1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TÌM HIỂU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

100 188 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG PHẠM THỊ TRANG TÌM HIỂU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

PHẠM THỊ TRANG

TÌM HIỂU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN

LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI HUYỆN TRỰC

NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Hà Nội - Năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

PHẠM THỊ TRANG

TÌM HIỂU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN

LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI HUYỆN TRỰC

NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững

(Chương trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HOÀNG VĂN THẮNG

Hà Nội - Năm 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn với sự nỗ lực của bản thân cùng với sự giúp

đỡ của gia đình, thầy cô và bạn bè tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình Trước hết, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới: TS Hoàng Văn Thắng, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu tài nguyên

và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã trực tiếp hướng dẫn tôi rất tận tình, cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện, hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ quý báu của Lãnh đạo Chi cục Bảo vệ Môi trường – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định; Lãnh đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Trực Ninh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập, nghiên cứu, dạy cho tôi những kiến thức thực tiễn vô cùng bổ ích và hoàn thành luận văn đúng thời hạn

Tôi chân thành cảm ơn đồng nghiệp của tôi, những cán bộ của Chi cục Bảo

vệ Môi trường đã giúp đỡ tôi trong quá trình tôi đi học và làm luận văn

Do thời gian và trình độ còn nhiều hạn chế nên luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung nghiên cứu của Luận văn này được hình thành

và phát triển từ quan điểm của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hoàng Văn Thắng Các số liệu và kết quả có được trong Luận văn là trung thực; không sử dụng số liệu của các tác giả khác chưa được công bố

Hà Nội, ngày 06 tháng 03 năm 2015

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phạm Thị Trang

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN……… ………….……… ………i

LỜI CAM ĐOAN……… ………ii

MỤC LỤC……… ………iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT……….…….… v

DANH MỤC CÁC BẢNG……….……… … ……… vi

DANH MỤC CÁC HÌNH……….……… … …vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI SINH HOẠT 5

1.1.Cơ sở lý luận 5

1.1.1.Khái niệm cơ bản về chất thải rắn sinh hoạt 5

1.1.2.Nguồn gốc hình thành chất thải sinh hoạt: 6

1.1.3.Thành phần chất thải rắn sinh hoạt 9

1.1.4 Tốc độ phát sinh chất thải rắn 10

1.2 Tổng quan về quản lý chất thải sinh hoạt 11

1.2.1 Tổng quan về quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới 11

1.2.2 Tổng quan về quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam 15

1.2.3 Những kinh nghiệm quản lý có thể áp dụng cho tỉnh Nam Định 25

1.2.4 Tình hình quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt tại tỉnh Nam Định 27

CHƯƠNG II ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN 30

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Địa điểm nghiên cứu 30

2.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định 30

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định 30

2.2 Thời gian nghiên cứu 34

2.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 35

2.3.1 Phương pháp luận 35

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 36

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

Trang 6

3.1 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện

Trực Ninh 41

3.1.1 Thực trạng công tác quản lý CTR sinh hoạt huyện Trực Ninh 41

3.1.2 Tình hình phát sinh CTR sinh hoạt huyện Trực Ninh 44

3.1.3 Dự báo khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh đến năm 2020 47

3.1.4 Thực trạng thu gom và xử lý CTR sinh hoạt của huyện Trực Ninh 48

3.1.5 Đánh giá chung về tình hình thực hiện công tác quản lý CTR sinh hoạt huyện Trực Ninh 58

3.2 Đề xuất giải pháp 60

3.2.1 Giải pháp về chính sách 60

3.2.2 Giải pháp về quản lý 61

3.2.3 Đề xuất mô hình thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại xã Trực Thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định 67

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79

1 Kết luận 79

2 Kiến nghị 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 84

Phụ lục 1 85

Phụ lục 2 88

Phụ lục 3 91

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT, CHỮ VIẾT TẮT

BCL Bãi chôn lấp

ODA Official Development Assistance

Hỗ trợ phát triển chính thức cho Việt Nam CCN Cụm công nghiệp

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Nguồn gốc phát sinh các loại chất thải sinh hoạt 7

Bảng 1.2 Định nghĩa thành phần của chất thải rắn sinh hoạt 9

Bảng 1.3: Lượng phát sinh chất thải rắn ở một số nước 12

Bảng 1.4: Tỷ lệ % CTR xử lí bằng các phương pháp khác nhau ở một số nước 13

Bảng 1.5: Lượng chất thải phát sinh năm 2003 và năm 2008 15

Bảng 1.6: Lượng chất CTRSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007 16

Bảng 1.7: Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý Việt Nam đầu năm 2007 17 Bảng 2 Số lượng trường học, giáo viên, học sinh của huyện Trực Ninh 32

Bảng 3.1: Thống kê tình hình thu gom rác thải tại các xã, thị trấn của huyện Trực Ninh 44

Bảng 3.2 Thành phần CTR sinh hoạt huyện Trực Ninh 45

Bảng 3.3 Dự báo khối lượng chất thải sinh hoạt của huyện Trực Ninh đến năm 2020 48

Bảng 3.4: Thống kê tình hình thu gom rác thải tại các xã, thị trấn 54

Bảng 3.5: Kết quả phân tích không khí tại xã Hải Xuân 73

Bảng 3.6 Dự toán kinh phí hoạt động hàng năm của mô hình 78

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ nguồn gốc phát sinh chất thải sinh hoạt 6

Hình 1.2 Thành phần CTR toàn quốc năm 2008 và xu hướng thay đổi đến năm 2015 16

Hình 2 Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu 33

Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức quản lý nhà nước về môi trường huyện Trực Ninh 42

Hình 3.2 Tỷ lệ phát thải chất thải rắn sinh hoạt từ các ngành nghề 47

Hình 3.3 Tỷ lệ phân loại rác thải tại hộ gia đình và bãi chôn lấp 50

Hình 3.4 Đánh giá tầm quan trọng của người dân trong việc đổ rác đúng nơi quy định 51

Hình 3.5 : Một số hình ảnh về xe chở rác 52

Hình 3.6 Phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Trực Ninh 53

Hình 3.7 Bãi chôn lấp rác thải Thị trấn Cát Thành 57

Hình 3.8 Bãi chôn lấp rác thải xã Trực Mỹ 57

Hình 3.9 Đánh giá thực trạng môi trường tại các bãi chôn lấp rác thải 58

Hình 3.10 Sơ đồ tổ chức quản lý thu gom rác thải sinh hoạt 62

Hình 3.11 Sơ đồ Quy trình phân loại rác thải tại nguồn 73

Hình 3.12 Sơ đồ Quy trình hoạt động của lò đốt LOSIHO 76

Hình 3.13 Sơ đồ Quy trình hoạt động của máy nghiền rác 77

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội,các khu đô thị và khu công nghiệp cũng được mở rộng và phát triển nhanh chóng Sự phát triển này một mặt góp phần làm tăng thu nhập cho đất nước, nhưng mặt khác lại tạo ra một lượng lớn chất thải rắn và nhiều loại chất thải nguy hại khác

Thực tế hiện nay hầu hết các đô thị nước ta đều chưa có khu xử lý tổng hợp chất thải rắn bao gồm tái chế chất thải, lò đốt rác, bãi chôn lấp hợp vệ sinh, xử lý chất thải nguy hại, chất thải xây dựng, chế biến phân vi sinh, biến chất thải thành năng lượng… Và cũng chưa có khu xử lý chất thải theo vùng, cụm đô thị hoặc cho từng khu đô thị

Để đảm bảo phát triển các đô thị bền vững và ổn định, vấn đề quản lý chất thải rắn phải được nhìn nhận một cách tổng hợp, không chỉ đơn thuần là việc tổ chức xây dựng một bãi chôn lấp hợp vệ sinh cho một khu đô thị như phần lớn các

dự án hiện nay đang được thực hiện Vấn đề quản lý chât thải rắn cũng phải được xem xét toàn diện không chỉ riêng rẽ trong một cá thể đô thị mà phải ở trên diện rộng như vùng, liên đô thị … Mặt khác việc quản lý chất thải rắn muốn đạt hiệu quả tốt cũng phải đón đầu được sự phát triển chứ không chạy theo sự phát triển của các đô thị hiện nay Nói một cách khác cần phải có sự những quy hoạch quản lý chất thải rắn tổng hợp cho các đô thị phù hợp quy hoạch phát triển hệ thống đô thị Việt Nam theo từng giai đoạn

Bên cạnh đó, tốc độ gia tăng dân số nhanh chóng đã phát sinh khối lượng lớn rác thải sinh hoạt làm tăng áp lực lên môi trường Thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở các địa phương còn nhiều hạn chế dẫn đến hiện tượng ô nhiễm môi trường diễn ra ở nhiều nơi Hơn nữa, cơ chế quản lý chất thải rắn sinh hoạt còn nhiều yếu kém, chưa đồng bộ cho nên công tác vệ sinh môi trường chưa đi vào nề nếp Do đó, rác thải sinh hoạt đang là vấn đề bức xúc không chỉ ở riêng thành phố, nơi tập trung đông dân cư mà còn ở cả khu vực nông thôn

Trang 11

Tỉnh Nam Định là một tỉnh nằm ở cửa ngõ phía Nam của thủ đô Hà Nội, có diện tích 1.634,4 km2, dân số khoảng 1,89 triệu người Tỉnh Nam Định gồm 1 thành phố và 9 huyện đến năm 2020 hệ thống đô thị của tỉnh bao gồm: 1 đô thị trung tâm,

3 đô thị nâng cấp từ thị trấn lên xã và 20 thị trấn Bên cạnh đó, Nam Định còn là một tỉnh có tiềm năng phát triển kinh tế công nghiệp – dịch vụ, du lịch

Huyện Trực Ninh nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng mang đậm nét đặc trưng vùng nông thôn Việt Nam; là một trong những huyện có tiềm năng phát triển kinh tế của tỉnh Nam Định Tuy nhiên vấn đề môi trường mà đặc biệt là rác thải sinh hoạt đang là vấn đề mà toàn huyện quan tâm để xử lý Rác thải sinh hoạt của huyện được xử lý bằng phương pháp chôn lấp là chủ yếu tuy nhiên việc xử lý chưa đảm bảo gây ảnh hưởng tới môi trường: rác thải chưa được phân loại triệt để trước khi đi vào chôn lấp, chi phí cho cán bộ công nhân viên chưa đảm bảo vì nguồn thu

từ địa phương chưa đủ để trang trải, nước thải từ hố chôn lấp không được xử lý triệt để…dẫn đến vấn đề ô nhiễm môi trường nảy sinh Vì vậy cần có giải pháp phù hợp, mang tính bền vững lâu dài và đem lại hiệu quả cao trong công tác quản lý môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn sinh hoạt nói riêng

Xuất phát từ yêu cầu trên và với mong muốn được tìm hiểu, nghiên cứu tìm

ra giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt có tính phù hợp cao đối với địa phương

nên tôi lựa chon đề tài “Tìm hiểu hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất

thải rắn sinh hoạt tại huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định” để góp phần vào công

tác quản lý chất thải nói chung của tỉnh Nam Định và công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt nói riêng của huyện Trực Ninh

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải sinh hoạt của huyện Trực Ninh

- Nghiên cứu thành phần và khối lượng chất thải sinh hoạt phát sinh

- Nghiên cứu phương thức phân loại, mạng lưới thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địạ bàn huyện Trực Ninh

- Đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt cho huyện Trực Ninh nhằm góp một phần vào công tác quản lý môi trường của huyện

Trang 12

3 Nội dung nghiên cứu:

- Tổng quan về quản lý chất thải rắn sinh hoạt

- Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới và Việt Nam

- Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại tỉnh Nam Định

- Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định:

+ Hiện trạng về cơ cấu tổ chức quản lý chất thải rắn sinh hoạt

+ Hiện trạng về thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH: Nguồn phát sinh CTRSH, Thành phần và khối lượng CTRSH, phương tiện thu gom và biện pháp xử

lý CTRSH, dự báo khối lượng CTRSH phát sinh đến năm 2020

- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTRSH tại huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định:

+ Giải pháp chung: về cơ chế, chính sách, cơ cấu tổ chức quản lý

+ Đề xuất mô hình thí điểm về thu gom và xử lý CTRSH tại xã Trực Thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Chất thải rắn sinh hoạt của huyện Trực Ninh là đối tượng nghiên cứu của luận văn

- Phạm vi nghiên cứu là hiện trạng và quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Trực Ninh của tỉnh Nam Định với 21 xã, thị trấn(100 hộ dân trên địa bàn huyện Trực Ninh)

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

5.1 Ý nghĩa khoa học

- Cung cấp phương pháp luận trong nghiên cứu quản lý chất thải rắn sinh hoạt, đồng thời có thể mở rộng để nghiên cứu quản lý cho các thành phần chất thải khác như chất thải y tế, nguy hại…

- Góp phần cung cấp tư liệu tham khảo trong đào tạo, tập huấn cũng như cho các nghiên cứu khác liên quan đến chất thải rắn

Trang 13

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn được trình bày trong 80 trang với 14 bảng và 16 hình Ngoài phần

Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương như sau:

1) Chương 1: Tổng quan về quản lý chất thải rắn sinh hoạt

2) Chương 2: Địa điểm, thời gian, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

3) Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trang 14

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI SINH HOẠT 1.1.Cơ sở lý luận

1.1.1.Khái niệm cơ bản về chất thải rắn sinh hoạt

Theo quan niệm chung: Chất thải rắn là toàn bộ loại vật chất do con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng…)

Theo quan niệm mới: Chất thải sinh hoạt bao gồm tất cả các nguồn không phải là nguồn từ công nghiệp, bệnh viện, công trình xử lý chất thải rắn hay nói cách khác là những chất thải liên quan đến hoạt động của con người Nguồn hoạt động tạo thành chủ yếu là các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại Chất thải sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre gỗ, giấy, rơm rạ, xác động vật

Theo Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn đưa ra định nghĩa về chất thải, chất thải sinh hoạt và các hoạt động liên quan đến việc xử lý chất thải cụ thể như sau:

Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh

doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại

Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt

Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch, quản lý,

đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khỏe con người

Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ

tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận

Trang 15

Vận chuyển chất thải rắn là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh,

thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng

Xử lý chất thải rắn là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật

làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn; thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong chất thải rắn

Chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh là hoạt động chôn lấp phù hợp với các

yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh

1.1.2.Nguồn gốc hình thành chất thải sinh hoạt:

Chất thải sinh hoạt phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau có thể phát sinh trong các hoạt động cá nhân cũng như trong các hoạt động xã hội từ các khu dân cư, chợ, nhà hàng, văn phòng và từ các nhà máy sản xuất chủ yếu từ các hoạt động của cơ quan, trường học, nông nghiệp, hoạt động xử lý rác thải, nơi vui chơi, giải trí, bệnh viện,cơ sở y tế, khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp, nhà dân, khu dân cư, dịch vụ, thương mại, xe, nhà ga, giao thông, xây dựng (hình 1.1)

Hình 1.1 Sơ đồ nguồn gốc phát sinh chất thải sinh hoạt

[Lê Thị Tâm, 2014]

Các nguồn phát sinh chất thải

Các hoạt động giao tiếp

Các hoạt động sống của con người

Các hoạt động trong lĩnh vực phi sản xuất

Các hoạt động quản lý

Các hoạt động đối ngoại

Trang 16

- Phân loại theo nguồn gốc phát sinh:

+ Chất thải từ các hộ gia đình hay còn gọi là chất thải hay rác thải sinh hoạt được phát sinh từ các hộ gia đình

+ Chất thải từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại là những chất thải phát sinh từ các ngành kinh tế như công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ

- Phân loại chất thải theo thuộc tính vật lý: chất thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí

- Phân loại chất thải theo tính chất hóa học: theo cách này người ta chia chất thải dạng hữu cơ, vô cơ hoặc theo đặc tính của vật chất như chất thải dạng kim loại, chất dẻo, thủy tinh, giấy, bìa…

- Phân loại theo mức độ nguy hại đối với con người và sinh vật: chất thải độc hại, chất thải đặc biệt Mỗi cách phân loại có một mục đích nhất định nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu, sử dụng hay kiểm soát và quản lý chất thải có hiệu quả

Nguồn phát sinh chất thải sinh hoạt được thống kê cụ thể tại bảng 1.1 dưới đây: Bảng 1.1 Nguồn gốc phát sinh các loại chất thải sinh hoạt

Nguồn phát sinh Nơi phát sinh Các dạng chất thải

Khu dân cư Nhà dân, khu chung

cư, khu đô thị

Thức ăn thừa; rau quả hỏng; giấy vụn, bìa carton

Cơ quan Trường học, bệnh

viện, cơ sở y tế, nhà máy, xí nghiệp

Thực phẩm thừa, giấy vụn, nhựa phế; chất thải nguy hại (gồm cả chất thải y tế nguy hại)

Dịch vụ công cộng Khu vui chơi giải

trí, bãi tắm, hoạt động thu gom rác thải, nhà ga,bến xe bus

Thức ăn thừa; rau quả hỏng; giấy vụn, bìa carton

Trang 17

Công nghiệp Dệt may, cơ

khí…công nghiệp nhẹ và công nghiệp năng

Rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp từ quá trình sản xuất; chất thải nguy hại

Nông nghiệp Khu trang trại chăn

nuôi, đồng ruộng, vườn cây ăn quả

Vỏ thuốc trừ sâu; chất thải nguy hại

Xử lý chất thải Khu xử lý rác thải;

bãi rác thải tập trung; khu xử lý nước thải

bùn thải, tro thải

Xây dựng Xây dựng mới nhà

ở, khu chung cư; cải tạo và nâng cấp đường giao thông

Gạch vỡ, vỏ bao xi măng…

Khu công nghiệp,

cụm công nghiệp

Các cơ sở sản xuất kinh doanh trong KCN, CCN

[ Lê Thị Tâm, 2014] Khu dân cư: chất thải từ khu dân cư phần lớn là các thực phẩm dư thừa hay

hư hỏng rau quả, , bao bì hàng hóa (giấy vụn, gỗ, vải, da, cao su, tro ) một số chất thải đặc biệt như đồ điện tử, vật dụng hư hỏng(đồ gia dụng hỏng, đồ nhựa, thủy tinh, ) thuốc diệt côn trùng,

Khu thương mại: chợ, siêu thị, cửa hàng, nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí, trạm dịch vụ , khu văn phòng (trường hoc, viện nghiên cứu, khu văn hóa )Khu công cộng (công viên, khu nghỉ mát ) thải ra các loại thực phẩm (hàng

Trang 18

hóa hư hỏng, thức ăn dư thừa từ nhà hàng, khách sạn), bao bì (những bao bì đã qua

sử dụng và bị hư hỏng) và các chất thải độc hại

Khu xây dựng: như công trình đang thi công, các công trình cải tạo nâng cấp thải ra các loại sắt, thép vụn, vôi vữa, gạch vỡ các dịch vụ đô thị (gồm dịch

vụ thu gom, xử lý chất thải và vệ sinh công cộng như rửa đường, vệ sinh cống rãnh ) bao gồm các loại rác đường, bùn cống rãnh, xác động vật

1.1.3.Thành phần chất thải rắn sinh hoạt

Thành phần lý, hóa học của chất thải rắn sinh hoạt rất khác nhau tùy thuộc vào từng địa phương vào các mùa khí hậu, vào điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác Có rất nhiều thành phần chất thải rắn trong các rác thải có khả năng tái chế, tái sinh

Mỗi nguồn thải khác nhau lại có thành phần chất thải khác nhau như: Khu dân cư và thương mại có thành phần chất thải đặc trưng là chất thải thực phẩm, giấy, carton, nhựa, vải, cao su, rác vườn, gỗ, nhôm ; Chất thải từ dịch vụ như rửa đường và hẻm phố chứa bụi, rác, xác động vật, xe máy hỏng , chất thải thực phẩm như can sữa, nhựa hỗn hợp (xem Bảng 1.2)

Bảng 1.2 Định nghĩa thành phần của chất thải rắn sinh hoạt

Thành phần Định nghĩa Ví dụ

1.Các chất cháy được

a.Giấy Các vật liệu làm từ giấy bột và giấy Các túi giấy, mảnh bìa,

giấy vệ sinh b.Hàng dệt Các nguồn gốc từ các sợi Vải, len, nilon

c.Thực phẩm Các chất thải từ đồ ăn thực phẩm Cọng rau, vỏ quả, thân cây,

lõi ngô

d.Cỏ, gỗ, củi, rơm rạ Các sản phẩm và vật liệu được chế

tạo từ tre, gỗ, rơm

Đồ dùng bằng gỗ như bàn, ghế, đồ chơi, vỏ dừa e.Chất dẻo Các vật liệu và sản phẩm được chế

tạo từ chất dẻo

Phim cuộn, túi chất dẻo, chai, lọ Chất dẻo, đầu vòi,

Trang 19

a.Các kim loại sắt Các vật liệu và sản phẩm được chế

tạo từ sắt mà dễ bị nam châm hút

Vỏ hộp, dây điện, hàng rào, dao, nắp lọ

b.Các kim loại phi sắt Các vật liệu không bị nam châm hút Vỏ nhôm, giấy bao gói, đồ

đựng

c.Thủy tinh Các vật liệu và sản phẩm được chế

tạo từ thủy tinh

Chai lọ, đồ đựng bằng thủy tinh, bóng đèn

d.Đá và sành sứ Bất cứ các vật liệu không cháy ngoài

kim loại và thủy tinh

Vỏ chai, ốc, xương, gạch,

đá, gốm

3.Các chất hỗn hợp Tất cả các vật liệu khác không phân

loại trong bảng này Loại này có thể chưa thành hai phần: kích thước lớn hơn 5 mm và loại nhỏ hơn 5 mm

Phương pháp xác định tốc độ phát thải rác cũng gần giống phương pháp xác định tổng lượng rác Người ta sử dụng một số loại phân tích sau đây để xác định lượng rác ở một khu vực:

- Đo khối lượng

- Phân tích thống kê

- Phương pháp xác định tỷ lệ rác thải

- Tính cân bằng vật chất

Trang 20

Tuy nhiên để dự báo lượng phát sinh chất thải rắn hiện nay hầu hết dự báo sự gia tăng dân số và tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên để dự báo tuy nhiên còn có các yếu

tố khác ảnh đến tốc độ phát sinh chất thải rắn như sự thay đổi theo mùa, nhà ở, tần

số và phương thức thu gom, sự phát triển kinh tế và nếp sống, mật độ dân số: + Sự thay đổi theo mùa: Trong những dịp lễ tết; ngày nghỉ thì lượng rác thải phát sinh có sự biến động hơn những ngày bình thường

+ Tần số và phương thức thu gom: Tần suất thu gom sẽ giảm đi nêu sử dụng thùng đựng rác lớn (khoảng 240 lít), lượng rác thải sẽ tăng lên bên cạnh đó còn có rác thải vườn – đối với loại rác này thì thường các hộ gia đình sẽ tự xử lý

+ Sự phát triển kinh tế và nếp sống: Nhiều nghiên cứu cho thấy sự phát sinh chất thải liên hệ trực tiếp với phát triển kinh tế của một cộng đồng; Lượng chất thải sinh hoạt đã được ghi nhận là có giảm đi khi có sự suy giảm về kinh tế; việc sử dụng túi nilon làm vật liệu đóng gói cũng giảm đi

+ Mật độ dân số: Các nghiên cứu cũng đã xác định khi mật độ dân số tăng lên thì lượng rác thải sẽ phát sinh nhiều hơn tuy nhiên không phải dân số ở cộng đồng có mật độ cao hơn sẽ sản sinh ra nhiều rác thải hơn dân số cộng đồng có mật

độ thấp vì còn phụ thuộc vào phương pháp xử lý chẳng hạn như chế biến làm phân compost hoặc chôn lấp trong khuôn viên của gia đình

+ Nhà ở: Cũng tương đương như mật độ dân số; cũng không khó giải thích vì sao hộ gia đình ở nông thôn phát sinh ít chất thải hơn các hộ gia đình ở thành phố Ngoài ra còn các yếu tố khác như dư luận, ý thức của cộng động dân cư…cũng ảnh hưởng tới việc dự báo khối lượng rác thải sinh hoạt

1.2 Tổng quan về quản lý chất thải sinh hoạt

1.2.1 Tổng quan về quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới

*Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt

Lượng rác thải sinh hoạt phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội, dân số và thói quen tiêu dùng của con người Ở mỗi quốc gia có tỷ lệ phát sinh rác thải khác nhau, cụ thể như sau: Băng Cốc là 1,6 kg/người/ngày; Singapo là 2 kg/người/ngày; Hồng Kông là 2,2 kg/người/ngày; NewYork là 2,65 kg/người/ngày

Trang 21

+ Theo số liệu thống kê của Bộ Môi trường Nhật Bản, hằng năm Nhật Bản

có khoảng 450 triệu tấn rác thải Đối với rác thải sinh hoạt của các gia đình khoảng

70% được tái chế thành phân bón hữu cơ, góp phần giảm bớt nhu cầu sản xuất và

nhập khẩu phân bón

+ Ở Nga, mỗi người bình quân thải ra môi trường 300kg/người/năm rác thải

Tương đương một năm nước này thải ra môi trường khoảng 50 triệu tấn rác, riêng

thủ đô Matxcova là 5 triệu tấn/năm

+ Ở Singapore, mỗi ngày có khoảng 16.000 tấn rác được thải ra và được

phân loại tại nguồn

+ Theo Ngân hàng Thế giới, các đô thị của Châu Á mỗi ngày phát sinh

khoảng 760.000 tấn chất thải rắn đô thị Đến năm 2025, dự tính con số này sẽ tăng

tới 1,8 triệu tấn/ngày

Theo Nguyễn Thị Anh Hoa [2006], mức đô thị hoá cao thì lượng chất thải

tăng lên theo đầu người, ví dụ cụ thể một số quốc gia hiện nay như sau: Canda là

1,7kg/người/ngày; Australia là 1,6kg/người/ngày; Thụy Sỹ là 1,3kg/người/ngày;

Trung Quốc là 1,3kg/người/ngày

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới [WB, 2004], tại các thành phố lớn như

New York tỷ lệ phát sinh chất thải rắn là 1,8 kg/người/ngày, Singapo, Hồng Kông

là 0,8-10 kg/người/ngày (xem Bảng 1.3)

Bảng 1.3: Lượng phát sinh chất thải rắn ở một số nước

Tên nước Dân số đô thị hiện nay

(% tổng số)

Lượng phát sinh CTR hiện nay (kg/người/ngày) Nước thu nhập thấp 15,92 0,40

Nước thu nhập trung bình 40,8 0,79

Comment [T2]: Các số liệu trên lấy từ nguồn nào?

Comment [T3]: Tốt, nhưng bạn xem lại quy định trích trong ngoặc Dùng ngoặc vuông thay vì ngoặc đơn

Comment [T4]: Ngoặc?

Comment [T5]: Đường dẫn cho bảng

Trang 22

[Bộ môn sức khoẻ môi trường, 2006]

Đô thị hóa và phát triển kinh tế thường đi đôi với mức tiêu thụ tài nguyên và

tỷ lệ phát sinh chất thải rắn tăng lên tính theo đầu người Dân thành thị ở các nước phát triển phát sinh chất thải nhiều hơn ở các nước đang phát triển gấp 6 lần, cụ thể ở các nước phát triển là 2,8 kg/người/ngày; ở các nước đang phát triển là 0,5 kg/người/ngày

* Tình hình quản lý, xử lý CTR sinh hoạt trên thế giới

Chất thải rắn sinh hoạt được xử lý bằng nhiều phương pháp khác nhau như: phương pháp chôn lấp, đốt, ủ phân compost với nhiều công nghệ được áp dụng như công nghệ sinh học, công nghệ sử dụng nhiệt, công nghệ Seraphin… Tình hình áp dụng các phương pháp này ở một số nước trên thế giới như sau (xem Bảng 1.4): Bảng 1.4: Tỷ lệ % CTR xử lí bằng các phương pháp khác nhau ở một số nước

STT Tên quốc gia Tái chế Chế biến

phân vi sinh Chôn lấp Đốt

Trang 23

Hiện nay, một số nước phát triển trên thế giới đã có những mô hình phân loại

và thu gom rác thải rất hiệu quả cụ thể:

California: Nhà quản lý cung cấp đến từng hộ gia đình nhiều thùng rác khác nhau sau đó rác sẽ được thu gom, vận chuyển, xử lý hoặc tái chế 3 lần/tuần với chi phí phải trả là 16,39 USD/tháng Tất cả chất thải rắn được chuyển đến bãi rác với giá 32,38 USD/tấn Phí thu gom rác được tính dựa trên khối lượng rác, kích thước rác, theo cách này có thể hạn chế được đáng kể lượng rác phát sinh Hơn nữa, để giảm giá thành thu gom rác, thành phố cho phép nhiều đơn vị cùng đấu thầu việc thu gom và chuyên chở rác

Nhật Bản: Các gia đình Nhật Bản đã phân loại chất thải thành 3 loại riêng biệt và cho vào 3 túi với màu sắc theo quy định: rác hữu cơ, rác vô cơ (giấy, vải, thuỷ tinh, kim loại), rác còn lại Rác hữu cơ được đưa đến nhà máy xử lý rác thải để sản xuất phân vi sinh Các loại rác vô cơ: giấy, vải, thuỷ tinh, kim loại, được đưa đến cơ sở tái chế hàng hoá Rác còn lại được đưa đến hầm ủ có nắp đậy và chảy trong một dòng nước có thổi khí rất mạnh để phân giải chúng một cách triệt để, kết quả sẽ được sản phẩm là các cặn rác không còn mùi được đem nén thành các viên gạch lát vỉa hè rất xốp có tác dụng hút nước khi trời mưa [Dự án Danida, 2007] Singapo: là nước đô thị hoá 100 % và là đô thị sạch nhất trên thế giới Để có được kết quả như vậy, Singapo đầu tư cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác đồng thời xây dựng một hệ thống luật pháp nghiêm khắc làm tiền đề cho quá

Trang 24

trình xử lý rác thải tốt hơn Rác thải ở Singapo được thu gom và phân loại bằng túi

nilon Các chất thải có thể tái chế được đưa về các nhà máy tái chế lại, còn các loại

chất thải khác được đưa về nhà máy để thiêu huỷ Tham gia vào công việc này có

công ty và các khu dân cư, trong đó có hơn 300 công ty tư nhân chuyên thu gom rác

thải công nghiệp và thương mại Tất cả các công ty này đều được cấp giấy phép

hoạt động và chịu sự giám sát kiểm tra trực tiếp của Sở khoa học công nghệ và môi

trường Ngoài ra, các hộ dân được khuyến khích tự thu gom và vận chuyển rác thải,

chẳng hạn đối với các hộ dân thu gom rác trực tiếp tại nhà phải trả phí 17 đô la

Singapo/tháng, thu gom gián tiếp tại các khu dân cư chỉ phải trả phí 7 đô la

Singapo/tháng [Lê Huỳnh Mai và cs, 2009]

1.2.2 Tổng quan về quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam

1.2.2.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị của Việt Nam

Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa của Việt Nam diễn ra rất nhanh và

trở thành nhân tố tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy

nhiên, bên cạnh những lợi ích về kinh tế - xã hội, đô thị hóa quá nhanh đã tạo ra sức

ép lên môi trường với sự góp phần của các nhân tố như chất thải rắn sinh hoạt, đặc

biệt chất thải rắn phát sinh tại các đô thị và khu công nghiệp [Trần Hiếu Nhuệ và

cs,2001]

Năm 2004, lượng CTR đô thị bình quân khoảng 0,9 – 1,2 kg/người/ngày ở các

đô thị lớn; 0,5 – 0,65 kg/người/ngày ở các đô thị nhỏ Đến năm 2008, con số này tăng

lên 1,45 kg/người/ngày ở khu vực đô thị và 0,4 kg/người/ngày ở khu vực nông thôn

Trên phạm vi toàn quốc, từ năm 2003 đến năm 2008, lượng chất thải rắn phát sinh

trung bình tăng từ 150 – 200%, chất thải rắn đô thị tăng trên 200%, chất thải rắn nông

thôn tăng 142%, chất thải rắn công nghiệp tăng 181% (xem tại Bảng 1.5)

Bảng 1.5 Lượng chất thải phát sinh năm 2003 và năm 2008

Loại CTR Đơn vị tính Năm 2003 Năm 2008 Tỷ lệ

gia tăng (%) CTR đô thị tấn/năm 6.400.000 12.802.000 200

CTR công nghiệp tấn/năm 2.638.400 4.786.000 181

Comment [T6]: Ngoặc vuông

Comment [T7]: Ngoặc vuông

Trang 25

TB tại KV nông thôn kg/người/ngày 0,3 0,4 133

[Trung tâm Nghiên cứu và Quy hoạch MT đô thị - Nông thôn, Bộ Xây dựng, 2010]

Đến năm 2015 dự báo khối lượng chất thải rắn phát sinh ước đạt khoảng 44

triệu tấn/năm, đặc biệt là CTR đô thị và công nghiệp Thành phần CTR toàn quốc

năm 2008 và xu hướng thay đổi đến năm 2015 thể hiện tại Hình 1.2

Hình 1.2 Thành phần CTR toàn quốc năm 2008 và xu hướng thay đổi đến năm 2015

[Cục bảo vệ môi trường, 2008]

Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2010, tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đã

tăng tới 0,9 kg lên 1,2 kg/người/ngày ở các thành phố lớn, từ 0,5 kg lên 0,65 kg/người

ngày tại các đô thị nhỏ Lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các đô thị ở nước

ta với số liệu tổng hợp của năm 2007 cụ thể tại Bảng 1.6 như sau:

Bảng 1.6 Lượng chất CTRSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007

STT Loại đô thị

Lượng CTRSH bình quân/người (kg/người/ngày)

Lượng CTRSH phát sinh Tấn/ngày Tấn/năm

Comment [T8]: Hình bị vỡ Xem lại và bổ sung nguồn

Trang 26

[Cục bảo vệ môi trường, 2008]

Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô thị vùng Đông Nam bộ có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245 tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh CTRSH đô thị

là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%) Lượng CTR sinh hoạt đô thị tại các vùng địa

lý của Việt Nam năm 2007 được thể hiện ở Bảng 1.7 như sau:

Bảng 1.7: Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý Việt Nam đầu năm 2007

STT Đơn vị hành chính

Lượng CTRSH bình quân/đầu người (kg/người/ngày)

Lượng CTRSH

đô thị phát sinh Tấn/ngày Tấn/năm

[Cục bảo vệ môi trường, 2008]

Từ bảng 1.7 nhận thấy, các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc Bộ có lượng phát sinh CTRSH đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm với mức chuẩn thải là 0,75 kg/người/ngày, tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng

Trang 27

phát sinh CTRSH đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%) Các đô thị khu vực

Đông Nam Bộ có lượng phát sinh CTRSH đô thị cao nhất là 2.450.245 tấn/năm với

mức phát sinh là 0,79 kg/người/ngày

Theo số liệu của Bộ Xây dựng , tính đến năm 2009 tổng lượng chất thải rắn

sinh hoạt đô thị phát sinh trên toàn quốc ước tính khoảng 21.500 tấn/ngày Dự báo

của Bộ Xây dựng và Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, đến năm 2015, khối

lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các đô thị ước tính khoảng 37 nghìn

tấn/ngày và năm 2020 là 59 nghìn tấn/ngày cao gấp 2 - 3 lần hiện nay

1.2.2.2 Tình hình phát sinh CTR sinh hoạt tại khu vực nông thôn Việt Nam

Hiện nay, số liệu về chất thải rắn phát sinh mới được thống kê tại khu vực đô

thị và các khu công nghiệp, còn ở khu vực nông thôn số liệu chưa được đầy đủ, chỉ

mang tính ước lượng Do môi trường nông thôn chưa được quan tâm bằng ở vùng

đô thị, sự đầu tư kinh phí cho nghiên cứu đánh giá từ đó ứng dụng khoa học công

nghệ vào xử lý môi trường chưa có nhiều, nhân lực làm công tác môi trường còn

thiếu Nhưng cũng có một số báo cáo nghiên cứu cung cấp số liệu này, cụ thể:

Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiêp và phát triển nông thôn năm 2010

tại hội nghị tổng kết công tác bảo vệ môi trường trong nông nghiệp, nông thôn giai

đoạn 2006-2010 cho thấy công tác vệ sinh môi trường nông thôn ngày càng nóng

bỏng Năm 2006, tổng lượng chất thải rắn ở khu vực nông thôn thải ra môi trường

là khoảng 10 triệu tấn/năm, năm 2011 khoảng 13,5 triệu tấn/năm, tăng 17,4% so với

5 năm trước đó Trong đó có tới 80% lượng rác thải chưa được thu gom, xử lý hợp vệ

sinh khiến nhiều nơi tràn ngập rác

Dù chưa được thống kê thành một con số chính xác nhưng nhìn vào bức

tranh nông thôn đang diễn ra hiện nay sẽ thấy được vấn đề bức xúc cần phải giải

quyết đó chính là rác thải Rác thải phát sinh với khối lượng ngày càng nhiều,

không kém gì khu vực đô thị, nhiều nơi rác thải chưa được thu gom, xử lý dẫn đến

tình trạng rác thải đổ bừa bãi ven đường, ven đê, trôi dạt ở mương máng, sông ngòi,

kênh rạch Để quản lý lượng rác thải ngày càng gia tăng như hiện nay, Việt Nam đã

Comment [T9]: Năm?

Trang 28

có những hành động và triển khai công tác quản lý, xử lý CTR sinh hoạt và đã đạt được những kết quả nhất định

1.2.2.3 Tình hình quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam

- Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 23/2005/CT-TTG ngày 21 tháng 6 năm

2005 về đẩy mạnh công tác quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp

- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn

- Thông tư số 13/2007/TT-BXD ngày 31 tháng 12 năm 2007 của Bộ Xây dựng hướng dẫn một số điều của Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn

- Thông tư số 08/2008/TT-BTC ngày 29 tháng 01 năm 2008 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung thông tư số 108/2003/TT-BTC ngày 7/11/2003 Hướng dẫn

cơ chế tài chính áp dụng đối với các dự án xử lý rác thải sinh hoạt và chất thải rắn

- Thông tư số 39/2008/TT-BTC ngày 19 tháng 05 năm 2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn

- Thông tư số 121/2008/TT-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với họat động đầu tư cho quản lý chất thải rắn

- Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ

về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn

- Quyết định số 2149/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050

Trang 29

- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ Quy định

về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Tuy nhiên, các văn bản nêu trên chủ yếu qui định và mới chỉ áp dụng cho

khu vực đô thị Ngoài ra do hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường

vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa tương thích kịp thời với sự phát triển của nền

kinh tế thị trường Các quy định về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải,

chất thải rắn mặc dù đã được Chính phủ ban hành song còn mang tính hình thức Số

kinh phí thu được mới chỉ bằng 1/10 so với tổng kinh phí mà Nhà nước phải chi cho

các dịch vụ thu gom và xử lý chất thải Các chế tài xử phạt vi phạm hành chính còn

quá thấp, chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng còn

lúng túng trong xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, do đó

công tác quản lý rác thải còn nhiều lỏng lẻo[Viện chiến lược chính sách, 2010]

1.2.2.3.2 Tình hình thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam

Hiện nay ở tất cả các thành phố, thị xã trong cả nước đã thành lập các công ty

môi trường đô thị có chức năng thu gom và quản lý rác thải Nhưng hiệu quả của công

việc thu gom, quản lý rác thải còn kém, chỉ đạt từ 30-70% do khối lượng rác phát sinh,

lượng rác thải còn lại được đổ bừa bãi xuống các sông, hồ, ngòi, ao, khu đất trống làm

ô nhiễm môi trường nước và không khí

Tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt tính trung bình cho cả nước chỉ tăng từ

65-71% ( giai đoạn từ 2000 - 2003) Tỷ lệ thu gom trung bình ở các đô thị trên địa bàn toàn

quốc tăng từ 65% năm 2003 lên 72% năm 2004, năm 2008 lên đến 80 – 82% Ở các

thành phố lớn hơn thì tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt cũng cao hơn, và trong năm

2003 tỷ lệ này dao động từ mức thấp nhất là 45% ở Long An đến mức cao nhất là

95% ở thành phố Huế Tính trung bình, các thành phố có dân số lớn hơn 500.000

dân có tỷ lệ thu gom đạt 76% trong khi đó tỷ lệ này lại giảm xuống còn 70% ở các

thành phố có số dân từ 100.000 - 350.000 người [ Cục Bảo vệ Môi trường, 2008]

Đối với khu vực nông thôn, tỷ lệ thu gom đạt trung bình 40 – 55% tăng hơn so với

năm 2003 (20%) Công tác dọn vệ sinh môi trường nông thôn đạt khoảng 60% số xóm

Hiện nay, chỉ có khoảng 30 - 40% số xã ở nông thôn thành lập các tổ dịch vụ thu

Comment [T10]: Nguồn?

Trang 30

gom rác thải, nhưng chủ yếu là các tổ thu gom theo mô hình tự quản Rất ít địa phương thành lập được các HTX dịch vụ môi trường Nếu có, đa số các HTX này lại hình thành theo kiểu tự phát, chưa được sự hỗ trợ nên hoạt động kém hiệu quả và không bền vững

Mặc dù công tác thu gom và vận chuyển CTR ngày càng được chính quyền các địa phương quan tâm nhưng vẫn còn rất nhiều hạn chế Năng lực thu gom và vận chuyển chưa đáp ứng nhu cầu cả về nhân lực và vật lực, mạng lưới thu gom còn yếu và thiếu Bên cạnh đó, do nhận thức chưa cao của người dân trong giữ gìn vệ sinh môi trường nên hiện tượng đổ rác bừa bãi còn diễn ra phổ biến Hầu hết rác thải không được phân loại tại nguồn, được thu gom lẫn lộn và vận chuyển đến bãi chôn lấp

1.2.2.3 Tình hình xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam

a, Phương pháp xử lý CTR sinh hoạt đang được áp dụng tại Việt Nam:

Hiện nay, Việt Nam đang áp dụng một số công nghệ xử lý CTR sinh hoạt sau:

- Công nghệ đốt rác tạo nguồn năng lượng

- Công nghệ chế biến phân hữu cơ

- Công nghệ chế biến khí Biogas

- Công nghệ xử lý nước rác

- Công nghệ tái chế rác thải thành các vật liệu và chế phẩm xây dựng

- Công nghệ tái sử dụng các thành phần có ích trong rác thải

- Chôn lấp CTR hợp vệ sinh

- Ngoài ra còn một số công nghệ khác

Hiện nay dù ở đô thị hay nông thôn Việt Nam thì phương pháp chôn lấp CTR sinh hoạt vẫn là phương pháp phổ biến nhất Tại các đô thị trung bình 1 bãi chôn lấp/1 đô thị, riêng ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có từ 4-5 bãi chôn lấp Ngoài phương pháp chôn lấp, ở các đô thị lớn của Việt Nam đã đầu tư công nghệ xử lý CTR sinh hoạt đa dạng tùy theo đặc điểm đô thị mà mỗi đô thị áp dụng những công nghệ xử lý riêng Như ở TP Vinh – Nghệ An có nhà máy xử lý rác Đông Vinh (TP Vinh - Nghệ An) sử dụng công nghệ Seraphin có công suất từ 80 -

150 tấn/ngày; Nhà máy xử lý rác Thủy Phương (TP Huế - Thừa Thiên Huế) áp

Trang 31

dụng công nghệ ASC, công suất 80 - 150 tấn/ngày, trong đó 85 - 90% rác thải được

chế biến và tái chế, 10 - 15% rác thải chôn lấp, không phát sinh nước rỉ rác [Sở Xây

dựng tỉnh Nam Định, 2010]

b, Hiệu quả xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam

Thống kê hiện nay toàn quốc có 98 bãi chôn lấp chất thải tập trung đang vận

hành nhưng chỉ có 16 bãi thải được coi là chôn lấp hợp vệ sinh (tập trung ở các

thành phố lớn) Các bãi thải còn lại, chất thải rắn phần lớn được chôn lấp rất sơ sài,

có tới 85% bãi chôn lấp của các thành phố, thị xã không hợp vệ sinh Cũng giống

như nhiều nước khác trong khu vực Nam và Đông Nam Á, tiêu huỷ chất thải ở các

bãi rác lộ thiên hoặc các bãi rác có kiểm soát là những hình thức xử lý chủ yếu ở

Việt Nam Theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg, ngày 22/4/2003 của Thủ tướng

Chính phủ, đến năm 2007, trong số 439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm

trọng trên cả nước có 49 bãi rác lộ thiên hoặc các khu chôn lấp vận hành không hợp

vệ sinh có nguy cơ gây rủi ro cho môi trường và sức khoẻ người dân cao Các bãi chôn

lấp rác thải này mới dừng lại ở vai trò là nơi chứa đựng rác thải, nơi đổ rác thải tập trung

Hiện nay, Chính phủ đang rất ưu tiên cho việc xây dựng các hệ thống xử lý

và tiêu huỷ chất thải, bao gồm cả các bãi chôn lấp Tuy nhiên, do thiếu nguồn tài

chính nên hầu hết các bãi chôn lấp hợp vệ sinh đều được xây dựng bằng nguồn vốn

ODA Tự tiêu huỷ là hình thức khá phổ biến ở các vùng không có dịch vụ thu gom

và tiêu huỷ chất thải Các hộ gia đình không được sử dụng các dịch vụ thu gom và

tiêu huỷ chất thải buộc phải áp dụng các biện pháp tiêu huỷ của riêng gia đình mình,

thường là đem đổ bỏ ở các sông, hồ gần nhà họ, hoặc là vứt bừa bãi ven đường gây

nên vấn đề ô nhiễm môi trường nước mặt, nước ngầm, ô nhiễm mùi và có mầm

bệnh trú ngụ có nguy cơ gây dịch bệnh cho người và sinh vật

Bên cạnh phương pháp chôn lấp rác thải không hợp vệ sinh là đốt rác cũng

gây huỷ hoại môi trường một cách nghiêm trọng và có khả năng gây hại cho sức

khoẻ con người do thải ra khí độc hại

Công nghệ chế biến phân hữu cơ mới được áp dụng ở khoảng 9% số đô thị

từ thị xã trở lên, tổng công suất hiện tại khoảng 1.400 tấn/ngày Tuy nhiên, hầu hết

Comment [T11]: Nguồn của tác giả hay tham khảo?

Trang 32

các dự án sử dụng nguồn vốn ODA và công nghệ, thiết bị nhập ngoại chưa phù hợp

với đặc điểm rác không được phân loại tại nguồn như ở ta

Gần đây, đã có một số công nghệ trong nước với nhiều ưu điểm như khả

năng phân loại rác tốt hơn, đặc biệt là đã tái chế, tái sử dụng được phần lớn lượng

chất thải, đáp ứng được các tiêu chuẩn môi trường như công nghệ SERAPHIN,

ANSINH-ASC, MBT-CD.08 với sản phẩm là phân hữu cơ, các sản phẩm nhựa tái

chế và viên nhiên liệu Các công nghệ này đã được triển khai áp dụng tại các nhà

máy xử lý rác ở TP Vinh, TP Huế, Đồng Văn – Hà Nam… bước đầu đạt được

những kết quả nhất định

Các công trình xử lý CTR ở Việt Nam còn manh mún, phân tán theo đơn vị

hành chính nên công tác quản lý chưa hiệu quả, hiệu suất đầu tư cao, hiệu quả sử

dụng thấp, gây lãng phí đất Đối với CTR sinh hoạt tại vùng nông thôn ở Việt Nam

thì chưa áp dụng dây truyền công nghệ vào trong quá trình xử lý mà chủ yếu xử lý

theo phương pháp truyền thống là phương pháp chôn lấp, hiệu quả xử lý chất thải

rắn sinh hoạt còn nhiều yếu kém [Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011]

c, Tình hình quản lý rác thải tại một số tỉnh như sau:

Tại Hà Nội: theo tính toán của Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Môi

trường Đô thị (URENCO), mỗi ngày Hà Nội thải ra khoảng 3.000 tấn rác thải sinh

hoạt, tức một năm có trên dưới một triệu tấn Hiện nay, ngoài URENCO còn có nhiều

đơn vị khác cùng tham gia thu gom rác như Công ty cổ phần Thăng Long, Công ty cổ

phần Tây Đô, Công ty cổ phần Xanh, Hợp tác xã Thành Công nhưng tất cả vẫn

không thể thu gom nổi vì lượng rác thải sinh hoạt đang ngày một tăng nhanh Chính vì

vậy mà tỉ lệ thu gom rác thải sinh hoạt ở các quận nội thành hiện đạt khoảng 95%, còn

các tuyến ngoại thành mới chỉ khoảng 60% Hiện nay, Hà Nội vẫn còn 66% số xã chưa

có nơi chôn lấp hoặc xử lý rác thải Khu vực ngoại thành có 361/435 xã, thị trấn đã

thành lập tổ thu gom rác; trong đó có 148 xã đã tổ chức chuyển rác đi xử lý, chôn lấp

tại bãi rác tập trung của thành phố (đạt tỉ lệ 34%), còn lại vẫn chủ yếu tổ chức chôn lấp

hoặc đổ ra các bãi đất trống công cộng ngay tại địa phương

Comment [T12]: Các thông tin trên được lấy từ nguồn nào?

Trang 33

Tại Cần Thơ: ước tính toàn thành phố thải ra khoảng 650 tấn chất thải rắn sinh

hoạt mỗi ngày, nhưng tỷ lệ thu gom đạt thấp (khoảng 63% vào năm 2008, đến năm

2009 tỷ lệ này nâng lên không đáng kể), lượng rác còn lại được người dân thải vào các

ao, sông, rạch Năng lực quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa bàn các quận nội thành nhìn chung khá tốt; nhưng đối với các quận, huyện ngoại thành (Cờ Đỏ, Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh ) việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt hiệu quả chưa cao

Tại TP Hồ Chí Minh: là một đô thị lớn nên mức độ phát sinh chất thải rắn đô

thị hàng năm tại TP Hồ Chí Minh rất cao Theo số liệu của Sở Tài nguyên - Môi trường, mỗi ngày trên địa bàn TP.HCM đổ ra khoảng 5.800-6.200 tấn rác thải sinh hoạt, 500-700 tấn chất thải rắn công nghiệp, 150-200 tấn chất thải nguy hại, 9-12 tấn chất thải rắn y tế Nguồn chất thải rắn sinh hoạt chiếm tỷ trọng cao nhất, chủ yếu phát sinh từ các nguồn: hộ gia đình, trường học, chợ, nhà hàng, khách sạn [Hoàng Thị

Kim Chi, 2009]

Tại Đồng Nai: hiện nay toàn tỉnh có 4/7 khu xử lý rác thải sinh hoạt đang

trong quá trình triển khai thực hiện đưa vào sử dụng và 03 khu xử lý tập trung liên huyện, liên đô thị đang trong giai đoạn lập dự án đầu tư Theo Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai, tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt ở Đồng Nai mới chỉ đạt 71%, còn 29% rác thải sinh hoạt đang thải ra môi trường chưa được xử lý Trong

đó, tổng khối lượng chất thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn toàn tỉnh khoảng 1.167 tấn/ngày, bao gồm 1.080 tấn chất thải sinh hoạt ngoài khu công nghiệp và 87 tấn rác trong khu công nghiệp Tình trạng xử lý rác thải sinh hoạt gặp nhiều khó khăn do chưa có nhiều bãi chứa rác, không có các điểm trung chuyển rác [Thùy Trang, 2010]

Tại Hưng Yên: Theo thống kê của ngành môi trường tỉnh Hưng Yên, trung

bình mỗi ngày một người dân có 0,5 kg rác thải sinh hoạt, với dân số hiện nay của tỉnh khoảng 1,2 triệu người thì mỗi ngày toàn tỉnh có tới 600 tấn rác Tính đến năm

2009, toàn tỉnh đã quy hoạch được 627 bãi rác thải sinh hoạt quy mô thôn, xã Tuy nhiên, theo thống kê chưa đầy đủ của ngành thì mới chỉ thu gom, xử lý được gần 70%

Trang 34

lượng rác thải Như vậy, mỗi ngày vẫn còn hàng trăm tấn rác thải sinh hoạt bị xả trực

tiếp ra môi trường [ Vi Ngoan, 2009]

1.2.3 Những kinh nghiệm quản lý có thể áp dụng cho tỉnh Nam Định

Qua các kinh nghiệm trong công tác quản lý chất thải rắn trên thế giới và thực

tiễn tại Việt Nam, phương pháp tiếp cận chung của quy hoạch quản lý CTR áp dụng

cho Nam Định cũng cần tuân theo hệ thống quản lý CTR tổng hợp, tích hợp dựa trên

nguyên tắc giảm thiểu tại nguồn, tái sử dụng, tái chế trước khi đến bước loại bỏ chất

thải cuối cùng là chôn lấp

Tại Việt Nam nói chung và tỉnh Nam Định nói riêng công tác thu gom và phân

loại chất thải tại nguồn chưa được thực hiện sâu rộng Rất nhiều địa phương đang

thực hiện thử nghiệm phân loại CTR tại nguồn (một số đô thị lớn) nhằm giảm áp lực

cho việc xử lý rác thải và nâng cao hiệu quả công tác tái chế Vì vậy đây cũng là một

cơ hội đối với Nam Định trong việc thực hiện công tác này

Hơn nữa, để nâng cao năng lực thu gom xử lý chất thải thì mô hình quản lý

chất thải rắn dựa trên công cộng đồng và xã hội hóa quản lý chất thải rắn cũng nên

được khuyến khích áp dụng và nhân rộng trên địa bàn Điều này vừa tạo ra nguồn lực

cho xã hội vừa nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân trong bối cảnh ý

thức bảo vệ môi trường của người dân Việt Nam chưa cao

* Công nghệ xử lý chất thải trong nước

Hiện nay công nghệ Serafin và công nghệ An Sinh – ASC hiện đã được áp

dụng tại Sơn Tây và TP Huế và bước đầu đã đạt được những hiệu quả nhất định trong

công tác tái chế

- Đối với công nghệ Serafin hiện đang trong giai đoạn bắt đầu thử nghiệm tại

khu xử lý rác thải Xuân Sơn Công nghệ này có thể tái chế CTR thành phân vi sinh,

hạt nhựa mà có khả năng tái chế các phế thải xây dựng…thành gạch block sử dụng

trong dải phân cách giao thông giảm lượng chất thải phải chôn lấp

- Đối với công nghệ An Sinh – ASC đã được sử dụng tại Nhà máy xử lý rác

thải Thủy Phương – Thừa Thiên Huế Công nghệ này có thể tái chế chất thải thành

phân vi sinh, hạt nhựa còn lại các chất trơ và phế thải xây dựng vẫn phải chôn lấp

Comment [T13]: Ngoặc vuông

Trang 35

- Chôn lấp chất thải rắn: Chôn lấp là biện pháp xử lý cuối cùng trong quy trình xử lý CTR nói chung Các bãi chôn lấp là nơi tiếp nhận tro xỉ của quá trình đốt rác và các loại rác chưa đủ điều kiện và khả năng tái chế và đốt Đây là phương pháp không thể thiếu dù áp dụng bất kỳ phương pháp xử lý chất thải rắn nào.Ưu điểm của phương pháp này là xử lý được tất cả các loại chất thải rắn kế cả các CTR khác mà những phương pháp khác không xử lý được, linh hoạt trong quá trình sử dụng và chi phí đầu

tư ban đầu thấp

Việc lựa chọn công nghệ tái chế chất thải còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế

và khả năng ứng dụng chất thải của từng địa phương Tuy nhiên việc ứng dụng công nghệ Serafin sẽ giúp cho tỉnh Nam Định giảm diện tích, áp lực cho các khu xử lý CTR cho tỉnh đặc biệt là trong việc tìm vị trí và quỹ đất dành cho các bãi chôn lấp

*Công nghệ xử lý chất thải rắn nước ngoài:

- Công nghệ khí hóa Plasma biến rác thải thành điện năng đây là công nghệ xử

lý rác thải hiện đang được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới Công nghệ xử lý Plasma an toàn cao cho môi trường, không khói độc hại và các chất lắng cặn độc hại như các lò đốt rác thông thường Tuy nhiên công nghệ này cũng thải ra các khí như

NOx, SOx tuy có thấp hơn các lò đốt khác nhưng cũng cần phải quan tâm xử lý Vì là công nghệ sạch nên việc đầu tư cho việc xử lý một tấn rác tương đối cao, chi phĩ vận hành cao

- Công nghệ đốt chất thải thu năng lượng của Singapore cũng là một công nghệ cần được quan tâm áp dụng tại tỉnh Nam Định Ưu điểm của công nghệ này là

có thể xử lý được nhiều loại chất thải như chất thải rắn sinh hoạt, CTR công nghiệp không nguy hại, bùn cặn đặc quánh.Sản phẩm của quá trình xử lý này là khôi phục, tái tạo năng lượng thông qua quá trình chuyển đổi năng lượng đốt thành điện năng Mặt khác, tro của quá trình xử lý cũng được tận dụng để làm vật liệu xây dựng Tuy nhiên chi phí vận hành cao vì đây là công nghệ sạch

Vì vậy để lựa chọn công nghệ phù hợp với điều kiện và nguồn lực của tỉnh Nam Định nói chung và huyện Trực Ninh nói riêng thì những công nghệ trong nước

sẽ phù hợp hơn vì chi phí lắp đặt và vận hành thấp so với những công nghệ nhập

Trang 36

khẩu sẽ mang tính khả thi cao hơn Tuy nhiên nếu huy động được sự hỗ trợ từ các tổ chức trong và ngoài nước thì việc áp dụng công nghệ hiện đại hoàn toàn có thể áp dụng tại tỉnh Nam Định

1.2.4 Tình hình quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt tại tỉnh Nam Định

Tỉnh Nam Định có 10 huyện, thành phố với 229 xã, phường và thị trấn (trong

đó thành phố Nam Định gồm 25 xã, phường):

Đối với khu vực thành phố, rác thải sinh hoạt được Công ty TNHH Một thành viên môi trường Nam Định chịu trách nhiệm thu gom vận chuyển về xử lý tại Khu liên hợp xử lý rác thải thành phố Nam Định (Làng Man, xã Lộc Hòa, thành phố Nam Định)

Đối với 204 xã, thị trấn còn lại của 09 huyện thì việc thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt chủ yếu UBND các xã, thị trấn chỉ đạo các Hợp tác xã thành lập các đội thu gom, vận chuyển rác thải đến các bãi rác tập trung và tự thu phí để hoạt động Theo kết quả điều tra năm 2010 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định thì có 168/204 xã, thị trấn có hoạt động thu gom rác thải, lượng rác thải phát sinh 365,9 tấn/ngày, ước tính tỷ lệ thu gom rác thải đạt khoảng 60%

Theo báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Nam Định năm 2010, tổng khối lượng CTR phát sinh trên địa bàn tỉnh Nam Định là 1.816.683 tấn/năm (4.977 tấn/ngày) Trong đó:

- CTR sinh hoạt là 1.020,99 tấn/ngày chiếm 20,51%

- CTR công nghiệp là 136,10 tấn/ngày, chiếm 2,73%

- CTR làng nghề là 62 tấn/ngày, chiếm 1,25%

- CTR y tế là 3,47 tấn/ngày, chiếm 0,07%

- Phụ phẩm nông nghiệp là 843,66 tấn/ngày, chiếm 16,95%

- CTR chăn nuôi là 2.911 tấn/ngày, chiếm 58,49%

Tổng lượng CTR sinh hoạt phát sinh toàn tỉnh Nam Định năm 2010 ước tính khoảng 372.660 tấn/năm, trong đó:

- CTR sinh hoạt khu dân cư là 283.023 tấn/năm, chiếm 75,95% Trong đó khu vực nông thôn 194.687 tấn/năm, khu vực đô thị 88.337 tấn/năm

Trang 37

- CTR sinh hoạt khu vực dịch vụ thương mại: 56.605 tấn/năm, chiếm 15,19%

- CTR sinh hoạt khu vực cơ quan trường học: 33.032 tấn/năm, chiếm 8,86% Theo số liệu báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường tổng hợp năm 2010: Từ năm 2007 đến năm 2010, UBND tỉnh Nam Định đã hỗ trợ 115 xã, thị trấn xây dựng

120 bãi chôn lấp xử lý rác thải hợp vệ sinh (trong đó có 04 xã vùng đệm huyện Giao Thủy được hỗ trợ xây dựng bãi rác tập trung từ nguồn vốn của dự án bảo vệ môi trường vùng đệm Vườn Quốc gia Xuân Thủy ) trong đó có 116 bãi chôn lấp tại 111

xã, thị trấn được tỉnh hỗ trợ kinh phí sự nghiệp môi trường xây dựng công trình bãi chôn lấp xử lý rác thải hợp vệ sinh (không tính 04 bãi rác thuộc 04 xã vùng đệm Vườn Quốc gia Xuân Thủy) Trong đó:

- Có 50 công trình bãi chôn lấp xử lý rác thải hợp vệ sinh (chiếm khoảng 44%)

đã xây dựng xong và đưa vào vận hành Trong đó 21 công trình chủ đầu tư đã thực hiện thủ tục thanh quyết toán

- 45 công trình (chiếm khoảng 39%) đang trong giai đoạn xây dựng, hoàn thiện các hạng mục công trình

- 20 công trình chủ đầu tư đang hoàn thiện thủ tục dự án, chưa tiến hành xây dựng, đang tìm vị trí phù hợp để xây dựng hoặc đang thống nhất với nhân dân địa phương về trí xây dựng bãi chôn lấp rác

- Tổng quy mô các bãi chôn lấp xử lý rác thải nông thôn theo quy hoạch là 973.766 m2, quy mô bãi chôn lấp xử lý rác thải theo xây dựng là 759.179 m2

- Tổng mức đầu tư là 193.969.394.700 đồng

Nhìn chung, các công trình bãi chôn lấp rác thải quy mô cấp xã được tỉnh hỗ trợ đầu tư kinh phí xây dựng đã giúp thu gom phần lớn lượng rác thải phát sinh tại khu vực nông thôn Tuy nhiên việc phân loại rác tại bãi chôn lấp hầu như chưa được thực hiện; việc đầm nén rác, hay phủ đất trên rác, phun chế phẩm EM để tăng cường khả năng phân hủy rác thải, giảm mùi hôi thối, hạn chế động vật sống ký sinh tại bãi rác chưa được thực hiện thường xuyên nên việc xử lý rác thải tại các bãi chôn lấp này còn chưa đạt được hiệu quả

Huyện Trực Ninh được UBND tỉnh Nam Định hỗ trợ đầu tư và xây dựng 13 bãi chôn lấp rác thải tập trung ở 21 xã, thị trấn; trong đó xã Trung Đông có 03 bãi chôn lấp rác thải và được coi là mô hình điểm về thu gom rác thải trên địa bàn toàn huyện tuy nhiên tình trạng rác thải đổ bừa bãi ra khu vực công cộng đang diễn ra phổ

Trang 38

biến, vấn đề rác thải đang trở thành vấn đề nhức nhối, bức xúc của huyện Trực Ninh

hiện nay [Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định, 2013] Comment [T14]: Nguồn của các thông tin này?

Trang 39

CHƯƠNG II ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu được chọn thực hiện đề tài nghiên cứu là huyện Trực

Ninh, tỉnh Nam Định (xem tại hình 2)

2.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định

Huyện Trực Ninh là một huyện nằm phía Đông Nam của tỉnh Nam Định với

ện tích tự nhiên là 14.318,96 ha, dân số 176.173 người gồm 21 đơn vị hành chính

trực thuộc gồm 19 xã và 02 thị trấn: Trực Thắng, Trực Đại, Trực Thái, Trực Cường,

Trực Phú, Trực Hùng, Trực Nội, Trực Hưng, Trực Khang, Trực Mỹ, Trực Thuận,

Trực Thanh, Trực Đạo, Trực Tuấn, Phương Định, Trung Đông, Trực Chính, Liêm

Hải, Việt Hùng và thị trấn Cát Thành, thị trấn Cổ Lễ

Vị trí địa lý của huyện Trực Ninh:

Phía Bắc giáp tỉnh Thái Bình,

Phía Nam giáp huyện Hải Hậu,

Phía Đông giáp huyện Xuân Trường với sông Ninh Cơ,

Phía Tây giáp huyện Nam Trực, Nghĩa Hưng

Trực Ninh có 09 làng nghề với nhiều ngành nghề truyền thống như làng nghề

ươm tơ Cổ Chất, làng nghề dệt tẩy nhuộm Cự Trữ (xã Phương Định); làng nghề đan

cót (xã Trực Thanh); làng nghề thêu ren xuất khẩu, làng nghề mây tre đan (xã Trung

Đông); làng nghề gai, lưới, vó (xã Trực Đạo) và làng nghề dệt khăn (xã Trực

Chính) [UBND huyện Trực Ninh, 2013]

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định

+ Tăng trưởng kinh tế:

- Nông nghiệp: Trong năm 2013, hoạt động sản xuất của huyện Trực Ninh đạt

sản lượng lúa 99.809 tấn/năm, sản lượng lúa bình quân đầu người đạt 574 kg/người

Đời sống nhân dân từng bước cải thiện và ngày càng nâng cao Năm 2013, diện tích

nuôi trồng thủy sản của huyện Trực Ninh là 1.057 ha Ngành chăn nuôi giữ vai trò

Comment [T15]: Bạn nên có bản đồ thể hiện vị trí địa điềm nghiên cứu trong khu vực Bắc Bộ (và Nam Định)

Trang 40

chủ đạo trong nông nghiệp trong đó huyện đẩy mạnh phát triển các mô hình trang trại, gia trại quy mô lớn

- Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp: Cơ cấu ngành công nghiệp đa dạng bao

gồm: dệt may, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp cơ khí sửa chữa, công nghiệp chế biến lượng thực, nông, lâm, hải sản, đang góp phần tạo bước phát triển vững chắc cho ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Toàn huyện có 03 Cụm công nghiệp (CCN) là CCN thị trấn Cổ Lễ, CCN thị trấn Cát Thành và CCN xã Trực Hùng đồng thời hình thành vùng kinh tế ven sông Hồng, sông Ninh Cơ Huyện Trực Ninh có khoảng 246 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân [UBND huyện Trực Ninh, 2013]

+ Hệ thống giao thông:

- Đường bộ: Hệ thống giao thông đường bộ của huyện Trực Ninh tương đối

phát triển có tỉnh lộ 490C, tỉnh lộ 486B, quốc lộ 21 và các tuyến đường nhựa liên xã

Hệ thống đường bê tông, đường xá liên xóm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đi lại của nhân dân trong huyện và giao lưu kinh tế, trao đổi hàng hóa với bên ngoài

- Đường thủy: Sông Hồng và sông Ninh Cơ là 2 tuyến giao thông đường thủy

quan trọng có thể thông thương ra biển, đi các tỉnh thành trong cả nước

Những nền tảng cơ bản nêu trên tạo điều kiện thuận lợi để Trực Ninh phát triển ngành vận tải đường bộ và đường thủy, mở rộng giao lưu kinh tế, phát triển thương mại, dịch vụ

+ Điều kiện văn hóa – xã hội

Lĩnh vực văn hóa xã hội của huyện có nhiều khởi sắc Hệ thống giáo dục đào tạo phát triển mạnh, có thể đào tạo cung cấp nguồn nhân lực có trình độ học vấn, kỹ thuật và tay nghề đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước; hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở được xây dựng và củng cố vững chắc, quốc phòng, an ninh được đảm bảo là những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội

* Về dân số

Dân số của huyện năm 2013 là 177.105 người, trong đó 88.395 nam, 88.710

nữ Mật độ dân số là 1.234 người/km2

Ngày đăng: 05/06/2020, 23:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w