LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ Quản lý di sản văn hóa làng của người Mường tỉnh Hòa Bình với phát triển du lịch Trường hợp xóm Mỗ 2, xã Bình Thanh, huyện Cao Phong và xóm
Trang 1Đỗ Thị Thanh Hương
QUÂN LÝ DI SÂN VĂN HOÁ LÀNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG
TỈNH HÒA BÌNH VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
(TRƯỜNG HỢP XÓM MỖ 2, XÃ BÌNH THANH, HUYỆN CAO PHONG
VÀ XÓM ÂI, XÃ PHONG PHÚ, HUYỆN TÅN LÄC)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội - 2018
Trang 2Đỗ Thị Thanh Hương
QUÂN LÝ DI SÂN VĂN HOÁ LÀNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG
TỈNH HÒA BÌNH VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
(TRƯỜNG HỢP XÓM MỖ 2, XÃ BÌNH THANH, HUYỆN CAO PHONG
VÀ XÓM ÂI, XÃ PHONG PHÚ, HUYỆN TÅN LÄC)
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 93 19 042
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1 GS.TS Nguyễn Chí Bền
2 PGS.TS Phạm Lan Oanh
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ Quản lý di sản văn hóa làng của người
Mường tỉnh Hòa Bình với phát triển du lịch (Trường hợp xóm Mỗ 2, xã Bình Thanh, huyện Cao Phong và xóm Ải xã Phong Phú, huyện Tân Lạc) là công trình
nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn và kết quả nêu trong luận án là trung thực và có xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận án
Đỗ Thị Thanh Hương
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ 4
MỞ ĐẦU 5
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 14
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 14
1.2 Khái quát về đối tượng nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu 25
1.3 Cơ sở lý luận về quản lý di sản văn hóa làng 30
1.4 Phát triển du lịch 37
Chương 2: DI SẢN VĂN HÓA LÀNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG TẠI XÓM MỖ 2 VÀ XÓM ẢI 50
2.1 Di sản văn hóa vật thể 50
2.2 Di sản văn hóa phi vật thể 62
Tiểu kết 72
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA LÀNG VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở XÓM MỖ 2 VÀ XÓM ẢI 73
3.1 Thực trạng khai thác giá trị di sản văn hóa phục vụ cho phát triển du lịch ở xóm Mỗ 2 và xóm Ải 73
3.2 Thực trạng quản lý di sản văn hóa làng 83
3.3 Đánh giá chung 105
3.4 Những vấn đề đặt ra đối với quản lý di sản văn hóa và phát triển du lịch 109
Tiểu kết 113
Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA LÀNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH 114
4.1 Định hướng chung trong quản lý di sản văn hóa và phát triển du lịch 114
4.2 Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý di sản văn hóa làng của người Mường ở Hòa Bình 120
Tiểu kết 137
KẾT LUẬN 138
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 142
TÀI LIỆU THAM KHẢO 143
PHỤ LỤC 153
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
3 Bảng 3.3: Ý kiến người dân xóm Ải về hiện trạng văn hoá của dân tộc 91
4 Bảng 3.4: Ý kiến người dân xóm Mỗ 2 về hiện trạng văn hoá của dân tộc 92
7 Biểu đồ 3.3: Đánh giá về tình hình phát triển du lịch ở xóm Mỗ 2 trong
9 Biểu đồ 3.5: Lý do dạy cho con cháu tục lệ dân tộc
của người Mường xóm Ải
95
10 Biểu đồ 3.6: Lý do dạy cho con cháu tục lệ dân tộc
của người Mường xóm Mỗ 2
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đối với bất cứ quốc gia nào trên thế giới, di sản văn hóa luôn là một bộ phận quan trọng và không thể thiếu đối với sự phát triển xã hội Di sản văn hóa chính là bằng chứng sống động nhất để minh chứng cho trí tuệ, cho đời sống tinh thần vô cùng phong phú của con người
Di sản văn hóa là tài sản của quá khứ được lưu truyền trong hiện tại và tiếp nối ở tương lai Di sản văn hóa luôn vận động và biến đổi không ngừng trong đời sống xã hội Điều đó đã đặt ra những thách thức lớn cũng như những nhiệm vụ cấp thiết cho công tác quản lý di sản văn hóa ở tất cả các địa phương trên cả nước Trải qua thời gian, nhiều DSVH đã bị tàn phá, xuống cấp Do đó, việc bảo tồn, phát huy, quảng bá và nâng tầm giá trị của các di sản là yêu cầu mang tính cấp thiết của tiến trình hội nhập
Song song với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
là tiến trình hội nhập sâu rộng và mạnh mẽ trên tất cả mọi bình diện Điều đó cũng tác động nhanh chóng đến mọi mặt của đời sống xã hội mà trước hết là đến văn hóa dân tộc Trong tình hình ấy, công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống càng trở nên quan trọng hơn
Có nhiều phương thức để phát huy giá trị của DSVH, song du lịch được xem
là một trong những phương thức phù hợp, có hiệu quả Do vậy, thông qua hoạt động xúc tiến quảng bá DL và đặc biệt các hoạt động nghiệp vụ du lịch mà du khách có
cơ hội được tận mắt nhìn thấy và hiểu hơn về giá trị các di sản văn hóa tại các điểm
du lịch DL có khả năng đem lại cho du khách những hiểu biết sống động về giá trị DSVH Từ những hiểu biết đó, giá trị DSVH sẽ được lan tỏa đến người thân, bạn bè của họ Do vậy, DL được xem là một trong những cách thức hiệu quả nhất trong bảo tồn và phát huy giá trị DSVH
Hòa Bình là vùng đất chứa đựng nhiều giá trị văn hóa độc đáo của các tộc người như: Mường, Dao, Thái, Mông , trong đó, nổi bật hơn cả là những giá trị văn hóa của cộng đồng cư dân Mường Hòa Bình cũng là địa phương tập trung đông
Trang 8nhất người Mường trên cả nước Những giá trị ấy văn hóa truyền thống của người Mường qua thời gian đã lắng đọng và biểu hiện trong không gian văn hóa làng của người Mường, đó là một phần quan trọng không thể bỏ qua khi nghiên cứu về mảnh đất và con người Hòa Bình Từ xa xưa, người Mường thường sống tụ cư thành các làng, xóm ở vùng trung du, quanh chân thấp của những sườn núi, sườn đồi bao bọc các thung lũng Với lịch sử sinh sống lâu đời ở Hòa Bình, người Mường đã sáng tạo
ra một kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng phong phú và đặc sắc gồm nhà cửa, công cụ sản xuất, phong tục tập quán, tín ngưỡng, văn hóa ẩm thực, diễn xướng dân gian,… Trước những tác động của hội nhập và kinh tế thị trường, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của người Mường ở Hòa Bình đã biến đổi, di sản văn hóa có nguy cơ bị mai một, biến dạng và mất đi Cũng chính vì vậy mà nhiều di sản văn hóa của người Mường đang đứng trước những thách thức lớn lao
Quản lý văn hóa ở các cộng đồng dân tộc miền núi phía Bắc nói chung và người Mường ở Hòa Bình nói riêng đang nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp Xu hướng gắn kết giữa bảo tồn di sản văn hóa và phát triển du lịch là tất yếu Song, nhiệm vụ của các nhà quản lý văn hóa là phải xây dựng những giải pháp điều tiết và giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa mục tiêu quan trọng
về kinh tế và văn hóa và các mục tiêu khác Phát triển DL văn hóa, bên cạnh ý nghĩa
về kinh tế - xã hội, sẽ mở ra cơ hội có được nguồn lực vật chất cho quản lý DSVH; nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc như một tài sản phục vụ DL và tăng cường khả năng phát huy những giá trị di sản văn hóa cộng đồng đến với xã hội thông qua khách DL
Phát triển DL Hòa Bình một mặt góp phần quan trọng vào thực hiện các mục tiêu chiến lược quốc gia về phát triển DL, là điều kiện để nâng cao hiệu quả quản lý DSVH ở Hòa Bình Mặt khác, việc thực hiện có hiệu quả hoạt động quản lý DSVH làng Mường mà điển hình là ở xóm Mỗ 2 và xóm Ải sẽ góp phần tích cực tạo nền tảng và điều kiện cho phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng
Nhìn từ góc độ quản lý, bản thân nghiên cứu sinh nhận thấy sẽ là quá muộn nếu các cơ quan chức năng không xây dựng những chính sách phù hợp đối với công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa của người Mường, để khơi dậy
Trang 9niềm tự hào của các thế hệ con cháu người Mường Hòa Bình về các di sản do cha ông để lại Để làm được điều đó cần phải có sự vào cuộc không chỉ của chính quyền, cơ quan chức năng mà cần sự quan tâm, chung sức của cả cộng đồng Hiệu quả trong quản lý DSVH làng của người Mường ở Hòa Bình phụ thuộc vào cơ chế phối hợp giữa nhà nước và cộng đồng
Nhận thức được tầm quan trọng của quản lý DSVH làng Mường với phát triển
du lịch ở Hòa Bình, nhưng trong thực tiễn quá trình phát triển, công tác quản lý DSVH làng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Đây là gợi mở cho các nhà nghiên cứu trong việc tìm ra những phương án tối ưu hơn trong quản lý DSVH Nghiên cứu sinh
thực hiện luận án: Quản lý di sản văn hoá làng của người Mường tỉnh Hòa Bình với phát triển du lịch (trường hợp xóm Mỗ 2, xã Bình Thanh, huyện Cao Phong và xóm Ải,
xã Phong Phú, huyện Tân Lạc) mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý di sản
văn hóa làng của người Mường trong bối cảnh phát triển du lịch ở địa phương
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là nhằm góp phần vào nỗ lực quản lý
DSVH làng của người Mường ở xóm Mỗ 2, xóm Ải nói riêng, người Mường ở tỉnh Hòa Bình nói chung trong bối cảnh phát triển DL ở địa phương
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý di sản văn hóa làng gắn với phát triển
- Đề xuất giải pháp quản lý có hiệu quả di sản văn hóa làng của người Mường ở Hòa Bình với phát triển du lịch
Trang 103 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu, khảo sát, phân tích thực trạng quản lý di sản văn hóa làng của người Mường với phát triển du lịch thông qua 2 trường hợp đại diện là xóm Mỗ 2, xã Bình Thanh, huyện Cao Phong và xóm Ải, xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình
- Làm rõ thực trạng quản lý di sản văn hóa làng của người Mường với phát triển du lịch hiện nay
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di sản văn hóa làng của người Mường với phát triển du lịch hiện nay
3.2.2 Phạm vi không gian
Huyện Cao Phong và huyện Tân Lạc là quê hương của hai vùng mường cổ Mường Bi và Mường Thàng Luận án lựa chọn xóm Ải, xã Phong Phú, huyện Tân Lạc và xóm Mỗ 2, xã Bình Thanh, huyện Cao Phong là địa điểm nghiên cứu chính vì:
- Đây là hai xóm mà người Mường tập trung sinh sống chiếm tỉ lệ cao
- Là điểm đến có nhiều lợi thế về cảnh quan làng Mường và là nơi còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa truyền thống độc đáo của người Mường
- Có nhiều tiềm năng để phát triển loại hình du lịch văn hóa
Ngoài ra, trong điều kiện có thể, luận án mở rộng phạm vi nghiên cứu đến các xóm khác trên địa bàn tỉnh và địa bàn khác ngoài tỉnh Hòa Bình, nơi có người Mường sinh sống với những điểm tương đồng và khác biệt
Trang 113.2.3 Phạm vi thời gian
Nghiên cứu thực trạng quản lý di sản văn hóa làng của người Mường ở Hòa Bình qua nghiên cứu trường hợp xóm Ải, xã Phong Phú, huyện Tân Lạc và xóm Mỗ
2, xã Bình Thanh, huyện Cao Phong từ giai đoạn năm 2008 – thời điểm sáp nhập
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và sáp nhập Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hòa Bình đến nay (năm 2016)
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Từ những nghiên cứu về quản lý di sản và thực trạng quản lý di sản văn hóa làng gắn với phát triển du lịch ở xóm Mỗ 2, xã Bình Thanh, huyện Cao Phong và xóm Ải, xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, có thể áp dụng vào điều kiện các xóm khác của người Mường ở tỉnh Hòa Bình
Tư liệu của luận án sẽ giúp các nhà quản lý văn hóa, nhà hoạch định chính sách đưa ra những chính sách phù hợp cho sự phát triển mà vẫn bảo tồn, giữ gìn được các giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh hiện nay
Luận án có thể là tài liệu tham khảo cho sinh viên các chuyên ngành như: Quản lý văn hóa, văn hóa du lịch, … ở các trường đại học, cao đẳng
5 Câu hỏi nghiên cứu
Xuất phát từ việc vận dụng quan điểm lý thuyết về quản lý DSVH của người
Mường ở Hòa Bình với phát triển du lịch, đề tài đưa ra những câu hỏi nghiên cứu chính cần được lý giải và làm sáng tỏ bao gồm:
Trang 12- Tại sao việc quản lý DSVH làng của người Mường lại trở nên cấp thiết?
- Giá trị DSVH làng của người Mường có vai trò như thế nào đối với phát triển du lịch ở xóm Ải và xóm Mỗ 2 – hai điểm du lịch cộng đồng tiêu biểu của người Mường ở tỉnh Hòa Bình?
- Làm thế nào để hoạt động quản lý DSVH làng người Mường trở nên hiệu quả hơn khi gắn với phát triển du lịch
Viê ̣c thực hiê ̣n luâ ̣n án chính là nỗ lực để trả lời các câu hỏi nghiên cứu đă ̣t ra trên đây Những kết quả đa ̣t được sẽ góp phần hoàn thiê ̣n hơn những vấn đề lý luâ ̣n ,
đă ̣c biệt là thực tiễn về quản lý DSVH tộc người nói chung và quản lý DSVH của người Mường ở Hòa Bình nói riêng
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận và lý thuyết nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nhìn nhận đối tượng nghiên cứu Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử giúp tác giả nhìn nhận DSVH của người Mường ở xóm Mỗ 2, xã Bình Thanh, huyện Cao Phong và xóm Ải, xã Phong Phú, huyện Tân Lạc như kết quả của một quá trình lịch sử, trong xu thế vận động, đang được tiếp tục bổ sung hoàn thiện trong đời sống Nghiên cứu còn được thực hiện dựa trên nền tảng Tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về văn hóa, du lịch, chính sách dân tộc, Quản lý di sản văn hóa và du lịch
Đề tài luận án rất coi trọng việc tiếp cận lý thuyết quản lý di sản văn hóa của các học giả trong và ngoài nước, kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước Những lý thuyết cơ bản được áp du ̣ng trong nghiên cứu bao gồm : 1) Lý thuyết về bảo tồn dựa trên quan điểm “Bảo tồn đô ̣ng” được đa số các nhà nghiên cứu, các học giả thừa nhận , theo đó hoa ̣t đô ̣ng bảo tồn di sản chỉ có thể có hiê ̣u quả khi đươ ̣c đă ̣t trong mối quan hê ̣ biê ̣n chứng với p hát huy giá trị di sản; 2) Lý thuyết
hê ̣ thống, theo đó “Bảo tồn” và “Phát huy” được xem là các thành phần cơ bản của quản lý di sản, có mối tương tác với phát triển du lịch , từ lý thuyết đó cho thấy mối quan hê ̣ biê ̣n chứng giữ a quản lý di sản văn hóa với phát triển DL ; và 3) Lý thuyết
Trang 13về cân bằng tổng thể , theo đó lợi ích của các bên tham gia vào hoa ̣t đô ̣ng quản lý di sản văn hoá gắn với phát triển DL phải được cân bằng để hướng đến sự phát tri ển bền vững
Quy trình nghiên cứu quản lý DSVH làng của người Mường với phát triển
DL ở xóm Mỗ 2 và xóm Ải được đưa ra trên cơ sở tư duy logic và hê ̣ thống để giải quyết các nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu và được thể hiện trong sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 1.1 Khung nghiên cứu quản lý DSVH làng của người Mường
với phát triển du lịch
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp tiếp cận liên ngành
Đây là đề tài nghiên cứu liên quan đến nhiều lĩnh vực như văn hóa, di sản, du lịch Trong quá trình nghiên cứu, NCS vận dụng triệt để cách tiếp cận liên ngành văn hóa học, xã hội học, quản lý văn hóa, văn hóa dân gian, sử học, dân tộc học, du lịch học để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Đặc biệt, hướng tiếp cận của khoa học quản lý văn hóa sẽ được vận dụng để giải quyết các nội dung nghiên cứu
6.2.2 Phương pháp điền dã dân tộc học: Thâm nhập thực tế, quan sát tham
dự, ghi chép và đánh giá về các thành tố của di sản văn hóa làng của người Mường
ở Hòa Bình thông qua nghiên cứu trường hợp xóm Mỗ 2, xã Bình Thanh, huyện Cao Phong và xóm Ải, xã Phong Phú, huyện Tân Lạc
ở xóm Ải và xóm
Mỗ 2
Tác động của hội nhập
Tác động của phát triển KT-XH
Xác định nguyên nhân của thực trạng
và những vấn đề đặt
ra
Định hướng
và giải pháp Quản lý DSVH làng của người Mường
Giá trị DSVH làng của người Mường ở Hòa Bình
Trang 146.2.3 Phương pháp so sánh: So sánh đối chiếu văn hóa truyền thống của
người Mường xưa và nay Từ đó, nhận diện biến đổi của di sản văn hóa làng của người Mường do tác động của phát triển du lịch; so sánh làm rõ sự tương đồng và khác biệt giữa hai trường hợp nghiên cứu với các xóm khác trên địa bàn tỉnh
6.2.4 Phương pháp điều tra xã hội học: Đây là phương pháp quan trọng của
đề tài nhằm xác định và nắm bắt những vấn đề đặt ra đối với hoạt động quản lý di sản và phát triển du lịch ở xóm Mỗ 2 và xóm Ải, thông qua phỏng vấn và điều tra bằng hệ thống bảng hỏi đối với các đối tượng liên quan đến những hoạt động này Chương trình điều tra bằng bảng hỏi được thực hiện cụ thể như sau:
- Số lượng phiếu điều tra: xóm Ải, xã Phong Phú, huyện Tân Lạc: 200 phiếu; xóm Mỗ 2, xã Bình Thanh, huyện Cao Phong: 200 phiếu
- Cách thức thu thập dữ liệu: phần lớn phiếu điều tra được trực tiếp đến các
hộ gia đình trong hai xóm trên để giải thích và phỏng vấn cộng đồng theo từng nội dung trong phiếu điều tra Số phiếu chưa làm xong, nghiên cứu sinh gửi để họ cung cấp thông tin và sau đó đến thu lại để phân tích, thống kê Những kết quả thống kê
là cơ sở đưa ra những đánh giá liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài
Ngoài phương thức điều tra xã hội học thông qua phiếu điều tra , nghiên cứu sinh còn tiến hành lựa chọn phỏng vấn sâu mô ̣t số đối tượng tham gia vào hoa ̣t đô ̣ng quản lý di sản văn hóa và du lịch như: cộng đồng, khách du lịch, doanh nghiệp du lịch, cán bộ quản lý văn hóa
6.2.5 Phương pháp thống kê: Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến
khi nghiên cứu những vấn đề mang tính định lượng như đánh giá hiện trạng phát triển DL Trong trườ ng hơ ̣p cu ̣ thể , phương pháp này được sử dụng để xử lý các số liê ̣u từ các phiếu điều tra liên quan đến viê ̣c đánh giá giá tri ̣ DSVH c ủa người Mường ở xóm Mỗ 2, xã Bình Thanh, huyện Cao Phong và xóm Ải, xã Phong Phú, huyện Tân Lạc;
6.2.6 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Bao gồm việc thu thập, xử lý
thông tin từ nguồn thứ cấp (sách báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã công bố, các phương tiện truyền thông) Việc thu thập thông tin giúp NCS sẽ kiểm chứng và khẳng định những kết luận hay đề xuất, khuyến nghị là những kết quả của nghiên cứu
Trang 156.2.7 Phương pháp nghiên cứu trường hợp
Trên thực tế ở tỉnh Hòa Bình, người Mường cư trú ở khắp các huyện, thành phố trong tỉnh Tuy nhiên, tác giả luận án lựa chọn hai xóm là xóm Mỗ 2 và xóm Ải thuộc hai huyện Cao Phong và Tân Lạc với những lý do cụ thể sau:
- Hiện nay, mật độ người Mường ở hai xóm vẫn còn chiếm tỉ lệ cao (gần 90%)
- Những thành tố văn hóa làng của người Mường ở đây còn được bảo lưu tốt
- Đây là hai điểm du lịch của người Mường ở Hòa Bình đang ngày càng được nhiều du khách biết đến
- Hai xóm đã được nằm trong quy hoạch khai thác du lịch của tỉnh
Phương pháp nghiên cứu trường hợp sẽ được áp dụng trong nghiên cứu để từ
đó có thể nhìn rộng ra bối cảnh phát triển du lịch tộc người của tỉnh Hòa Bình
Chương 2: Di sản văn hóa Mường tại xóm Mỗ 2 và xóm Ải (23 trang)
Chương 3: Thực trạng quản lý di sản văn hóa Mường với phát triển du lịch ở xóm Mỗ 2 và xóm Ải (42 trang)
Chương 4: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di sản văn hóa Mường với phát triển du lịch ( 24 trang)
Trang 16
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ĐỐI TƯỢNG
NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Những công trình nghiên cứu chung về người Mường và văn hóa làng Mường
Trong số các công trình mang tính chất tiền đề về nghiên cứu văn hóa của
người Mường ở Hòa Bình, phải kể tới cuốn La province Muong de Hoa Binh [88] của
tác giả Piere Grossin, Nxb Revue Indochinoise ấn hành năm 1926 và được Lê Gia
Hội dịch với nhan đề Tỉnh Mường Hòa Bình Đây là công trình mang tính chất khảo
cứu về người Mường, bao gồm hai phần: sử biên niên của tỉnh Hòa Bình thời Pháp thuộc và những truyền thuyết dân gian Bằng nguồn cứ liệu phong phú cùng với những khảo sát thực tế kỹ lưỡng, bằng lời văn khúc chiết, tác giả hầu như đã giới thiệu tất cả những gì liên quan đến vùng đất Mường nằm ở cửa ngõ Tây Bắc Việt Nam Tác giả đã đề cập tới nhiều vấn đề như lịch sử hình thành tỉnh Mường, những vấn đề về dân tộc học đến đời sống kinh tế, văn hóa của bà con các dân tộc sống trên mảnh đất này, từ những gì thuộc về tiềm năng đến những dự đoán tương lai
Công trình Tỉnh Mường Hòa Bình chứa đựng nguồn tư liệu vô cùng bổ ích
đối với các nhà nghiên cứu về lịch sử, địa lý, dân tộc học, về kinh tế và văn hóa Không thể phủ nhận những đóng góp có giá trị mà tác giả Piere Grossin đã nêu trong cuốn sách Song, nếu như phần Biên niên sử của tỉnh và nguồn gốc, tổ chức, quyền lực của quan lang đã được tác giả nêu lên rất chi tiết, đầy đủ thì sang đến phần nghiên cứu về các phong tục của người Mường, tác giả mới chỉ dừng ở việc khảo tả mà chưa có những phân tích sâu về các phong tục ấy
Việc nghiên cứu về người Mường và văn hóa Mường đã thực sự được ghi
dấu ấn với công trình nghiên cứu tiêu biểu Les Mu'ò'ng Géographie humaine et sociologie của Jeanne Cuisinier, xuất bản năm 1948 tại Pari Đến năm 2007, công trình này đã được dịch và xuất bản với tên gọi Người Mường địa lý nhân văn và xã hội học [35] Cuốn sách là kết quả của của những nghiên cứu toàn diện và sâu sắc
Trang 17về dân tộc Mường ở Việt Nam Đây là công trình được các học giả đánh giá rất cao
Với hai nội dung lớn là địa lý học nhân văn và xã hội học, tác giả đã đi sâu nghiên
cứu về các mặt của đời sống xã hội Mường từ những đặc trưng địa lý học của khu vực cư trú người Mường, sự phân chia các mường, đến các phong tục tập quán, ẩm thực, tín ngưỡng…
Năm 1972, cuốn sách Góp phần tìm hiểu tỉnh Hòa Bình [64] do tác giả Bùi
Văn Kín chủ biên được ra đời theo chủ trương của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hòa Bình Đây là công trình khoa học được xem là cuốn bách khoa toàn thư đầu tiên của tỉnh Hòa Bình về địa lý, nhân văn Công trình gồm hai phần chính: Phần thứ nhất giới thiệu về địa lý tự nhiên, nhân văn, truyền thống văn hóa, truyền thống đoàn kết của nhân dân các dân tộc Hòa Bình Phần thứ hai giới thiệu phong trào cách mạng ở Hòa Bình từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đánh đổ giai cấp thống trị của chế độ thực dân phong kiến tay sai, giành chính quyền, kháng chiến chống xâm lược, xây dựng chủ nghĩa xã hội Tập sách này là công trình có giá trị, là nguồn tư liệu về địa phương khá chuẩn xác và toàn diện, góp phần tích cực cho công tác
nghiên cứu về tỉnh Hòa Bình, tạo cơ sở, tiền đề cho cuốn Địa chí Hòa Bình ra đời
sau này
Năm 1996, công trình Người Mường ở Hòa Bình của nhà nghiên cứu Trần
Từ được xuất bản Ông cho rằng: “xã hội Mường cổ truyền ở Hòa Bình có thể xem
là kết quả tập hợp của nhiều đẳng cấp … trong phạm vi một Mường, tức là vùng đất gồm nhiều làng được thành lập trên bờ cao bao quanh một thung lũng chân núi hay một số thung lũng nối liền nhau…” [122, tr.8] Tác giả cho rằng, trong chừng mực
mà số phận xã hội của từng cá nhân bị phụ thuộc vào dòng họ của người ấy, thân phận xã hội của từng người được áp đặt bằng con đường cha truyền con nối
Cũng trong cuốn sách này, với những nghiên cứu rất tỉ mỉ, không chỉ về chế
độ ruộng lang mà khi nghiên cứu về cạp váy Mường và những quan điểm về vũ trụ luận qua đám tang, tác giả đưa ra những kết quả nghiên cứu rất có giá trị Cạp váy không chỉ là một bộ phận của trang phục, nó còn chiếm một vị trí quan trọng bậc nhất trong nền nghệ thuật tạo hình cổ truyền của tộc người Cũng có thể nói là vị trí
Trang 18duy nhất Trong khi nghiên cứu về bố cục hoa văn cạp váy Mường, tác giả đã những phát hiện một số đặc điểm tương đồng với nền nghệ thuật Đông Sơn
Trong Địa chí Hòa Bình [118] xuất bản năm 2005 khẳng định rằng: nói đến
văn hóa Hòa Bình thời tiền sử là nói đến bộ phận người Việt cổ sống trên đất Hòa Bình với những đặc trưng văn hóa riêng để tạo ra một nền văn hóa khảo cổ học có tên tuổi Nó chứng minh rằng đây là nơi con người sớm định cư, tồn tại và phát triển với văn hóa hang động, thung lũng Hòa Bình là cửa ngõ để người Việt cổ tiến dần ra biển… một lần nữa, công trình này đã khẳng định mối liên hệ bền chặt của cộng đồng Việt – Mường trong suốt lịch sử phát triển của mình Dưới góc độ
nghiên cứu liên ngành, Địa chí Hòa Bình là một công trình quy mô đã khái quát khá
toàn diện các đặc trưng cơ bản của tỉnh Hòa Bình từ đặc điểm địa lý, tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, con người, đặc điểm kinh tế xã hội, văn hóa, lịch sử phát triển
song, do yêu cầu về nội dung thể hiện nên Địa chí Hòa Bình mới khái quát một số
đặc trưng về văn hóa, đặc điểm và phân bố của các dân tộc tỉnh Hòa Bình chứ chưa
có điều kiện đi sâu vào nghiên cứu các đặc trưng mang đậm giá trị văn hóa của từng dân tộc cụ thể, đặc biệt là dân tộc Mường
Nghiên cứu về văn hóa làng của người Mường ở Hòa Bình không thể bỏ qua
cuốn Văn hóa truyền thống một số tộc người ở Hòa Bình [79] Tác giả đã chỉ ra sự
khác biệt trong tổ chức xã hội cổ truyền của người Mường Hòa Bình chính là mối quan hệ xóm - mường - nhà lang: “Đây là một thiết chế xã hội theo lối tự quản, xóm tiếng Mường có nghĩa là quêl, mường hay làng Làng của người Mường là đơn vị
cơ sở cơ bản của xã hội Mường Ở đó bao gồm nhiều gia đình nhỏ theo chế độ phụ quyền Người cha, người con trai trưởng là những người trụ cột có quyền quyết định mọi việc trong gia đình” [79, tr.34,35] Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn,
những công trình nghiên cứu về văn hóa tộc người không phải hiếm Song, với việc
lựa chọn đối tượng nghiên cứu là người Mường, người Thái, người Mông trong sự
tương quan so sánh cùng mối giao lưu biến đổi văn hóa thì có thể nói Văn hóa truyền thống một số tộc người ở Hòa Bình là cuốn sách tích hợp nhiều nội dung
phong phú về tộc người tồn tại trong cùng một không gian văn hóa Tác giả trình
Trang 19bày về các loại hình khác nhau như văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần, qua đó khẳng định: “Tính nguyên hợp, gắn chặt các hoạt động văn hóa với đời sống hàng ngày của nhân dân lao động, qua đó thể hiện khát vọng của người dân miền núi” [79, tr.443]
Với những nghiên cứu về gia đình, hương ước, ứng xử giữa con người với
thiên nhiên được GS Phan Đại Doãn trình bày trong cuốn sách Mấy vấn đề văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử [37] đã cho thấy vai trò của các giá trị văn hóa
trong quá trình phát triển Trong phần nghiên cứu về dòng họ tác giả đặt ra một vấn đề rằng:
Nếu hai tộc người Việt và Mường vốn cùng một nguồn gốc mà phân chia thành hai vào đầu công nguyên kéo dài sang các thế kỷ sau thì người Việt xa xưa không thể có kiểu cấu trúc: Nguyễn, Lê, Trần… theo phụ hệ như bây giờ Người Mường tỉnh Hòa Bình hầu như chỉ có một họ là họ Bùi (trừ các họ nhà lang) Một tỉnh lớn mà phần nhiều dân cư chỉ có một
Nối dài mạch nghiên cứu của các nhà khoa học, năm 2014 cuốn sách Làng Mường ở Hòa Bình [129] của tác giả Bùi Huy Vọng ra đời Mặc dù mới chỉ dừng ở
mức độ sưu tầm, giới thiệu về hình thái tổ chức, về đặc trưng văn hóa, tín ngưỡng,
phong tục song, Làng Mường ở Hòa Bình chứa đựng nguồn tư liệu chân thực,
chính xác, đáng tin cậy cho việc nghiên cứu, bảo tồn và phát triển văn hóa Mường hiện tại và tương lai Tác giả đã vấn đề tên gọi và lịch sử hình thành của làng
Trang 20Mường; cấu trúc bên trong các làng Mường truyền thống, các quan hệ trong làng Mường và về nhà sàn của người Mường Theo những nghiên cứu của tác giả thì ngày nay cách gọi Làng Mường là phổ biến nhất song song với tên gọi mới theo tiếng phổ thông là xóm
Những kết quả nghiên cứu trên có ý nghĩa rất lớn đối với giới nghiên cứu sau này, là nền móng vững chắc để các nhà nghiên cứu phát hiện thêm những nội dung mới xung quanh văn hóa của người Mường ở Hòa Bình
1.1.2 Những công trình nghiên cứu về những thành tố của văn hóa Mường
Đi sâu khai thác các mảng đề tài khác nhau trong đời sống của người
Mường, năm 1978, công trình Hoa văn Mường [120] của nhà nghiên cứu Trần Từ
được xuất bản Cuốn sách chứa đựng những phát hiện có giá trị về hoa văn trên cạp váy phụ nữ Mường Tác giả đã tiến hành đối chiếu, so sánh hoa văn dân tộc Mường với hoa văn của các dân tộc khác Qua đó làm nổi bật tính đặc thù của các hoa văn dân tộc Mường Tác giả đã chỉ ra những nét tương đồng giữa hoa văn trên cạp váy với hoa văn trống đồng Đông Sơn Tác giả chỉ ra rằng: nghệ thuật cạp váy mang
chất Đông Sơn trước tiên là ở đề tài động vật của nó Bên cạnh đó, bố cục thành giải cũng là yếu tố gắn liền nghệ thuật cạp váy với nghệ thuật Đông Sơn Cùng với
đó, bố cục nối đuôi nhau và hướng đi của động vật Mường trong hầu hết các trường
hợp lại là hướng đi mà chim và thuyền Đông Sơn đã tuyệt đối lựa chọn Những nghiên cứu tỉ mỉ về hoa văn trên cạp váy của phụ nữ Mường của tác giả chính là phát hiện có ý nghĩa quan trọng khi nghiên cứu về dân tộc Mường nói chung và về nghệ thuật Mường nói riêng
Năm 2001, tác giả Bùi Chỉ có tác phẩm Văn hóa ẩm thực dân gian Mường Hòa Bình [30] Trong cuốn sách, tác giả đã giới thiệu nhiều món ăn truyền thống
của dân tộc Mường – một điểm hấp dẫn đối với những ai đã từng đặt chân đến mảnh đấy này
Trong năm 2005, tác giải Bùi Thiện đã cho ra đời 2 công trình: Lễ cầu mạnh khỏe [100], Diễn xướng Mo - Trượng - Mỡi [101] Đây là hai công trình được tác
giả sưu tầm và dịch dưới dạng sách song ngữ, là thành quả của quá trình lao động nghiêm túc, tỉ mỉ, chứa đựng nhiều tâm huyết của tác giả Đi sâu nghiên cứu về di
Trang 21sản văn hóa Mường có thể kể tới Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam [102] của GS.TS Ngô Đức Thịnh Trong đó, tại chương Ba, tác giả nói về trang phục
truyền thống của người Mường
Năm 2011, công trình Cồng chiêng Mường [92] của PGS.TS Kiều Trung
Sơn đã được xuất bản Những kết quả nghiên cứu mà tác giả công bố trong cuốn sách có đóng góp đáng kể về mặt khoa học cũng như trong thực tiễn sưu tầm, bảo tồn sinh hoạt văn hóa cồng chiêng của người Mường ở Hòa Bình Tác giả đưa ra nhận định về tầm quan trọng của nghệ thuật cồng chiêng trong đời sống văn hóa tinh thần của người Mường: “Cồng chiêng Mường là một hiện tượng văn hoá nghệ thuật dân gian đáng chú ý nhưng chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức”[92]
Năm 2011, tác giả Nguyễn Hải cho ra đời cuốn sách Tản mạn văn hóa Mường Hòa Bình [49] Cuốn sách là tập hợp những bài báo nói về đời sống xã hội
của người Mường, những ghi chép của tác giả về lĩnh vực văn hóa xã hội Mặc dù
đề cập tới nhiều vấn đề khác nhau như: tổ chức xã hội Mường, những sinh hoạt vật chất và tinh thần của người Mường ở Hòa Bình Song, tựu trung, tác giả đã khẳng định và làm rõ tính đa dạng, độc đáo và những giá trị văn hóa tốt đẹp của một tộc người từ lâu đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tác giả cũng đã khẳng định rằng mặc dù nhà sàn là loại nhà phổ biến của nhiều dân tộc anh em sinh sống trên dải đất Việt Nam, song, nhà sàn của người Mường ở Hòa Bình có nhiều nét khác biệt so với nhà sàn của các dân tộc khác
Nói đến văn hóa Mường Hòa Bình không thể không nhắc đến Mo Mường
Năm 1994, Mo lên trời [82] với bản song ngữ Mường - Việt do Hoàng Anh Nhân sưu tầm, phiên âm, dịch thơ Mo Mường và nghi lễ tang ma [69] do Đặng Văn Lung biên soạn lại xuất bản năm 1996 Đặc biệt, đồ sộ hơn cả là tác phẩm Mo Mường Hòa Bình [124] xuất bản năm 2010 Qua hệ thống các công trình nghiên cứu về Mo
Mường kể trên cho thấy giá trị cũng như sức hấp dẫn của Mo Mường đối với các nhà nghiên cứu
Hơn một thế kỷ qua, giới nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trong nước và nước ngoài đã chú ý đến dân tộc Mường nói chung và văn hóa Mường nói
Trang 22riêng Số lượng đồ sộ của các công trình nghiên cứu về văn hóa Mường đã chứng tỏ vai trò của văn hoá Mường trong nền văn hóa dân tộc Có lẽ, dân tộc Mường là một trong số ít các dân tộc ở Việt Nam được giới nghiên cứu chú ý nhiều đến vậy Các nhà khoa học và quản lý luôn không ngừng nghiên cứu và tìm kiếm các giải pháp bảo tồn kho tàng văn hóa Mường, phát huy nó trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước
1.1.3 Những đề án, công trình nghiên cứu liên quan tới vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa nói chung và văn hóa dân tộc thiểu số nói riêng trong mối quan hệ với phát triển du lịch
Bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa là đòi hỏi mang tính cấp bách trong bối cảnh hiện nay Trong số các phương thức để phát huy các giá trị DSVH,
du lịch được xem là một trong những phương thức phát huy mang lại hiệu quả Nguồn thu từ DL di sản sẽ là đóng góp quan trọng cho hoạt động bảo tồn chính những giá trị của di sản Hoạt động phát triển DL với việc khai thác các giá trị di sản cũng được xem là động lực để đẩy mạnh hoạt động tìm kiếm, phát hiện, đánh giá giá trị di sản với tư cách là tài nguyên DL Điều này đã được khẳng định trong
các công trình nghiên cứu “Di sản văn hóa với phát triển du lịch” và “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam với phát huy các giá trị văn hóa và vai trò cộng đồng”
của tác giả Phạm Trung Lương [71] và [74]; “Vai trò của các di sản văn hóa với sự
phát triển của du lịch Việt Nam” của tác giả Trương Quốc Bình [25]; Phát triển cộng đồng, T.1: lý thuyết và vận dụng của tác giả Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang
[56], “Về nội hàm văn hóa du lịch”, của tác giả Bùi Thanh Thủy [108],
Mặc dù còn có sự chưa thống nhất, song đa số cho rằng DL chính là phương thức tốt để qua đó có thể phát huy có hiệu quả các giá trị DSVH Nicholas Alfrey được xem là một trong những học giả tiêu biểu ủng hộ quan điểm này Cho đến nay,
đã có nhiều nghiên cứu của các học giả quốc tế về vấn đề này như: Heritage Indentification, Conservation and Management, (2002) của G Aplin [133]; Ashworth G.J với “Conservation as preservation or as heritage: two paradiqms and two answers”(2007) [134] và “Heritage and Local Economic Development: A
Trang 23Reluctant Relationship”,(2012)[135]; Dallen J Timothy and Gyan P Nyaupane với
“Cultural Heritage and Tourism in the Developing World: A Regional Perspective” (2009)[136]; Hunziker và Kraff với “Tourism: Principles, Practices, Philosophies” (2009); Kalfiotis St với “Tourism Economics”(1995)[139]
Những năm gần đây, chính phủ luôn quan tâm đến các hoạt động bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số Thông qua hoạt động du lịch văn hóa được
tổ chức, quản lý tốt, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào vùng dân tộc miền núi Đây cũng là vấn đề được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu, trong đó tiêu biểu là công trình của tác giả Phạm Trung
Lương (2008), “Phát triển du lịch với xóa đói giảm nghèo trong nhóm các dân tộc
thiểu số ở vùng núi Việt Nam” [72] Du lịch là một ngành kinh tế có định hướng tài nguyên một cách rõ rệt, hay nói một cách khác du lịch chỉ có thể phát triển trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên (các yếu
tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên
có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch) và tài nguyên du lịch nhân văn (truyền thống văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch)
Đứng từ góc độ này, di sản văn hóa được xem là dạng tài nguyên du lịch có giá trị đặc biệt để khai thác tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn, có khả năng cạnh tranh không chỉ giữa các vùng miền, các địa phương trong nước mà còn giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và quốc tế
Như vậy có thể thấy cho đến nay vấn đề nghiên cứu bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong mối quan hệ với phát triển du lịch đã được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý trong lĩnh vực văn hóa và du lịch quan tâm nghiên cứu Kết quả của nhiều nghiên cứu là rất có giá trị về lý luận và thực tiễn và là tài liệu quan trọng
để kế thừa cho việc thực hiện đề tài luận án
Trước sự tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội, nhiều giá trị văn hóa tộc người đã biến đổi và có nguy cơ bị mất đi Trên cơ sở những định hướng bảo tồn,
Trang 24phát huy văn hóa dân tộc thiểu số ở Việt Nam, năm 2007, Ủy ban nhân dân tỉnh
Hòa Bình đã ban hành Quy chế quản lý di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Hòa Bình [123] Quy chế đưa ra nội dung cơ bản trong việc quản lý di sản văn hóa
phi vật thể trên địa bàn tỉnh Hòa Bình Trong đó, đặc biệt chú trọng tới vấn đề bảo tồn tiếng nói, chữ viết và các nghề thủ công truyền thống
Nghiên cứu về thực trạng bảo tồn giá trị văn hóa của các tộc người thiểu số trên địa bàn tỉnh Hòa Bình có thể kể tới rất nhiều các công trình nghiên cứu của Ban
Kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Hòa Bình như: Năm 2012, 2013 với: Kiểm
kê di sản văn hóa tri thức dân gian các dân tộc thiểu số tỉnh Hòa Bình [13]; Kiểm
kê di sản văn hóa trong văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số tỉnh Hòa Bình [15]; Kiểm kê di sản văn hóa tri thức dân gian các dân tộc thiểu số tỉnh Hòa Bình [16]; Kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Hòa Bình [11]; Kiểm kê di sản văn hóa trong các trò chơi dân gian các dân tộc thiểu số tỉnh Hòa Bình [17]; Kiểm kê di sản văn hóa lễ hội dân gian các dân tộc thiểu số tỉnh Hòa Bình [18]
Nghiên cứu về vấn đề quản lý lễ hội dân gian ở Hòa Bình còn có công trình
Điều tra, sưu tầm, đề xuất các giải pháp bảo tồn lễ hội dân gian cổ truyền, và 36 báo cáo điểm lễ hội tỉnh Hòa Bình [4] do TS Quách Văn Ạch làm chủ nhiệm
Trong số các nghiên cứu về biến đổi văn hóa ở các làng, xóm người Mường
ở tỉnh Hòa Bình, phải kể tới đề tài Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nhà sàn của người Mường Hòa Bình dưới tác động của đô thị hóa [40] của GS.TS Phạm Đức
Dương Tác giả đã đưa ra những phân tích xác đáng về vị trí nhà sàn trong đời sống của người Mường Tác giả cho rằng: Nhà sàn không chỉ đơn thuần là không gian sinh sống của gia đình người Mường mà còn đồng thời là là không gian cộng đồng
và không gian tâm linh của người Mường Trên cơ sở những khảo sát khá tỉ mỉ và chính xác, tác giả đã chỉ ra những biến đổi trong văn hóa nhà sàn của người Mường
ở Hòa Bình từ cách bày biện nhà, cách đặt bếp, vật liệu làm nhà, hướng nhà để trả lời cho câu hỏi đâu là nguyên nhân của sự biến đổi đó, tác giả cho rằng bên cạnh sự khan hiếm nguyên vật liệu tự nhiên còn có tác động không nhỏ của quá trình đô thị hóa và sự thay đổi ý thức của con người Chính sự thay đổi không gian sống của gia
Trang 25đình người Mường khiến cho môi trường, cảnh quan truyền thống ở các làng, xóm
bị biến đổi Có thể nói, những nghiên cứu trên là một trong những cơ sở thực tiễn quan trọng mà đề tài luận án có thể tham khảo và kế thừa
Có thể nói, kết quả của các công trình sưu tầm, nghiên cứu tiêu biểu trên đây
có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá thực trạng của những giá trị văn hóa truyền thống đặc trưng của các dân tộc thiểu số ở Hòa Bình, trong đó những nghiên cứu về người Mường mang tính chất chủ đạo Tuy nhiên, xét từ góc dộ di sản văn hóa tộc người gắn với phát triển du lịch thì hầu như chưa có công trình nghiên cứu đánh giá nào Một số công trình đã đề cập tới du lịch ở Hòa Bình có thể kể tới như:
Năm 2012, trong luận án tiến sỹ của mình về Văn hóa các tộc người thiểu số tỉnh Hòa Bình với việc phát triển du lịch văn hóa [111], tác giả Bùi Thanh Thủy cho
rằng: du lịch có thể cải thiện, nâng cao đời sống kinh tế Song, du lịch cũng làm biến đổi nhiều giá trị văn hóa và môi trường sống Du lịch một mặt mang đến cơ hội
để người dân nâng cao nhận thức và bảo lưu DSVH, mặt khác lại khiến cho nhiều thành tố văn hóa có nguy cơ bị thương mại hóa Một số nghiên cứu khác cũng cho rằng du lịch chính là nguyên nhân khách quan tạo nên những tác động tiêu cực, làm phá vỡ hoặc biến đổi bản sắc của các cộng đồng địa phương, làm phai mờ tính độc đáo của DSVH
Luận án tiến sỹ về Bản sắc văn hóa tộc người, di sản văn hóa và du lịch (nghiên cứu trường hợp người Mường và người Thái ở Hòa Bình (2015)[29], tác
giả Nguyễn Tuệ Chi cho rằng: phát triển du lịch ở bản Lác và xóm Mỗ có tác động tích cực đến tự ý thức của cộng đồng trong việc bảo tồn và phát huy DSVH Tác giả cũng cho rằng, bản sắc văn hóa và phát triển du lịch có mối liên hệ tích cực
Trong luận án tiễn sỹ về Văn hóa gia đình người Mường ở Hòa Bình [53],
tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa cho rằng: văn hóa của người Mường ở xóm Mỗ, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình đã có nhiều biến đổi mà nguyên nhân chủ yếu là
do giao lưu văn hóa thông qua hoạt động du lịch Những thay đổi đó tuy không làm ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống sinh hoạt, nhưng ở góc độ văn hóa, nếu không có những chính sách hợp lý để bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống của người Mường thì những giá trị văn hóa đó sẽ có nguy cơ bị mất bản sắc và Việt hóa
Trang 26Cụ thể hóa chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2030, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hòa Bình đã xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2014 – 2020, tầm nhìn đến năm 2030
[125] Trên cơ sở những đánh giá về hiện trạng nguồn tài nguyên du lịch của tỉnh Hòa Bình, bản quy hoạch đã đưa ra những định hướng quan trọng trong quá trình phát triển du lịch Hòa Bình Thông qua những đánh giá chi tiết về lợi thế của du lịch Hòa Bình cho thấy mức độ phát triển du lịch chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của địa phương, du lịch phát triển còn thiếu sự bền vững, bộc lộ nhiều hạn chế về cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, lao động thị trường, sản phẩm trên cơ sở những phân tích đó, bản quy hoạch có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định hướng bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các dân tộc trên địa bàn tỉnh
Cho đến nay, các công trình nghiên cứu về quản lý DSVH của người Mường ở Hòa Bình với phát triển du lịch còn khá hạn chế cả về số lượng và nội dung nghiên cứu Những công trình nghiên cứu trực tiếp về quản lý DSVH và phát triển du lịch tại hai điểm du lịch cộng đồng tiêu biểu của người Mường là xóm Mỗ 2 và xóm Ải vẫn còn bị bỏ ngỏ Việc tổng quan những nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án đã làm
rõ những vấn đề đã được nghiên cứu làm sáng tỏ cần được kế thừa; những vấn đề gì cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đã được thực hiện và những vấn đề gì là những vấn đề nghiên cứu mới cần được thực hiện để đáp ứng được mục tiêu và các nội dung nghiên cứu của luận án đối với việc quản lý DSVH làng của người Mường ở Hòa Bình với phát triển du lịch
Qua nghiên cứu lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy rằng người Mường và văn hóa Mường Hòa Bình đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu trong một thời gian dài, đánh dấu bằng rất nhiều công trình có giá trị Trong bối cảnh hiện nay, văn hóa truyền thống của người Mường đã có nhiều biến đổi do tác động của những yếu tố khác nhau Trong số các công trình nghiên cứu được giới thiệu trên đây, đa phần tập trung đề cập tới văn hóa dân tộc Mường ở Hòa Bình dưới góc độ văn hóa dân gian, văn hóa học, dân tộc học Những công trình được soi chiếu dưới góc độ quản lý văn hóa, đặc biệt là quản lý văn hóa làng gắn với phát triển du lịch còn rất mờ nhạt Đó là điều luận án này đặt ra và mong muốn tháo gỡ phần nào
Trang 271.2 Khái quát về đối tƣợng nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu
Hòa Bình là một tỉnh miền núi nằm trong dải đất Tây Bắc của Tổ quốc; Phía Bắc giáp Phú Thọ; phía Nam giáp Thanh Hóa, Ninh Bình; phía Đông giáp Hà Nội,
Hà Nam; phía Tây giáp Sơn La Hòa Bình gồm 10 huyện và 01 thành phố với 210
xã, phường, thị trấn Dân số trên 83 vạn người, có 07 dân tộc chủ yếu cùng chung sống; dân tộc thiểu số chiếm 74,14%, trong đó dân tộc Mường chiếm trên 63% Vùng đất Hòa Bình có bề dày truyền thống lịch sử và văn hóa, gắn liền với công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; là quê hương của nền văn hóa thời tiền sử nổi tiếng thế giới - Văn hóa Hòa Bình, đây là địa bàn cư trú chính của người Mường Trong thời gian từ năm 1960 đến năm 1999, dân số dân của dân tộc Mường tăng gấp hai lần Trong cơ cấu dân số của tỉnh, người Mường chiếm tỉ lệ đông nhất (chiếm 63,3% dân số toàn tỉnh) Chính vì lẽ đó mà khi nghiên cứu về Hòa Bình, người ta thường tìm về với những giá trị văn hóa đậm đặc, độc đáo của dân tộc Mường Người Mường cư trú ở một vùng đồi núi rộng lớn từ Tây Bắc của tỉnh Yên Bái đến phía Bắc của tỉnh Nghệ An, bao gồm toàn bộ tỉnh Hòa Bình, 6 huyện miền núi của Thanh Hóa là Ngọc Lặc, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Bá Thước, Như Xuân, Lang Chánh; 3 huyện Tam Thanh, Yên Lập, Thanh Sơn của tỉnh Phú Thọ và rải rác ở một số huyện của Sơn La, Hà Nội, Ninh Bình [118, tr.112] Những năm gần đây, phạm vi phân bố của người Mường đã được mở rộng đến hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước
Người Mường tập trung ở những khu vực có địa hình thấp, độ cao trung bình
là 300m, nơi ngày xưa là những trung tâm trù phú nhất của người Mường ở Hòa Bình: Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động Người Mường ở Hòa Bình tập trung đông nhất ở hai huyện: Kim Bôi và Lạc Sơn Người Mường ở hai huyện này chiếm 46% người Mường toàn tỉnh [118, tr.116]
“Mường” là từ dùng để chỉ “từng vùng nhỏ gồm nhiều làng, mỗi vùng được đặt dưới sự cai quản của một nhà Lang, tức một dòng họ thuộc lớp người thống trị
xã hội” [122, tr.71] Qua sự tiếp xúc giao lưu giữa người Mường và người Kinh, người Kinh đã sử dụng từ Mường để gọi dân tộc này Cho đến tận ngày nay, người
Trang 28Mường vẫn tự gọi mình là Mol hoặc Mon, Moan, Mual Mặc dù những từ này có biến âm hơi khác nhau ở mỗi địa phương, nhưng đều giống nhau về mặt nghĩa Tất
cả những từ mà người Mường dùng để chỉ dân tộc mình có nghĩa là NGƯỜI Còn
từ Mường vốn là từ dùng để chỉ nơi cư trú chứ không liên quan gì đến tộc danh ngày nay của mình Mặc dù vậy, cùng với sự biến động của lịch sử cũng như quá trình giao lưu kinh tế, văn hoá với các dân tộc anh em khác, cho đến nay danh từ
“Mường” đã được người Mường nói chung chấp nhận và coi đó là tộc danh của mình, và hiển nhiên, họ tự nhận mình là người Mường như ngày nay Do đó,
“Mường” đã trở thành tên gọi chính thức và duy nhất của tộc người này để phân biệt với các tộc người khác
Dựa trên những kết quả của nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ, khảo
cổ học, dân tộc học, các nhà nghiên cứu đã nhận định rằng: Dân tộc Mường và dân tộc Việt trước đây mấy ngàn năm có chung một tổ tiên là người Lạc Việt, chủ nhân của nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ Nghiên cứu các đặc điểm nhân chủng học, người
ta cho rằng người Mường và người Việt có nhiều đặc điểm giống nhau Các nhà ngôn ngữ học cũng phát hiện, tiếng Mường và tiếng Việt cổ xưa kia thực chất chỉ là một Suốt thời kỳ Bắc thuộc, sự phân ly thành hai dân tộc diễn ra bởi chính sách áp bức, bóc lột của phong kiến ngoại bang Người Việt ở vùng đồng bằng có điều kiện tiếp xúc và giao lưu với những tinh hoa văn hóa của Trung Hoa, Ấn Độ… và trải qua hàng ngàn năm họ trở thành người Kinh như hiện nay Người Mường chính là một bộ phận của người Việt cổ sống ở vùng rừng núi lâu đời cho nên trong đời sống sản xuất và phong tục tập quán vẫn giữ được những nét văn hóa cổ [118, tr.111]
Làng của người Mường là một thành tố quan trọng trong xã hội Mường Chính trong môi trường ấy rất nhiều di sản văn hóa có giá trị đã được hình thành và bảo lưu Bảo tồn được các làng truyền thống cũng có thể xem là cách thức tốt nhất
để lưu giữ di sản văn hóa tộc người Nhà nghiên cứu Bùi Huy Vọng nhận xét:
Trong xã hội loài người các gia đình sống san sát nhau, làm nhà gần nhau, có xu hướng liên kết với nhau tạo nên các khu dân cư Quá trình liên kết này trong người Mường tạo nên các sản phẩm mang tên gọi:
Trang 29Queel, Bủng, Lủng, Làng, dịch sang tiếng phổ thông là Quê, Búng, Lũng, Làng Hình thái các khu dân cư này gắn kiền với nền sản xuất nông nghiệp lúa nước, chăn nuôi, săn bắn và hái lượm ở trình độ tự cung,
tự cấp tại chỗ, các hình thức giao thương chưa phát triển Tổ chức các khu dân cư này là thuộc dạng nông thôn [129, tr.31]
Hiện nay, người Mường ở Hòa Bình cư trú xen kẽ với người Kinh Nhiều nơi, xóm làng của người Mường có rất nhiều nét tương đồng với người Kinh Quá trình giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh đã tạo nên nhiều thay đổi trong đời sống văn hóa của người Mường
Khái quát về xóm Mỗ 2, xã Bình Thanh, huyện Cao Phong
Điều kiện địa lý, tự nhiên: Xã Bình Thanh thuộc huyện Cao Phong là địa bàn sinh sống lâu đời của người Mường với một không gian văn hóa còn để lại nhiều dấu ấn đặc sắc Địa hình của xã nằm dọc theo hai bên đường quốc lộ số 6 từ trung tâm tỉnh Hòa Bình đi bến Thung Nai, bắt đầu từ km 3 + 500 Phía Đông giáp xã Thái Bình (nay là phường Thái Bình - thành phố Hòa Bình); phía Tây giáp xã Thung Nai, chợ Bờ; phía Nam giáp xã Bắc Phong, xã Thung Nai cùng huyện; phía Bắc tiếp giáp với sông Đà và phường Thái Thịnh thành phố Hòa Bình
Thành phần tộc người: Huyện Cao Phong được thành lập ngày 12 tháng 12 năm 2001, toàn huyện có 12 xã và 01 thị trấn với ba dân tộc chính là Mường, Kinh
và Dao, trong đó dân tộc Mường chiếm 72% dân số Người Mường đã có những đóng góp quan trọng trong nền văn hóa Hòa Bình nổi tiếng Cao Phong được biết đến với địa danh Mường Thàng xưa kia Ngày nay, với chính sách phát triển hợp lý, khai thác hiệu quả lợi thế của địa phương đã làm đời sống vật chất và tinh thần của người dân thay đổi theo chiều hướng tích cực
Xóm Mỗ 2 là xóm thuộc xã Bình Thanh nằm dọc quốc lộ 435 gồm 114 hộ, tổng số hơn 400 khẩu, là nơi sinh sống của một bộ phận người Tày, người Dao và người Mường Người Mường là thành phần dân cư chủ yếu, chiếm hơn gần 90% tổng dân số toàn xóm Xóm Mỗ 2 được chia cắt khá rõ nét thành hai khu vực: Xóm
Mỗ trong và xóm Mỗ ngoài Ngoài các ngành nghề nông nghiệp truyền thống, người dân xóm Mỗ 2 khu vực ngoài còn phát triển hình thức du lịch cộng đồng
Trang 30Người Mường ở Bình Thanh đã định cư ở nơi đây từ rất lâu đời Theo truyền thuyết thì người Mường ở Bình Thanh có từ thời “Đẻ đất, đẻ nước” Tuy nhiên, thời
kỳ đầu có rất dân, dần dần qua năm tháng mà sinh sôi nảy nở thành các hộ, các xóm đông đúc như ngày nay Cũng như người Mường ở các vùng khác, người Mường ở Bình Thanh còn có tên tự gọi là Mol (hoặc Mon, Moan, Mual) Các dòng họ chính của người Mường ở Bình Thanh là họ Đinh và họ Bùi chiếm đa số
Người Mường Bình Thanh sống định canh, định cư thành các xóm Đây là vùng có nhiều núi, nhiều đất sản xuất, các hộ gia đình trong xóm thường làm nhà ven các sườn đồi hoặc dưới chân núi đất thoải gần suối, gần nguồn nước, gần đồng ruộng, thuận lợi cho lao động sản xuất Các xóm xưa kia thường sống tập trung thành từng cụm, ẩn khá kín dưới màu xanh của cây cối trồng quanh nhà Mỗi xóm thường có khoảng từ 20 đến 30 nóc nhà, nếu xóm to thì có thể nhiều nhà hơn
Hoạt động kinh tế: Nguồn thu nhập chủ yếu của người Mường Xóm Mỗ 2 vẫn từ nông nghiệp Trong những năm trở lại đây, xóm Mỗ 2 được biết đến ngày càng nhiều hơn thông qua hoạt động du lịch Những giá trị văn hóa độc đáo của người dân nơi đây là yếu tố hấp dẫn, có sức hút không chỉ đối với du khách trong nước mà còn có sức cuốn hút đối với nhiều du khách nước ngoài muốn tìm hiểu, khám phá về mảnh đất và con người và những giá trị văn hóa tộc người độc đáo
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nền kinh tế của đồng bào Mường mang nặng tính tự cấp tự túc Trong đó nông nghiệp trồng lúa nước đóng vai trò chủ đạo Ngoài nghề trồng lúa nước, người Mường còn trồng trên nương rẫy Kinh tế phụ của gia đình người Mường là chăn nuôi gia súc, gia cầm, săn bắn, đánh cá, khai thác lâm sản…các nghề thủ công như dệt, mây tre đan, làm các dụng cụ gia đình, trồng dâu nuôi tằm…
Trước đây, nghề nông nghiệp chính của người dân là trồng lúa, kết hợp với khai thác lâm, thổ sản như nấm hương, mộc nhĩ, sa nhân, cánh kiến, quế, mật ong,
gỗ, tre, nứa, giang, mây, song Nghề thủ công tiêu biểu là dệt vải, đan lát Khi công trình thuỷ điện sông Đà được xây dựng, Bình Thanh đã trở thành một trong các xã thuộc vùng lòng hồ sông Đà Để phục vụ công trình thủy điện quốc gia triển khai đúng tiến độ ngăn sông đợt một năm 1983 và đợt hai vào năm 1986, cùng với các
Trang 31địa phương khác, xã đã vận động các hộ gia đình, cơ quan đóng tại địa bàn thuộc khu vực lòng hồ di dời toàn bộ tài sản, mồ mả tổ tiên đến nơi ở mới
Ngoài ra, xã còn có bến cảng nối liền đường thuỷ đi chợ Bờ, Đền Bờ (xã Thung Nai) và đi ngược lên tỉnh Sơn La tạo điều kiện cho nhân dân trong xã được trao đổi làm ăn, buôn bán hàng hoá từ miền xuôi lên miền ngược Hàng năm, vào dịp đầu xuân, cảng Bình Thanh còn là nơi đưa đón khách thập phương đi du lịch vùng lòng hồ sông Đà và du lịch gắn với sinh hoạt tâm linh tín ngưỡng của nhân dân tại Đền Bờ (Thung Nai - Cao Phong) và (Hào Tráng - Đà Bắc) Đây cũng chính là những tiềm năng thế mạnh của xã, nếu khai thác tốt sẽ thúc đẩy nền kinh tế của xã nhà phát triển, đời sống nhân dân sẽ được nâng cao hơn
Khái quát về xóm Ải, xã Phong Phú, huyện Tân Lạc
Điều kiện địa lý, tự nhiên: Xóm Ải nằm trên địa bàn xã Phong Phú, huyện Tân Lạc Xóm Ải nằm ngang quốc lộ 6B, cách Hà Nội 107 km, cách thành phố Hòa Bình 31km
Đồng bào sống định canh, định cư trong thung lũng dưới chân núi Cụ Tệnh
và Chẹ Lầu, xóm Ải thu mình trong một thung lũng nhỏ, có dòng suối Ải trong vắt, đầu nguồn là một mó nước nóng thiên nhiên mà người dân trong xóm thường gọi là nguồn suối khoáng Dòng suối không chỉ cung cấp nước sinh hoạt cho người dân
mà còn quanh năm tưới mát cho những cánh đồng lúa, bãi ngô phì nhiêu
Xóm Ải thuộc khu vực trung tâm Mường Bi xưa kia Cảnh quan của xóm Ải cùng với các giá trị văn hóa truyền thống của một làng Mường cổ đã tạo nên ấn tượng khó quên đối với những ai từng đặt chân đến mảnh đất này
Thành phần tộc người: Xóm Ải gồm 93 hộ dân với tổng số 441 khẩu trong
đó người Mường chiếm gần 90%, dân cư còn lại là người Kinh, Thái và người Dao Người Mường ở xóm Ải vẫn lưu giữ được bản sắc văn hóa bản điển dịa đậm nét truyền thống, nhiều giá trị văn hóa vẫn còn được bảo lưu khá nguyên vẹn Đây cũng
là nguồn tài nguyên và lợi thế cho địa phương phát triển du lịch cộng đồng
Hoạt động kinh tế: Từ xa xưa, người dân xóm Ải chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Nhà nào cũng có vài sào lúa, vài nương ngô nhưng cuộc sống vẫn khá
Trang 32khó khăn, sản phẩm làm ra cũng chỉ đủ tiêu dùng Để có tích lũy, người dân chăn nuôi thêm trâu bò, gia cầm Bên cạnh đó, người dân còn có thêm nghề khai thác tài nguyên rừng như gỗ, tre, nứa, mây, mật ong, cánh kiến… nghề thủ công tiêu biểu ở đây là nghề dệt và mây tre đan Phụ nữ ở xóm Ải xưa dệt vải và thổ cẩm đạt đến kỹ thuật tinh xảo với nhiều hoa văn, họa tiết độc đáo
Năm 2008, xóm Ải được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là làng truyền thống tiêu biểu của dân tộc ít người và là xóm đại diện dân tộc Mường xây dựng 20 làng truyền thống cả nước vào năm 2008; người dân xóm Ải bắt đầu làm quen và tiếp xúc với loại hình du lịch cộng đồng Song, phải đến năm 2014 thì hoạt động du lịch mới thực sự được người dân quan tâm
Ngày 24/1/2014, UBND tỉnh có Quyết định số 98 là điểm du lịch cộng đồng trên địa bản tỉnh Từ đó tới nay, người dân địa phương vẫn thường xuyên đón các đoàn khách tham quan, trong đó chủ yếu là khách nước ngoài Nhờ có các chính sách hỗ trợ từ Trung ương đến địa phương trong việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số nên nhiều nét đẹp truyên thống của địa phương vẫn còn được giữ gìn Trong xu thế hội nhập hiện nay, các di sản văn hóa đó chính là nguồn tài nguyên quý giá của hoạt động du lịch, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân
1.3 Cơ sở lý luận về quản lý di sản văn hóa làng
1.3.1 Các khái niệm cơ bản
1.3.1.1 Khái niệm di sản văn hóa, di sản văn hóa làng
- Khái niệm Di sản văn hóa:
Theo từ điển The Little Oxford Dictionary, “Di sản” được hiểu là “Thứ có
giá trị được hoặc có thể được kế thừa; tình trạng kế thừa Theo nghĩa thông thường,
di sản là những thứ có giá trị để lại cho đời sau Điều đó cũng có nghĩa “Di sản” là
“Tài sản” Như vậy có thể thấy di sản văn hóa là những giá trị văn hóa vật chất cũng như tinh thần được lưu truyền từ những thế hệ trước đến thế hệ sau
Di sản văn hóa là tài vô giá của thế hệ trước để lại, “là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị
Trang 33mới và giao lưu văn hóa”[41, tr.63] Vì vậy di sản văn hóa trở thành một nguồn lực quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Theo điều 2 Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể 2003 của UNESCO: “Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác
và không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ” [33]
Theo Luật Di sản văn hóa, di sản văn hóa phi vật thể bao gồm các thành tố
cơ bản như:
Các hình thức biểu diễn truyền khẩu như: các hình thức biểu diễn hoặc thể hiện bằng thơ ca, lịch sử, thần thoại, truyền thuyết và các dạng truyện kể khác có giá trị đối với các cộng đồng văn hóa; các hình thức biểu diễn nghệ thuật gồm: biểu diễn nghệ thuật trong lễ hội hoặc các nghi lễ của cộng đồng
và cả những hình thức trình diễn khác (âm nhạc, kịch, múa rối ); các tập quán xã hội, nghi thức và lễ hội gồm: các nghi thức liên quan đến vòng đời của con người như sinh nở, cưới xin, ma chay, các tập quán theo mùa, tập quán sinh hoạt, văn hóa ẩm thực ; kiến thức về thiên nhiên và cách ứng xử với thiên nhiên gồm: các quan niệm liên quan đến môi trường tự nhiên như thời gian và không gian, các hoạt động nông nghiệp và kiến thức nghề nông, kiến thức vũ trụ, tiên đoán về tương lai [67]
Theo Điều 3, Luật Di sản văn hóa quy định: “Di sản văn hóa vật thể là sản
phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [67]
- Khái niệm Di sản văn hóa làng:
Tác giả Đặng Văn Bài và Nguyễn Hữu Toàn trong cuốn Bảo tàng hóa di sản văn hóa làng xác định:
Di sản văn hóa của các làng Việt là một kho tàng hết sức phong phú, đặc sắc, bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể Di sản văn hóa vật thể bao gồm: môi trường địa lý - nhân văn tức là điều kiện – khung cảnh tự nhiên như đồng ruộng, xóm làng, đầm ao, bến nước …, các
Trang 34công trình kiến trúc như đình, đền, chùa, miếu, nhà ở … và các di vật là các công cụ lao động, phương tiện vận chuyển, các sản phẩm của các quá trình lao động sáng tạo – đặc biệt là các sản phẩm của lao động thủ công,… Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: các hình thức biểu diễn truyền khẩu, các hình thức biểu diễn nghệ thuật, các tập quán xã hội, nghi thức và lễ hội, kiến thức về thiên nhiên và các ứng xử với thiên nhiên,…[7]
Làng Mường là kết quả của xu hướng liên kết giữa các gia đình sống gần nhau trong một khu vực địa lý nhất định Theo tác giả Bùi Huy Vọng: “Quá trình liên kết này trong người Mường đã tạo nên các sản phẩm mang tên gọi: Quêl, Bủng, Lủng, Làng Các hình thái khu dân cư này gắn liền với nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước, chăn nuôi, săn bắn và hái lượm ở trình độ tự cung, tự cấp tại chỗ, các hình thức giao thương chưa phát triển”[129]
Di sản văn hóa làng của người Mường bao gồm những phong tục tập quán, nét đẹp văn hóa truyền thống được biểu hiện trên cả phương diện vật thể và phi vật thể do người Mường sáng tạo ra trong suốt quá trình lịch sử Những di sản văn hóa
đó gắn kết với nhau, tạo nên đặc trưng riêng, độc đáo của làng Mường không bị pha trộn với đơn vị lãnh thổ khác Trong bối cảnh hiện nay, DSVH làng của người Mường với những đặc trưng riêng có rất cần được bảo tồn một cách sống động, phát huy giá trị gắn với kinh tế du lịch
1.3.1.2 Khái niệm quản lý, quản lý di sản văn hóa làng
- Khái niệm quản lý
Quản lý là một khái niệm được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau tùy theo lĩnh vực hoạt động Trước hết, quản lý là tác động đến con người để họ thực hiện, hoàn thành những công việc được giao và để họ làm những điều bổ ích, có lợi Điều này đòi hỏi người quản lý phải hiểu rõ, hiểu sâu sắc về con người ở các mặt: cấu tạo thể chất, nhu cầu, các yếu tố năng lực, mặt tích cực và tiêu cực của các quy luật tham gia hoạt động
Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền, biểu hiện cụ thể qua việc lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát Hướng
Trang 35sự chú ý của con người vào một hoạt động nào đó, điều tiết được nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt động bộ phận Quản lý là một khái niệm đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp Bên cạnh đó, do sự khác biệt về thời đại, chế
độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều cách giải thích và lý giải khác nhau, khái niệm quản lý cũng vì thế mà càng được mở rộng và ngày càng rõ rệt hơn
Quản lý là tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý bằng hệ thống các luật lệ, các chính sách, nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong điều kiện môi trường biến đổi Quản lý bao giờ cũng mang tính hướng đích, tính tổ chức
và tính hiệu quả, là tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một cách gián tiếp và trực tiếp nhằm thu được những diễn biến và thay đổi tích cực Như vậy, quản lý được hiểu là quá trình tác động, điều khiển các quá trình và hoạt động của con người để chúng phát triển hợp với quy luật, hướng tới mục tiêu đã đề ra, thể hiện ý chí của nhà quản lý
- Khái niệm Quản lý văn hóa
Trong sự tồn tại và phát triển của văn hóa thì quản lý đóng vai trò rất quan trọng Trên phương diện vĩ mô, hoạt động quản lý văn hóa sẽ góp phần định hướng, điều chỉnh sự phát triển của văn hóa quốc gia, giúp hiện thực hóa các chủ trương, đường lối văn hóa của Đảng, từ đó tác động đến mục tiêu, bản chất của văn hóa dân tộc Trên phương diện vi mô, hoạt động quản lý văn hóa trong các lĩnh vực, địa bàn, nhóm cư dân cụ thể sẽ giúp kiểm soát sự tùy tiện, sai lệch trong khi thực hiện các cơ chế, chính sách của nhà nước trong lĩnh vực văn hóa
Từ thực tế công tác quản lý văn hóa ở nước ta, có thể đưa ra khái niệm như sau: “Quản lý văn hóa là quá trình xây dựng đường lối chính sách và tổ chức hoạt động nhằm bảo tồn vào phát huy tốt nhất giá trị của văn hóa Việt Nam, đồng thời tiếp thu những tinh hoa của văn hóa nhân loại, làm giàu cho văn hóa dân tộc”[74]
- Khái niệm quản lý DSVH làng
Trên cơ sở giới thuyết về DSVH làng đã nêu trong luận án (gồm: không gian sống và kiến trúc nhà ở; ẩm thực; trang phục; sản phẩm thủ công truyền thống; tín ngưỡng, phong tục tập quán; nghệ thuật dân gian và lễ hội dân gian), Quản lý di sản
Trang 36văn hóa làng được hiểu là những nguyên tắc, phương pháp tổ chức, phối hợp thực hiện giữa cộng đồng và nhà nước nhằm bảo vệ, điều hành, khai thác hoặc tổ chức mọi hoạt động gắn với các yếu tố của văn hóa và di sản văn hóa, nhằm thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ về vật chất và tinh thần của các thành viên dựa trên nền tảng của những quy chế, nguyên tắc được cộng đồng đồng thuận và tuân thủ theo Quản lý di sản văn hóa làng được thực hiện bởi nguồn nhân lực được cộng đồng làng cử ra, cùng với đó là sự tham gia của nguồn nhân lực do chính quyền can thiệp, sự hỗ trợ của cơ quan chức năng
Quản lý DSVH làng bao gồm: Quản lý nhà nước và cộng đồng tự quản về DSVH
- Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa: là nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về văn hóa được quy định cụ thể tại Điều 54 của Luật di sản văn hóa, bao gồm: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,
chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Ban hành
và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa; Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về di sản văn hóa; Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa; Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế và bảo vệ phát huy giá trị di sản văn hóa; Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa [67]
- Cộng đồng tự quản DSVH
Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể 2003 của UNESCO yêu cầu: Trong khuôn khổ các hoạt động bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể mỗi quốc gia thành viên cần phải nỗ lực để đảm bảo khả năng tham gia tối đa của cộng đồng, nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân
đã sáng tạo, duy trì và chuyển giao loại hình di sản này và cần phải tích cực lôi kéo họ tham gia vào công tác quản lý [33]
Trang 37Công tác quản lý di sản văn hóa ở làng không chỉ phụ thuộc vào nhà nước
mà còn chịu sự tác động, chi phối từ chính quyền địa phương và cộng đồng Cộng đồng tự quản DSVH được thể hiện ở việc các thành viên trong cộng đồng tự nguyện tham gia quản lý hoặc ủy quyền cho người khác tham gia quản lý DSVH, thỏa thuận những biện pháp quản lý, đóng góp nguồn tài chính, vật chất cho tập thể để thực hiện việc quản lý DSVH theo pháp luật
1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động quản lý di sản văn hóa
Nhận thức của xã hội, đặc biệt là của các cấp quản lý: Đây là nhận thức của
xã hội về vai trò của di sản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, qua đó có sự quan tâm thỏa đáng đối với hoạt động quản lý di sản Hoạt động quản lý di sản sẽ được triển khai thuận lợi nếu nhận thức của xã hội, đặc biệt của các cấp quản lý là phù hợp
Hướng dẫn chi tiết về quản lý di sản: Thể hiện tính đầy đủ, cụ thể và dễ triển
khai trong thực tế hệ thống quy định pháp luật về quản lý DSVH Trong thực tế
triển khai Luật di sản văn hóa, ở những cấp cơ sở nào có được quy định cụ thể đối
với hoạt động quản lý di sản, đặc biệt là đối với hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị di sản thì nơi đó sẽ thực hiện có kết quả hơn các nhiệm vụ về quản lý di sản
Năng lực của tổ chức và cá nhân có chức năng quản lý di sản: Hoạt động
quản lý luôn đòi hỏi năng lực của tổ chức và cá nhân thực hiện Năng lực này được thể hiện bằng số lượng các cá nhân trong tổ chức và trình độ về quản lý và nghiệp vụ của từng cá nhân thuộc đội ngũ quản lý Quản lý di sản cũng không phải là ngoại lệ
Năng lực ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động quản lý di sản: Nội
hàm của hoạt động bảo tồn luôn bao gồm cả hoạt động bảo vệ và bảo quản Việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động bảo tồn luôn là yếu tố quan trọng, chính vì vậy năng lực ứng dụng (đội ngũ, trình độ công nghệ, trang thiết bị) được xem có ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, đặc biệt là bảo tồn các giá trị di sản
Nguồn lực vật chất cho hoạt động quản lý di sản: Kinh phí cho hoạt động
bảo tồn luôn là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động quản lý bởi đây là điều kiện để vận hành bộ máy, triển khai các nhiệm vụ thuộc chức năng quản lý Hiện nay ở Việt Nam, kinh phí cho QLVH nói chung và quản lý di sản nói riêng chủ yếu được đảm bảo từ nguồn ngân sách Nguồn thu từ việc khai thác giá trị di sản phục
Trang 38vụ mục đích tham quan, học tập, nghiên cứu và đặc biệt là du lịch hiện không được phép sử dụng trực tiếp cho hoạt động quản lý di sản Cơ chế này đã và đang là “vật cản” đối với hoạt động quản lý di sản văn hóa trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam
Lựa chọn phương thức tiếp cận thực hiện hoạt động quản lý di sản: Với vai
trò là nền tảng của mọi sự phát triển, hoạt động quản lý văn hóa nói chung và quản
lý di sản nói riêng, phương thức tiếp cận truyền thống để thực hiện các nhiệm vụ quản lý là dựa vào nguồn lực nhà nước Cùng với thời gian phương thức tiếp cận này bộc lộ nhiều hạn chế, hiệu quả quản lý thấp bởi thiếu động lực và nguồn lực Chính vì vậy việc lựa chọn phương thức tiếp cận mới, phù hợp với đặc điểm quản lý
di sản của địa bàn cụ thể sẽ tạo được động lực và có thêm nguồn lực cho hoạt động quản lý cũng như sẽ nâng cao được hiệu quả của hoạt động này Quản lý DSVH trong mối quan hệ (gắn với) DL là phương thức tiếp cận rất phù hợp, nâng cao được hiệu quả bảo tồn và phát huy giá trị di sản đã được nhiều quốc gia, nhiều địa phương và điểm đến lựa chọn Tuy nhiên nội hàm của phương thức tiếp cận này phụ thuộc vào tính nhạy cảm của di sản và đặc điểm của từng địa bàn
Tổ chức UNESCO đã khẳng định vai trò quan trọng của cộng đồng trong việc bảo tồn di sản văn hóa và cho rằng không có văn hóa nếu không có người dân
và cộng đồng Sự tham gia tích cực của cộng đồng với những hiểu biết sâu sắc về các giá trị văn hóa truyền thống trong việc thực hành và truyền dạy được xem là nguồn lực quan trọng, có tính chất quyết định trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống
Khả năng liên kết các đối tượng có liên quan: Quản lý DSVH là nhiệm vụ
của nhiều cấp, nhiều ngành và nhiều đối tượng chứ không chỉ riêng của ngành văn hóa Chính vì vậy hoạt động quản lý chỉ có thể có hiệu quả nếu việc liên kết các đối tượng có liên quan là rất cần được chú trọng
Sự hỗ trợ của các tổ chức: Di sản văn hóa Việt Nam là một bộ phận không
tách rời di sản văn hóa nhân loại, chính vì vậy sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế về kinh nghiệm, về công nghệ, về nguồn lực tài chính sẽ luôn là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý di sản ở Việt Nam
Trang 39Việc nhận diện đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý di sản sẽ
là cơ sở để phân tích thực trạng hoạt động quản lý di sản, để qua đó xác định những vấn đề đặt ra và đề xuất các giải pháp phù hợp đối với việc nâng cao hiệu quả quản
lý di sản, đặc biệt là hiệu quả của hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản
1.4 Phát triển du lịch
1.4.1.1 Khái niệm du lịch
Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, DL đã được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay, DL đã trở thành một nhu cầu tất yếu, không thể thiếu được trong đời sống văn hoá - xã hội của nhiều người dân trên thế giới Xét dưới góc độ kinh tế, DL đã trở thành một ngành kinh tế
có vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia, thậm chí một số quốc gia
DL được coi là ngành kinh tế có vị trí hàng đầu trong việc thu hút ngoại tệ, tạo việc làm và là động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển
Hai học giả Thuỵ Sỹ là Hunziker và Kraff coi du lịch là tổng hòa các mối quan
hệ và hiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi cư trú và nơi làm việc thường xuyên của họ [137]
Dưới con mắt của các nhà kinh tế học, du lịch không chỉ đơn thuần là một hiện tượng xã hội mà nó liên quan mật thiết đến các hoạt động kinh tế Nhà kinh tế học Kalfiotis cho rằng “Du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hay tập thể từ nơi ở đến một nơi khác nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức và do đó tạo nên các hoạt động kinh tế” [139]
Tại Hội thảo quốc tế về lữ hành và thống kê du lịch, WTO đã đưa ra thêm một định nghĩa về DL , theo đó: “Du lịch được hiểu là hoạt động của con người đi tới một điểm ở bên ngoài môi trường sống thường xuyên của mình trong một thời gian nhất định và chuyến đi đó của họ không nhằm mục đích kiếm tiền tại nơi họ đến tham quan” [133]
Hoạt động phát triển DL được thực hiện trên cơ sở khai thác những giá trị của tài nguyên DL tự nhiên, văn hóa, lịch sử cùng với các cơ sở vật chất kỹ thuật và những dịch vụ kèm theo Kết quả của quá trình đó là việc hình thành những sản
Trang 40phẩm DL để đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách , qua đó đem lại lợi ích nhiều mặt cho xã hội
Với cách hiểu này, DL là hoạt động kinh tế lấy du khách làm đối tượng phục
vụ, lấy tài nguyên DL làm nền tảng phát triển, lấy cơ sở vật chất kỹ thuật, phương
tiện vận chuyển làm điều kiện cung cấp các loại sản phẩm và dịch vụ cho du khách
Như vậy có thể thấy khái niệm về DL cần phải được hiểu trong những ngữ cảnh cụ thể
Luật Du lịch được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
XI thông qua ngày 14/6/2005 trong Kỳ họp thứ 7 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2006, đã xác định “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [68] Nói cách khác, du lịch là một chuyến du hành nhằm mục đích giải trí, là sự thay đổi vị trí của con người từ nơi này đến nơi khác thông qua các chuyến đi để thư giãn, cân bằng lại cuộc sống
1.4.1.2 Phát triển du lịch bền vững
Phát triển bền vững về văn hóa đã được các tổ chức quốc tế về văn hóa cũng
đã được nhiều tổ chức quốc tế và học giả nước ngoài đề cập đến Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg đã thừa nhận văn hóa là nhân tố quan trọng của phát triển bền vững Theo đó, Hội nghị này cũng cho rằng di sản văn hóa, sự đa dạng văn hóa, du lịch bền vững và nghề thủ công truyền thống là những yếu tố cơ bản tác động tới phát triển bền vững Di sản văn hóa trong đó bao gồm cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tác động đến phát triển bền vững ở hai phương diện sau:
- Di sản văn hóa không chỉ chứa đựng giá trị văn hóa mà còn có thể mang lại giá trị kinh tế Đặc biệt khi di sản văn hóa trở thành thành tố cho các sản phẩm du lịch
- Kinh tế phát triển xét cho cùng phụ thuộc chặt chẽ vào văn hóa Văn hóa có vai trò quan trọng trong phát triển bền vững về kinh tế Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai [117, tr 29]