đỡ khách trong suốtthời gian trung chuyển tại sân bay khi khách không có người đi cùng

- Đối với dịch vụ phục vụ khách khiếm thính: Nhân viên phải kiên nhẫn,nói năng rõ ràng, có chỉ dẫn cụ thể khi khách có yêu cầu

- Dịch vụ xe lăn trên máy bay: Khi máy bay có sẵn thiết bị xe lăn đi kèm,khách có thể sử dụng để di chuyển trong khoang hành khách nếu có yêu cầu;không lắp và phục vụ thiết bị xe lăn khi máy bay cất/hạ cánh và khi máy bay vàovùng thời tiết xấu để bảo đảm an toàn cho khách

Trang 6

Bên cạnh đó, người khuyết tật đã có thể tham gia giao thông trên một sốtuyến xe buýt đô thị được phát triển tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng vàtrong tương lai sẽ được mở rộng ra ở nhiều tỉnh, thành phố khác Các tuyến xebuýt tiếp cận này được ngành giao thông vận tải tích cực nghiên cứu, triển khaithí điểm từ năm 2007 và theo thống kê, số NKT sử dụng loại hình công cộngnày ngày càng tăng qua các năm, thoả mãn được phần nào nhu cầu đi lại của đốitượng Các tuyến xe buýt được tiếp cận cho NKT tại Thành phố Hồ Chí Minhbao gồm: Tuyến Sài Gòn- Bình Tây (tuyến 01), bến xe Chợ Lớn - Thủ Đức(tuyến 06), Đại học Quốc gia- Bến xe Miền Tây (tuyến 10) và Chợ Lớn- Củ Chi(tuyến 94) Còn tại Đà Nẵng, hiện có tuyến Đà Nẵng- Hội An.

Để triển khai các tuyến xe buýt mà NKT có thể tiếp cận được, Bộ Giaothông Vận tải và một số sở, công ty vận tải khách trong đô thị đã tiến hành cảitạo phương tiện (lắp đặt thang nâng, thiết bị neo xe và dây đai an toàn, tháo bớtghế để tạo diện tích cho xe lăn ), cải tạo nhà chờ và một số trạm dừng, đỗ (bổsung thông tin, biển báo, tạo đường lên xuống cho xe lăn ), tổ chức đào tạo, tậphuấn cho nhân viên phục vụ về nghiệp vụ phục vụ hành khách là NKT và vậnhành thiết bị

Triển khai đề án trợ giúp NKT giai đoạn 2006-2010, Bộ Giao thông Vậntải cũng đã chỉ đạo Nhà máy sản xuất ô tô 1-5 là đơn vị trực thuộc thực hiện sảnxuất xe buýt tiếp cận cho NKT Xe có sức chứa 45 hành khách và trên khoanghành khách có bố trí diện tích và cơ cấu an toàn cho 01 xe lăn, đồng thời lắp đặtthang nâng, dẫn động thuỷ lực, điều khiển tự động để xe lăn có thể tiếp cậnđược

Ngoài việc phát triển giao thông tiếp cận trong lĩnh vực đường bộ và hàngkhông, Bộ Giao thông Vận tải cũng đã chỉ đạo các đơn vị tiến hành nghiên cứu,chế tạo thử nghiệm toa xe đường sắt, bảo đảm tiêu chuẩn giao thông tiếp cận.Đây là một trong những hoạt động tiền đề nhằm triển khai Lụât Người khuyếttật, góp phần tạo điều kiện để NKT tham gia giao thông ngày càng thuận lợi và

an toàn

Trang 7

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc triển khai chươngtrình giao thông tiếp cận đối với NKT cũng còn nhiều hạn chế như: Chưa có tínhđồng bộ, tiến độ ở một số khâu còn chậm, chưa đạt kế hoạch Nguyên nhân là do

cơ sở hạ tầng và phương tiện hiện nay chưa bảo đảm cho giao thông tiếp cận,hơn nữa, hệ thống hạ tầng giao thông vừa qua mặc dù đã được quan tâm đầu tư,song để đảm bảo những tiêu chuẩn quy định cần thiết phải được bổ sung mộtnguồn kinh phí đầu tư phát sinh cho các hạng mục phục vụ giao thông tiếp cận.Điều kiện đường phố hẹp, hệ thống thoát nước chưa được hoàn thiện tại cácthành phố lớn cũng tạo ra những trở ngại trong việc triển khai hệ thống xe buýtsàn thấp phục vụ giao thông tiếp cận

Về phương tiện vận tải khách, việc chuyển đổi đòi hỏi phải có thời gian

và nguồn kinh phí lớn, mà điều kiện của các doanh nghiệp vận tải trong nướchiện chưa thể đáp ứng được, cùng với đó là nhận thức của cộng đồng về vấn đềnày còn chưa đầy đủ và đúng mức Do đây là một lĩnh vực rất mới, cho nên việcnâng cao nhận thức của cộng đồng và người tham gia giao thông, thậm chí cảđội ngũ quản lý Nhà nước trong thời gian tới là thực sự cần thiết Ngoài ra, cũngphải kể đến các nguyên nhân về mặt quản lý như sự chồng chéo, thiếu đồng bộ

và chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành chức năng và chính quyền địaphương, dẫn đến hiệu quả thực hiện chưa cao, nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực nàycòn quá hạn hẹp, không đồng bộ và việc đầu tư còn dàn trải Mặc khác, chúng tacũng chưa có cơ chế, chính sách đặc biệt để động viên, khuyến khích, tạo điềukiện cho mọi thành phần kinh tế, tổ chức xã hội, đặc biệt là doanh nghiệp vận tảicùng tham gia phát triển hệ thống giao thông tiếp cận

II Khái niệm về giao thông tiếp cận

Giao thông tiếp cận là hệ thống giao thông văn minh, lịch sự, an toàn,thuận lợi và đáp ứng tối đa nhu cầu đi lại của tất cả thành viên trong xã hội, gồm

cả người khuyết tật, người cao tuổi, người khó khăn trong việc vận động của cơthể Tuy vậy, khái niệm giao thông tiếp cận vẫn còn khá mới mẻ ở VN và vì thếchưa có nhiều các công trình giao thông thông cộng, phương tiện công cộng,

Trang 8

dịch vụ tạo thuận lợi cho người khuyết tật, người cao tuổi hay những có khókhăn trong di chuyển, vận động.

Trong khi đó, việc loại bỏ các rào cản đối với người khuyết tật trong thamgia giao thông - phát triển theo xu hướng giao thông tiếp cận - đã được luật hóabằng Luật Người khuyết tật (Quốc hội thông qua vào ngày 17/6/2010) và cácđạo luật chuyên ngành giao thông Luật Giao thông đường bộ, Luật Đường sắt,Luật Hàng không dân dụng…

Bộ GTVT cũng đã ban hành Thông tư số 39/2012/TT-BGTVT hướng dẫnthực hiện quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về kết cấu hạ tầng giao thông, công cụ hỗtrợ và chính sách ưu tiên người khuyết tật tham gia giao thông công cộng

Trong thực tế, yếu tố giao thông tiếp cận cũng chưa được thể hiện nhiều,mới chủ yếu trong lĩnh vực hàng không mà một phần do yêu cầu của tiêu chuẩnquốc tế, với các dịch vụ đón và trợ giúp khách là người già yếu, trẻ em đi mộtmình, phụ nữ có thai, khách khiếm thị, khiếm thính, dịch vụ xe lăn…

Lĩnh vực đường sắt gần đây cũng có một số công trình như cải tạo ke ga(lên xuống tàu) thấp hơn cho người đi lại, mang vác đồ lên tàu dễ hơn Hiện,Đường sắt Việt Nam đang nghiên cứu lựa chọn tuyến phù hợp để đưa toa xe tiếpcận vào khai thác thí điểm

III Các nguyên nhân gây khuyết tật và các dạng khuyết tật khác nhau

Về cơ bản, các mối quan hệ khuyết tật có thể được tạm chia thành các lĩnhvực sau:

Khuyết tật thân thể, tứ chi, khuyết tật vận động

Suy giảm các giác quan: (mù, điếc, khiếm thính, khiếm thị, không nhận được mùi vị)

Khuyết tật về nói (câm, líu lưỡi), đọc (thiểu năng đọc)

Khiếm khuyết về khả năng học hỏi, luyện tập

Khuyết tật tâm lý (tâm thần), bại não

Thiểu năng trí tuệ, tự kỷ

Trang 9

Liên quan đến các nguyên nhân gây ra khuyết tật, có thể phân biệt giữa:Khuyết tật mắc phải khi phát triển

- Kết quả từ chu kỳ sinh (trong khi sinh)

- Do di truyền hoặc nhiễm sắc thể

- Tổn thất khi sinh (trong chu kỳ mang thai của người mẹ), bất thường bẩm sinh

Về tỷ lệ người khuyết tật, các con số đưa ra rất khác nhau và đa dạng,nguyên nhân là vì, có khá nhiều các tổ chức đánh giá, của chính phủ cũng nhưphi chính phủ quan trọng hơn các tiêu chí khác nhau đã ảnh hưởng quyết địnhđến kết quả Thống kê trên thế giới có khoảng 10% người khuyết tật tươngđương với 650 triệu người (khảo sát năm 2007)] Ở Việt Nam thiếu sự minhbạch và đồng nhất nên các báo cáo thay đổi từ 5% đến 15%

IV Các vấn đề giao thông cho người khuyết tật

Giao thông là một trong những nhu cầu không thể thiếu của mỗi conngười, không phân biệt người khuyết tật, hay không khuyết tật Tuỳ vào điềukiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, mà hạ tầng giao thông và chính sách phápluật về giao thông khác nhau Nhưng điểm chung nhất là giao thông không loạitrừ bất kỳ một nhóm người nào, xây dựng chính sách pháp luật cũng như hạ tầnggiao thông cho tất cả mọi người là một trong những tiêu chí đánh giá sự vănminh và phát triển của hệ thống giao thông quốc gia Việt Nam có khoảng 7triệu người khuyết tật, chừng 2 triệu thương binh, bệnh binh, người có côngthường xuyên tham gia giao thông, nhưng trong suốt những năm qua, chính sáchpháp luật về giao thông cho người khuyết tật còn né tránh và chưa được quantâm đúng mức Các cơ sở hạ tầng về giao thông tiếp cận cho người khuyết tật

Trang 10

còn thiếu, hoặc không đồng bộ.Dẫn đến việc tổ chức, quản lý điều hành các vấn

đề về giao thông cho người khuyết tật bị bỏ ngỏ hoặc tuỳ tiện

1 Về vấn đề phương tiện cá nhân của người khuyết tật.

Người khuyết tật ở dạng nhẹ chủ yếu sử dụng xe môtô hai bánh, nhữngngười nặng hơn thì sử dụng xe ba bánh làm phương tiện đi lại hoặc dùng để chởhàng Một số rất ít có điều kiện thì sử dụng ô tô số tự động Từ trước năm 2016thì việc người khuyết tật sử dụng các phương tiện xe cơ giới không được quyđịnh cụ thể trong một văn bản pháp luật nào? Dẫn đến tình trạng tuỳ tiện khi xử

lý và đặt việc tham gia giao thông của người khuyết tật ngoài vòng phápluật.Cảnh sát giao thông thường châm chước bỏ qua những lỗi vi phạm giaothông của người khuyết tật hoặc có xử phạt thì cũng không có cơ sở pháp luậtvững chắc Để giải quyết việc này, mỗi tỉnh thành lại ban hành một quy địnhkhác nhau về việc tham gia giao thông của người khuyết tật lại càng làm chovấn đề thêm rối

2 Chính sách pháp luật của Việt Nam về giao thông cho người khuyết tật còn thiếu và yếu.

– Năm 2008, Bộ Giao thông vận tải ban hành Quyết định số BGTVT ngày 22 tháng 02 năm 2008 Về Kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật vàbảo vệ môi trường trong sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu xe mô tô, xe gắn máy babánh dùng cho người tàn tật Đến cuối năm 2008, Cục đăng kiểm thông báo chophép người khuyết tật được mang phương tiện của mình tới để kiểm định (Trongvòng 1 tháng “tháng 12 năm 2008”) Và từ đó đến nay, không có bất cứ một xe

03/2008/QĐ-ba bánh nào được kiểm định cả, kể cả xe nhập khẩu nguyên chiếc và xe tự chế.Bản thân quyết định này cũng còn có nhiều thiếu sót, chưa chặt chẽ để bảo đảm

an toàn kỹ thuật cho xe ba bánh của người khuyết tật Ví dụ không đề cập đến

bộ visai, hay quy định về độ hẹp tối thiểu của xe…

– Năm 2015, Bộ Giao thông vận tải và Bộ Y Tế ban hành thông tư liêntịch số 24 về tiêu chuẩn sức khoẻ người lái xe, có hiệu lực từ ngày 10/10/2015.Trong đó đã quy định chi tiết về tiêu chuẩn sức khoẻ người lái xe, trong đó có

Trang 11

người khuyết tật Đây là văn bản đầu tiên mở rộng giới hạn cho người khuyết tật

đủ điều kiện học và thi lấy bằng lái xe Tuy nhiên cho đến hết 30 tháng 6 năm

2016 Cả nước mới chỉ có 1 người khuyết tật vận động được học và được cấpbằng lái xe ô tô số tự động hạng B1 Mặc dù thông tư đã quy định cụ thể, các cơ

sở y tế, cơ sở đào tạo sát hạch lái xe đều biết đến thông tư này, nhưng vẫn còn engại và từ chối người khuyết tật

3 Về vấn đề dịch vụ công về giao thông vận tải cho người khuyết tật

Hàng không: Là một phương tiện giao thông cao cấp, nhưng có tốc độ tưnhân hoá rất cao, nên các chính sách công về áp dụng mức giảm giá vé máy baycho người khuyết tật không áp dụng được, ở phần lớn các hãng tư nhân Hãnghàng không quốc gia Việt Nam thì giá vé còn cao, thường người khuyết tật lựachọn các hãng máy bay giá rẻ và không được miễn giảm giá vé nữa vì đã là végiá rẻ rồi Vì tính chất đặc thù của ngành hàng không nên hầu như các hãng máybay tư nhân phải thuê lại dịch vụ mặt đất của hàng không quốc gia Việt Nam,nên thường yêu cầu người khuyết tật trả thêm các phí dịch vụ hỗ trợ đặc biệt,một số sân bay còn chưa đáp ứng được yêu cầu về tiếp nhận hành khách làngười khuyết tật Dẫn đến tình trạng từ chối người khuyết tật và yêu cầu hànhkhách khuyết tật phải ký vào giấy miễn trừ trách nhiệm.Việc yêu cầu hànhkhách ký vào giấy miễn trừ trách nhiệm là hoàn toàn trái pháp luật và thể hiện

sự lúng túng của các hãng hàng không trong việc tiếp nhận và phục vụ kháchhàng là người khuyết tật

+ Đường sắt: Thực hiện tốt chính sách miễn giảm giá vé cho người khuyếttật Nhưng việc cải tạo cơ sở hạ tầng, nhà ga, bến bãi để người khuyết tật tiếpcận được còn hình thức và chưa đồng bộ

+ Đường bộ: Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là 2 địa phương thực hiệnchính sách miễn phí xe bus cho người khuyết tật, nhưng các điểm chờ xe bus cònchưa tiếp cận đối với người khuyết tật, xe bus chưa phù hợp, nên cũng chỉ đáp

Trang 12

ứng được một số lượng người khuyết tật nhất định Đường phố còn nhỏ và bị lấnchiếm, không có chỗ cho người đi bộ chứ không nói đến người khuyết tật.

4 Một số kiến nghị

Hoàn thiện chính sách và pháp luật dành cho người khuyết tật Hoàn thiệnquy định về kiểm định chất lượng xe mô tô, xe ba bánh, xe ô tô dành riêng chongười khuyết tật Mở rộng đối tượng người khuyết tật được sử dụng các phươngtiện giao thông cá nhân như xe mô tô, xe ba bánh, xe ô tô

Thực hiện nghiêm túc việc thi hành các chính sách pháp luật đã ban hành,không từ chối người khuyết tật

Tuyên truyền về chính sách pháp luật đã ban hành về giao thông chongười khuyết tật Nâng cao nhận thức về người khuyết tật và thái độ, kỹ năngphục vụ hành khách là người khuyết tật – Hỗ trợ các doanh nghiệp cung cấpdịch vụ giao thông vận tải, sản xuất chế tạo xe ba bánh cho người khuyết tật

Có sự tham gia hoặc lấy ý kiến tham vấn của người khuyết tật về vấn đềgiao thông cho người khuyết tật, đặc biệt là đối với các công trình giao thôngcông cộng đang tiến hành xây dựng, như đường sắt đô thị trên cao, tàu điệnngầm metro

theo xe vẫn hẹp, trên xe không có vị trí dành cho người khuyết tật và người caotuổi, không có vị trí và thiết bị để cố định xe lăn Sàn xe cao so với mắt đất,thường có nhiều bậc và bậc cao Không có bảng điện tử và hệ thống loa thôngbáo trên

Trang 13

Chương II.Thực trạng.

1. Bến xe oto khách liên tỉnh.

Tất cả các tỉnh, thành phố hiện nay đều có ít nhất 1 bến xe khách liên tỉnh

Hà Nội và tp Hồ Chí Minh là những tp lớn là điểm trung chuyển quan trọng.Các bến xe khách liên tỉnh đã có đủ diện tích sử dụng, có quầy bán vé, nhàchờ, bãi đỗ Tuy nhiên chưa quan tâm đến thiết kế và xây dựng công trìnhbảo đảm cho người khuyết tật, người cao tuổi tiếp cận sử dụng Cụ thể như:

- Trong phòng chờ có trang bị nhiều ghế ngồi cho khách nhưng chưa cókhu vực ghế ưu tiên dành cho người cao tuổi, khuyết tật

- Khu vực vệ sinh chỉ phục vụ được người bình thường không phù hợp vớingười sử dụng xe lăn

- Khu vực bến xe không có dốc dành cho xe lăn Khoảng cách đỗ giữa các

xe tương đối gần không đủ chiều rộng cho phép xe lăn đi lại Trong bến

xe cũng không có hướng dẫn hướng trợ giúp cho người khiếm thị, không

có thiết bị trợ giúp người sử dụng xe lăn tiếp cận phương tiện

Trang 14

- Trong khu vực chờ, không phân chia khu vực vận chuyển khách theo từngtỉnh, từng địa danh khác nhau gây khó khăn cho người khiếm thị, ngườimới lần đầu đến bến xe khi muốn tìm đúng phương tiện cần sử dụng.

- Nhìn chung các bến xe oto khách liên tỉnh của Vn được thiết kế và xâydựng chưa đề cập đến yêu cầu tiếp cận

Bến xe khách Mỹ Đình

2 Bến xe, các điểm dừng đỗ xe oto khách trong đô thị.

- Hiện nay, các bến xe khách thành phố, thường được đặt tại các bến xekhách liên tỉnh các nhà ga sân bay Tuy nhiên phần lớn các bến xe oto

Trang 15

khách thành phố chưa được trang bị cơ sở hạ tầng phù hợp, nhiều nơikhông có nhà chờ cho khách đi xe, còn phải sử dụng tạm thời lòng đườngđất lưu không đất chờ quy hoạch làm bến xe Các quầy bán vé tháng được

bố trí ở 1 số điểm rất đơn sơ chỉ đủ chỗ cho 1 người bình thường vào muavé

- Các điểm dừng đỗ xe oto khách thành phố được bố trí trên vỉa hè 2 bênđường, phần lớn chỉ dựng 1 cột gắn biển báo, ghi số hiệu tuyến và lộ trìnhtuyến đi, chỉ có 1 số ít điểm dừng đỗ xe là có nhà chờ có che và có ghếngồi cho khách

Trang 16

3 Nơi đỗ xe.

Phương tiện cá nhân của người dân ngày càng nhiều hơn vì vậy các nơi

đỗ xe trông xe xuất hiện ở mọi nơi, kể cả khu vực đất không có mai che,dưới lòng đường lề đường phần lớn do tư nhân hoặc chính quyền địaphương lập ra, thường ở xa các khu dân cư các tòa nhà chung cư và khudịch vụ

Ngày đăng: 06/06/2020, 02:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w