Phân tích chiến lược Tập đoàn tài chính PNC Hoa Kỳ
Trang 2MỤC LỤC
I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN – SỨ MỆNH VÀ VIỄN CẢNH CỦA
TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH PNC 4
1 GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT PNC 4
2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 4
2.1 Tổng quan các mốc lịch sử quan trọng của tập đoàn PNC 4
2.2 Truyền thống kinh doanh của tập đoàn PNC 6
2.3 Năng lực nội tại của tập đoàn PNC 7
3 SỨ MỆNH VÀ VIỄN CẢNH 8
3.1 Sứ mệnh chung của tập đoàn PNC 8
3.2 Viễn cảnh tập đoàn PNC 12
II PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI 14
4 MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ 14
4.1 MÔI TRƯỜNG KINH TẾ 15
4.2 MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHỆ 19
4.3 MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA – XÃ HỘI 21
4.4 MÔI TRƯỜNG NHÂN KHẨU 21
4.5 MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ - PHÁP LUẬT 22
4.6 MÔI TRƯỜNG TOÀN CẦU 23
5 MÔI TRƯỜNG NGÀNH TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG TẠI HOA KỲ 26
5.1 ĐỊNH NGHĨA NGÀNH 26
5.2 PHÂN TÍCH MÔ HÌNH 5 LỰC LƯỢNG CẠNH TRANH 28
5.3 PHÂN TÍCH NHÓM NGÀNH 36
5.4 PHÂN TÍCH CHU KỲ NGÀNH 38
5.5 CÁC NHÂN TỐ THEN CHỐT CHO SỰ THÀNH CÔNG 39
5.6 CÁC LỰC LƯỢNG DẪN DẮT CỦA NGÀNH 40
III PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG 45
6 PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC CẤP CÔNG TY 45
6.1 ĐA DẠNG HÓA CÁC SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH 45
6.2 HỘI NHẬP DỌC XUÔI CHIỀU 51
6.3 CHIẾN LƯỢC MUA LẠI 54
7 PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC CẤP ĐƠN VỊ KINH DOANH (SBU) 56
8 PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU 62
Trang 39 PHÂN TÍCH CHIẾN LƢỢC CHỨC NĂNG 63
9.1 Cở sở hạ tầng (Lãnh đạo) 63
9.2 Marketing 64
9.3 Hệ thống công nghệ thông tin 67
9.4 Các nguồn nhân lực 68
10 PHÂNTÍCH CẤU TRÚC TỔ CHỨC VÀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT CHIẾNLƯỢC 69
10.1 Cấu trúc tổ chức 69
10.2 Hệ thống kiểm soát chiến lược 72
11 PHÂN TÍCH CHIẾN LƢỢC HIỆN TẠI 77
11.1 Chiến lược nâng cao năng lực vốn 77
11.2 Chiến lược quản lý rủi ro 82
11.3 Chiến lược xây dựng đội ngũ nhân viên mạnh mẽ, có năng lực: 83
11.4 Chiến lược duy trì uy tín, danh tiếng, thương hiệu: 84
Mô hình phân tích SWOT 86
12 PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH 90
12.1 Bản chất của lợi thế cạnh tranh 90
13 NGUỒN GỐC CỦA LỢI THỂ CẠNH TRANH BỀN VỮNG 95
13.1 Các nguồn lực và khả năng tiềm tàng 95
13.2 Khả năng tiềm tàng của PNC 102
13.3 Phân tích tính lâu bền của lợi thế cạnh tranh 102
14 CHUỖI GIÁ TRỊ VÀ SỰ SÁNG TẠO GIÁ TRỊ 103
14.1 Nghiên cứu & Phát triển (R&D) 103
14.2 Marketing 104
14.3 Nguồn nhân lực 104
IV KẾT LUẬN 106
Trang 4I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN – SỨ MỆNH VÀ VIỄN
CẢNH CỦA TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH PNC:
1 GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT PNC
PNC Financial Services Group,inc là Tập đoàn hoạt động trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng Trụ sở chính tại thành phố Pittsburgh, bang Pennsylvania, Hoa
Kỳ
PNC là một tổ chức chuyên cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính lớn nhất quốc gia, cung cấp ngân hàng bán lẻ khu vực, ngân hàng doanh nghiệp, tài chính bất động sản, cho vay có bảo đảm, quản lý của cải, quản lý tài sản và dịch vụ ngân quỹ toàn cầu
Hiện nay, PNC có vốn chủ sở hữu là 38 tỷ USD, tổng tài sản là 296 tỷ USD
và hơn 52.000 nhân viên PNC hiện có 1 công ty con là PNC Bank và 122 công ty thành viên khác hoạt động trong các lĩnh vực phi ngân hàng với tất cả hơn 2.900 chi nhánh phục vụ cho hơn 5,5 triệu khách hàng có mặt tại khắp các tiểu bang của Hoa Kỳ và trên thế giới
Hiện nay, PNC đang nắm giữ vị trí thứ 7 về ngân hàng tiền gởi lớn nhất tại
Mỹ, đứng thứ 6 trong số các ngân hàng có tài sản lớn nhất và đứng thứ 5 trong ngành, và là ngân hàng lớn thứ 3 trong việc cung cấp các giao dịch ngân hàng qua ATM tại Mỹ
2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
2.1 Tổng quan các mốc lịch sử quan trọng của tập đoàn PNC
Tiền thân của PNC là Ngân hàng thương mại Pittsburgh Trust and Saving
Company được thành lập năm 1852 tại Pittsburgh, bang Pennsylvania, Hoa Kỳ
Trang 5Năm 1959: Pittsburgh Trust and Savings Company sáp nhập với Fidelity
Trust Company và Peoples First National Bank and Trust Company thành lập nên Pittsburgh National Bank với một biểu tượng mới thể hiện sức mạnh ngành kinh doanh và thương mại của tam giác vàng Pittsburgh
Năm 1982 Pennsylvania thay đổi luật pháp cho ph p các ngân hàng trong tiểu bang sát nhập Năm 1983 Pittsburgh National Bank và Provident National Bank sát nhập và tạo nên thương hiệu PNC Financial Corp
Đầu năm 1990 PNC quyết định chiến lược chuyển từ nền tảng công nghệ riêng biệt, hoạt động của từng ngân hàng cá nhân thành một nền tảng chung duy nhất, đó là cung cấp cho khách hàng một bộ chung các sản phẩm và dịch vụ ở bất
cứ nơi nào có mặt của PNC
Giai đoạn 1991-1996: PNC mua lại hơn 10 ngân hàng nhỏ và các tổ chức tài
chính khác, mở rộng thị trường hoạt động ra phía bắc Kentucky và Pittsburgh, Philadenphia, Cincinnati, phía bắc Pennsylvania Đặc biệt là năm 1995 PNC đã đạt được mục tiêu lâu năm của mình là sát nhập với Tổng công ty Midlantic trong một hợp đồng 3 tỷ USD, điều này đã làm cho PNC có một sự hiện diện rất lớn ở miền nam New Jersy
Từ năm 1999 đến 2006: PNC đã mua lại hàng loạt các công ty cũng như các
tổ chức tài chính lớn như Công ty Masachusetts, Boston; Ngân hàng tiết kiệm liên bang của Florida; Công ty Sears Mortgage, Washington; Mercantile Bankshare
Trang 6Corp, Columbia… các vụ mua lại này PNC có mặt hầu như khắp mọi nơi của Hoa
Kỳ
Năm 2008: PNC mua lại National City Bank thuộc thành phố Cleveland, sự
kiện này đã giúp PNC tăng gấp đôi kích thước và trở thành một trong 6 ngân hàng tiền gởi lớn nhất tại Hoa Kỳ
Năm 2011: PNC mua lại Ngân hàng RBC (công ty con của Ngân hàng
hoàng gia Canada) với 426 chi nhánh gần 3.5 tỷ USD, và mua lại 27 chi nhánh của Flagstar Bank ở vùng ngoại ô phía bắc Atlanta với gần 42 triệu USD Với việc mua lại này đã giúp PNC mở rộng việc nhượng quyền thương mại về ngân hàng bán lẻ ở Đông Nam Hoa Kỳ và Việc mua lại này đã giúp PNC lấp đầy khoảng trống giữa miền Bắc Virginia và trung tâm Florida, có thêm khoảng 900,000 khách hàng và
483 địa điểm lắp đặt ATM và đã gắn kết vị trí của PNC nằm trong số 5 ngân hàng lớn nhất tại Mỹ sau Wells Fargo, Bank of America, JPMorgan Chase, và U.S Bank Và trở thành ngân hàng thứ 6 có tổng tài sản lớn nhất sau 4 ngân hàng nói trên và Citibank
Tập đoàn PNC khởi nghiệp từ một công ty địa phương, quy mô nhỏ hoạt động trong lĩnh vực Ngân hàng Sau nhiều lần sáp nhập và mua lại các tổ chức tài chính lớn, nhỏ, hiện nay PNC đã phát triển thành một Tập đoàn lớn mạnh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính tốt nhất tại Hoa Kỳ
2.2 Truyền thống kinh doanh của tập đoàn PNC
Xuyên suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển hơn 150 năm Tập đoàn PNC đã xây dựng nên các truyền thống kinh doanh sau:
- Luôn không ngừng đa dạng hóa việc cung cấp các sản phẩm tài chính, các
danh mục đầu tư, đặc biệt tập đoàn PNC không ngừng tìm kiếm các cơ hội đầu tư
kếch xù
Trang 7- Luôn tập trung coi việc đầu tư, phát triển và đổi mới công nghệ tiên tiến nhằm đáp ứng nhu cầu và thỏa mãn kì vọng của khách hàng
- PNC luôn có chiến lược trong việc kiêm định và phát triển một hỗn hợp kinh doanh đồng bộ và thông suốt
- PNC luôn đặc biệt coi trọng yếu tố nguồn lực là nhân tố quan trọng cho sự phát triển và thành công của PNC
2.3 Năng lực nội tại của tập đoàn PNC
Trải qua quá trình hình thành và phát triển của PNC, để tồn tại và phát triển vững mạnh và để gây dựng nên một tập đoàn cung cấp các sản phẩm tài chính tầm
cỡ quốc gia, chắc hẳn PNC phải sử dụng năng lực nội tại của mình để tạo sự khác biệt nhằm tạo ra ưu thế nhất định trong quá trình cạnh tranh với các tập đoàn tài chính lớn mạnh khác trong ngành Các khả năng, các kỹ năng, các công nghệ và nguồn lực đặc biệt cho ph p PNC có thể tạo ra sự khác biệt với đối thủ và tạo nên lợi thế cạnh tranh đó là:
- Công nghệ Ngân hàng: Dẫn đầu trong ngành về việc đổi mới công nghệ,
được đánh giá là tổ chức sử dụng lớn nhất và sáng tạo nhất của công nghệ trong lĩnh vực tài chính- ngân hàng PNC luôn chú trọng đầu tư máy móc thiết bị phục vụ khách hàng cải tiến và công nghệ cao
- Sản phẩm tài chính cá nhân và doanh nghiệp: Phân đoạn thị trường mục
tiêu của PNC là nhắm vào thị trường giao dịch bậc trung và chiến lược kinh doanh thành công này đã đưa PNC dẫn đầu thị trường giao dịch bậc trung lưu, đối tượng khách hàng là các công ty cỡ trung bình
- Sản phẩm tài chính cho bất động sản: PNC luôn cung cấp các giải pháp
tài chính tốt nhất cho phát triển, mua lại và hoạt động của bất động sản thương mại vừa và nhỏ trên toàn quốc
Trang 83 SỨ MỆNH VÀ VIỄN CẢNH
Với sự hiện diện hầu như khắp Hoa Kỳ Tập đoàn PNC luôn cam kết đem lại cho khách hàng những sản phẩm tài chính tối ưu nhất, nhanh nhất và hiện đại nhất với công nghệ tiên tiến nhất
3.1 Sứ mệnh chung của tập đoàn PNC
“We strive to be a premiere provider of financial services by adhering to the highest professional standards: to be problem solvers, not salespeople, putting the client's needs first”
"Chúng tôi phấn đấu là nhà cung cấp các dịch vụ tài chính hàng đầu bằng cách thực hiện các tiêu chuẩn chuyên nghiệp cao nhất: giải quyết tất cả những vấn
đề về tài chính, đặt những nhu cầu của khách hàng lên hàng đầu.”
- Năm 1852: “We strive to be a premiere provider of financial services”
(Chúng tôi phấn đấu là nhà cung cấp các dịch vụ tài chính hàng đầu quốc tế)
- Năm 1990-2006: “PNC common technology professional- A national
Presence”
(Chuyên nghiệp với công nghệ chung PNC - Mở rộng thị trường kinh doanh
khắp Hoa Kỳ )
- Năm 2011: “Restore confidence in America’s financial institutions”
(“Khôi phục lại lòng tin trong các tổ chức tài chính Hoa Kỳ”)
- Khách Hàng: PNC cung cấp dịch vụ tài chính cho tất cả các khách hàng từ
cá nhân đến doanh nghiệp, tập đoàn và tổ chức chính phủ Luôn tìm hiểu nhu cầu,
Trang 9mối quan tâm và nguyện vọng của khách hàng để đáp ứng các mục tiêu tài chính chính xác và kịp thời
- Sản phẩm: Cung cấp đa dạng các sản phẩm và dịch vụ tài chính như:
ngân hàng giao dịch ATM, ngân hàng bán lẻ, ngân hàng doanh nghiệp và cơ quan
tổ chức, tập đoàn quản lý tài sản, ngân hàng cầm cố bất động sản và các dịch vụ tài chính khác bao gồm cả Blackrock
- Sự khác biệt: Năm 1990 PNC quyết định chiến lược chuyển từ nền tảng
công nghệ riêng biệt, hoạt động của từng ngân hàng cá nhân thành một nền tảng chung duy nhất, đó là cung cấp cho khách hàng chung một bộ các sản phẩm và dịch
PNC phục vụ khách hàng với những công nghệ tiên tiến nhất:
- Trung tâm điều kiển, bảo vệ và chăm sóc khách hàng Call Center
- Công nghệ quản lý và bảo vệ mật các danh mục tài sản và đầu tư và tài khoản khách hàng
Trang 10Nỗ lực tiếp cận khách hàng mới và làm sâu sắc hơn các mối quan hệ với các khách hàng hiện có
PNC cam kết mang lại sự hài lòng nhất cho khách hàng
Với các sản phẩm cung ứng:
• Ngân hàng bán lẻ:
- Cung cấp một loạt các lựa chọn tiền gửi, cho vay với chi phí dịch vụ thấp
- Giao dịch trực tuyến tốc độ cao và chi phí thấp nhất qua hỗ trợ của hơn 2.900 chi nhánh kết nối và 7.200 máy ATM
• Tập đoàn quản lý tài sản:
Tư vấn và cung cấp một loạt các khoản đầu tư phù hợp, lập kế hoạch, quản
lý bất động sản và dịch vụ ngân hàng tư nhân cho cá nhân, gia đình giàu có và cả siêu giàu có
• Ngân hàng doanh nghiệp và cơ quan tổ chức:
- Cung cấp các sản phẩm tín dụng tối ưu nhất cho thị trường khách hàng trung lưu nơi mà chúng tôi đang dẫn đầu bởi lợi thế cạnh tranh so với đối thủ trong ngành
- Mở rộng quản lý quỹ, thị trường vốn và các dịch vụ ngân hàng quốc tế Thông qua các ngân hàng đầu tư của PNC, Harris Williams, chúng tôi cung cấp dịch vụ lớn nhất và thành công nhất của quốc gia
• Ngân hàng cầm cố bất động sản:
Cung cấp các giải pháp thế chấp tối ưu để đảm bảo cho khách hàng có được khoản vay tốt nhất thông qua các chuyên gia đầy kinh nghiệm trải dài trên 126 văn phòng và chinh nhánh giao dịch
Các giá trị cam kết khác:
Trang 11• Cam kết xây dựng phát tri n bền v ng:
- PNC phát triển thân thiện môi trường sinh thái với niềm đam mê cho quê
hương Pittsburgh Thiết lập danh tiếng như là một người hàng xóm đáng tin cậy
- PNC trở thành ngân hàng lớn đầu tiên của Mỹ áp dụng tiêu chuẩn xây dựng màu xanh lá cây cho tất cả các chi nhánh văn phòng với mục đích: tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu chi phí, bảo tồn nguồn nước, đầu tư phát triển công nghệ tiết kiệm năng lượng, tái tạo năng lượng
• Cam kết cho vay c trách nhiệm tăng trư ng kinh tế:
Trước khi cho vay PNC đánh giá một cách toàn diện : tiềm năng, hoạt động, điều kiện tài chính, rủi ro…
• Cam kết xây dựng đội ng nhân viên:
Tôn trọng, hỗ trợ và trao quyền cho nhân viên thực hiện đầy đủ tiềm năng của họ bằng cách tạo ra cơ hội tại nơi làm việc gồm chương trình cố vấn, nhân viên tài nguyên nhóm, đào tạo và phát triển, cung cấp chương trình chăm sóc sức khỏe, giúp nhân viên cải thiện thể chất và tinh thần
• Nguyên t c đạo đức:
PNC cam kết kinh doanh, phục vụ với tiêu chuẩn đạo đức cao nhất
• Th hiện quản trị hiệu quả c a ban giám đốc với các bên h u quan:
Hội đồng quản trị hỗ trợ cơ cấu quản trị phù hợp cho việc kinh doanh của PNC với mục tiêu chiến lược minh bạch cho công chúng và các bên hữu quan
• Kinh tế toàn cầu:
Hoạt động của PNC luôn chịu tác động của yếu tố toàn cầu hóa và ngược lại mọi chiến lược hoạt động kinh doanh của PNC đều tác động trở lại đến môi trường
Trang 12toàn cầu Do vậy mà PNC luôn cam kết sẽ tác động tích cực đến vấn đề tăng trưởng
và phát triển kinh tế toàn cầu
Hiệu suất, chính trực và tôn trọng
Chúng tôi mạnh mẽ trong tinh thần và thể chất, sáng tạo và tự tin về việc cung cấp các giải pháp và dịch vụ khách hàng tốt nhất trong lĩnh vực Tài chính-Ngân hàng nơi mà chúng tôi đã được công nhận là đơn vị đẫn đầu trong ngành Chúng tôi trung thực và xúc tiến việc kinh doanh dựa trên các tiêu chuẩn đạo đức cao nhất Chúng tôi tin tưởng khả năng, phẩm tính và óc suy x t của các đồng nghiệp và trao quyền để đưa ra quyết định
Phục vụ khách hàng
Chúng tôi nắm bắt được những nhu cầu và nguyện vọng của khách hàng Lời hứa thương hiệu PNC của sự dễ dàng, tin cậy và thành công sẽ giúp chúng tôi luôn làm những gì là phù hợp cho khách hàng
Làm việc nhóm
Trang 13Chúng tôi đồng tâm hiệp lực cùng nhau để hoàn thành những mục tiêu của chúng tôi và chúng tôi tán dương sự thành công của các đồng nghiệp
Chất lượng cuộc sống
Chúng tôi nhận thức rõ tầm quan trọng của việc cân bằng giữa công việc với cuộc sống và động viên, giúp đỡ để cân bằng chúng
Mục đích cốt lõi
“ Leading the Way”: Dẫn đầu sự thịnh vượng
Mục đích cốt lõi để PNC tồn tại và phát triển là trở thành một tổ chức đi đầu
sự tiến bộ của xã hội và dẫn đầu sự thịnh vượng, đem lại sự thịnh vượng trong chính nội tại của PNC và các bên hữu quan
- Hình dung về tương lai
Dựa trên các giá trị cốt lõi được đúc kết qua bề dày lịch sử hơn 150 năm hoạt động trong ngành Tài chính- Ngân hàng, với mục tiêu lớn, đầy tham vọng và táo bạo PNC đã hình dung về tương lai sẽ trở thành là một người bạn luôn đồng hành trên hành trình của mọi người dân trên khắp thế giới qua:
“PNC creates solutions that enable your journey”
“PNC tạo ra những giải pháp tiếp bước cho hành trình của bạn”
Trang 14II PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI
Giới hạn nghiên cứu:
Thời gian: Từ năm 2000-2010
Không gian: Hoa Kỳ
4 MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ
Hoa Kỳ là cường quốc có quy mô kinh tế lớn nhất thế giới Mọi sự biến động trong nền kinh tế Mỹ đều tác động đến nền kinh tế toàn cầu như một câu nói cách ngôn của các nhà kinh tế học “ Khi nước Mỹ hắt xì hơi, thì cả thế giới đều bị cảm
lạnh”
Như một cỗ xe bốn bánh tràn đầy sinh khí kiên cường vượt qua vùng địa hình đầy hiểm trở, nền kinh tế Mỹ đã thoát hiểm một cách êm đềm trong những năm đầu tiên của thế kỷ 21 dù đã gặp nhiều trở ngại lớn: Sự đổ vỡ của thị trường chứng khoán, các cuộc tấn công khủng bố, chiến tranh tại Irắc và Apganixtan, các
vụ xì-cang-đan từ các tập đoàn tài chính, sự phá hủy tàn khốc trên diện rộng của
bão lụt, giá năng lượng tăng cao và sự trượt dốc thảm hại của bất động sản
Kinh tế Mỹ luôn đứng cao nhất hoặc cận cao nhất trong hàng loạt các xếp
hạng quốc tế:
- Xếp thứ nhất về sản lượng kinh tế (GDP), đạt 13,13 nghìn tỷ đô-la Mỹ trong năm 2006 Với ít hơn 5% dân số thế giới, khoảng 302 triệu người, nước Mỹ chiếm 20 đến 30% tổng GDP của toàn thế giới
- Đứng đầu về tổng kim ngạch nhập khẩu, khoảng 2,2 nghìn tỷ đô-la Mỹ, gấp
3 kim ngạch nhập khẩu của nước đứng thứ hai là Đức
Trang 15- Đứng thứ hai về xuất khẩu hàng hóa sau Trung Quốc Đứng thứ nhất về xuất khấu dịch vụ với 422 tỷ đô-la năm 2006
- Là địa điểm thu hút nhiều đầu tư trực tiếp nước ngoài nhất – trong lĩnh vực kinh doanh và bất động sản - đạt khoảng 177,3 tỷ đô-la trong năm 2006 Đứng đầu
về địa điểm rót vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của 100 tập đoàn đa quốc gia lớn nhất thế giới, bao gồm cả các tập đoàn từ những nước đang phát triển
- Đứng thứ nhất về tiêu thụ dầu mỏ, khoảng 20,6 triệu thùng mỗi ngày vào năm 2006 và đứng thứ nhất về nhập khẩu dầu thô với hơn 10 triệu thùng mỗi ngày
- Đứng thứ 3 về môi trường kinh doanh thông thoáng trong năm 2007, sau Singapore và New Zealand
- Đứng thứ 20 trên 163, cùng với Bỉ và Chilê về các chỉ số Minh bạch quốc
tế năm 2006 nhằm đo lường mức độ tham nhũng (các nền kinh tế có xếp hạng thấp được xem là ít tham nhũng hơn)
Bằng nhiểu biện pháp, Hoa Kỳ đã duy trì được vị thế là một nền kinh tế có tính cạnh tranh cao, sản lượng lớn và có tầm ảnh hưởng rộng lớn nhất trên thế giới Tuy nhiên, càng ngày kinh tế Mỹ càng chịu nhiều tác động từ các nền kinh tế năng động khác Hiện nay, nước Mỹ vẫn đang phải đối mặt với cả các thách thức đến từ bên trong lẫn những thách thức đến từ bên ngoài
4.1 MÔI TRƯỜNG KINH TẾ
4.1.1 Biến động trong tăng trưởng kinh tế Mỹ giai đoạn 2000-2010
Mỹ là nước luôn có tỷ lệ tăng trưởng GDP (Tổng sản phẩm quốc nội, là thước đo của hoạt động kinh tế nói chung) hàng đầu thế giới, chiếm tới 25% GDP toàn cầu Tính theo giá trị tuyệt đối thì nhìn chung GDP của Mỹ tăng trưởng 21% giai đoạn 2000-2010 Tuy nhiên có một sự bất ổn lớn trong giai đoạn cuối năm
Trang 162008 đến giữa năm 2009 khi mà tỷ lệ tăng trưởng GDP của Hoa Kỳ là -8,9% khi chịu tác động bởi cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009
Theo IMF, tăng trưởng kinh tế Mỹ sẽ chậm lại mức 1,6% trong năm 2008 và 0,1% năm 2009 Tính đến tháng 9/2008, tổng nợ quốc gia của nước này lên tới 9.700 tỷ USD, thâm hụt ngân sách trong tài khóa 2007- 2008 tăng gấp 3 lần lên 455
tỷ USD, tương đương 3,2% GDP
4.1.2 Biến động trong lãi suất của nền kinh tế Mỹ 2000-2010
Lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô rất có hiệu quả của chính phủ thông qua việc thay đổi mức lãi suất và cơ cấu lãi suất trong từng thời kỳ nhất định, làm ảnh hướng đến nền kinh tế của 1 quốc gia Trên tầm vi mô, lãi suất là cơ sở để cho cá nhân cũng như doanh nghiệp đưa ra các quyết định của mình như chi tiêu hay để dành gửi tiết kiệm, đầu tư, mua sắm trang thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh hay cho vay hoặc gửi tiền vào ngân hàng Do vậy mà mọi biến động trong lãi suất đều tác động tích cực và tiêu cực đến nền kinh tế của đất nước
Nhìn vào biểu đồ lãi suất Hoa Kỳ giai đoạn 2000-2010 cho ta thấy rõ biến động của lãi suất theo chu kì hình SIN rất rõ rệt đó là lãi suất giảm nhanh từ giữa năm 2001 đến đầu năm 2004 sau tác động của cuộc “khủng hoảng chấm com”, thời điểm mà FED đã bơm tiền vào nền kinh tế của Mỹ và giảm dần lãi suất cơ bản từ mức 3,5% năm hồi tháng 8-2001 xuống còn 1% vào giữa năm 2003
Trang 17Để đối phó với lạm phát, FED đã liên tiếp tăng lãi suất từ 1% vào giữa năm
2004 lên 5,25% vào giữa năm 2006 khiến lãi vay phải trả trở thành áp lực quá lớn với người mua nhà, Các khoản nợ xấu và mất mát gia tăng trong hệ thống các ngân hàng và gây phá sản hàng loạt châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tín dụng và nhà đất tại Hoa Kỳ
Ngay khi khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra, Fed bắt đầu can thiệp bằng cách hạ lãi suất và tăng mua các loại chứng khoán có bảo đảm MBS
(Mortgage Backed Securities) Đến khi tình hình phát triển thành khủng hoảng tài
chính từ tháng 8 năm 2007, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed) đã tiếp tục tiến hành các biện pháp nới lỏng tiền tệ để tăng thanh khoản cho các tổ chức tài chính
Cụ thể là lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng đã được giảm từ 5,25% qua 6 đợt xuống còn 2% chỉ trong vòng chưa đầy 8 tháng (18/9/2007-30/4/2008) Lãi suất này sau đó còn tiếp tục giảm và đến ngày 16/12/2008 chỉ còn 0,25% và duy trì mức lãi suất bằng 0 từ năm 2009 đến nay
4.1.3 Biến động trong tỷ lệ lạm phát nền kinh tế Mỹ 2000-2010
Năm 2008, tỷ lệ lạm phát của Mỹ đã giảm xuống đến mức 0.1%, thấp nhất trong vòng nửa thế kỉ qua do ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế đã và đang diễn
Trang 18ra trong những năm gần đây Nền kinh tế Mỹ đang dấy lên mối lo ngại về nguy cơ phải dối diện với nền kinh tế "thiểu phát"
Tỷ lệ lạm phát tăng cao kỷ luật 4.1% trong những tháng đầu năm 2007 đã tác động đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, làm giảm tính ổn định của nền kinh tế Hoa Kỳ, làm cho tăng trưởng kinh tế chậm lại, lãi suất cao hơn và các dịch chuyển hối đoái không ổn định Đối với các NHTM, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, lạm phát tăng cao, sức mua đồng tiền giảm xuống, đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động huy động vốn, cho vay, đầu tư và thực hiện các dịch vụ ngân hàng
Như vậy lạm phát tăng cao đã làm suy yếu, thậm chí phá vỡ thị trường vốn, ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các NHTM Sự không ổn định của giá cả, bao gồm cả giá vốn, đã làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu tư và dân chúng, gây khó khăn cho sự lựa chọn các quyết định của khách hàng cũng như các thể chế tài chính
- tín dụng
T m lại:
Trang 19Dưới tác động của sự thay đổi của các nhân tố kinh tế trong giai đoạn này cụ thể là sự thay đổi trong lãi suất sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các phức hợp đầu tư Lãi suất thế chấp bất động sản thấp có thể thúc đẩy nhu cầu tài chính cho nhà ở Người tiêu dùng và các doanh nghiệp có nhiều khả năng để tham gia vào danh mục các khoản cho vay khi mà lãi suất cơ bản ở mức thấp, chi phí giao dịch giảm Tuy nhiên, lãi suất cơ bản thấp cũng gây ra những tác động tiêu cực đến việc kinh doanh của các ngân hàng như mang lại các khoản thu nhập từ lãi thấp Ngoài ra, tỷ
lệ tăng trưởng thực GDP thể hiện qua các mức độ trong tăng trưởng GDP qua các giai đoạn khác nhau xác định các mức độ khác nhau của các hình thức tiết kiệm, nhu cầu về tín dụng, chất lượng về các khoản mục cho vay và các mức độ khác nhau về giao dịch tài chính, ảnh hưởng trực tiếp lên hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trong ngành
4.2 MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHỆ
Trước sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng điện tử trên toàn cầu,
dịch vụ Mobile Banking, một trong những dịch vụ của ngân hàng điện tử hứa hẹn
sẽ có sự phát triển nhanh và rộng khắp trong thời gian tới Dịch vụ thanh toán Mobile Banking giúp khách hàng có thể tiến hành giao dịch không cần tới ngân hàng, không bị giới hạn bởi không gian địa lý Khách hàng có thể ngồi tại nhà để đặt hàng, mua sắm nhiều loại hàng hóa, dịch vụ nhanh chóng
Công nghệ thẻ từ đã được cải tiến mạnh trong nhiều năm qua để tăng cường khả năng chống lại các hoạt động tội phạm thẻ Mặc dù vậy, công nghệ này đã phát triển đến đỉnh điểm rất khó có một phương pháp mới chống gian lận hữu hiệu có thể được áp dụng cho chúng nữa Điều này đã khiến các tổ chức thẻ phải nghiên cứu công nghệ mới dành cho thẻ trong thế kỷ 21 Công nghệ thay thế đem lại nhiều
lợi điểm là thẻ thông minh (smartcard) sử dụng một con chíp máy tính được gắn
Trang 20lên thẻ nhựa với kích thước tương tự như chiếc thẻ từ Khác biệt duy nhất mà chủ thẻ thấy được là một vùng kim loại nhỏ trên mặt thẻ, chứa tiếp xúc điện tử
Trên thế giới, các ngân hàng vẫn tiếp tục phát hành thẻ từ nhưng bản thân họ rất lo ngại trước những vấn đề rủi ro và gian lận thẻ Bởi thẻ từ bộc lộ nhiều hạn chế về khả năng an toàn, lưu trữ thông tin cũng như tích hợp các ứng dụng, dịch vụ trên thẻ
Mức độ rủi ro thanh toán thẻ không giống nhau trên từng khu vực, điều đó lý giải tại sao mà nước Mỹ là quốc gia chưa áp dụng công nghệ thẻ thông minh (SmartCard hay ChipCard) trong thanh toán Theo thống kê từ 06/2004 đến 06/2005 thế giới đã thất thoát hơn 2,75 tỷ USD chỉ tính riêng các giao dịch thực hiện qua ATM Trong khi Mỹ vẫn còn cân nhắc xem khi nào bắt đầu chuyển đổi sang thẻ thông minh thì tại châu Âu, khu vực đi tiên phong, công cuộc chuyển dịch sang thẻ thông minh đang diễn ra mạnh mẽ, rủi ro trong thanh toán đã được giảm thiểu Tại khu vực châu Á cũng là khu vực có tỷ lệ gian lận thẻ cao, các nước trong khu vực đang trong quá trình chuyển đổi sang thẻ thông minh Các tổ chức thẻ quốc tế như Visa/MasterCard đang thúc đẩy mạnh mẽ việc chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ SmartCard trên phạm vi toàn cầu
T m lại:
Đứng trước sự phát triển vượt bậc của khoa học-công nghệ trên thế giới, đặc biệt là công nghệ ngân hàng đã cho ra đời nhiều sản phẩm ngân hàng hiện đại, tiện ích, dễ sử dụng, đem lại giá trị cao cho khách hàng Sự phát triển của hệ thống truyền thông không dây, những phát minh mới trong hệ thống thanh toán (smartcard, phone banking, e-banking…) đã làm giảm rào cản nhập cuộc của các đối thủ cạnh tranh vào ngành tài chính-ngân hàng và mang lại cơ hội cho các ngân hàng trong ngành cần định hình lại cấu trúc ngành tận gốc rễ
Trang 214.3 MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA – XÃ HỘI
Phụ nữ trong cương vị quản lý gia tăng trong ngành tài chính Theo nghiên
cứu của Women at the Top (WATT) (phụ nữ giữ chức vụ điều hành cấp cao trong
các tổng công ty quan trọng nhất) tiến hành 1 cuộc khảo sát 523 vị trí điều hành
trong 50 ngân hàng thương mại hàng đầu, thì đã có 17.4% là phụ nữ giữ chức vụ
điều hành quản lý theo thống kê năm 2010, tăng gần 5% so với thống kê năm 2004
khi mà tại thời điểm này phụ nữ chỉ chiếm 12.6%
Cuộc khảo sát này cũng cho thấy sự gia tăng đáng kể của phụ nữ trong ngành tài chính giữ chức vụ quản lý điều hành và sự suy giảm trong những vị trí truyền thống như: dịch vụ khách hàng, nhân sự và tiếp thị
T m lại:
Ngành tài chính sẽ có lợi từ sự gia tăng của phụ nữ ở các cương vị quản lý điều hành bởi vì họ sẽ cung cấp một sự cân bằng trong quan điểm về giới trong ngành, và tạo cơ hội cho nhiều ngân hàng lớn phải tập trung đánh giá lại cách họ đã kinh doanh từ sự suy thoái tài chính, buộc họ phải tập trung vào các nỗ lực đa dạng, các sáng kiến của phụ nữ và tiềm kiếm các quan điểm mới Tạo điều kiện cho ngành tài chính cơ cấu lại cơ cấu tổ chức và thu hút thêm nhiều lao động nữ có trình độ và năng suất cao
4.4 MÔI TRƯỜNG NHÂN KHẨU
Theo số liệu của Cục điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2010, giai đoạn từ năm
2000 đến năm 2010, Hoa Kỳ có 14 triệu người dân nhập cư từ các nước khác, chủ yếu là từ Mexico, Trung Quốc và một số nước Châu Á Tỉ lệ thay đổi nơi cư trú của người dân là 20% do ảnh hưởng của tình hình đô thị hóa Tỉ lệ tăng dân số trong giai đoạn này là 9,7%, giảm 3,5% so với giai đoạn 1990-2000 là 13,5%
Trang 22T m lại:
Ngành tài chính ngân hàng sẽ có lợi vì có thêm khách hàng do dân số nhập
cư từ các nước khác vào, tuy nhiên cũng sẽ gặp nhiều bất lợi về việc làm, thu nhập của dân cư Mặt khác sự thay đổi nơi cư trú của dân ảnh hưởng rất lớn đến ngành vì tốn rất nhiều chi phí để quản lý khách hàng, xây dựng lại hệ thống khách hàng của mình
4.5 MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ - PHÁP LUẬT
Luật phòng chống lạm dụng phá sản và Đạo luật bảo vệ người tiêu dùng năm
2005 đã được quốc hội thông qua và ký thành Luật bởi Tổng thống Bush vào ngày
20 tháng 4 năm 2005 và sửa đổi đáng kể bộ luật phá sản và các đạo luật có liên quan
Những sửa đổi này hầu hết là những thay đổi đáng kể trong luật phá sản và thi hành luật kể từ khi thông qua luật phá sản năm 1978, đã tác động đáng kể đến người tiêu dùng, các tổ chức kinh doanh, thuế và các luật phá sản quốc tế Nhìn chung thì đạo luật này gây ra những khó khăn hơn cho các cá nhân có các khoản nợ
ưu tiên không được đảm bảo thì không được loại ra trong phá sản
Trang 23Sửa đổi luật phá sản liên bang ở các chương 7 (miễn giảm hoàn toàn khi phá sản), chương 11 (tổ chức lại) và chương 13 (điều chỉnh các khoản nợ của cá nhân với thu nhập thường xuyên)
Đạo luật cũng sửa đổi một số quy định trong đạo luật cho vay liên bang để yêu cầu người cho vay tiết lộ những thông tin nhất định khi chào mời người tiêu dùng về các tài khoản thẻ tín dụng qua internet Thông tin này bao gồm các đợt điều chỉnh tỷ lệ phần trăm hàng năm cho các tài khoản, lệ phí hàng năm, thời gian
ân hạn cho các khoản thanh toán và phương pháp tính số dư tài khoản Theo luật hiện hành trước đây thì người cho vay đã được yêu cầu tiết lộ thông tin này trong các thư chào mời gởi trực tiếp
4.6 MÔI TRƯỜNG TOÀN CẦU
Đây là cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ "hàng trăm năm mới có một lần" (Alan Greenspan, cựu Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang (FED) Nguyên nhân sâu xa của cơn địa chấn tài chính bắt nguồn từ khủng hoảng tín dụng và nhà đất tại Mỹ Bong bóng bất động sản càng lúc càng phình to đã đặt thị trường nhà đất và tiếp đó
là tín dụng tại Mỹ cũng như nhiều quốc gia châu Âu vào thế nguy hiểm Cho vay dưới chuẩn tăng mạnh là khởi điểm cho quả bong bóng tại thị trường nhà đất Các ngân hàng cho vay cầm cố bất động sản mà không quan tâm tới khả năng chi trả của khách Theo ước tính vào cuối quý III năm 2008, hơn một nửa giá trị thị trường nhà đất Mỹ là tiền đi vay với một phần ba các khoản này là nợ khó đòi Trước đó,
để đối phó với lạm phát, FED đã liên tiếp tăng lãi suất từ 1% vào giữa năm 2004 lên 5,25% vào giữa năm 2006 khiến lãi vay phải trả trở thành áp lực quá lớn với người mua nhà Thị trường bất động sản thời điểm này bắt đầu có dấu hiệu đóng băng và sụt giảm
Trang 24Đối phó với tình hình căng thẳng trên các tổ chức tài chính, bảo hiểm, ngân hàng tại Mỹ đã thực hiện chiến lược đưa ra các sản phẩm phái sinh của các tổ chức tài chính với mục đích giảm rủi ro cho những khoản vay bất động sản Tuy nhiên,
trái lại nó tạo ra hiệu ứng sụp đổ dây chuyền và khiến rủi ro bị đẩy lên cao hơn
Những bất ổn từ hoạt động cho vay dưới chuẩn khiến giá nhà sụt giảm mạnh, thị trường nhà đất đóng băng Cuộc khủng hoảng từ đó lan từ thị trường bất động sản sang thị trường tín dụng và cuối cùng dẫn đến khủng hoảng tài chính tại Mỹ và tràn sang nhiều nước châu Âu, khiến nhiều công ty lớn phá sản
Kinh tế ngày càng tồi tệ buộc các NHTW trên khắp thế giới phải hành động Fed, ECB, NHTW Australia và mới đây nhất là NHTW Trung Quốc đều hạ lãi suất hoặc giữ lãi suất ở mức thấp kỷ lục Không chỉ ở các nền kinh tế lớn, các nước mới nổi cũng đi theo xu hướng này Cả Brazil và Ấn Độ đều có xu hướng tiếp tục cắt giảm lãi suất trong những tháng sắp tới Mới đây, Brazil vừa cắt giảm lãi suất cho vay 4 điểm phần trăm, khiến lãi suất xuống mức thấp kỷ lục 8,5% kể từ tháng 8 năm ngoái Trong khi đó, Ấn Độ hạ lãi suất tái cấp vốn 50 điểm cơ bản, xuống mức 8% hồi tháng 4 và cũng giảm 125 điểm phần trăm tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Thương mại quốc tế: Giá trị thương mại quốc tế tăng đều và nhanh qua nhiều năm liên tiếp phản ánh hoạt động giao thương mở rộng gắn liền với toàn cầu hóa Trong suốt giai đoạn từ 2002 – 2008, tăng trưởng xuất khẩu luôn duy trì ở mức cao hơn mức tăng trưởng của GDP Đến 2009, thương mại quốc tế suy giảm mạnh do ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu, mức suy giảm giá trị xuất khẩu là -11.02%, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng âm của GDP (-1.3%)
Đầu tư quốc tế: Giá trị đầu tư năm 2008 của toàn thế giới đã tăng gấp 2.13 lần so với năm 1998 Song song với quá trình thúc đẩy tiêu dùng để kích thích tăng
Trang 25trưởng kinh tế trong ngắn hạn, các biện pháp kích thích và thu hút vốn đầu tư vẫn là nhân tố cơ bản để tạo ra tăng trưởng kinh tế
Quy mô các dòng vốn vào và ra của các khu vực kinh tế tăng trưởng mạnh
mẽ Năm 2007 tổng dòng vốn chảy vào Mỹ đạt 2129.5 tỷ USD (tăng gấp 2.72 lần năm 2001), tổng dòng vốn vào EU đạt 1629.0 tỷ USD (tăng gấp 2.14 lần năm 2001) và tổng dòng vốn vào các nước đang phát triển đạt 1666.2 tỷ USD (gấp 9.11 lần năm 2001) Về dòng vốn ra, năm 2007, dòng vốn ra của Mỹ tăng gấp 3.85 lần năm 2001, tương tự mức tăng 3.19 và 12.61 lần của EU và nhóm các nước đang phát triển Năm 2008, do ảnh hưởng nghiêm trọng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các dòng vốn vào và ra tại các khu vực trên toàn thế giới giảm sút mạnh
mẽ, trong đó dòng vốn chảy vào Mỹ giảm đặc biệt mạnh (lần đầu tiên dòng vốn chảy vào Mỹ thấp hơn của khu vực EU và nhóm các nước đang phát triển), dòng vốn chảy ra hầu như không có
Trung Quốc nổi lên như một nước có mức đầu tư vốn ra nước ngoài đặc biệt gây ấn tượng trong giai đoạn này với tỷ trọng vốn đầu tư ra nước ngoài năm 2008 chiếm tới 24.2% tổng giá trị xuất khẩu vốn của toàn thế giới (tỷ lệ này là 14.2% năm 2005) Hoa Kỳ không còn là nước nhập khẩu vốn chiếm ưu thế như những năm đầu thế kỷ 21, năm 2008, tỷ trọng vốn chảy vào Hoa Kỳ chỉ còn chiếm 43% tổng giá trị nhập khẩu vốn trên toàn thế giới (tỉ lệ này năm 2005 là 65.1%)
+ Hoa Kỳ tiếp tục là khu vực tài chính lớn nhất thế giới với tổng tài sản tài chính của Hoa Kỳ năm 2005 là 50 nghìn tỷ USD (chiếm 1/3 tổng tài sản tài chính toàn thế giới) Đứng thứ 2 và thứ 3 là khu vực EU (30 nghìn tỷ USD) và Nhật Bản (19.5 nghìn tỷ USD)
T m lại:
Với những biến động trọng điểm theo hướng bất lợi về tình hình tài chính thế giới, thương mại và đầu tư toàn cầu trong thời gian qua của môi trường toàn cầu
Trang 26đặc ra cho các ngân hàng trong ngành nhiều cơ hội lẫn thách thức mới trong chiến lược mở rộng thị trường kinh doanh toàn cầu tương lai của mình
ĐỘNG ĐẾN NGÀNH
Cơ hội (O)
- Định hình lại cơ cấu thị phần cho các
ngân hàng lớn tại Hoa Kỳ (O1)
- Tái cấu trúc hệ thống công nghệ ngân
hàng theo hướng hiện đại nhờ tiến bộ
2005 (T4)
- Tình hình tài chính thế giới, thương mại
và đầu tư toàn cầu biến động theo hướng bất lợi (T5)
5 MÔI TRƯỜNG NGÀNH TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG TẠI HOA KỲ
5.1 ĐỊNH NGHĨA NGÀNH
Ngành tài chính – ngân hàng là ngành cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính – ngân hàng, bao gồm một loạt các tổ chức quản lý và kinh doanh tiền bạc là ngân hàng (banking) và không phải ngân hàng (non-banking) như: các công đoàn tín dụng, các công ty kinh doanh thẻ tín dụng, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính tiêu dùng, môi giới chứng khoán, các quỹ đầu tư và một số doanh nghiệp chính sách của chính phủ Chức năng chính của các tổ chức này là quản lý, đầu tư,
Trang 27chuyển nhượng, cho vay tiền và cung cấp cho khách hàng bằng các dịch vụ tư vấn tài chính bằng khả năng chuyên môn tài chính của họ
Lĩnh vực dịch vụ tài chính đã góp phần tăng chỉ số GDP của Hoa Kỳ trong vài thập kỷ qua Tầm quan trọng ngày càng tăng của lĩnh vực này trong tổng nợ quốc gia của nền kinh tế Mỹ và qua đó một phần tạo nên lợi thế so sánh toàn cầu của Mỹ trong việc sản xuất ra các dịch vụ tài chính
Sơ đồ 9-1 bên dưới cho thấy tình hình biến động của lĩnh vực dịch vụ tài chính Mỹ qua các năm, chẳng hạn như Ngân hàng Trung ương nhận tiền gởi và thực hiện các khoản cho vay đã chiếm một phần ngày càng gia tăng trong GDP danh nghĩa của Hoa Kỳ, đóng góp này đã tăng lên đều đặn từ khoảng 2% vào năm
1977 (năm đầu tiên theo dữ liệu có sẵn) và khoảng 4% trong năm 2003 (năm gần đây nhất theo dữ liệu cho sẵn)
Trang 28Tầm quan trọng ngày càng tăng của lĩnh vực dịch vụ tài chính phù hợp với người lao động Mỹ về một đất nước có lợi thế so sánh toàn cầu trong sản xuất các sản phẩm tài chính hiện đại Điển hình như các công ty tài chính đã mở các văn phòng ở nước ngoài để phục vụ khách hàng ngoài nước (tức là xuất khẩu dịch vụ tài chính của họ) Từ năm 1997 xuất khẩu dịch vụ tài chính đã tăng nhanh hơn nhập khẩu, xuất khẩu tăng khoản 15 tỷ USD và nhập khẩu tăng chỉ có khoảng 5 tỷ USD Thêm vào đó, năm 2004 xuất khẩu dịch vụ tài chính đạt 27 tỷ USD trong khi nhập khẩu các dịch vụ tài chính chỉ có 11 tỷ USD.
5.2 PHÂN TÍCH MÔ HÌNH 5 LỰC LƢỢNG CẠNH TRANH
5.2.1 Rào cản xâm nhập vào ngành của đối thủ cạnh tranh tiềm tàng
Mặc dù những quy định về vốn pháp định và dự trữ bắt buộc, trung bình mỗi năm đã có 215 ngân hàng mới được thành lập kể từ năm 1977 theo thông tin của Tổ chức bảo hiểm tiền gởi liên bang (FDIC)
Tuy nhiên bởi vì số lượng ngân hàng sáp nhập và phá sản (trung bình 468 ngân hàng trong 1 năm) đã làm cho số lượng các ngân hàng mẹ trong toàn hệ thống ngân hàng giảm đi trung bình là 253 ngân hàng mỗi năm kể từ năm 1977 đối nghịch lại sự gia tăng rất lớn trong số lượng của các chi nhánh và văn phòng giao dịch
Bản chất hoạt động của các tổ chức tài chính-ngân hàng là cung cấp các giải pháp về tiền cho khách hàng và nắm bắt các thông tin tài chính có liên quan của họ
Vì vậy khách hàng sẽ mở tài khoản đối với một tổ chức tài chính uy tín và có tiếng trong ngành Đây là rào cản về việc trung thành nhãn hiệu của khách hàng đối với các ngân hàng có uy tín trong hệ thống, do vậy mà làm mất đi cơ hội cho các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng xâm nhập vào ngành
Hệ thống các ngân hàng đã được xây dựng, củng cố và thống nhất với nhau nhằm mục đích phục vụ tất cả các nhu cầu về tài chính của khách hàng trên cùng
Trang 29một hệ thống ở các khu vực địa lý khác nhau Việc củng cố và thống nhất này rất quan trọng làm thúc đẩy sự trung thành và tin tưởng của khách hàng vào thương hiệu của các ngân hàng uy tín trong ngành Hơn nữa những yêu cầu và quy định về việc gia tăng vốn đã làm tăng rào cản xâm nhập vào ngành của các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng
Hơn nữa, khách hàng đã quen với các nhà cung cấp nên có được nguồn vốn
rẻ hơn và kiểm soát các đầu vào hiệu quả, kinh nghiệm vận hành các hoạt động nên
có lợi thế về chi phí cố định Các đối thủ muốn nhập cuộc phải chịu chi phí vốn lớn
và sự trả đũa mãnh liệt của các công ty hiện tại Do việc ứng dụng phần mềm dành cho khách hàng khác nhau nên chi phí chuyển đổi sang các nhà cung cấp khác lớn Những qui định chặt chẻ của chính phủ về nhập ngành
Dựa vào các d liệu trên ta c th kết luận:
Rào cản gia nhập ngành tài chính-ngân hàng ở mức trung bình đến cao, bởi
vì rất khó để xâm nhập vào trong ngành với tư cách là một ngân hàng cung cấp đầy
đủ hàng loạt các sản phẩm và dịch vụ tài chính, nhưng sẽ tương đối dễ dàng để mở một ngân hàng địa phương hay khu vực với việc cung cấp một cách hạn chế các sản phẩm tài chính
5.2.2 Đe dọa sản phẩm thay thế (đối thủ cạnh tranh không cùng ngành)
Với sự phát triển của khoa học-công nghệ trên tất cả lĩnh vực và ngân hàng cũng không ngoại lệ đối với tầm ảnh hưởng bởi công nghệ mang lại chẳng hạn như ứng dụng công nghệ vào việc thanh toán
Mobil được biết đến là công ty dầu khí lớn của Mỹ sau khi được sáp nhập với Exxon năm 1999 Tuy nhiên, trong năm 1996 Mobil đã kết hợp với Wayne/Dresser Industries, Texas Instruments và VeriFone để phát triển và đưa ra
hệ thống thanh toán cải tiến có tên là Speedpass
Lượng khách hàng của Mobil rất rộng lớn, Mobil sẽ hầu như không gặp khó khăn gì nếu thuyết phục tất cả các khách hàng của họ sử dụng Speedpass trong
Trang 30thanh toán và đương nhiên Mobil sẽ dần lấn sân qua hoạt động kinh doanh trong ngành cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính Điều này tạo nên một mối đe dọa làm giảm thị phần của các ngân hàng hiện tại trong ngành
Dựa vào các d liệu trên ta c th kết luận:
Thường thì các mối đe dọa này là cao khi đối thủ cạnh tranh khác ngành cung cấp các sản phẩm tài chính đặc thù, riêng biệt như hệ thống thanh toán được
đề cập trên chẳng hạn Tuy nhiên, nếu tính chung thì mối đe dọa này lại không đáng kể khi mà các ngân hàng trong ngành hoạt động kinh doanh trên hàng loạt các sản phẩm và dịch vụ tài chính khác
5.2.3 Năng lực thương lượng của người mua
Có 3 yếu tố cần được xem x t khi đánh giá về năng lực thương lượng của khách hàng của ngành tài chính-ngân hàng đó là:
- Các sản phẩm cơ bản được cung cấp tương tự hay giống nhau bởi các ngân hàng trong ngành
- Khách hàng đã nhận ra rằng những khoản tiền gởi của họ hay những khoản cho vay không những quan trọng đối với chính họ mà còn đối với ngân hàng nữa
- Công nghệ Internet đã làm giảm chi phí của việc so sánh giá của việc nắm giữ một tài khoản trong nhiều ngân hàng trước khi gôm chúng lại thành một
Với sự phát triển của công nghệ Internet đã giúp khách hàng có thể truy cập
và so sánh giá giữa các ngân hàng khác nhau trong ngành bởi một cú nhấp chuột trong khoảng thời gian rất nhanh và chính xác Điều này mang lại đe dọa cho các ngân hàng trong ngành bởi năng lực thương lượng của người mua mạnh hơn
Tuy nhiên, năng lực thương lượng của ngân hàng sẽ không bị yếu đi trong trường hợp này, bởi vì ngân hàng đang nắm giữ và hiểu biết tất cả tiềm lực cũng như khả năng tài chính của khách hàng hiện tại này và đương nhiên là khách hàng này sẽ không muốn một bên thứ ba nào khác biết về khả năng tài chính của mình, thêm vào đó khách hàng sẽ lựa chọn những ngân hàng nào uy tín và có tiếng nhất
Trang 31mà họ tin tưởng để giao dịch tài chính Như vậy năng lực của khách hàng sẽ lựa chọn “ngân hàng nào mà chi phí thấp nhất mà an toàn nhất”
Hơn nữa, năng lực thương lượng của người mua trong ngành Tài chính – Ngân hàng sẽ thấp khi bị khống chế bởi các biểu lãi suất của chính phủ cũng như biểu phí dịch vụ của các Ngân hàng lớn đưa ra
Một yếu tố không k m phần quan trọng khi khách hàng quyết định mở tài khoản để gởi tiền hay cho vay với ngân hàng đó là: yếu tố về khả năng cung cấp đầy đủ hàng loạt các sản phẩm và dịch vụ tài chính đa dạng, cộng với quy mô hoạt động của hệ thống ngân hàng trải dài trên nhiều khu vực địa lý khác nhau Chính vì
lí do đó mà khách hàng lại chọn những ngân hàng lớn có quy mô rộng khắp cả trong và ngoài nước để dễ dàng việc truy cập và sử dụng tiền của họ Tuy nhiên, đối với số khách hàng khác thì lại cho rằng sẽ tốt hơn cho họ nếu giao dịch với các ngân hàng địa phương hay khu vực của họ bởi vì những nhu cầu tài chính của họ thì không phức tạp và mang tính cá nhân
Dựa vào các d liệu trên ta c th kết luận:
Qua việc phân tích về năng lực thương lượng của người mua ở trên cho thấy năng lực thương lượng của người mua đối với ngành tài chính-ngân hàng là trung bình Bởi vì mặc dù các sản phẩm đều trở nên thông dụng hóa ở các ngân hàng, tuy nhiên không phải tất cả các ngân hàng đều đáp ứng như nhau cho các nhu cầu của khách hàng và các mức độ khác nhau trong việc bảo đảm cũng như những mối lo ngại cá nhân khác nhau của khách hàng
5.2.4 Năng lực thương lượng của người bán
Nguồn tiền đầu vào để giúp cho ngân hàng kinh doanh được lấy vào từ 4 nguồn chính sau: (1)Tiền gởi của khách hàng, (2)doanh thu từ bán các tài sản thế chấp và các khoản cho vay khác, (3)bảo hiểm các chứng khoán dựa vào những khoản thế chấp(MBS), (4)khoản cho vay các tổ chức tài chính khác
Trang 32Bằng việc sử dụng 4 nguồn đầu vào trên, ngân hàng đảm bảo những khoản cung cấp cần thiết cho nhu cầu vay mượn của khách hàng trong khi vẫn duy trì được lượng tiền hợp lý nhằm đáp ứng cho nhu cầu rút tiền bất cứ lúc nào của người gởi tiền vào ngân hàng
Nguồn đầu vào đầu tiên của ngân hàng đó là các khoản tiền gởi của khách hàng, bắt đầu quy trình bởi việc phân tích đến thiết lập các mối quan hệ và kết thúc quy trình bằng các khoản tiền gởi của khách hàng vào ngân hàng thì ngân hàng cần
có khả năng thương lượng thật mạnh Tuy nhiên thông thường thì các khách hàng muốn yêu cầu ngân hàng cung cấp cho một khoản vay thì cần phải mở tài khoản tiết kiệm hoặc tài khoản sử dụng s c tại ngân hàng Do vậy, trong trường hợp này năng lực thương lượng của người bán và người mua là như nhau
Hai nguồn đầu vào của ngân hàng tiếp theo có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
đó là: doanh thu từ bán các tài sản thế chấp và các chứng khoán dựa vào những khoản thế chấp Các sản phẩm này sẽ được ngân hàng bán đấu giá hoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán, hoặc sẽ được ngân hàng đầu tư bằng cách thương mại hóa trên phố Wall
Nguồn đầu vào cuối cùng mà thỉnh thoảng các ngân hàng cần tìm kiếm đó là nguồn tài chính từ các ngân hàng khác hay những quỹ tài trợ khác, chẳng hạn như ngân hàng xuất nhập khẩu và một số ngân hàng khác cung cấp những nguồn tài chính rẻ cho hoạt động tài chính của những ngành đặc thù với những điều kiện đặc biệt Những nguồn lực tài chính này sẽ có năng lực thương lượng cao
Dựa vào các d liệu trên ta c th kết luận:
Bởi vì các nguồn lực tài chính trên có mạnh hay không còn phụ thuộc vào tình hình thị trường, do vậy mà năng lực thương lượng của người cung cấp sẽ ở mức từ trung bình đến cao Giá của tài sản thế chấp hoặc các chứng khoán dựa vào những khoản thế chấp giao động theo sự biến động của thị trường, tuy nhiên thì giá
Trang 33này cũng chịu ảnh hưởng bởi sức mạnh và quy mô của ngân hàng cũng như danh mục của tài sản thế chấp và các sản phẩm tín dụng có giá trị
5.2.5 Cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành
Dựa vào biểu đồ trên thì ước tính có khoảng 9459 ngân hàng với quy mô 100 triệu USD trong tổng tài sản trở lên Theo thống kê hiện có khoảng trên 93000 chi nhánh lớn nhỏ hoạt động tại Mỹ
Trong hầu hết các quốc gia thì có 4 hoặc 5 ngân hàng lớn giữ vị trí thống trị toàn ngành Tuy nhiên Hoa Kỳ có cấu trúc cạnh tranh phân tán trong ngành tài chính – ngân hàng, cụ thể có khoảng 8000 ngân hàng thương mại, 1500 hiệp hội tiết kiệm và cho vay, 400 ngân hàng tiết kiệm tương hỗ, 10.000 hiệp hội tín dụng Ngành phân tán thường có rào cản nhập cuộc thấp và sản phẩm của nó thuộc loại hàng sơ cấp ít sự khác biệt, hai đặc tính này kết hợp lại với nhau ra khuynh hướng tăng giảm lợi nhuận có tính chu kì
Bi u đồ thống kê số lượng ngân hàng tại Mỹ theo quy mô
Đối chiếu với dữ liệu của hơn 30 năm trước hệ thống ngân hàng đã được củng cố và hợp nhất đáng kể (đã có đến hơn 14000 ngân hàng năm 1974) Sự hợp nhất này đã hoàn thành 3 mục đích chính đó là: (1) Gia tăng độ bao phủ theo địa lý của các ngân hàng; (2) Gia tăng số lượng sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho khách
Trang 34hàng; (3) Tận dụng tính kinh tế theo quy mô làm gia tăng khả năng cung cấp sản phẩm và dịch vụ
Lợi thế của các ngân hàng lớn khi tham gia vào thị trường quốc tế không những tiết kiệm được chi phí, hạ giá thành sản phẩm nhờ tận dụng tính kinh tế theo quy mô mà còn thử nghiệm được một số sản phẩm mới ở nhiều thị trường khác có liên quan, trước khi chính thức đưa chúng về tiêu thụ tại thị trường Mỹ Chẳng hạn như Citibank đã triển khai hàng loạt các cuộc thử nghiệm dịch vụ thanh toán qua điện thoại di động mới tại thị trường Philipin, Phần Lan, Nhật Bản và trì hoãn việc đưa dòng sản phẩm này về áp dụng trên thị trường Mỹ cho đến khi các cuộc thử nghiệm này thành công tuyệt đối
Theo số liệu thống kê năm 2001 thì ngân hàng lớn nhất Mỹ có tổng tài sản chiếm 16%, top 3 ngân hàng lớn nhất chiếm 36%, top 10 ngân hàng lớn nhất chiếm 59% và top 80 ngân hàng lớn nhất chiếm 70% tổng tài sản toàn ngành Theo đó, 5 ngân hàng lớn nhất chiếm 60% thị trường thẻ tín dụng tại Mỹ và 4 ngân hàng lớn nhất nắm giữ 39% tiền gởi của khách hàng (Bank of America, Citigroup (Citybank), JPMorgan Chase (Chase), và Wells Fargo)
Dựa vào các d liệu trên ta c th kết luận:
Trang 35Theo các số liệu thống kê và các dữ liệu trên cho ta thấy lực cạnh tranh trong ngành tài chính-ngân hàng ở Mỹ cao Những top ngân hàng lớn này sẽ duy trì với
vị trí dẫn đầu và sẽ tiếp tục bành trướng hoạt động kinh doanh của mình bằng cách thâu tóm, sáp nhập hoặc mua lại các ngân hàng khu vực hoặc địa phương để trở thành các ngân hàng quốc gia với sự hiện ở khắp các tiểu bang Hoa Kỳ
Lực cạnh tranh đối với các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành càng mạnh hơn khi có sự hiện diện của các ngân hàng toàn cầu trong ngành như: HSBC (Anh), tập đoàn tài chính Santander (Tây Ban Nha), Banco Bilbao Vizcaya Argentaria hay BBVA (Tây Ban Nha) Các ngân hàng toàn cầu này sẽ có lực cạnh tranh mạnh hơn trong việc cung cấp hàng loạt các sản phẩm và dịch vụ tài chính tốt hơn với chi phí rẻ hơn nhờ dựa vào tính kinh tế theo quy mô và hiệu ứng của đường cong kinh nghiệm
T m lại:
Qua việc phân tích cạnh tranh trong môi trường ngành bằng mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Porter đã cho thấy: sức hấp dẫn của ngành Tài chính – Ngân hàng được thể hiện qua khả năng sinh lợi của ngành trên mức trung bình, so với số liệu với các ngành kinh doanh khác, khả năng sinh lợi của ngành Tài chính – Ngân hàng thấp hơn đáng kể trong thời gian vừa qua đặc biệt là giai đoạn 2000-2010 khi
mà ngành chịu tác động mạnh bởi các cuộc biến động theo chiều hướng tiêu cực trong nền kinh tế Mỹ Hơn nữa, Hoa Kỳ là một quốc gia có một hệ thống Ngân hàng lâu đời, hầu hết người Mỹ giải quyết mọi việc liên quan đến tiền bạc đều thông qua Ngân hàng và khá thường xuyên tạo ra một môi trường cạnh tranh trong ngành khá hoàn hảo Bên cạnh đó, ngành Tài chính - Ngân hàng là mạch máu của nền kinh tế và là công cụ chính để Chính phủ điều tiết nền kinh tế vĩ mô Do vậy, tạo nên rào cản nhập ngành cũng như rời ngành là khá cao, và qua đó chúng ta có
Trang 36thể kết luận tính hấp dẫn để xâm nhập vào ngành Tài chính – Ngân hàng tại Mỹ là không cao
5.3 PHÂN TÍCH NHÓM NGÀNH
Trong ngành tài chính-ngân hàng tại Mỹ thì có hai nhóm chiến lược nổi bật lên Một nhóm gồm các công ty như: Bank of America, Citibank, Wells Fargo được xem là nhóm ngân hàng quốc gia có quy mô về tổng nguồn vốn, tổng tài sản lớn và mạng lưới các chi nhánh hoạt động rộng khắp quốc gia Các ngân hàng trong nhóm chiến lược này đang theo đuổi chiến lược gia tăng quy mô cả về vốn và mạng lưới hoạt động để cạnh tranh giá nhờ tính kinh tế theo quy mô và theo đó làm gia tăng lợi nhuận nhờ lượng khách hàng rộng khắp đất nước, cạnh tranh về giá trong nhóm chiến lược này thấp Nhóm chiến lược này tốn chi phí cao trong việc quảng bá, marketing thương hiệu và đầu tư công nghệ để nghiên cứu và cho ra đời những sản phẩm tài chính mới trên thị trường, chi phí đầu tư vào công nghệ và cho ra đời những sản phẩm tài chính mới sẽ mang rủi ro cao vì rất tốn k m cho việc nghiên cứu và thử nghiệm các sản phẩm tài chính mới qua nhiều thị trường khác nhau trước khi đưa chúng vào sản phẩm chính thống trong toàn hệ thống của ngân hàng, theo đó lợi nhuận sẽ cao nếu việc cho ra đời sản phẩm mới này thành công Trong nhóm chiến lược này thì năng lực thương lượng của người mua sẽ cao vì những đòi hỏi của họ về chất lượng và tính đa dạng sản phẩm cũng như tính hữu dụng của sản phẩm trên nhiều khu vực địa lý khác nhau với chi phí thấp nhất
Trang 37Nhóm chiến lược thứ hai đó là nhóm ngân hàng khu vực hay địa phương, nhóm này có quy mô về vốn, tài sản và hệ thống chi nhánh thấp gói gọn trong phạm vi địa phương mà các ngân hàng trong nhóm này hoạt động nhằm cung cấp các sản phẩm truyền thống và phục vụ cho các khách hàng cá nhân và doanh nghiệp nhỏ tại địa phương khi mà những yêu cầu chính của họ không cao Chính vì vậy mà chi phí đầu tư vào quảng bá thương hiệu hay đầu tư công nghệ hầu như không được chú trọng đối với nhóm chiến lược này Tuy nhiên lực cạnh tranh về giá rất cao trong nhóm chiến lược này vì sản phẩm mang tính chất tương tự nhau ở các ngân hàng trong nhóm và do vậy lợi nhuận sẽ khá thấp so với các ngân hàng trong nhóm quốc gia
T m lại:
Bằng cách lập bản đồ nhóm chiến lược để biểu diễn vị trí cạnh tranh mà các đối thủ trong ngành chiếm giữ đã làm nổi bật lên 2 nhóm chiến lược chính trong ngành Tài chính-Ngân hàng Mỹ đó là: Nhóm ngân hàng quốc gia và Nhóm ngân
Trang 38hàng khu vực hay địa phương, qua hai biến phân tích: Quy mô vốn, mạng lưới chi nhánh và biến về Chi phí Marketing, đầu tư công nghệ Bản đồ này cũng cho thấy nhóm Ngân hàng quốc gia chiếm thị phần nhiều hơn so với nhóm Ngân hàng khu vực hay địa phương do tận dụng sức mạnh cạnh tranh về quy mô và uy tín trong ngành Ngoài ra, khả năng di chuyển của nhóm Ngân hàng khu vực hay địa phương sang nhóm chiến lược Ngân hàng quốc gia rất khó, chi phí rất cao hay nói cách khác rào cản xâm nhập vào nhóm Ngân hàng quốc gia là cao
5.4 PHÂN TÍCH CHU KỲ NGÀNH
Chu kì sống của ngành tài chính-ngân hàng tại Mỹ đang ở trong giai đoạn trưởng thành Khẳng định chu kì sống của ngành tài chính-ngân hàng Hoa Kỳ đang trong giai trưởng thành vì một số lý do sau:
Tỷ lệ tăng trưởng ngành đã hoàn toàn chậm lại so với tổng thể ngành của nền kinh tế
Các hoạt động sáp nhập và mua lại đã giảm xuống
- Số lượng các ngân hàng cạnh tranh trong ngành đã giảm dần một cách từ từ
- Ổn định và phân đoạn rõ ràng của các nhóm sản phẩm
- Suy giảm trong tỷ lệ thay đổi công nghệ
Hệ thống các ngân hàng của Hoa Kỳ đã hoàn toàn nằm ở giai đoạn trưởng thành trong chu kì sống của ngành kể từ đầu những năm 1990, với tỷ lệ tăng trưởng trong ngành được đo bằng Tổng sản phẩm toàn ngành công nghiệp đã giảm xuống suốt một thập kỷ qua và đạt đến giai đoạn trưởng thành của ngành tài chính-ngân hàng tính trên toàn ngành của nền kinh tế Mỹ vào cuối những năm 1990
Ngành tài chính-ngân hàng đã trải qua mức cạnh tranh gia tăng trong những năm gần đây khi mà những quy định, những yêu cầu chung cho ngành trở nên thông thoáng hơn Sau hàng loạt các cuộc tranh giành thị phần bằng các hoạt động
Trang 39sáp nhập và mua lại vào 5 năm cuối của thập niên 1990 đã tạo ra một sự suy giảm nhẹ các ngân hàng trong ngành
Doanh thu của ngành đã phát triển với một tỷ lệ thực tế trung bình là 2.5% mỗi năm trong vòng 10 năm kể từ năm 1998-2008, trong khi tổng sản phẩm toàn ngành công nghiệp Mỹ đã trải qua một sự tăng trưởng trung bình hàng năm là 0.7% Đây là mức tăng trưởng vững chắc và hợp lý cho những tổn thất gần đây trong ngành do cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn mang lại Theo IBISWorld (công ty nghiên cứu thị trường Mỹ) dự báo rằng vào thời kỳ tăng trưởng triển vọng của nền kinh tế, ngành tài chính-ngân hàng sẽ phục hồi và sẽ trải qua các điều kiện hoạt động bình thường hơn với tăng trưởng lợi nhuận cao hơn Do đó ngành tài chính-ngân hàng Hoa Kỳ vẫn được coi đang nằm trong giai đoạn trưởng thành của chu kì sống của ngành
T m lại:
Tại thời điểm nghiên cứu thì chu kỳ sống của ngành Tài chính-Ngân hàng
Mỹ đang ở trong giai đoạn Trưởng thành với tỷ lệ tăng trưởng ngành đã hoàn toàn chậm lại so với tổng thể các ngành của nền kinh tế Tuy nhiên theo dự đoán của công ty nghiên cứu thị trường IBISWorld thì ngành Tài chính-Ngân hàng trong thời gian sắp tới sẽ dần phục hồi và sẽ trải qua các điều kiện hoạt động bình thường hơn với mức tăng trưởng lợi nhuận cao hơn Do vậy mà rào cản nhập cuộc của các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng trong thời gian sắp tới sẽ thấp hơn và tính khốc liệt trong cạnh tranh của các đối thủ hiện tại trong ngành sẽ mạnh hơn
5.5 CÁC NHÂN TỐ THEN CHỐT CHO SỰ THÀNH CÔNG
Không chỉ riêng gì ngành Tài chính – Ngân hàng, cũng như các ngành sản xuất, kinh doanh khác có được một thương hiệu mạnh là một lợi thế hàng đầu khi tạo ra giá trị niềm tin cho khách hàng Với việc hai Ngân hàng cung cấp các sản phẩm dịch vụ tương đương và thậm chí là giống nhau hoàn toàn thì việc chọn lựa
Trang 40của khách hàng đầu tiên phải dựa trên tiêu chí thương hiệu uy tín và lâu năm Do
đó yếu tố đầu tiên cho sự thành công trong ngành Ngân hàng phải là thương hiệu
Thứ hai, để có được doanh thu và thị phần cao thì việc cung ứng các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng được hầu hết các nhu cầu của hầu hết các loại khách hàng Điều này buộc các đơn vị hoạt động trong ngành Tài chính - Ngân hàng phải không ngừng nghiên cứu đưa ra sản phẩm mới, cải tiến các sản phẩm và dịch vụ đã
có làm cho nó mới hơn và yếu tố then chốt cho việc này chính là con người Ngoài
ra vì là một ngành dịch vụ nên yếu tố con người và đào tạo, áp dụng công nghệ mới
là yếu tố then chốt thứ hai cho sự thành công
Thứ ba, Quản lý tài chính và quản lý nợ tốt Các ngân hàng cần duy trì mức lãi suất, ngoại hối, và quy trình quản lý rủi ro hoạt động tốt Các ngân hàng cần duy trì một cách tiếp cận quản lý rủi ro chặt chẽ và bảo thủ Nhận thức của khách hàng
về sự xứng đáng của tín dụng rất quan trọng
Và nhân tố then chốt cuối cùng là qui mô hoạt động Ngân hàng, mạng lưới các văn phòng giao dịch rộng khắp tạo ra một sự tiện lợi về không gian và thời gian cho khách hàng khi phát sinh nhu cầu
T m lại:
Các nhân tố then chốt thành công của một ngành là những nhân tố tác động mạnh nhất tới khả năng thành đạt trên thị trường của các thành viên trong ngành Đối với ngành Tài chính-Ngân hàng thì các nhân tố then chốt cho sự thành công của ngành là: Uy tín và thương hiệu công ty; đa dạng hóa, cải tiến sản phẩm và dịch vụ tài chính; nhân tố con người; quy trình quản lý và kiểm soát; quy mô, mạng lưới hoạt động
5.6 CÁC LỰC LƯỢNG DẪN DẮT CỦA NGÀNH
5.6.1 Mức tăng trưởng dài hạn của ngành