1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

GIẢI PHÁP THỊ TRƯỜNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH HÀNG MÂY TRE ĐAN CỦA TỈNH THÁI BÌNH

86 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trên thị trường thế giới về một loại hàng hoá XK nào đó gặp khó khăn do có sự cạnh tranh gay gắt hoặc cung vượt cầu quá lớn, XK gặp khó khăn thì giải pháp thị trường để tiêu t

Trang 1

Chuyên đề 5 GIẢI PHÁP THỊ TRƯỜNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH HÀNG MÂY TRE ĐAN CỦA TỈNH THÁI BÌNH

Trần Thị Ngọc Lan, Trần Hữu Cường

5.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về giải pháp thị trường

5.1.1 Cơ sở lý luận về giải pháp thị trường

Khái niệm thị trường, thị trường quốc tế

Thị trường là một phạm trù cơ bản của nền kinh tế hàng hoá- kinh tế thị trường

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thị trường, theo quan niệm thị trường như một vị trí địa lý: “Thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu, hay nó là tập hợp những dàn xếp

mà thông qua đó người mua và người bán tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá và dịch

vụ ”[4]

Theo Samueson (1948), “Thị trường là một quá trình, trong đó người mua và người bán một thứ hàng hoá tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và lượng hàng hoá” Với định nghĩa này, ông đã đơn giản hoá rằng, đây là một quá trình mua bán diễn ra trực tiếp giữa người mua và người bán mà ít bị điều khiển hoặc các yếu tố bên ngoài chi phối tới cả quá trình

Nhưng với David Begg (1995), thị trường được xem xét dưới nhiều khía cạnh hơn, “Thị trường là sự biểu hiện thu gọn của quá trình mà thông qua đó, các quyết định của các gia đình về tiêu dùng mặt hàng nào, quyết định của các công ty về sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và các quyết định của người công nhân về việc làm bao lâu, cho ai đều được dung hoà bằng sự điều chỉnh của giá cả”

Nói tóm lại, thị trường thể hiện tổng hoà các mối quan hệ về lợi ích giữa người mua và người bán trên một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhất định

Vậy thị trường có một vai trò rất quan trọng:

- Thị trường là nơi quyết định giá cả của hàng hoá và dịch vụ

- Thị trường là vấn đề sống còn của DN, là nơi kiểm nghiệm, đáng giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN một cách chính xác nhất

- Thị trường là nơi mà Nhà nước có thể tác động các chính sách kinh tế vĩ mô để điều tiết, kiểm soát, bình ổn thị trường, khuyến khích cả sản xuất và tiêu dùng trong xã hội

Hệ thống thị trường ở Việt Nam có 5 loại cơ bản: thị trường hàng hoá và dịch vụ; thị trường sức lao động (còn gọi là thị trường lao động); thị trường tiền tệ, thị trường khoa học và công nghệ, thị trường đất và bất động sản

* Thị trường mua hay gọi là thị trường đầu vào: thị trường đầu vào gồm thị

trường vốn, thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trường nhiên liệu, thị trường công nghệ…

* Thị trường tiêu thụ hay thị trường đầu ra: là nơi các doanh nghiệp xuất hiện với

Trang 2

tư cách người bán

* Thị trường nội địa (thị trường trong nước) là nơi các hoạt động trao đổi mua,

bán giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng giới hạn trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia Thị trường này bao gồm:

+ Thị trường tại chỗ bao gồm những khách hàng ở gần doanh nghiệp

+ Thị trường vùng: khách hàng của doanh nghiệp không chỉ gồm những người trong địa phương mà có thể còn là người ở các vùng khác, thậm chí nhiều vùng

+ Thị trường toàn quốc: sản phẩm của doanh nghiệp có thể được tiêu thụ trong cả nước, vì vậy mà khách hàng của doanh nghiệp có thể phân bố trên khắp đất nước

* Thị trường quốc tế (thị trường ngoài nước): khách hàng của doanh nghiệp là

người tiêu dùng của các quốc gia khác Hoạt động mua bán trên thị trường này chịu sự chi phối của luật lệ buôn bán quốc tế, việc thanh toán mua, bán hàng hoá được thực hiện bằng tiền tệ quốc tế

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế của các quốc gia, biên giới giữa thị trường trong nước và thị trường ngoài nước đang bị “mờ dần” thì Chính phủ các nước ngày càng quan tâm hơn để phát triển thị trường quốc tế Thị trường quốc tế của một nước là tập hợp những khách hàng nước ngoài tiềm năng có nhu cầu về những mặt hàng nào đó của nước

đó Ngày nay quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của du lịch càng tạo điều kiện thuận lợi cho sự mở rộng thị trường quốc tế của doanh nghiệp Theo nghĩa đó thì thị trường quốc tế của một nước chính là thị trường XK hàng hoá của nước

đó, trong đó bao hàm cả XK đi qua hải quan và XK tại chỗ

Khái niệm về thị trường xuất khẩu hàng hoá

Thị trường xuất khẩu hàng hoá (phân biệt với thị trường xuất khẩu dịch vụ) là tập hợp người mua và người bán có quốc tịch khác nhau, tác động với nhau để xác định giá

cả, số lượng hàng hoá mua bán, chất lượng hàng hoá và các điểu kiện mua bán khác theo hợp đồng, thanh toán chủ yếu bằng ngoại tệ và phải làm thủ tục hải quan trừ trường hợp khách hàng du lịch quốc tế mua hàng Việt Nam để tiêu dùng Thị trường XK hàng hoá bao hàm cả thị trường XK hàng hóa trực tiếp (nước tiêu thụ cuối cùng) và thị trường XK hàng hoá gián tiếp trung gian, thị trường XK tại chỗ hàng hoá[4] Thị trường XK hàng hoá hiểu theo khái niệm trên được phân loại theo các tiêu chí cơ bản sau:

* Căn cứ vào vị trí địa lý, có:

- Thị trường Châu Á

- Thị trường Châu Âu

* Căn cứ vào lịch sử ngoại thương, có:

- Thị trường truyền thống

- Thị trường hiện tại (thị trường hiện có)

- Thị trường mới

- Thị trường tiềm năng

* Căn cứ vào mức độ quan tâm và tính ưu việt trong chính sách phát triển thị trường của nước XK đối với các thị trường XK, có:

Trang 3

- Thị trường XK trọng điểm hay thị trường chính Đối với loại thị trường này, trong quan hệ ngoại thương, nước XK có thể chấp nhận một số thiệt thòi về lợi ích trước mắt để thu được lợi ích lâu dài Đây là thị trường mà một nước sẽ nhằm vào khai thác chính và trong một tương lai lâu dài

- Thị trường XK tương hỗ Đối với thị trường này, nước XK duy trì quan hệ ngoại thương dành cho nhau những ưu đãi và nhân nhượng tương xứng nhau, nhất là trong việc

mở cửa thị trường và mở rộng thị trường

* Căn cứ vào sức mua của thị trường, có:

- Thị trường XK có ưu thế cạnh tranh

- Thị trường XK không có ưu thế cạnh tranh

* Căn cứ vào nhu cầu và định hướng hoạt động của các doanh nghiệp

- Thị trường mục tiêu

- Thị trường tiềm năng

* Căn cứ vào thoả thuận thương mại cấp Chính phủ và các yêu cầu của đối tác thương mại về việc có hạn chế hay không hạn chế định lượng NK một số mặt hàng, có:

+ Thị trường cạnh tranh hoàn hảo

+ Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo Một dạng của loại hình này đã được nhiều nước ứng dụng thành công khi tìm kiếm thị trường XK là: “thị trường ngách” Thị trường ngách là một khoảng trống hay những “khe nhỏ” trên thị trường, ở đó đã xuất hiện hay tập hợp nhu cầu về một loại hàng hoá nào đó Những nhu cầu này chưa được các nhà kinh doanh khai thác phát hiện hoặc phát hiện ra, nhưng họ không có lợi thế hoặc không muốn đầu tư vào để thoả mãn Đối với nước ta, thị trường “ngách” cần được đặc biệt lưu

Trang 4

tâm nghiên cứu để XK hàng hoá vì quy mô và khối lượng XK nhiều loại hàng hoá của

nước ta phù hợp với loại thị trường này

Hình 5-1 Các loại thị trường xuất khẩu hàng hoá

Khái niệm về thị trường hàng hoá xuất khẩu

Thị trường hàng hoá XK là thị trường tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá của các ngành hàng sản xuất với mục đích để XK hoặc XK ra nước ngoài là chính, một phần nhỏ

Căn cứ vào vị trí địa lý

- Thị trường Châu Á

- Thị trường Châu Âu,…

Căn cứ vào mức độ quan tâm

- Thị trường XK trọng điểm

- Thị trường XK tương hỗ

Căn cứ vào mức độ cạnh tranh

- Thị trường có ưu thế cạnh tranh

- Thị trường không có ưu thế cạnh

tranh

Căn cứ vào nhu cầu của khách

hàng

- Thị trường mục tiêu

- Thị trường tiềm năng

Căn cứ vào thoả thuận TM cấp CP

Căn cứ vào kim ngạch XK

- Thị trường xuất siêu

Trang 5

tiêu thụ trên thị trường nội địa[4]

Thị trường tiêu thụ hàng hoá XK bao gồm 2 phân hệ lớn là thị trường tiêu thụ hàng hoá XK ở nước ngoài và thị trường tiêu thụ hàng hoá XK trong nước Trong đó, khi nói về thị trường hàng hoá XK thì trước hết và chủ yếu là nói đến thị trường XK hàng hoá Và do đó, nhiệm vụ của giải pháp thị trường (GPTT) hàng hoá XK cũng trước hết và chủ yếu là giải pháp thị trường XK hàng hoá Tuy nhiên, trên thị trường thế giới về một loại hàng hoá XK nào đó gặp khó khăn do có sự cạnh tranh gay gắt hoặc cung vượt cầu quá lớn, XK gặp khó khăn thì giải pháp thị trường để tiêu thụ các hàng hoá XK trong nước trở lên đặc biệt quan trọng, giúp các ngành sản xuất hàng hoá XK tránh được nguy

Hoạt động thị trường của doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hóa giữa người sản xuất và người tiêu dùng được vận hành do sự điều tiết của quan hệ cung cầu

Đặc trưng cơ bản nhất của cơ chế thị trường là động lực lợi nhuận, nó chỉ huy hoạt động của các chủ thể Trong kinh tế thị trường, đặc điểm tự do lựa chọn hình thức sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm: “lãi hưởng lỗ chịu”, chấp nhận cạnh tranh, là những điều kiện hoạt động của cơ chế thị trường Sự tuân theo cơ chế thị trường là điều không thể tránh khỏi đối với các doanh nghiệp, nếu không sẽ bị đào thải

Vậy hoạt động thị trường được hiểu là: quá trình tương tác lẫn nhau giữa các chủ thể (hoạt động) kinh tế trong việc hình thành giá cả, phân phối tài nguyên, xác định khối lượng và cơ cấu sản xuất Sự tương tác của các chủ thể tạo nên những điều kiện nhất định

để nhà sản xuất, với hành vi tối đa hóa lợi nhuận, sẽ căn cứ vào giá cả thị trường để quyết định ba vấn đề: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai

a) Nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp

Nghiên cứu thị trường là một nhiệm vụ quan trọng đối với mọi doanh nghiệp để nhằm hiểu biết quy luật vận động cuả chúng Mỗi thị trường hàng hoá cụ thể có quy luật vận động riêng Quy luật đó thể hiện qua sự biến đổi về cung cầu, giá cả hàng hoá vì trong nền kinh tế thị trường, muốn bán được hàng hoá và dịch vụ, doanh nghiệp phải cung cấp cái mà người tiêu dùng cần chứ không phải cái mà doanh nghiệp có hoặc có khả năng cung cấp

Nghiên cứu thị trường thế giới không chỉ giới hạn ở lĩnh vực lưu thông mà ở cả lĩnh vực sản xuất, phân phối hàng hoá Các DN phải tiến hành nghiên cứu cả thị trường trong nước và thị trường ngoài nước thông qua các hoạt động thị trường Ở những doanh nghiệp lớn có thể có những bộ phận chuyên nghiên cứu thị trường Ở những doanh nghiệp nhỏ chủ doanh nghiệp phải làm việc này Doanh nghiệp nhỏ nếu không tự làm được thì có thể thuê chuyên gia hoặc tổ chức tư vấn về nghiên cứu thị trường để họ tư

Trang 6

vấn cho doanh nghiệp

Thị trường quốc tế chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác nhau, thường là đa dạng và phong phú hơn nhiều so với thị trường nội địa Các nhân tố này có thể mang tính

vĩ mô và vi mô Một cách khái quát nhất, việc nghiên cứu thị trường quốc tế được tiến hành theo các nhóm nhân tố ảnh hưởng sau:

- Nghiên cứu các nhân tố mang tính toàn cầu: Nhân tố thuộc về hệ thống thương

mại quốc tế Mặc dù xu hướng chung trên thế giới là tự do hoá mậu dịch và các nỗ lực chung để giảm bớt hàng rào ngăn cản đối với kinh doanh quốc tế, các nhà kinh doanh nước ngoài phải đối mặt với các hạn chế thương mại khác nhau Phổ biến nhất là thuế quan, một loại thuế do Chính phủ nước ngoài đánh vào những sản phẩm nhập khẩu Nhà xuất khẩu cũng có thể phải đối mặt với hạn ngạch

Thương mại quốc tế cũng bị ảnh hưởng bởi hạn chế do việc kiểm soát ngoại hối

và đối diện với một loạt các hàng rào phi thuế quan như giấy phép nhập khẩu, những sự quản lý, điều tiết định hình như phân biệt đối xử với các nhà đầu tư nước ngoài, các tiêu chuẩn sản phẩm mang tính phân biệt đối xử với hàng nước ngoài

- Nghiên cứu các nhân tố thuộc môi trường kinh tế: Khi xem xét các thị trường

nước ngoài, nhà kinh doanh phải nghiên cứu nền kinh tế của từng nước Có ba đặc tính kinh tế phản ánh sự hấp dẫn của một nước xét như một thị trường cho các doanh nghiệp nước ngoài đó là:

+ Cấu trúc công nghiệp của nước nhập khẩu;

+ Việc phân phối thu nhập;

+ Động thái của các nền kinh tế (tốc độ tăng trưởng ảnh hưởng đến nhu cầu thị trường và tổng mức nhập khẩu sản phẩm)

- Nghiên cứu các nhân tố thuộc môi trường chính trị-luật pháp: Các quốc gia khác

nhau về môi trường chính trị - pháp lý Do đó khi xem xét khả năng mở rộng hoạt động sang một thị trường nước ngoài cần chú ý đến nhân tố cơ bản sau:

+ Thái độ đối với nhà kinh doanh nước ngoài;

+ Sự ổn định chính trị;

+ Sự điều tiết về tiền tệ;

+ Tính hiệu lực của bộ máy chính quyền

Các qui định mang tính chất bắt buộc về pháp luật và quản lý như việc cấm đoán hoặc kiểm soát đối với một số hàng hoá dịch vụ, cấm một số phương thức hoạt động thương mại (trong lĩnh vực quảng cáo), các kiểu kiểm soát về giá cả, các tiêu chuẩn mang tính bắt buộc đối với sản phẩm

- Nghiên cứu các nhân tố thuộc môi trường văn hoá: Mỗi quốc gia đều có những

tập tục, qui tắc, bản sắc riêng Chúng được hình thành theo truyền thống văn hoá mỗi nước và có ảnh hưởng to lớn đến tập tính tiêu dùng của khách hàng nước đó Tuy sự giao lưu văn hoá giữa các nước đã làm xuất hiện khá nhiều tập tính tiêu dùng chung cho moị dân tộc Song những yếu tố văn hoá truyền thống vẫn còn rất bền vững và có ảnh hưởng mạnh đến thói quen và tâm lý tiêu dùng Sự khác biệt văn hoá ảnh hưởng tới cách thức giao dịch được tiến hành, sản phẩm và hình thức khuyếch trương

- Nghiên cứu về môi trường khoa học kỹ thuật: Cần phải xem xét tới khả năng phát

triển khoa học ở các thị trường tránh trường hợp đi sau hoặc phát triển ở cuối chu kỳ sống của sản phẩm trên thị trường đó

- Nghiên cứu về quy mô và cơ cấu thị trường, về hành vi mua sắm của khách

hàng: lượng khách hàng, doanh thu theo thời gian, không gian, phân tích về thị phần, cơ

Trang 7

cấu thị trường theo mặt hàng và theo khu vực địa lý, phân tích động cơ và thói quen khi mua hàng của dân cư…

- Nghiên cứu nhân tố thuộc môi trường cạnh tranh: Trước hết, các nhà kinh

doanh nước ngoài phải đối đầu với các đối thủ cạnh tranh nội địa và các doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động trên thị trường đó Các doanh nghiệp cần chú ý tới việc nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh của mình về số lượng, khả năng cung ứng, khả năng tài chính, kế hoạch sản xuất, kế hoạch tiêu thụ Cần phải nghiên cứu kỹ phản ứng của các đối thủ cạnh tranh trước các biện pháp về giá, quảng cáo khuyến mại của công ty

Môi trường bên ngoài cạnh tranh rất ác liệt, để phân tích áp lực cạnh tranh đó, chúng tôi dùng mô hình năm cạnh tranh của Porter

Theo mô hình năm cạnh tranh của Porter, doanh nghiệp luôn phải chịu năm áp lực cạnh tranh, bao gồm: áp lực cạnh tranh từ các đối thủ hiện tại trong ngành, áp lực cạnh tranh từ các đối thủ mới, áp lực từ nhà cung cấp và áp lực từ dịch vụ hay sản phẩm thay thế

Hình 5-2 Sơ đồ mô hình năm áp lực thị trường của Porter

- Nghiên cứu về sản phẩm: chủng loại, màu sắc, kích cỡ, những sản phẩm được ưa

chuộng trên thị trường, nghiên cứu về sản phẩm mới và sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, nghiên cứu về bao bì và mẫu mã hàng hoá, nghiên cứu về những kiến nghị của khách hàng về sản phẩm

- Nghiên cứu giá cả: sự biến động giá cả trên thị trường, sự thay đổi giá cả của

Quyền lực đàm phán

Quyền lực đàm phán

Trang 8

những đối thủ cạnh tranh, biến động về tỷ giá ngoại tệ…

- Nghiên cứu về phân phối: nghiên cứu điểm bán hàng, bố trí kho, nghiên cứu về

mạng phân phối của đối thủ cạnh tranh, mạng lưới đại lý và mạng lưới bán lẻ Nhằm đáp ứng, phục vụ khách hàng một cách tốt nhất Bên cạnh đó công ty cần nghiên cứu tổ chức mạng lưới tiêu thụ sao cho phù hợp với điều kiện của mình nhằm đạt hiệu quả tốt nhất

- Nghiên cứu về quảng cáo, khuyến cáo và các hình thức bán hàng và từ các

nghiên cứu về thị trường sẽ đưa ra được những giải pháp về thị trường cho doanh nghiệp

Trên cơ sở nghiên cứu thị trường, các thông tin về các đối thủ cạnh tranh như: chính sách giá, chính sách phân phối, chính sách sản phẩm mà đưa ra các dự báo thị trường gồm những nội dung như: dự báo về số lượng hành hoá cung ra thị trường, dự báo

về nhu cầu thị trường, dự báo về thay đổi thị hiếu người tiêu dùng, dự báo về giá cả…, các doanh nghiệp nâng cao khả năng thích ứng với thị trường của các sản phẩm do mình sản xuất ra và tiến hành tổ chức tiêu thụ sản phẩm hàng hoá mà thị trường đòi hỏi

+ Doanh nghiệp có thể dự đoán hàng hoá tiêu thụ trên thị trường

+ Thông qua nghiên cứu thị trường doanh nghiệp xác định được đối thủ cạnh tranh, điểm mạnh, điểm yếu của họ

b) Khái niệm giải pháp thị trường của doanh nghiệp

Giải pháp thị trường là một chuyên ngành mới ở Việt Nam, nếu được áp dụng thường mang lại hiệu quả thị trường khá cao Tuy nhiên, đã nhanh chóng trở thành nhu cầu lớn cho xã hội và không thể thiếu cho sự phát triển của doanh nghiệp

Hoạt động thị trường trong của các doanh nghiệp đóng vai trò quyết định đến vị trí của doanh nghiệp trên thị trường Bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường, lập danh mục hàng hoá, đến thực hiện sản xuất, phân phối và khi hàng hoá được bán thì hoạt động thị trường vẫn được tiếp tục cho đến chức năng quản trị thị trường có liên quan đến các lĩnh vực quản trị khác trong DN và nó có vai trò định hướng, kết hợp các chức năng khác để không chỉ nhằm lôi kéo khách hàng mà còn tìm ra các công cụ có hiệu quả để thoả mãn nhu cầu của khách hàng, từ đó đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp

Khái niệm giải pháp thị trường

Thị trường thể hiện tổng hoà các mối quan hệ về lợi ích giữa người mua và người bán trên một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhất định

Quy luật thị trường: là quy luật mà sản phẩm nếu được thị trường chấp nhận thì tồn tại, nếu thị trường không chấp nhận nó sẽ bị đào thải

Hộp 1

Theo ông Hoàng Hải Âu - Giám đốc Công ty Cổ phần Giải pháp thị trường Hoàng Gia - một trong những Công ty về giải pháp thị trường cho rằng: “Hiện nay thương hiệu quyết định sự tồn tại của một doanh nghiệp và một sản phẩm muốn đứng vững trên thị trường phải có thương hiệu” Điều đáng tiếc là doanh nghiệp thực hiện được việc xây dựng thương hiệu thì chưa phải là nhiều trong

số các doanh nghiệp tìm hiểu giải pháp thị trường thì có khoảng 60% là doanh nghiệp Nhà nước

và 40% là doanh nghiệp tư nhân, nhưng chỉ có khoảng 10% là thực hiện một cách bài bản

Trang 9

Giải pháp: là các biện pháp tác động làm sao cho hoạt động kinh tế đó tồn tại trên thị trường và được thị trường chấp nhận

Từ các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu: Giải pháp thị trường là tổng hợp các yếu tố đúng và cần thiết có tính quy luật để một doanh nghiệp, một thương hiệu, một sản phẩm thành công trên thương trường”[7]

Hay “Giải pháp thị trường là những phương pháp tác động, các mối quan hệ kinh

tế để giúp cho việc trao đổi hàng hoá trong nền kinh tế được nhanh hơn và có hiệu quả hơn” Vì vậy, giải pháp thị trường bao gồm: nghiên cứu, xây dựng và tổ chức các chương trình tác động thị trường của một sản phẩm cụ thể, thẩm định hiệu quả của nó, thiết kế và thực hiện quảng cáo…từ đó tạo nên một thương hiệu có chỗ đứng trên thị trường

Và chức năng của phòng kinh doanh trong các doanh nghiệp có nhiệm vụ chính là nghiên cứu và xác định các yếu tố có tính quy luật đó cho mỗi sản phẩm, mỗi doanh nghiệp một cách chuyên nghiệp và có hệ thống để đưa ra các giải pháp thị trường

c) Nội dung của giải pháp thị trường

Giải pháp thị trường được hiểu là các phương cách tác động, thúc đẩy, kích thích các nhân tố khác nhau tham gia vào quá trình kiến tạo, gìn giữ, mở rộng và phát triển thị trường tiêu thụ hàng hoá Mỗi giải pháp cụ thể đều hướng vào giải quyết các mặt, các khía cạnh khác nhau, các quá trình kinh tế khác nhau nhưng chúng có quan hệ hữu cơ với nhau và cùng thực hiện mục tiêu chung là thúc đẩy tiêu thụ hàng hoá

Về mặt lý thuyết, để đạt được mục tiêu xác định, người ta thường đưa ra các giải pháp tổng thể, để đạt được mục tiêu và giải pháp cụ thể giải quyết các khía cạnh, các mặt khác nhau, các nhân tố khác nhau tác động đến việc đạt được mục tiêu Vì thế có những giải pháp ở tầm chiến lược, có những giải pháp về mặt chính sách, có những giải pháp cụ thể để thực hiện chính sách Thông thường các giải pháp phải linh hoạt để thích ứng với tình hình kinh tế cụ thể

Phát triển sản phẩm, thiết lập các kênh phân phối, định giá sản phẩm, xúc tiến bán hàng, đóng gói sản phẩm, định vị thị trường (thâm nhập thị trường và phát triển thị trường theo cả chiều sâu và chiều rộng), yếu tố con người là những nội dung cơ bản của giải pháp thị trường

Phát triển sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là một yếu tố quan trọng thúc đẩy hoặc kìm hãm hoạt động tiêu thụ sản phẩm Trong nền kinh tế thị trường chất lượng sản phẩm là một vũ khí cạnh tranh sắc bén có thể dễ dàng đè bẹp các đối thủ cạnh tranh cùng ngành Vì vậy, các chương trình quảng cáo khi nói về sản phẩm của công ty, nhiều sản phẩm đưa tiêu chuẩn chất lượng lên hàng đầu: “Chất lượng tốt nhất”, “chất lượng vàng”, “chất lượng không biên giới” [7]

Chất lượng sản phẩm tốt không chỉ thu hút được khách hàng làm tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ mà còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao uy tín cho doanh nghiệp, đồng thời có thể nâng cao giá bán sản phẩm một cách hợp lý mà vẫn thu hút được khách hàng Ngược lại, chất lượng sản phẩm thấp thì việc tiêu thụ sẽ gặp khó khăn, nếu

Trang 10

chất lượng sản phẩm quá thấp thì ngay cả khi bán giá rẻ vẫn không được người tiêu dùng chấp nhận Đặc biệt trong ngành công nghiệp TCMN mây tre đan thì chất lượng sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng sản phẩm tiêu thụ

Việc bảo đảm chất lượng lâu dài với phương châm: “Trước sau như một” còn có ý nghĩa là lòng tin của khách hàng đối với DN là uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng Chất lượng sản phẩm tốt sẽ như sợi dây vô hình thắt chặt khách hàng với doanh nghiệp, tạo đà cho hoạt động tiêu thụ diễn ra thuận lợi

Định giá sản phẩm

Giá cả là yếu tố luôn giữ vai trò quan trọng và phức tạp nhất mà một doanh nghiệp phải đối mặt, các hiện tượng giá luôn mang ý nghĩa chung là: lợi ích kinh tế được xác định bằng tiền Còn đối với người mua, giá hàng hoá luôn được coi là chỉ số đầu tiên

để họ đánh giá phần “được” và chi phí phải bỏ ra để sở hữu và tiêu dùng hàng hoá

Giá chỉ là một côg cụ thuộc marketing-mix mà doanh nghiệp dùng để đạt mục tiêu của mình Điều đó có nghĩa là khi ra quyết định về giá phải đảm bảo tính nhất quán với các quyết định về sản phẩm, kênh phân phối và xúc tiến bán hàng Các doanh nghiệp nên thường xuyên xem xét và xem xét lại các mức giá của các sản phẩm TCMN mây tre đan đang cung cấp để đảm bảo rằng nó luôn phù hợp với thực tế của thị trường hiện tại

Đôi lúc các doanh nghiệp có thể cần giảm giá các sản phẩm, dịch vụ Nhiều doanh nghiệp thấy rằng lợi nhuận của một sản phẩm hay dịch vụ nào đó không có

sự tương đồng với các công sức và nguồn lực bỏ ra để sản xuất chúng Bằng việc nâng giá, các doanh nghiệp có thể đánh mất một số lượng khách hàng, nhưng tỷ lệ % khách hàng còn lại có thể sẽ phát sinh lợi nhuận trên từng giao dịch bán hàng

Đôi lúc các doanh nghiệp cần thay đổi các điều khoản và điều kiện bán hàng Đôi lúc bằng việc kéo giãn mức giá của bạn trong một vài tháng hay một vài năm, bạn có thể bán được nhiều hàng hơn

Đôi lúc các doanh nghiệp có thể phối kết hợp nhiều sản phẩm cùng với nhau để

có các chào hàng hay các xúc tiến đặc biệt

Đôi lúc các doanh nghiệp có thể đưa vào một hai khuyến mãi nhỏ nào đó mà ít tốn kém chi phí song khiến mức giá của bạn hấp dẫn hơn đối với các khách hàng

Trong kinh doanh, đúng như bản chất của nó, bất cứ khi nào doanh nghiệp thấy được một sự kháng cự hay thất vọng đối với bất cứ phần nào của các hoạt động bán hàng hay Marketing, hãy sẵn sàng xem xét lại bộ phận đó Hãy sẵn sàng với khả năng rằng cấu trúc giá cả hiện tại của doanh nghiệp có thể chưa thích hợp với thị trường trong cùng thời điểm Hãy sẵn sàng với nhu cầu đánh giá lại các mức giá nhằm duy trì tính cạnh tranh, sống sót và tăng trưởng trong một thị trường thay đổi nhanh chóng

Thiết lập hệ thống kênh phân phối

Phân phối là toàn bộ quá trình hoạt động theo không gian, thời gian, nhằm đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng

Kênh phân phối là tập hợp các cá nhân hay công ty tự gánh vác hay giúp đỡ chuyển giao cho một ai đó quyền sở hữu đối với một hàng hóa cụ thể hay một dịch vụ

Trang 11

trên con đường từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng

Hệ thống kênh phân phối là quan hệ của một nhóm các tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình đưa hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, là một

hệ thống các mối quan hệ tồn tại giữa các tổ chức có liên quan trong quá trình mua và bán hàng hóa

Có nhiều cách phân loại kênh phân phối theo các tiêu thức khác nhau

- Theo tiêu thức trực tiếp, gián tiếp:

+ Kênh phân phối trực tiếp: Đây là kênh phân phối mà trong đó không tồn tại nhà phân phối trung gian Các nhà sản xuất bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng

Xuất khẩu trực tuyến: Thông qua thương mại điện tử rất nhiều doanh nghiệp

đã mạnh dạn chọn kênh xuất khẩu trực tuyến (một kênh giao dịch quan trọng có thị phần cao của Mỹ và hơn 40 quốc gia khác) để mở rộng thị trường và đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của mình

Xuất khẩu tại chỗ: Đây là kênh phân phối cung cấp hàng hoá cho khách tham quan du lịch nước ngoài tại các khu du lịch

+ Kênh phân phối gián tiếp: Đây là kênh phân phối có sử dụng các thành phần trung gian trong quá trình lưu thông hàng hóa Tùy theo từng trường hợp cụ thể mà khách hàng trực tiếp của nhà sản xuất có thể là nhà bán buôn, hay bán lẻ Nhà sản xuất không trực tiếp bán hàng cho người tiêu dùng Trong kênh phân phối này sản phẩm có thể được lưu thông qua nhiều nhà trung gian khác nhau mới tới tay người tiêu dùng Khi sản phẩm phải qua tay nhiều nhà trung gian giá cả của nó sẽ tăng lên khi đến tay người tiêu dùng

+ Kênh phân phối hỗn hợp: Đây là kênh phân phối mà trong đó nhà sản xuất sử dụng cả hai hình thức phân phối sản phẩm trực tiếp đến tay người sử dụng và qua trung gian Trong hình thức tổ chức kênh phân phối này nhà sản xuất khai thác được thế mạnh khi bán hàng trực tiếp cho người sử dụng cũng như lợi thế của các nhà trung gian

- Theo tiêu thức độ dài kênh:

+ Kênh phân phối dài: Đây là hình thức phân phối có sự tham gia của nhiều nhà trung gian Trong đó hàng hóa trước khi tới tay người tiêu dùng phải trải qua nhiều nhà trung gian,

từ các nhà buôn lớn tới nhà buôn nhỏ rồi tới các nhà bán lẻ

+ Kênh phân phối ngắn: Đây là hình thức phân phối hàng hóa trực tiếp từ nhà sản xuất đến người sử dụng không qua trung gian hoặc có nhưng không qua nhiều nhà trung gian Thông thường kênh phân phối ngắn xác định trong trường hợp chỉ có một nhà trung gian tham gia phân phối sản phẩm và đó có thể là nhà bán buôn hoặc bán lẻ

- Theo tính chất sản phẩm của kênh:

+ Kênh phân phối sản phẩm cho tiêu dùng;

+ Kênh phân phối sản phẩm cho khách hàng công nghiệp

Hộp 2

Theo anh Hoàng Long, phụ trách marketing của một công ty chuyên sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ: “Hiện nay, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của các công ty có quy mô nhỏ như chúng tôi đều hướng tới xuất khẩu, đặc biệt là tới các thị trường lớn và tiềm năng như thị trường Hoa Kỳ Tuy nhiên, với cách làm truyền thông, chi phí để tham gia các cuộc hội chợ triển lãm quốc tế, các hoạt động xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm là rất cao, đôi khi vượt quá khả năng của doanh nghiệp…”

Trang 12

Đối với khách hàng công nghiệp, các kênh thường ngắn hơn Lý do là khách hàng loại này ít hơn, tập trung hơn về mặt địa lý và số lượng mua thường lớn

Các nhà quản trị phải nắm được ưu nhược điểm của các hình thức tổ chức kênh phân phối, kết hợp với tình hình thực tế của đơn vị mình để lựa chọn một hình thức sao cho hiệu quả nhất

Kênh phân phối hoạt động được thông qua các dòng vận động (dòng chảy), các dòng chảy này kết nối các thành viên kênh với nhau, là một quá trình vận động liên tục không ngừng Mỗi dòng chảy là một tập hợp các chức năng được thực hiện thường xuyên bởi các thành viên kênh

Hình 5-3 Các dòng lưu chuyển trong kênh phân phối

d) Thâm nhập thị trường

Thâm nhập thị trường là việc tăng trưởng bằng việc đạt được thị phần của sản phẩm hiện có trong thị trường hiện có Thực hiện thông qua:

+ Quảng cáo: thu hút những người chưa sử dụng sản phẩm thì sử dụng sản phẩm,

khuyến khích những người đã sử dụng sản phẩm thì sử dụng nhiều hơn

+ Định giá thấp: thu hút người mua từ đối thủ cạnh tranh

Đơn vị Quản cáo

Người Bán buôn

Người Bán lẻ

Dòng Thanh toán

Người tiêu dùng

Người Bán buôn

Người Bán lẻ

Người tiêu dùng

Người Sản xuất

Người Bán buôn

Người Bán lẻ

Người tiêu dùng

Người Sản xuất

Công ty Vận tải

Người Bán buôn

Người Bán lẻ

Người tiêu dùng

Người Sản xuất

Người Bán buôn

Người Bán lẻ

Người tiêu dùng

Người Sản xuất Người

Sản xuất

Trang 13

Trong kinh doanh, khi muốn thâm thập thị trường, doanh nghiệp không thể nhằm vào tất cả khách hàng vì thị trường rất rộng và không đồng nhất, mà tiềm lực của mỗi doanh nghiệp lại có hạn Doanh nghiệp nên chọn cho mình một thị trường nhỏ hơn hợp

với sức của mình, cần chia nhỏ thị trường theo phương pháp “cắt lát” Doanh nghiệp sẽ

tập trung mọi nỗ lực vào một đoạn hay một vài đoạn thị trường thích hợp để làm thị trường đích Tốt nhất là doanh nghiệp nên chọn những đoạn rỗng Đoạn thị trường rỗng

là đoạn chưa có doanh nghiệp nào cung ứng sản phẩm Nếu chọn đoạn này thì doanh nghiệp sẽ không phải cạnh tranh với doanh nghiệp khác, nhờ vậy mà khả năng thâm thập vào thị trường trở nên thuận lợi hơn rất nhiều

Về lý thuyết thì dù thị trường có phồn thịnh đến đâu vẫn tồn tại những đoạn thị trường rỗng Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải tìm ra những đoạn thị trường rỗng này

và tìm cách để thâm nhập vào nếu nó muốn thành công

e) Phát triển thị trường

Tăng trưởng bằng cách gia nhập thị trường mới với những sản phẩm hiện có, thực hiện về khía cạnh mặt hàng, theo chiều sâu và chiều rộng Khi định hướng cho phát triển thị trường, một nước có thể phát triển theo chiều rộng hay chiều sâu hoặc cùng một lúc phát triển theo cả 2 hướng này (tức là đồng thời phát triển theo cả 2 hướng cả về lượng và

cả về chất)

Phát triển thị trường chiều rộng là quá trình phát triển cả về số lượng khách hàng

có cùng loại nhu cầu để bán nhiều hơn một loại sản phẩm hàng hoá nào đó Đồng thời việc phát triển theo chiều rộng còn bao gồm cả việc phát triển về không gian thị trường

và phạm vi địa lý của thị trường tiêu thụ hàng hoá Quá trình đó đòi hỏi phải không ngừng nghiên cứu xu thế phát triển, biến đổi của kinh tế thế giới, các loại thị trường nước ngoài để thâm nhập vào các thị trường đó

Phát triển thị trường theo chiều sâu bao gồm các nội dung cơ bản sau:

+ Một là, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và các dịch vụ kèm theo, đưa ra

thị trường những hàng hoá tinh xảo và chất xám cao

+ Hai là, trên cùng một không gian địa lý thị trường cần đẩy mạnh sự phát triển

đồng bộ các loại thị trường như các thị trường XK hàng hoá, dịch vụ, vốn, sức lao động, các sản phẩm trí tuệ… để bổ sung, hỗ trợ và tạo tiền đề cho nhau phát triển

+ Ba là, xây dựng và mở rộng không ngừng mạng lưới (hệ thống) phân phối đối

với từng mặt hàng trên các thị trường

+ Bốn là, tạo nên sự tuỳ thuộc lẫn nhau, gắn bó lẫn nhau giữa các nước XK với

nước NK thông qua gắn giải pháp thị trường XK với thị trường NK hàng hoá, góp phần tạo nên tính ổn định của thị trường Giải pháp thị trường có thể thực hiện theo cách cắt lớp, phân đoạn thị trường để thoả mãn nhu cầu muôn hình muôn vẻ của khách hàng

f) Mở rộng thị trường

Mở rộng thị trường là việc tăng trưởng bằng việc các doanh nghiệp phải tìm cho mình những thị trường mới tiêu thụ được nhiều sản phẩm cả cũ và mới và bên cạnh đó

Trang 14

trong cơ chế thị trường các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để duy trì thị trường truyền thống song song với việc mở rộng thị trường mới

Mở rộng thị trường tiêu thụ và thu hút khách hàng, trong cơ chế cạnh tranh là một vấn đề khó khăn và phức tạp, nhưng nó lại quyết định sự thành bại của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường Thử hỏi một sản phẩm làm ra mà không tiêu thụ được (không có thị trường) thì sản phẩm doanh nghiệp đó sẽ đi đến đâu Thị trường là điểm nóng và là trọng tâm của các doanh nghiệp; không những hiện tại mà cả trong tương lai, chỉ có làm tốt công tác tiêu thụ mới góp phần thúc đẩy sản xuất, tạo việc làm và cải thiện đời sống cho người lao động

Trang 15

Vai trò của giải pháp thị trường

Thị trường là vấn đề sống còn của doanh nghiệp, nơi đó khách hàng là “vua” Vì vậy, để thị trường chấp nhận sản phẩm của mình DN phải “cung” cái mà thị trường cần, khách hàng đòi hỏi chứ không phải “cung” cái mà DN có hoặc doanh nghiệp thích Và thành công thị trường của một sản phẩm, một thương hiệu thực chất là việc thị trường chấp nhận mua, tiêu dùng sản phẩm mang các thương hiệu đó

Trong thời kì kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các DN hoạt động sản xuất theo hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh, do đó hoạt động của doanh nghiệp hoàn toàn tách khỏi thị trường và hoạt động thị trường không hề tồn tại Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các

DN được tự do cạnh tranh để đáp ứng nhu cầu của khoa học một cách tốt nhất Kinh tế thị trường ngày càng phát triển, mức độ cạnh tranh càng cao, cạnh tranh vừa là động lực thúc đẩy, vừa là công cụ đào thải, chọn lựa khắt khe của thị trường đối với DN Vì vậy muốn tồn tại và phát triển, các DN phải hoà mình vào thị trường, làm hài lòng, thoả mãn

nhu cầu của khách hàng và giải pháp thị trường trở thành “chìa khoá vàng” của DN để đi

đến thành công

Giải pháp thị trường là nền tảng, là xương sống của chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Trình độ sản xuất càng cao, cạnh tranh trên thị trường càng quyết liệt thì vai trò của GPTT càng trở nên quan trọng Chỉ khi hình thành được GPTT thì DN mới có phương hướng để đầu tư, nghiên cứu, thiết kế, sản xuất và kinh doanh Nếu GPTT không đảm bảo một sự tiêu dùng chắc chắn về sản phẩm thì các hoạt động của DN trở nên rất mạo hiểm và có thể dẫn đến những thất bại nặng nề

Giải pháp thị trường giúp cho các doanh nghiệp:

§ Đảm bảo cho hoạt động sản xuất - kinh doanh của DN được diễn ra liên tục;

§ Đảm bảo sự chấp nhận của người tiêu dùng đối với hàng hoá của doanh nghiệp;

§ Đảm bảo việc duy trì, phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ thông qua việc tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ và đưa sản phẩm mới vào thị trường;

§ Đảm bảo sự cạnh tranh được đối với sản phẩm cùng loại trên thị trường;

§ Giải pháp thị trường còn đảm bảo sự gắn bó chặt chẽ giữa các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng của DN, nhằm thực hiện các mục tiêu của chiến lược tổng thể

Các yếu tố tác động đến giải pháp thị trường của doanh nghiệp

Các yếu tố tác động đến giải pháp thị trường tiêu thụ sản phẩm TCMN mây tre đan của các doanh nghiệp trong tỉnh như sau:

Bất kể một doanh nghiệp hay một ngành sản xuất kinh doanh nào cũng đặt trong một môi trường kinh doanh nhất định, bao hàm các yếu tố chủ quan (môi trường bên trong) và các yếu tố khách quan (môi trường bên ngoài) Để phân tích các yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài, chúng ta có thể sử dụng các số liệu có sẵn hoặc qua khảo sát nghiên cứu từ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp

Đối với các DN các yếu tố nhằm thúc đẩy giải pháp thị trường để tiêu thụ sản phẩm, bao gồm các yếu tố chủ quan có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của

DN, bao gồm các yếu tố có tác động tích cực và tiêu cực Các yếu tố có tác động tích cực

Trang 16

chính là điểm mạnh của DN, như đội ngũ cán bộ công nhân viên giỏi, dây truyền sản xuất hiện đại, nguồn tài chính dồi dào, thương hiệu mạnh, nổi tiếng Các yếu tố có tác động tiêu cực chính là điểm yếu của doanh nghiệp như dây truyền sản xuất lạc hậu, cũ kỹ, tay nghề công nhân thấp, nguồn tài chính eo hẹp, khả năng lãnh đạo yếu kém, không có thị trường tiêu thụ,

Hình 5-4 Các yếu tố tác động đến giải pháp thị trường thủ công mỹ nghệ mây tre

đan

Như vậy, nhóm các yếu tố bên trong, trong đó nguồn nhân lực - yếu tố đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của DN và là điều kiện tiền đề tạo ra những bước phát triển mang tính đột phá nhằm phát triển và mở rộng thị trường cho các DN

Các yếu tố bên ngoài chính là các yếu tố khách quan, có những ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, bao gồm các yếu tố có tác động tích cực và tiêu cực Các yếu tố tác động tích cực chính là cơ hội cho doanh nghiệp, như nhu cầu thị trường gia tăng, chính sách hỗ trợ của Nhà nước, các điều tiết vi mô của Nhà nước,…Các yếu tố có tác động tiêu cực chính là nguy cơ đe doạ đối với doanh nghiệp, như: nhu cầu thị trường sụt giảm, thêm nhiều đối thủ cạnh tranh, giá vật tư tăng cao,…

Có thể nói, phân tích các yếu tố môi trường bên ngoài là phân tích cơ hội và nguy

cơ của DN Phân tích cơ hội để chỉ ra những cơ hội tốt cần nắm bắt, phân tích nguy cơ chỉ ra các yếu tố tác động xấu đến DN cần né tránh

Đặc điểm sản xuất kinh doanh trong ngành thủ công mỹ nghệ mây tre đan

Yếu tố bên ngoài

-Nguồn nguyên liệu -Cơ sở hạ tầng (giao thông, thông tin…) -Mức độ tập trung sản xuất (làng nghề) -Môi trường pháp lý (vai trò của Chính phủ, vai trò của Tỉnh)

-Chính sách ưu đãi (tài chính, thương mại ) -Đối thủ cạnh tranh

-Mức độ phát triển và hiệu quả hoạt động của Hiệp hội

Yếu tố bên trong

-Năng lực tổ chức, quản lý

-Năng lực về tài chính

-Quy mô sản xuất, trình độ thiết bị

công nghệ

-Nguồn nhân lực (trình độ văn

hoá, chuyên môn kỹ thuật…)

-Chiến lược kinh doanh của doanh

Trang 17

Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) rất đa dạng, phong phú và có hàng trăm nghề Theo Pierre Gourou (1936) - Nhà xã hội học người Pháp đã phân chia các nghề thủ công thôn dã vùng đồng bằng bắc bộ thành 9 loại hình ngành nghề cơ bản: Nghề dệt, nghề chế biến thực phẩm, nghề đan lát, nghề sản xuất vôi gạch ngói, thợ nề, nghề làm

giấy, đồ vàng mã, nghề rèn, đúc, chế tác kim loại, nghề làm nông cụ, nghề làm gốm[11]

Nhóm tác giả nghiên cứu thuộc viện khoa học xã hội và nhân văn lại chia các ngành nghề sản xuất TCMN như: gốm sứ mỹ nghệ, sơn mài, thêu, ren, thảm, chạm khắc

gỗ, chạm khắc đá, chạm mạ vàng bạc, dệt tơ tằm thổ cẩm, mây tre đan các loại [28]

Trong nhóm TCMN mây tre đan các loại, dựa vào nguyên liệu hoặc quy trình công nghệ lại có thể phân thành: Nghề đan: đan mây, song, tre nứa, giang, lá, cỏ, cói…

Trong “Đề án phát triển XK giai đoạn 2006 - 2010” của Bộ Thương mại, định hướng phát triển nhóm hàng TCMN chiếm một vị trí rất quan trọng Đây là một trong số ngành được đánh giá là có nhiều tiềm năng phát triển bền vững, xuất khẩu lớn và có tỷ suất lợi nhuận cao Mục tiêu phấn đấu cho năm 2010 của Việt Nam phải đạt là 1,5 tỉ USD[5]

Với việc được bạn bè thế giới ưa chuộng, Việt Nam đã nằm trong tốp 3 sau Trung Quốc, Inđônêxia về sản phẩm tre xuất khẩu nhiều nhất, đứng thứ 2 sau Inđônêxia, đứng trước Trung Quốc trong số 3 quốc gia dẫn đầu thị phần sản phẩm mây XK[26]

Các nước xuất khẩu sản phẩm tre chính

T rung Quốc 88.32

Lào 0.02 Myanma

2.42 Việt Nam 2.84

Indonexia

6.4

T rung Quốc 6.98%

Lào 0.65%

Myanma 7.93%

Việt Nam 20.07%

Indonexia 6.4%

Trang 18

hàng thủ công mỹ nghệ phải phấn đấu tăng trưởng rất cao mới thực hiện được kế hoạch

đề ra Ước đoán kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ từ năm 2006-2010

Bảng 5-1 Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam từ năm 2006-2010

Đơn vị: Triệu USD

Tỷ trọng (%)

Giá trị (triệu USD)

Tỷ trọng (%)

Nguồn: [5]

Ngành nghề mây tre đan có đặc điểm như sau:

Xét về tổng quan phát triển ngành hàng mây tre đan của Việt Nam trong những năm qua có thể khái quát ở một mô hình đặc trưng mang tính tổ chức không gian rõ nét Trước hết, đó là sự tách biệt về không gian giữa các khâu sản xuất nguyên liệu, sản xuất sản phẩm và thương mại sản phẩm[26]

Sản xuất nguyên liệu

Địa bàn: Các tỉnh phát triển lâm nghiệp Sản phẩm: nguyên liệu mây, tre

Chế biến mây tre đan

Địa bàn: Các tỉnh đông dân; sẵn

lao động và kỹ năng tay nghề, có

nhiều làng nghề

Marketing sản phẩm

Địa bàn: Các thành phố, trung tâm thương mại

Sản phẩm: Hoàn thiện sản phẩm

Trang 19

Hình 5-6 Mô hình ngành nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan

Trong đó:

ü Nguồn cung nguyên liệu như mây, tre được xuất phát từ những địa bàn có rừng như miền núi phía Bắc (Hòa Bình, Sơn La…); Miền Trung (Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam…) hay Tây nguyên (Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng)

ü Địa bàn sản xuất và chế biến các sản phẩm mây, tre là nơi dồi dào về lao động, có nhiều làng nghề và nghệ nhân có tay nghề cao như Đồng bằng sông Hồng (Hà Tây, Hà Nội, Hà Nam, Thái Bình…); Đông Nam Bộ (Đồng Nai, Bình Dương) hay Duyên hải miền Trung (Quảng Nam, Đà Nẵng…)

ü Trung tâm tiêu thụ sản phẩm lại là các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng… nơi có những cơ sở hạ tầng thương mại tiên tiến cho việc xuất khẩu, quảng bá sản phẩm, v.v…

Hiện tại trong các số liệu thống kê chính thức của Nhà nước cũng chưa có số liệu riêng về các doanh nghiệp trong ngành TCMN mây tre đan mà được thống kê vào nhóm các doanh nghiệp chế biến lâm sản (gỗ, tre, nứa, lá, rơm rạ…) Theo số liệu thống kê số lượng doanh nghiệp này tăng lên liên tục trong những năm gần đây Nếu như năm 2000

cả nước chỉ có 742 doanh nghiệp hoạt động trong thời gian này thì con số này đã lên tới

2030 vào năm 2009 Một điều đáng chú ý là giá trị doanh thu thuần bình quân cũng tăng lên đáng kể từ 6 tỷ đồng năm 2000 lên 7,8 tỷ đồng năm 2006[26]

Số lượng và doanh thu của DN chế biến gỗ, tre, nứa, rơm rạ thời kỳ 2002-2006

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Hình 5-7 Số lượng và doanh thu của các doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ

Đi vào từng vấn đề cụ thể ngành nghề TCMN mây tre đan có đặc điểm như sau:

Trang 20

Ngành nghề TCMN mây tre đan là những hoạt động sản xuất phi nông nghiệp quy mô sản xuất nhỏ, phân tán trong các hộ gia đình Hầu như không có doanh nghiệp nào có qui mô 5.000 người trở lên Số doanh nghiệp qui mô trên 300 lao động chỉ ở mức 1-2% Phổ biến các doanh nghiệp có qui mô dưới 200 lao động, trong đó qui mô dưới 50 lao động chiếm hơn 44% số doanh nghiệp hiện có[26]

Xét về vốn, các doanh nghiệp nước ta còn quá khiêm tốn Phần lớn các doanh nghiệp (gần ¾ số doanh nghiệp) có số vốn dưới 5 tỉ đồng Số doanh nghiệp có vốn lớn hơn 50 tỷ đồng mới chỉ ở mức dưới 5% số doanh nghiệp hiện tại[26]

+ Máy móc, công nghệ

Sự phát triển ngành nghề mây tre thể hiện sự gắn kết, thống nhất và hoà đồng giữa nền công nghiệp phát triển ở thành thị với công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Đồng thời còn thể hiện quá trình phát triển của nền công nghiệp về mặt kỹ thuật từ trình độ thủ công nên nửa cơ khí, tiến tới cơ khí hoá và tự động hoá

Đầu tư công nghệ và kỹ thuật tại các cơ sở chế biến rất hạn chế, thường là thủ công chỉ có một số khâu đòi hỏi cơ giới hoá như chẻ che, chẻ mây, sơn tĩnh điện hay sấy lưu huỳnh chống mốc, đối với các công ty có sản lượng chế biến hàng năm lớn thường đầu tư máy móc thiết bị tạo khuôn mẫu (dây chuyền phun sơn tĩnh điện, xưởng cơ khí tạo khung, v.v ).…

+ Hình thức sản xuất

Sản phẩm TCMN mây tre đan có tính hàng hoá cao: trước đây sản xuất nghề

TCMN mây tre đan có tính tự sản xuất, trực tiếp phục vụ yêu cầu sản xuất và tiêu dùng của gia đình Tổ chức sản xuất kinh doanh tại các làng nghề chủ yếu dựa theo kinh nghiệm truyền thống, đầu óc sáng tạo và sự khéo léo của đôi tay Nhiều kinh nghiệm và công nghệ sản xuất có tính gia truyền, được lưu giữ và truyền trong nội tộc, dòng họ, làng xã… từ đời này sang đời khác[10]

Nhưng ngày nay sản phẩm mây tre đan được đem trao đổi, bán trên thị trường trong nước và xuất khẩu Bên cạnh tổ chức sản xuất phổ biến là hộ chuyên và hộ kiêm đã

và đang hình thành nhiều cơ sở (Doanh nghiệp, HTX …) trực tiếp sản xuất và xuất khẩu mây tre đan

§ Các doanh nghiệp, chủ cơ sở, người lao động nhận đặt hàng gia công nhưng không chịu trách nhiệm về khâu cung ứng nguyên liệu

§ Các doanh nghiệp, chủ cơ sở, người lao động nhận đặt hàng gia công nhưng chịu trách nhiệm khai thác nguyên liệu

§ Các doanh nghiệp, chủ cơ sở, người lao động tự tổ chức sản xuất các mặt hàng TCMN mây tre đan để bán cho người thu gom sản phẩm Thông thường, các sản phẩm tiêu dùng nội địa được sản xuất theo phương thức này

+ Nguồn nguyên liệu

Trong sản xuất hàng mây tre đan, người ta sử dụng các nguyên liệu trong nước sản xuất chính là tre, mây, song, guột,… còn sử dụng thêm một số nguyên liệu khác như

gỗ, sứ, vải và các hoá chất khác như lưu huỳnh, keo, sơn để đảm bảo thẩm mỹ và tính bền vững của sản phẩm Các nguyên liệu này nằm ở nhiều vùng miền khác nhau sẵn có tại các địa phương, có thể tận dụng trồng ở mọi nơi bờ ao, bờ sông, ven làng, ven đê, dễ trồng, chi phí chăm sóc thấp, thích ứng với mọi vùng đất từ đồng bằng, trung du và miền núi Khai thác lâu dài hiệu qủa vài chục năm mang tính bền vững và đặc biệt còn sử dụng

Trang 21

các nguồn phụ phẩm của sản phẩm nông nghiệp (bèo tây) được xem như là một phát kiến mới trong điều kiện nguồn nguyên liệu mây tre trong tự nhiên đang cạn kiệt và mở ra công ăn việc làm cho người dân trong vùng có thêm thu nhập, đem lại giá trị kinh tế cao[20]

+Nguồn lao động

Với đặc thù là ngành sử dụng nhiều lao động thủ công nên lao động nông nghiệp ngành nghề TCMN mây tre đan gắn kết chặt chẽ với nhau hoạt động theo cơ chế gia công, sử dụng lao động thời vụ là chính lên có thể huy động một lúc nhiều lao động cho những đơn hàng nhất định Thời gian này sản xuất nông nghiệp nhưng thời gian sau lại sản xuất mây tre đan, vì vậy rất khó tách đâu là đâu là lao động nông nghiệp và đâu là lao động nghề mây tre đan Trong cơ cấu lao động làm việc tại các DN khảo sát thời gian qua cho thấy có tới 71.39% số lao động được huy động tại chỗ (tại làng nghề), 24.11% từ các

xã lân cận và chỉ có 4.5% từ các tỉnh huyện khác

Theo số liệu điều tra của tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), với trên 1.423 triệu hộ tham gia sản xuất TCMN, ngoài lao động thường xuyên, các hộ, cơ sở ngành nghề còn thu hút rất nhiều lao động thời vụ Trung bình mỗi hộ thu hút từ 2-5 lao động,

và 1 cơ sở thu hút từ 8-10 lao động thời vụ Thu nhập bình quân của thợ thủ công cao hơn mức thu nhập bình quân của cả nước, đạt xấp xỉ 600 – 800 nghìn đồng/ người/ tháng, mức thu nhập này cũng khá chênh lệch theo chủng loại sản phẩm và theo trình độ tay nghề[14]

Bảng 2.3 Lao động ngành nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan toàn quốc năm 2008

Ngành nghề Số lượng lao động phân theo giới

Chi phí đào tạo lao động thường nhỏ và tốn ít thời gian, mỗi khi có những mẫu hàng mới người cán bộ kỹ thuật có thể làm mẫu hay tập huấn vài hôm thậm chí chỉ một buổi người lao động có thể làm được rồi

Xét về độ tuổi các chủ doanh nghiệp phần lớn đã ở mức trên 45 tuổi Số người ở

độ tuổi từ 45 đến 60 chiếm tới 53.25% số người được hỏi, thậm chí còn tới hơn 5% số chủ doanh nghiệp đã ở tuổi nghỉ hưu Đây cũng là một đặc điểm của ngành mây tre đan, yêu cầu cao về kinh nghiệm và kỹ năng, nhất là những nghệ nhân trong làng nghề Trong khi đó những người ở độ tuổi dưới 35 chưa tới 10%, phần nào hạn chế tính năng động và sáng tạo trong sản xuất kinh doanh Yếu tố tuổi tác này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến

Trang 22

tính bảo thủ trong việc thiết kế mẫu mã và kỹ thuật của ngành mây tre đan trong những thập kỷ qua

Khoảng 1/5 số chủ doanh nghiệp được trưởng thành từ trong thực tiễn sản xuất kinh doanh (với qui trình cha truyền con nối) Mới chỉ có gần 15% số chủ doanh nghiệp

có kiến thức về kinh tế thương mại hay tài chính Phần lớn (tới hơn 62% số người được hỏi) trưởng thành không qua đào tạo chuyên môn chính qui Phần lớn trưởng thành qua kinh nghiệm làm việc trong ngành

+Mẫu mã sản phẩm

Sản phẩm được sản xuất ra thường mang tính đơn chiếc và mẫu mã sản phẩm gắn liền với bản sắc văn hoá và luôn thay đổi theo thị hiếu, nên rất khó bảo vệ bản quyền về mẫu mã sản phẩm

Hiện tại các DN TCMN mây tre đan có thể sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm:

từ các sản phẩm thô sơ như các vật dụng gia đình, cung cụ sản xuất (thúng, mủng, rổ rá…) cho tới những sản phẩm mỹ nghệ tinh sảo như hàng thủ công mỹ nghệ (bình hoa, tranh tre…) và thậm chí cả những ngôi nhà bằng tre Chủng loại sản phẩm (thường gọi là

mã hàng) được phân biệt rất chi tiết với sự khác nhau của từng đường nét hoa văn, màu sắc hay sự phối hợp các loại nguyên liệu

Như vậy người có tính quyết định trong chuỗi tổ chức ngành hàng mây tre đan là các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu Họ quyết định sản xuất cái gì (đặt mẫu mã) và bán cho ai (ký hợp đồng tiêu thụ với các đối tác nước ngoài trước khi triển khai sản xuất tại các trung tâm làng nghề) và làng người hoàn thiện sản phẩm cuối cùng

Hình thức tổ chức chế biến và tiêu thụ sản phẩm mây tre đan có thể được

mô phỏng qua sơ đồ sau:

Người thu gom nguyên liệu

Người sản xuất khai thác nguyên liệu

Doanh nghiệp chế biến

Hộ gia công sản phẩm

Người thu gom

bán thành phẩm

phẩm

Hoàn thiện và tiêu thụ sản phẩm

Sơ chế nguyên

liệu

Trang 23

Hình 5-8 Mô hình tổ chức chế biến và tiêu thụ sản phẩm mây tre đan

Doanh nghiệp tuy không chiếm nhiều trong các làng nghề nhưng là những tổ chức sản

xuất kinh doanh lớn có vai trò như là những hạt nhân trong sự phát triển của làng nghề

Sự phát triển của làng nghề với sự khôi phục các làng nghề truyền thống trong những năm gần đã thể hiện phần nào vai trò của các doanh nghiệp này trong việc tạo lập lại ngành hàng, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho cư dân nông thôn Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của ngành mây tre đan vẫn còn những hạn chế nhất định so với các

ngành công nghiệp khác

Quy trình sản xuất sản phẩm mây tre đan có thể được mô phỏng qua sơ đồ sau:

Hình 2.9 Quy trình sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ mây tre đan

Một số tiêu chuẩn nhập khẩu đối với hàng TCMN mây tre đan như sau:

Hình 5-9 Quy trình sản xuất sản phẩm mây tre đan

Hiện nay thị trường này ngày càng thắt chặt hơn các quy định về tiêu chuẩn nhập đối với các mặt hàng TCMN đến từ các nước đang phát triển như Việt Nam Cho nên những sản phẩm TCMN mây tre đan trước khi tiêu thụ trên thị trường đều phải khử trùng,

kiểm định theo từng lô hàng có sự kiểm soát của Hải quan Việt Nam

- Xu thế chung là các nhà nhập khẩu đều yêu cầu nhà sản xuất sử dụng các hoá

chất thân thiện với môi trường, an toàn cho người lao động Nhiều nhà nhập khẩu hiện nay đều cố gắng dán nhãn sinh thái trên sản phẩm của mình, thậm chí nhiều người đang

cố gắng làm các loại tem nhãn từ chính các nan tre chứ không làm trên giấy nữa

- Xu thế thứ hai là việc sử dụng các loại sơn gốc nước sẽ là một yếu tố bắt buộc

trong thời gian tới do những mặt tích cực của sơn gốc nước Điển hình như IKEA, Ekobo hiện đang có những động thái tích cực trong việc yêu cầu nhà sản xuất chuyển

đổi sang dùng sơn gốc nước

- Xu thế thứ ba là bộ luật Reach, đây là bộ luật mới dầy hơn 800 trang của EU

được biên soạn công phu suốt hàng chục năm qua, nó bao gồm các qui định chặt chẽ nhất đối với hàng nhập khẩu vào EU sẽ được áp dụng vào năm 2011 Theo đó kể từ năm 2011 tất cả các hàng hoá đặc biệt là hàng thủ công mỹ nghệ khi nhập khẩu vào EU đều phải

Nguyên liệu Chế biến

nhiên liệu

Đan hàng thô

Nhuộm, sấy, sơn

Đóng gói Tiêu thụ

Phân cỡ, phân loại

Nghiệm thu

Trang 24

thoả mãn các tiêu chuẩn của Reach Nếu sản phẩm của bạn sử dụng bất kỳ loại hoá chất nào được cung cấp bởi những nhà sản xuất mà không nằm trong danh mục của Reach thì

đều không được nhập khẩu vào EU

Trong phạm vi của đề tài này chỉ dừng lại ở việc tập trung phân tích khái quát về sản phẩm, ngành hàng chủ đạo và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp TCMN mây

tre đan lên quan đến ba vấn đề: vấn đề xử lý chống mốc mọt, vấn đề sử dụng các loại keo

ép, vấn đề sử dụng các chất sơn phủ bề mặt Thực tế của Việt Nam hiện tại:

(1) Vấn đề mốc, mối, mọt của hàng hoá: Thông thường, các cơ sở sản xuất nhỏ

đều chủ yếu sử dụng lưu huỳnh (diêm sinh), chất Borax hoặc Oxit kẽm và một số loại thuốc chống mốc mọt nhập khẩu về từ Trung Quốc, giá rẻ để ủ sấy mây tre, lưu huỳnh vừa có tác dụng chống mốc, mọt vừa có tác dụng làm trắng, lên mầu vàng đẹp cho nhiều mặt hàng mây tre, giá của lưu huỳnh rất rẻ, cách sử dụng ủ sấy cũng rất đơn giản và tiện lợi Hiện nay các sản phẩm đó là chất độc đã bị cấm sử dụng trong quá trình sản xuất hàng mây tre đan xuất khẩu vào các nước Châu Âu và Bắc Mỹ vì đây là một chất độc cho

cả người sản xuất lẫn người sử dụng

Chất Sapeco 8 của công ty Beckem, Ôxi già là những sản phẩm được khuyến cáo dùng để ngâm hoặc phun thẳng lên nguyên liệu mây tre trong quá trình sử lý nhằm chống lại sự xâm nhập của mốc mọt Đây là loại hoá chất tương đối thân thiện với môi trường,

hiệu quả chống mốc mọt khá tốt và phương pháp sử dụng đơn giản, linh hoạt

(2) Keo ép, đây cũng là một loại hoá chất nhậy cảm được nhiều nhà nhập khẩu

quan tâm đầu tiên khi họ có nhu cầu mua hàng Theo tiêu chuẩn hiện nay, lượng Formadehyle trung bình được chấp nhận thông thường là dưới 3.5 mg/m²h

(3) Sơn phủ, lại là chất tiếp xúc trực tiếp với người sử dụng (bát đĩa, khay đựng

hoa qủa…) chính vì vậy tất cả các nhà nhập khẩu đều cực kỳ quan tâm đến việc nhà sản xuất dùng chất liệu sơn phủ gì, có đảm bảo an toàn cho người sử dụng và người sản xuất hay không

Đặc điểm thị trường và tiêu dùng sản phẩm tiểu thủ công mỹ nghệ mây tre đan

Ngành nghề TCMN mây tre đan nước ta đang có bước phát triển ngoạn mục trong vài thập niên qua Doanh số xuất khẩu mây tre đan của năm 2007 là 219 triệu đô la với mức tăng trưởng bình quân là 30%/năm Riêng giá trị sản xuất của ngành tre nứa là 1.2 tỷ USD Mỹ trong đó 900 triệu đô-la có tác động trực tiếp đến người nghèo Ngành nghề này cũng đã tạo ra gần nửa triệu việc làm thường xuyên và bán thời gian vốn có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết lao động nhàn rỗi trong nông thôn Chính phủ đã đặt ra kế hoạch đối với xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là 1,5 tỷ USD vào năm 2010 trong đó hàng

mây tre phải đạt con số 600 triệu USD

Trang 25

Đặc điểm thị trường

-Tình hình sản xuất và thương mại sản phẩm thủ công mỹ nghệ mây tre đan trên thị trường thế giới

Trên cơ sở sử dụng số liệu của UNECE và EUROSTAR, đã tính toán được doanh

số bán ra trên thị trường thế giới hiện nay là khoảng 6 tỷ đôla cho các sản phẩm thủ công

mỹ nghệ mây tre đan và trong đó sản phẩm mỹ nghệ từ tre nứa (bamboo) là 3 tỷ đôla

- Tình hình cung cầu sản phẩm thủ công mỹ nghệ mây tre đan trong nước

Việt Nam là một trong những quốc gia có nghề mây tre đan phát triển và đa dạng vào bậc nhất trên thế giới Hiện có khoảng 713 làng nghề mây tre đan trong tổng số 2.017 làng nghề trên toàn quốc và hơn 1.700 doanh nghiệp có liên quan đến sản xuất kinh

doanh mây tre đan

Bảng 5-4 Phân bố các làng nghề toàn quốc năm 2008

Khu vực

Làng nghề mây tre đan

% Tổng làng nghề thủ công

Làng nghề giấy thủ công

% Tổng làng nghề thủ công

Bảng 5-5 Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mây tre đan 1999-2005

Trang 27

Thị trường tiêu thụ

Trong thời gian đầu, thị trường Đông Âu và Liên Xô (cũ) có nhu cầu lớn các sản phẩm thủ công mỹ nghệ Hàng loạt các tổ chức kinh doanh, đơn vị thu mua và xuất khẩu

ra đời trên toàn tỉnh Vào đầu những năm 90, khi không còn thị trường Đông Âu và Liên

Xô (cũ), hàng sản xuất ra không tiêu thụ được nên ở nhiều làng nghề sản xuất bị sa sút, thậm chí có nơi rơi vào tình trạng bế tắc

Từ năm 1993, khi thị trường xuất khẩu các hàng thủ công mỹ nghệ bắt đầu chuyển hướng sang các nước: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan, Singapo… các làng nghề có điều kiện phát triển cả về quy mô và số lượng như các nghề gốm, chạm khắc gỗ, sơn mài, chế biến cói…

Trong những năm gần đây sản phẩm mây tre đan của Việt Nam đã thâm nhập được nhiều thị trường khó tính trên thế giới như Mỹ, EU và Nhật Bản Nếu như trong những năm 80 thị trường chính của sản phẩm này là Liên Xô và các nước Đông Âu cũ (thị trường truyền thống, thị trường khu vực I) thì nay khách hàng của Việt Nam là các nước có nền kinh tế phát triển Hiện tại các sản phẩm mây tre đan của ta đã có mặt tại hơn 163 quốc gia và khu vực và có xu hướng ngày càng mở rộng Các thị trường xuất khẩu chính là Nhật Bản, Đức, Đài Loan, Pháp, Mỹ… Thị trường Nhật Bản và Đài Loan chiến thị phần cao và ổn định: từ 13 triệu USD năm 2000 lên 27,6 triệu USD năm 2005 Thị trường Mỹ là tương đối mới nhưng có mức tăng trưởng rất nhanh và là thị trường tiềm năng Giá trị kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ năm 2000 chỉ ở mức thấp chưa đến 2 triệu USD thì đến năm 2005 đã lên tới hơn 22 triệu USD, tăng đến hơn 10 lần vươn lên thứ hai sau thị trường Nhật Bản Một số thị trường chiếm thị phần lớn như Đức, Pháp, Tây Ban Nha vẫn duy trì ở thứ hạng cao, trong nhóm 10 thị trường lớn của mây tre đan Việt Nam[18]

5.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Kinh nghiệm về giải pháp thị trường của các doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ mây tre

đan

* Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trên con đường hội nhập và gia nhập WTO, Trung Quốc đã đạt được những thành tựu phát triển to lớn, vượt qua nhiều khó khăn, quản ngại Trung Quốc là một trong những quốc gia thu được thành công lớn trong thúc đẩy xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu Trung Quốc trong tháng 5 đầu năm 2010 tăng vọt lên 48,5% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng lớn nhất trong hơn 6 năm qua[2] Nguyên nhân cơ bản ở đây là do Trung Quốc

đã kịp thời điều chỉnh và thực thi nhiều biện pháp chính sách, đó là:

Một số điều chỉnh và biện pháp chính sách cụ thể được sử dụng ở tỉnh Quảng Tây khi Trung Quốc trở thành thành viên của WTO

1 Thúc đẩy mạnh mẽ nền kinh tế phát triển theo hướng thị trường, xây dựng hệ thống quản lý theo các nguyên tắc của WTO

2 Điều chỉnh quy hoạch ngành, đặc biệt là ngành nông nghiệp, theo hướng ưu tiên

Trang 28

những ngành có lợi thế và cho xuất khẩu

3 Thu hút nguồn vốn và công nghệ từ bên ngoài, chú trọng công nghệ cao, chuẩn hóa chỉ tiêu/thông số kỹ thuật

4 Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng, kỹ thuật sản xuất, chế biến chất lượng cao cho thị trường trong nước và xuất khẩu Khuyến khích các doanh nghiệp xin cấp chứng chỉ quốc tế ISO 9001, S1400 về môi trường

5 Áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với một số ngành dễ bị tổn thương hoặc dễ có tác động xấu đến đời sống của người nông dân

6 Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển thông qua quỹ phát triển (khuyến khích các doanh nghiệp lớn đầu tư ra nước ngoài, tạo điều kiện giải quyết vấn đề liên quan tới các vụ kiện chống bán phá giá, khuyến khích giao dịch điện tử, hỗ trợ đăng ký thương hiệu, phát triển kết cấu hạ tầng…)

7 Hỗ trợ cho các doanh nghiệp đầu tàu (trong mắt xích phát triển), tạo điều kiện thúc đẩy liên kết, hợp tác kinh doanh

8 Đào tạo nguồn nhân lực thông qua các khóa học bồi dưỡng, công tác truyền thông, phối hợp đạo tạo giữa viện, trường, trung tâm và bộ ngành

9 Bảo vệ môi trường sinh thái thông qua việc xây dựng các khu sinh thái nông thôn, khu phát triển bền vững nông thôn, khu nông nghiệp sạch, khu nông sản sạch, khu nông sản hữu cơ

10 Tổ chức các đoàn đi khảo sát ở nước ngoài nghiên cứu kinh nghiệm của các nước khi gia nhập WTO

*Kinh nghiệm của Đài Loan

Trong bốn thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, hoạt động ngoại thương mà trước hết

là XK luôn là động lực chính thúc đẩy sự phát triển nhanh của nền kinh tế Đài Loan Kinh nghiệm của Đài Loan về đẩy mạnh XK, giải pháp thị trường XK sản phẩm thể hiện những phương diện cơ bản sau:

Một là, thực hiện đồng bộ các giải pháp, các biện pháp thực hiện thành công

chiến lược CNH hướng về XK như: áp dụng các biện pháp để thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành sản xuất hàng XK, bằng cách áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong các công ty nước ngoài, hoặc liên doanh với địa phương, nới lỏng những quy định về tỷ

lệ đầu tư, hồi hương vốn, lợi nhuận và khuyến khích tái đầu tư, thành lập các khu chế xuất và khu mậu dịch tự do Tự do hoá NK đi kèm với cải cách tỷ giá Thu hút các nhà tư bản công nghiệp nước ngoài vào đầu tư phát triển khoa học - kỹ thuật phục vụ cho XK

Hai là, chủ động đẩy mạnh XK và mở rộng thị trường thông qua thực hiện chính

sách đầu tư ra nước ngoài, trước hết là các nước có trình độ phát triển kinh tế thấp hơn Đài Loan như Trung Quốc, các nước ASEAN và sau đó là các nước phát triển như Hoa

Kỳ nhằm khai thác các thị trường “ngách”

Ba là, chủ động thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu và dịch vụ qua thực hiện chính sách

điều chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư tập trung vào công nghiệp nặng và công nghiệp hoá chất, sau đó, chuyển hướng trọng tâm sang các ngành công nghiệp chế tác và các vật liệu mới

Trang 29

Bốn là, Chính phủ chú trọng xây dựng mạng lưới hỗ trợ XK ở trên 60 nước và

khu vực, xây dựng các “trạm phục vụ mậu dịch quốc tế”, cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực XNK, khuyến khích các doanh nghiệp đặt đại lý ở nước ngoài

Năm là, lựa chọn định hướng chiến lược thị trường ngoài nước đúng đắn theo đa

dạng hoá các thị trường, phi tập trung hoá thị trường XK nhằm hạn chế rủi ro và tránh lệ thuộc vào một vài thị trường Đây cũng là chính sách quan trọng của Chính phủ Đài Loan nhằm thoát khỏi sự phụ thuộc vào hai thị trường lớn là Nhật Bản và Hoa Kỳ

*Kinh nghiệm của Nhật Bản

Là nước có nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới trên ba thập kỷ qua, Nhật Bản luôn luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng kim ngạch XK ở mức 5%/ năm và thặng dư thương mại ở mức trên 20% (năm 1998 cao nhất, đạt 27,65%) là một trong những kỳ tích của người Nhật và chính phủ Nhật Bản

Kinh nghiệm giải pháp thị trường, đẩy mạnh thị trường XK hàng hoá của Nhật Bản được tổng kết ở các phương diện và nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, Chính phủ Nhật Bản đã hoạch định chiến lược rõ ràng về chuyển từ sản

xuất hàng hoá có hàm lượng lao động cao sang phát huy sức mạnh truyền thống XK các sản phẩm có nguyên liệu ngoại nhập để nhanh chóng mở rộng sản xuất và thúc đẩy XK Đồng thời, Chính phủ cũng hỗ trợ giúp các ngành sản xuất hàng XK có chọn lọc nhằm khai thác và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới của hàng hoá Nhật Bản

Thứ hai, xây dựng và phát triển mạnh các tổ chức xúc tiến thương mại để tổ chức

và đẩy mạnh XK Trong quá trình tổ chức thăm dò và tìm kiếm đối tác có thể trở thành khách hàng, thường có hội nghị cấp chính phủ và giới kinh doanh bàn về mục tiêu XK và đánh giá các biện pháp hỗ trợ XK

Thứ ba, Chính phủ Nhật Bản tích cực điều chỉnh chiến lược kinh tế đối ngoại

nhằm giải quyết những yêu cầu như: giảm lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu nước ngoài, đa dạng hoá thị trường và sản phẩm XK trong những trường hợp bất lợi cho nền kinh tế Nhật Bản, đặc biệt giảm thiểu sự mất cân đối giữa NK và XK gây tình trạng tách nền kinh tế ở chừng mực nhất định với thị trường thế giới

*Kinh nghiệm của Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới, quy mô XK cũng thuộc loại hàng đầu thế giới, chủ yếu là XK dịch vụ (kim ngạch XK hơn 1000 tỷ USD, chiếm 30% GDP), Chính phủ Hoa Kỳ đặc biệt coi trọng việc xây dựng chiến lược XK quốc gia trong các thời kỳ Các chiến lược XK thường do Uỷ Ban điều phối hỗ trợ thương mại Hoa Kỳ

(TPCC) soạn thảo và tổ chức thực hiện

Sự hỗ trợ của Chính phủ đối với XK trước hết qua việc tạo lập môi trường chính sách về phát triển hệ thống XK của các doanh nghiệp và sự hỗ trợ về thị trường Chính phủ Hoa Kỳ cũng rất chú trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống thiêu chuẩn hoá

Trang 30

thương mại quốc tế, xác lập thương hiệu toàn cầu cho hàng hoá XK của Hoa Kỳ Đồng thời, xây dựng mạng lưới xúc tiến thương mại, trước hết là mạng lưới đại diện thương mại của Hoa Kỳ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Sự hỗ trợ của các cơ quan nhà nước

về thông tin thị trường và sự tiếp cận thị trường mới cho các doanh nghiệp được coi là nhiệm vụ thường xuyên

Một số vấn đề đặt ra về giải pháp thị trường cho các doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ

mây tre đan của Việt Nam từ kinh nghiệm của nước ngoài

Từ thực tiễn hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam còn mắc phải hạn chế như thiếu thông tin, tư tưởng thụ động chờ các đơn hàng còn phổ biến Từ đó dẫn đến chất lượng sản phẩm không đồng đều, giá thành còn cao, thời gian giao hàng không bảo đảm kết hợp với nhiều kinh nghiệm từ Trung Quốc [16], Nhật Bản và Hoa Kỳ trên có thể rút ra một số bài học như sau:

Với nhiều năm kinh nghiệm làm việc với các đối tác Việt Nam, ông Ken Arakawa, Cố vấn cao cấp của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) có lời khuyên của dành cho các doanh nghiệp Việt Nam làm ăn với đối tác Nhật Bản như sau:

+ Thứ nhất, kiên trì đường lối đối ngoại rộng mở, phát triển nền kinh tế mở, đa

phương hoá và đa dạng hoá quan hệ kinh tế quốc tế

+ Thứ hai, kiên định lựa chọn chiến lược phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu,

nhất quán coi xuất khẩu là hướng ưu tiên trọng điểm của hoạt động kinh tế đối ngoại, trên

cơ sở xác lập chính sách ưu đãi thích hợp

+ Thứ ba, chủ động hội nhập quốc tế, đồng thời giữ vững ổn định chính trị và

kinh tế trong nước, phát triển nền kinh tế thị trường theo hướng XHCN

+ Thứ tư, đổi mới sâu sắc và toàn diện công tác quản lý Nhà nước về kinh tế

thương mại nói chung, về xuất khẩu nói riêng, phát huy nội lực, tiềm năng của tất cả các thành phần kinh tế nhằm đẩy mạnh XK, phát triển thị trường hàng TCMN mây tre đan

XK

+ Thứ năm, chủ động thâm nhập thị trường quốc tế, phát triển thị trường hàng hoá

XK với việc đẩy mạnh sản xuất hàng TCMN mây tre đan XK và tạo nguồn XK đủ lớn và

ổn định, phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng

+ Thứ sáu, thành lập các tập đoàn kinh doanh XNK sẽ tạo điều kiện vừa phát triển đa

ngành trong phạm vi tập đoàn Kết hợp chặt chẽ giữa xuất khẩu với nhập khẩu, giữa phát triển thị trường XK hàng TCMN mây tre đan với thị trường NK nguyên liệu đầu vào, vươn

Hộp 4

Theo ông Ken Arakawa, Cố vấn cao cấp của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) Chính phủ Nhật Bản cũng có chính sách bảo hộ nông dân các sản phẩm nhập khẩu vào Nhật Bản được kiểm tra rất ngặt nghèo thông hàng rào kỹ thuật mà phía Nhật Bản đặt ra Các doanh nghiệp Việt Nam, muốn xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản cần phải “nhập gia tùy tục”, tức là phải tìm hiểu rõ các phong tục tập quán cũng như thị hiếu người Nhật Trong thời buổi cạnh tranh cao việc chủ động tìm đến với thị trường và tiếp xúc bạn hàng, người tiêu dùng sẽ mang lại cơ hội kinh doanh và thành công cho doanh nghiệp[9]

Trang 31

tới giành thị phần đáng kể tại các thị trường có sức mua lớn và ổn định, các thị trường có nền công nghệ nguồn

+ Thứ bảy, phát triển thị trường tiêu thụ hàng TCMN mây tre đan XK trên cơ sở

chú trọng cả thị trường tiêu thụ ở ngoài nước và thị trường tiêu thụ ở trong nước để bổ xung lẫn nhau, phân tán rủi ro

+ Thứ tám, khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế, tất cả mọi người Việt Nam

trong nước và Việt kiều ở nước ngoài vào việc tìm kiếm và tạo thị trường xuất khẩu hàng TCMN mây tre đan

+ Thứ chín, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, phát huy vai trò chủ động của Nhà nước và phía DN trong việc thâm nhập và mở rộng thị trường đặc biệt phát triển thị trường “ngách” hàng TCMN mây tre đan xuất khẩu Đây cũng là một giải pháp hay

mà Việt Nam có thể tham khảo trong chính sách giải pháp thị trường hàng hoá XK trong hai thập kỷ tới

+ Thứ mười, hình thành và hoàn thiện hơn chính sách thuế và phi thuế trong hoạt

động XK, góp phần phát triển ngoại thương ở Việt Nam

Khung phân tích của đề tài

Từ lý thuyết và thực tiễn được trình bày ở trên chúng tôi đưa ra khung phân tích giải pháp thị trường cho các doanh nghiệp TCMN mây tre đan trong phạm vi đề tài này được biểu diễn qua (hình 5-10)

Các yếu tố trên cấu thành nên giải pháp thị trường cho các doanh nghiệp TCMN mây tre đan đã tác động tới kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh

nghiệp TCMN mây tre đan Song bản thân nó lại chịu bởi 2 nhóm yếu tố sau đây:

- Các yếu tố bên trong (vi mô) bao gồm: (i) mức độ và kết quả hoạt động của các giải pháp thị trường (ii) kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp TCMN mây tre đan, làng nghề mây tre đan Thị trường TCMN mây tre đan chịu ảnh hưởng lớn và có mối quan hệ tác động qua lại với giải pháp thị trường Giải pháp thị trường thuận lợi sẽ khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường mức độ đầu tư, nâng cao kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh Ngược lại, nếu thị trường TCMN mây tre đan

và kết quả, hiệu quả sản xuất kinh doanh thay đổi đến một giai đoạn nhất định, giải pháp thị trường sẽ biến đổi cho phù hợp với các điều kiện, hoàn cảnh mới Hay nói cách khác kết quả và hiệu quả đầu từ trong sản xuất kinh doanh là cơ sở thúc đẩy việc cải thiện hoặc thay đổi giải pháp thị trường cho ngành TCMN mây tre đan

- Các yếu tố bên ngoài (vĩ mô) bao gồm 3 nhóm: (i) Các chính sách nông nghiệp của Nhà Nước Trung ương; (ii) Vấn đề hội nhập kinh tế của Việt Nam và của các vùng; (iii) Năng lực cạnh tranh của Thái Bình với các địa phương khác Nếu các chính sách thuận lợi, Việt Nam mở cửa hội nhập sâu rộng và năng lực canh tranh của Thái Bình cao thì thị trường TCMN mây tre đan của Thái Bình sẽ được cải thiện và ngược lại

Để tăng cường các giải pháp thị trường, kinh nghiệm của một số nước áp dụng là đổi mới chính sách, áp dụng khoa học công nghệ xây dựng một nền TCMN mây tre đan hiện đại Các nhà hoạch định chính sách phải lấy nông nghiệp là bệ phóng cho nền kinh

tế quốc dân, tạo ưu đãi trong đầu tư, có những chính sách khuyến khích và hỗ trợ về vốn, đất đai, thị trường, cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng Ngoài ra, họ cũng tập trung phát triển

Trang 32

công nghiệp nông thôn TCMN mây tre đan phục vụ xuất khẩu

Trang 33

Hình 5-10 Khung phân tích về giải pháp thị trường cho các doanh nghiệp thủ công

mỹ nghệ mây tre đan Thái Bình

Thị trường là yếu tố sống còn của mỗi doanh nghiệp, để đánh giá các giải pháp thị trường, các chỉ tiêu được sử dụng về hoạt động thị trường các doanh nghiệp đã làm được những gì? (tạo kênh phân phối, tìm kiếm khách hàng, quảng cáo ), họ còn thiếu hoạt động thị trường gì không? hiện tại hoạt động thị trường của các doanh nghiệp đã làm được gì và chưa làm được gì? Các doanh nghiệp có điểm mạnh và điểm yếu gì trong hoạt động thị trường? hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất như hiệu quả sử dụng đất, hiệu quả sử dụng lao động, hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường như nộp ngân sách, tạo việc làm… Hầu hết các chỉ tiêu đánh giá giải pháp thị trường có tính chất định tính vì vậy đề tài sử dụng các số tương đối như phần trăm, hệ số điểm, mức độ cao thấp

Giải pháp thị trường nhằm tìm hiểu hoạt động thị trường của các doanh nghiệp TCMN mây tre đan trên địa bàn tỉnh Thái Bình xem họ đã làm như thế nào? cho các hoạt động của lĩnh vực củng cố, tìm kiếm, mở rộng thị trường và sản xuất kinh doanh Các yếu

tố cấu thành giải pháp thị trường là: Quản lý nhà nước của tỉnh Thái Bình, chính sách cho ngành TCMN của Thái Bình, cơ sở hạ tầng, hệ thống thị trường, kỹ thuật công nghệ, đất đai, tài chính và lao động Các yếu tố này tác động tới kết quả và hiệu quả của giải pháp thị trường Song bản thân nó lại chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố bên trong là: (i) mức độ

Giải pháp thị trường cho các doanh nghiệp TCMN Mây tre đan Thái Bình

Mức độ và kết qủa của giải pháp Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của:

- Doanh nghiệp TCMN mây tre đan

- Làng nghề mây tre đan

Thị trường TCMN MTĐ Thái Bình

C.S cho ngành TCMN của T.B Quản lý của sở Công Thương T.B Phát triển sản phẩm

Định giá sản phẩm

Thâm nhập thị trường Phát triển thị trường

Trang 34

và kết quả hoạt động của giải pháp, (ii) kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp TCMN mây tre đan, các doanh nghiệp làng nghề; và các yếu tố bên ngoài như: (a) các chính sách cho ngành TCMN mây tre đan của Nhà nước, (b) vấn đề hội nhập kinh tế của Việt Nam và của các vùng; (c) năng lực cạnh tranh của Thái Bình với các địa phương khác

Nó được thực hiện thông qua các hình thức cơ bản: Doanh nghiệp TCMN mây tre đan nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, các làng nghề và các hộ gia đình

Trên cơ sở khung lý thuyết này, phần IV sẽ phân tích, đánh giá kết quả và hiệu quả thị trường TCMN mây tre đan Thái Bình sau đó đưa ra các giải pháp thị trường cho các doanh nghiệp TCMN mây tre đan thông qua các số liệu điều tra thu thập của tác giả

5.2 Thực trạng phát triển của các doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ mây tre đan trên

Tính đến ngày 30 tháng 12 năm 2009 toàn tỉnh có: 2031 doanh nghiệp trong đó

(phân chia doanh nghiệp theo lĩnh vực ngành nghề) bao gồm: Công nghiệp - xây dựng:

884 doanh nghiệp, nông lâm ngư nghiệp: 51 doanh nghiệp, thương mại - dịch vụ: 1096 doanh nghiệp[23]

Bảng 5-6 Số lượng doanh nghiệp phân chia theo lĩnh vực ngành nghề

Phân chia theo ngành

nghề kinh doanh

Loại hình doanh nghiệp

Tổng số DN Công ty

TNHH

Công ty TNHH 1TV

DN tư nhân

Công ty cổ phần

Trang 35

Hình 5-11 Số lượng doanh nghiệp phân chia theo lĩnh vực ngành nghề

So sánh chỉ số cơ bản về số lượng doanh nghiệp của tỉnh với bình quân cả nước

và trên thế giới[23]:

+ Tỷ lệ số doanh nghiệp của tỉnh/tổng số DN cả nước khoảng 0,89%

+ Tỷ lệ số người dân trên 1DN của tỉnh khoảng 916 người dân/1 DN +Tỷ lệ số người dân trên 1DN bình quân cả nước là 415 người dân/1 doanh nghiệp

+Tỷ lệ số người dân trên 1 doanh nghiệp bình quân của Mỹ là 11 người/1 doanh nghiệp, của các nền kinh tế Châu Âu là 21 người/1 doanh nghiệp và của Nhật Bản là 25 người / 1 doanh nghiệp

Như vậy so với mục tiêu phát triển của cả nước và các nền kinh tế phát triển thì tỷ

lệ này tại tỉnh ta còn quá thấp

- Về chất lượng của các nguồn hình thành doanh nghiệp: cụ thể tạm nhìn nhận chất lượng của nguồn hình thành DN qua một số nhân tố tác động trực tiếp tới sự tồn tại

và phát triển của doanh nghiệp như sau:

+ Các đối tượng có kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, am hiểu thị trường: Chủ các

cở sở sản xuất kinh doanh tư nhân lớn, Chủ các hộ kinh doanh thương mại lớn, một số nhà trí thức, cán bộ, công nhân từ DNNN, HTX Ước tính số này chiếm khoảng 5-7% tổng nguồn hình thành doanh nghiệp

+ Các đối tượng am hiểu pháp luật, có kiến thức kinh doanh hiện đại: tầng lớp trí thức, một phần trong số chủ các cở sở sản xuất kinh doanh tư nhân, chủ các hộ kinh doanh thương mại, một phần cán bộ, công nhân từ DNNN, HTX Ước tính số này chiếm khoảng 3-5% tổng nguồn hình thành doanh nghiệp

+ Các đối tượng có tiềm lực tài chính: Chủ các cơ sở sản xuất kinh doanh tư nhân lớn, chủ các hộ kinh doanh thương mại lớn Ước tính số này chiếm khoảng 3-5% tổng

nguồn hình thành doanh nghiệp

Theo các tài liệu lịch sử, các địa danh cũng như các di tích lịch sử để lại thì ngay

từ thế kỷ thứ nhất đã xuất hiện nghề dệt ở Thái Bình, các thế kỷ tiếp theo vào đời Trần (thế kỷ XVII) đã có các nghề rèn, đúc, khảm trai, sơn mài, đan lát mây tre.v.v…Quá trình phát triển ngành TCMN mây tre đan trải qua các bước thăng trầm gắn liền với từng giai

2.5%

54.0%

43.5%

C.nghiệp – Xây dựng Th-ương mại – D.vụ Nông- Lâm -Ngư-

Trang 36

đoạn lịch sử nhất định[28]

Ngày nay các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong tỉnh phát triển khá đa dạng phong phú, có những chuyển biến tích cực trên các khía cạnh:

-Về hệ thống tổ chức sản xuất: thương mại sản phẩm mây tre đan đã phát triển đa

dạng với nhiều hình thức tổ chức khác nhau: hộ sản xuất TTCN, DNTN, Công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty có vốn đầu tư nước ngoài, HTX…

-Về vai trò của chủ DN, chủ hộ, chủ cơ sở: được toàn quyền tự quyết định và chịu

trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, hộ, cơ sở

-Về hình thức tiêu thụ sản phẩm: khách hàng lựa chọn mẫu mã và ký hợp đồng

sản xuất với các DN TCMN mây tre đan chiếm 60%, các doanh nghiệp, nghệ nhân của Thái Bình tự sáng tác mẫu mã giới thiệu và được khách hàng chấp nhận ký hợp đồng sản xuất chiếm 40%

-Về thị trường tiêu thụ sản phẩm: chuyển từ cung cách quan hệ kinh tế mang tính

kế hoạch tập trung bao cấp, sang quan hệ kinh tế cung cầu theo quy luật thị trường Ngoài thị trường truyền thống là Liên bang Nga, các sản phẩm TCMN mây tre đan chuyển hướng sang nhiều thị trường tiềm năng khác như: Mỹ, Anh, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan[19]… Do thị trường thay đổi nên các DN, cơ sở sản xuất phải đổi mới nâng cao chất lượng sản phẩm (mẫu mã đa dạng, tiện dụng, giá cả hợp lý…)

-Nguyên liệu chủ yếu là mây, tre, song

-Công cụ sản xuất thủ công, kết hợp sự khéo

léo của đôi bàn tay

-Sản xuất nhỏ lẻ, khép kín trong hộ gia đình -Sản xuất mang tính chất tự cung, tự cấp là chính

2.Giai đoạn từ 1963-1990 hình thành HTX

tiểu thủ công nghiệp

-Nguyên liệu chủ yếu là mây, tre, song

-Công cụ sản xuất thủ công, kết hợp sự khéo

léo của đôi bàn tay

-Sản xuất tập trung trong HTX -Sản phẩm đa dạng, phong phú -Thị trường chính là các nước Đông Âu và Liên Xô cũ

3.Giai đoạn 1991-1992 Do biến động chính trị ở

các nước Đông Âu và Liên Xô cũ

-Thị trường bị thu hẹp, sản xuất gặp nhiều khó

khăn

-HTX bị giải thể

-Sản xuất phân tán trong các hộ gia đình -Các hộ chuyển đổi, tìm kiếm thị trường mới

-Thu nhập thấp, bấp bênh

4.Giai đoạn từ 1993-nay

-Các làng nghề TCMN mây tre đan được khôi

phục và phát triển

-Sản xuất từng bước chuyên môn hoá, ứng

dụng máy móc, công cụ cải tiến trong khâu sơ

chế nguyên liệu

-Sản phẩm đa dang

-Kết hợp sự khéo léo của đôi bàn tay

-Thị trường mở rộng: Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật, Pháp, Hà Lan, Mỹ…

-Hình thành các DN chuyên sản xuất tiêu thụ sản phẩm mây tre đan

-Đã hình thành hộ, cơ sở chuyên cung ứng nguyên liệu, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,

Trang 37

Bình

-Về vai trò của Nhà nước, các cơ quan ban ngành: Nhà nước không trực tiếp can

thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ và cơ sở, mà tập trung xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật, đầu tư cơ sở hạ tầng, tạo dựng môi trường thuận lợi, khuyến khích các thành phần kinh tế cùng phát triển bình đẳng

Chính vậy, ngành TCMN mây tre đan Thái Bình đã từng bước phát triển góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động nông thôn

Nhận thức rõ vai trò, vị trí của việc phát triển nghề, làng nghề trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh, Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ XVI (2001) đã coi việc phát triển nghề và làng nghề là một trong năm trọng tâm tạo bước đột phá tăng trưởng kinh tế của tỉnh, ngày 5 tháng 6 năm 2001, Ban thường vụ Tỉnh uỷ Thái Bình đã ra Nghị quyết 01/NQ-TU về phát triển nghề, làng nghề Nghị quyết 01 ra đời đã đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân nên đã nhanh chóng đi vào cuộc sống và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, góp phần đẩy nhanh

sự nghiệp CNH, HĐH mà trước mắt là CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của tỉnh[34]

Trong tổng số 219 làng nghề trong tỉnh, với 14 nhóm nghề chính, thì mây tre đan

có 44 làng nghề chiếm tỷ lệ nhiều nhất 20% [34] trong số các làng nghề ở Thái Bình và tạo tiền đề cho các doanh nghiệp TCMN mây tre đan phát triển Nhưng nổi danh nhất có

lẽ là nghề đan lát mây ở Kim Bàng, Lục Nam, Lục Bắc thuộc xã Thái Xuyên, Thượng Hiền - Kiến Xương, Bình Lăng - Hưng Hà, Đông Xuyên - Tiền Hải, Quỳnh Sơn - Quỳnh phụ…

Bảng 5-7 Tổng hợp phân loại làng nghề theo nhóm nghề năm 2009

Nguồn: Báo cáo tổng kết thực hiện nghị quyết 01-NQ/TU của UBND tỉnh Thái Bình 2009[34]

Phát huy thế mạnh của làng nghề truyền thống, nhiều doanh nghiệp đã được thành

Trang 38

lập để đưa các sản phẩm mây của Thái Bình đi đến nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó

có những doanh nghiệp lớn như Doanh nghiệp mây tre đan Thanh Bình địa chỉ Xã Thái Xuyên - Thái Thuỵ - Thái Bình, doanh nghiệp mây tre đan Hiệp Hoà địa chỉ xã Vũ Lạc - Thành phố Thái Bình, công ty TNHH sản xuất xuất khẩu hàng TCMN Tiến Thành…, mỗi tháng xuất khẩu hàng trăm triệu sản phẩm các loại, đem lại công việc cho hàng vài ngàn người lao động Với việc hình thành cụm công nghiệp làng nghề trong thời gian tới, Thái Bình hứa hẹn một sự phát triển, khẳng định tiềm năng ngày một mạnh và tạo dựng

nên một thương hiệu trong lòng các bạn hàng thế giới

Cũng theo tài liệu lịch sử để lại thì vào những năm 1986 – 1987, các ngành nghề Thái Bình mà đặc biệt là ngành nghề truyền thống TCMN mây tre đan đã đạt đến đỉnh cao của sự phát triển Tạo tiền đề cơ sở cho các doanh nghiệp TCMN mây tre đan ra đời

Nguồn: Sở Kế hoạch đầu tư Thái Bình[33]

Hình 5-12 Các loại hình doanh nghiệp

năm 2007 năm 2008 năm 2009

Biểu đồ: Các loại hình doanh nghiệp

DNNN

C TC PDNTN

C T TNHH

Trang 39

Nhìn vào bảng ta thấy, tình hình biến động số số lượng các doanh nghiệp TCMN

mây tre đan không thay đổi nhiều qua các năm Các DN thủ công mỹ nghệ của Nhà nước

đã được cổ phần hoá, DN tư nhân chiếm nhiều nhất 50% tổng số doanh nghiệp TCMN

đang hoạt động Các DN tư nhân và công ty TNHH chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và

nhỏ sản xuất kinh doanh xuất khẩu dưới hình thức uỷ thác thông qua các DN lớn, hoặc

tiến hành sản xuất gia công cho các doanh nghiệp lớn ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí

Minh

Sản phẩm của TCMN mây tre đan Thái Bình nói chung được khách hàng nước

ngoài hết sức ưa chuộng, trong đó phải kể đến những khách hàng chính như Nhật Bản,

Mỹ, Đức, Tây Ban Nha, Đài Loan đem lại kim ngạch hàng năm lên tới hàng vài trăm tỷ

đồng Qua bảng tính sau chúng ta thấy trong số các mặt hàng chiến lược của Thái Bình

xuất khẩu ra thị trường thế giới đem lại doanh thu cao cho tỉnh thì giá trị kim ngạch xuất

khẩu của hàng thủ công mỹ nghệ luôn đứng thứ 2 chỉ sau mặt hàng dệt may

Bảng 5-9 Kim ngạch mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong tỉnh Thái Bình

Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thái Bình[6]

5.2.2 Điều kiện sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ mây

tre đan tỉnh Thái Bình

Công việc sản xuất hàng mây ở Thái Bình mang tính chuyên môn hóa cao Mỗi

hộ gia đình tiến hành các công đoạn sản xuất khác nhau, hộ chuyên khai thác mây, hộ

chuyên chẻ mây nguyên liệu trong khi đa số các hộ tập trung vào đan lát Việc hoàn

thiện sản phẩm thường được tiến hành tập trung để đảm bảo tính đồng nhất chất lượng

của sản phẩm

Có thể nói, cái tạo nên sức cuốn hút lớn của hàng mây Thái Bình không chỉ ở nét

duyên dáng mà còn là sự kết hợp hài hoà các chất liệu tự nhiên cũng như cách phối trộn

màu mang tính nghệ thuật cao Mỗi một sản phẩm khi đã hoàn thành đều qua sấy khô,

quang dầu, tạo độ bóng, sản phẩm được cách điệu hơn khi nhuộm màu đan xen kẽ nhau

tạo nên những trang trí đặc sắc Không chỉ vậy, hàng mây Thái Bình cũng thường được

kết hợp với cói, đay tạo nên sự thanh thoát Đặc biệt, việc đi sâu vào khai thác và sử

dụng ruột mây để tạo dáng sản phẩm đã đem lại nét riêng độc đáo của hàng mây Thái

Bình so với hàng mây của các làng nghề khác trên cả nước

Trang 40

Sản phẩm TCMN mây tre đan gồm nhiều chủng loại, mỗi sản phẩm có quy trình

riêng và yêu cầu trình độ tay nghề ở các mức độ khác nhau Sản phẩm chính của DN: làn,

khay, đĩa, hộp đựng giấy, túi xách, con giống, bàn, ghế, bát…

Tuy nhiên, có thể phân chia quá trình tạo ra sản phẩm TCMN mây tre đan thành 7

cung đoạn sản xuất chính như sau:

-Từ cung đoạn 1 đến cung đoạn 3: gọi là cung đoạn sản xuất thô, lao động trong

các DN, hộ gia đình tiến hành tổ chức sản xuất mang tính chất thủ công đòi hỏi sự khéo

léo đôi bàn tay của người lao động để làm theo mẫu mã khách hàng chọn lựa

-Từ cung đoạn 4 đến cung đoạn 6: gọi là cung đoạn làm tinh sản phẩm, đòi hỏi

yêu cầu xử lý tập trung với công nghệ cao, mang đường nét và màu sắc đặc trưng riêng

Lao động trong DN, các hộ sản xuất thu gom thực hiện cắt tỉa, tạo màu, nhúng keo, sơn

nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm

-Cung đoạn 7: gọi là cung đoạn hoàn thiện sản phẩm, đeo nhã mác, đóng gói theo

yêu cầu của khách hàng

Cung đoạn sản xuất

Chống mối mọt, tạo mầu (5)

Dùng các loại sơn nguồn gốc thiên nhiên (gốc nước)

phẩm

Hoàn chỉnh sản phẩm theo hợp đồng

DN

hộ

thu

mua

Ngày đăng: 05/06/2020, 22:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w