1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận môn văn hóa doanh nghiệp nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp của vinamilk

78 128 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của văn hóa doanh nghiệp...22 a Là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh...22 b Là một nguồn lực của doanh nghiệp...22 c Thu hút nhân tài , tăng cường sự gắn bó người lao động...23

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ

TP HCM Viện Công Nghệ Việt – Nhật

BÁO CÁO MÔN HỌC VĂN HÓA DOANH NGHIỆP

Ngành: Quản trị kinh doanh

Giảng viên hướng dẫn: Trần Thị Trang Sinh viên thực hiện:

Trần Thị HiềnNguyễn Đỗ Đông NghiNguyễn Hồng Nhi

TP Hồ Chí Minh, 2019

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu và toàn thể thầy cô

trường Đại học Công nghệ TP.HCM và đặt biệt là thầy cô khoa Quản Trị Kinh Doanh đã giảng dạy và truyền đạt những kiến thức trong suốt thời gian em theo học tại trường Với

sự quan tâm và chỉ bảo tận tình của mình, thầy cô đã trang bị cho em nhiều kinh nghiệm quý báu, nhiều kiến thức bổ ích để em có thể tự tin vững vàng bước vào đời

Trong những năm gần đây, với nền kinh tế thị trường ngày càng năng động và sự hộinhập với thế giới thì trên thị trường xuất hiện sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanhnghiệp trong và ngoài nước Ngoài ra, nhu cầu dinh dưỡng của con người cũng ngày mộtnâng cao (nhất là đối với trẻ em và người cao tuổi) Một trong những sản phẩm dinhdưỡng không thể thiếu cho mỗi gia đình đó chính là sữa Theo các chuyên gia về dinhdưỡng: uống sữa thật sự là một trong những phương pháp bổ sung dưỡng chất hiệu quả

và thuận tiện nhất Vinamilk là thương hiệu sữa hàng đầu Việt Nam với lịch sử 40 nămphát triển Chất lượng sản phẩm, dịch vụ luôn được cải tiến để đáp ứng tốt nhất nhu cầucủa người tiêu dùng

Em xin gửi lời cảm ơn đến cô Trần Thị Trang, người đã trực tiếp hướng dẫn và góp ý chobài báo cáo môn Văn hóa doanh nghiệp của chúng em được hoàn thiện hơn

Tuy chúng em không học môn này trực tiếp trên lớp, nhưng chúng em đã cố gắng làm bàibáo cáo thật hoàn chỉnh Vì còn thiếu nhiều kiến thức và kinh nghiệm nên chúng em cónhiều thiếu sót trong quá trình làm bài, chúng em mong cô góp ý để bài viết chúng emhoàn chỉnh một cách tốt nhất

Okinawa, ngày 08 tháng 10 năm 2019

Xin chân thành cảm ơn

Người thực hiện

(ký và ghi rõ họ tên)

Trang 3

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-NHẬN XÉT GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN Họ và tên sinh viên: Trần Thị Hiền– 1611140296 – 16DQTJB1 Nguyễn Đỗ Đông Nghi – 1611140438 – 16DQTJB1 Nguyễn Hồng Nhi - 1611141048 – 16DQTJA2 Khoá: 2016 Nhận xét chung:

Giảng viên hướng dẫn

(Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 4

GEA Nhà phát triển và cung cấp các giải pháp

công nghệ, quy trình toàn cầu cho ngànhcông nghiệp thực phẩm, thức uống.DairyFeed Nghiên cứu mức ăn hằng ngày ( trong

vinamilk là nghiên cứu mức ăn cho bò sữa)

Trang 5

MỤC LỤC

Phần 1: Tổng quan về văn hóa doanh nghiệp 9

1 Khái niệm văn hóa 9

2 Tính chất của văn hóa 10

a) Tính hệ thống của văn hóa 10

b) Tính giá trị của văn hóa 11

c) Tính nhân sinh của văn hóa 12

d) Tính lịch sử của văn hóa 12

3 Nhận diện văn hóa 12

a) Theo sự phân lọai các yếu tố cấu thành văn hóa 12

b) Theo khía cạnh sự khác biệt 12

c) Trên khía cạnh giá trị 13

4 Vai trò của văn hóa 13

5 Chức năng của văn hóa 14

6 Cấu trúc hệ thống văn hóa 14

7 Vận dụng khái niệm văn hoá vào doanh nghiệp 14

II Văn hóa doanh nghiệp 15

1 Khái niệm văn hóa doanh nghiệp 15

2 Đặc điểm văn hóa doanh nghiệp 16

a) Văn hóa doanh nghiệp tồn tại khách quan 16

b) Văn hoá doanh nghiệp hình thành trong một thời gian khá dài 16

c) Văn hóa doanh nghiệp mang tính bền vững 16

d) Văn hóa doanh nghiệp có cấu trúc mạnh mẽ 16

e) Văn hóa doanh nghiệp tạo nên chuẩn mực hành động 17

f) Văn hoá doanh nghiệp mang tính hệ thống, thống nhất tương tự như đặc tính của văn hóa nói chung 18

3 Chủ thể của văn hóa doanh nghiệp 19

a) Văn hóa doanh nhân 19

Trang 6

c) Nhân viên và người lao động 19

d) Khách hàng 19

e) Nhà cung cấp 19

4 Sự cần thiết xây dựng văn hóa doanh nghiệp,và vai trò của văn hóa doanh nghiệp 20

a) Sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường 20

b) Văn hóa văn nghiệp tạo nên khả năng thích ứng với thời cuộc mới 20

c) Tạo nên giá trị tinh thần, bản sắc cho doanh nghiệp 21

d) Tạo sức hút của doanh nghiệp 21

5 Vai trò của văn hóa doanh nghiệp 22

a) Là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh 22

b) Là một nguồn lực của doanh nghiệp 22

c) Thu hút nhân tài , tăng cường sự gắn bó người lao động 23

d) Văn hoá doanh nghiệp tạo nên bản sắc của doanh nghiệp 23

e) Văn hoá ảnh hướng tới hoạch định chiến lược 23

f) Tạo ra nhận dạng riêng cho tổ chức đó, để nhận biết sự khác nhau giữa tổ chức này và tổ chức khác 24

g) Truyền tải ý thức, giá trị của tổ chức tới các thành viên trong tổ chức đó 24 h) Văn hoá tạo nên một cam kết chung vì mục tiêu và giá trị của tổ chức, nó lớn hơn lợi ích của từng cá nhân trong tổ chức đó 24

i) Văn hoá tạo nên sự ổn định của tổ chức: Chính vì vậy có thể nói rằng văn hoá như một chất keo kết dính các thành viên trong tổ chức, để giúp việc quản lý tổ chức bằng cách đưa ra những chuẩn mực để hướng các thành viên nên nói gì và làm gì 24

k) Văn hoá tạo ra như một cơ chế khẳng định mục tiêu của tổ chức, hướng dẫn và uốn nắn những hành vi và ứng xử của các thành viên trong tổ chức Như một nhà nghiên cứu về văn hoá tổ chức có nói rằng “văn hoá xác định luật chơi”. 24

Trang 7

l) Nguyên nhân dẫn đến sự suy yếu của doanh nghiệp, rào cản cho sự phát

triển 24

6 Cơ sở xây dựng Văn hóa doanh nghiệp 25

a) Các hạt nhân của VHDN 25

b) Phát triển văn hóa giao lưu của các DN 25

c) Xây dựng các tiêu chuẩn về VHDN 25

d) Văn hóa tập đoàn đa quốc gia 26

e) Văn hóa doanh nghiệp gia đình 26

III Triển khai văn hóa doanh nghiệp 27

1 Quá trình văn hóa doanh nghiệp 27

a) Quá trình phát triển văn hóa doanh nghiệp 27

b) Triển khai văn hóa doanh nghiệp 28

2 Một số phương pháp phân tích về văn hóa doanh nghiệp 29

a) Phương pháp phân tích những người hữu quan (stakeholders’ approach) 29 b) Phương pháp phản hồi 360 ° 34

Phần 2: Tìm hiểu về văn hóa doanh nghiệp của công ty Vinamilk 36

I.Tổng quát về công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk. 36

1 Giới thiệu chung 36

2 Quyền sở hữu 36

3 Quá trình phát triển và cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp. 37

a Quá trình phát triển 37

b Cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp 39

4 Các sản phẩm chính 40

5 Các thành tựu chính 43

6 Các đơn vị trực thuộc, trụ sở chính, chi nhánh. 44

7 Yếu tố, logistics, đối tượng, câu chuyện an khang 45

a Yếu tố 45

Trang 8

c Đối tượng 46

d Câu chuyện an khang 46

8 Chiến lược phát triển dài hạn của Vinamilk 46

a Kế hoạch đầu tư tài sản: 46

b Khách hàng: 47

c Quản trị doanh nghiệp: 47

d Triết lý kinh doanh: 47

e Chính sách chất lượng: 47

9 Sơ đồ tổ chức 48

II Những giá trị được tuyên bố 48

III Những quan niệm chung 49

IV Ảnh hưởng của văn hóa kinh doanh đến hoạt động của công ty 50

V Vinamilk - thành công đến từ tầm nhìn chiến lược 51

1 Khát vọng và quyết tâm vươn tầm quốc tế 51

2 Đổi mới sáng tạo trong cách nghĩ, cách làm 52

3 Cuộc “cách mạng trắng” về nguyên liệu tại nguồn 53

4 Trách nhiệm với cộng đồng, xã hội 54

VI Vinamilk – trưởng thành từ tầm nhìn xuất sắc 54

1 Những con số biết nói 54

2 Tầm nhìn một thương hiệu 55

3 Vươn tầm quốc tế 56

VII Vinamilk- Tầm nhìn bền vững từ tổ hợp trang trại 3.000 tỷ đồng của Vinamilk 57

VIII XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP CỦA VINAMILK 61

1 Tạo nhận thức cho nhân viên 61

2 Nguyên tắc văn hóa và 7 hành vi lãnh đạo 62

a Nội dung của 6 nguyên tắc văn hóa 62

b Nội dung của 7 hành vi lãnh đạo 63

Trang 9

1 Vài nét về CEO Mai Kiều Liên 63

2 Phong cách lãnh đạo của CEO Mai Kiều Liên 64

a Phong cách lãnh đạo xuất sắc 64

b Minh bạch và Trung thực 65

c Cạnh tranh dựa vào chất lượng 66

d Nữ tướng ghét họp hành 67

e Lãnh đạo tạo lòng tin 68

f Sức mạnh tập thể hướng về lợi ích chung 69

g Mai Kiều Liên – Nhà lãnh đạo có tài ba. 70

KẾT LUẬN 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

MỤC LỤC HÌNH Hình 1 Các sản phẩm chính của cty Vinamilk 41

Hình 2 Biểu đồ tổ chức của Vinamilk 48

MỤC LỤC BẢNG Bảng 1 Doanh thu của Vinamilk tính theo dòng sản phẩm (2007): 40

Bảng 2 Các chi nhánh chính của Vinamilk 45

Trang 10

Phần 1: Tổng quan về văn hóa doanh nghiệp

I Văn hóa

1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa được định nghĩa là “hành vi của những năng lực đạo đức và tư duy phát triển,đặc biệt thông qua giáo dục” Văn hóa cũng có một số định nghĩa khác như “văn hóa là những nguyên tắc về đạo đức, xã hội và hành vi ứng xử của một tổ chức dựa trên nhữngtín ngưỡng, tư tuởng và sự ưu tiên của những thành viên của tổ chức ấy” Văn hoá đượchiểu theo rất nhiều cách khác nhau Ở mức chung nhất, có thể phân biệt hai cách hiểu: văn hoá theo nghĩa hẹp và văn hoá theo nghĩa rộng

Xét về phạm vi thì văn hoá theo nghĩa hẹp thường được đồng nhất với văn hoá tinh hoa.Văn hoá tinh hoa là một kiểu văn hoá chứa những giá trị đáp ứng các nhu cầu bậc cao củacon người Theo nghĩa này, văn hoá thường được đồng nhất với các loại hình nghệ thuật,văn chương

Xét về hoạt động thì văn hoá theo nghĩa hẹp thường được đồng nhất với văn hoá ứng

xử Theo hướng này, văn hóa thường được hiểu là cách sống, cách nghĩ và cách đối

xử với người xung quanh

Trong khoa học nghiên cứu về văn hoá, văn hoá được hiểu theo nghĩa rộng Theo nghĩanày, định nghĩa văn hoá cũng có rất nhiều Chẳng hạn, định nghĩa đầu tiên của E.B.Tylornăm 1871 xem văn hóa là “một phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạođức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả năng và thói quen khác mà con người như mộtthành viên của xã hội đã đạt được” TS Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, thìxem “văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từnhững sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống vàlao động.”

Như vậy có thể định nghĩa Văn hoá là một hệ thống của các giá trị do con ngườisáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong mối quan hệ với môitrường tự nhiên và xã hội

Trang 11

Là một hệ thống ý nghĩa, văn hoá bao gồm những biểu tượng, những niềm tin và nhữnggiá trị nền tảng để dựa theo đó, các thành viên trong cộng đồng, về phương diện nhậnthức, có thể diễn tả và đánh giá các hoạt động và các sự kiện khác nhau, có thể phân biệtđược cái đúng và cái sai, cái tốt và cái xấu, cái đạo đức và cái vô luân, cái có thể và cáikhông thể chấp nhận được; về phương diện thẩm mỹ, phân biệt cái đẹp và cái xấu, cáihay và cái dở, cái đáng yêu và cái đáng ghét Hệ thống ý nghĩa ấy đóng vai trò chủ đạotrong việc hình thành cộng đồng, ở đó, mọi thành viên có thể truyền thông với nhau vàcảm thấy có sợi dây liên kết với nhau Ðiều này làm cho tính tập thể trở thành một trongnhững đặc điểm nổi bật nhất của văn hoá: văn hoá là những gì người ta có thể nhận đượcbằng giáo dục và có thể lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Các yếu tố cấu thành văn hóa:

- Công trình kiến trúc

- Những sản phẩm có giá trị

- Lịch sử truyền thống, phong tục tập quán

- Giá trị về văn hóa nghệ thuật

- Tín ngưỡng

- Trình độ, tri thức, loại hình chính trị, tính cách con người, giá trị đạo đức, trình độsản xuất, công nghệ

Văn hóa được phân thành hai loại là:

- Văn hóa tinh thần

- Văn hóa vật chất

2 Tính chất của văn hóa

a) Tính hệ thống của văn hóa

Nhiều định nghĩa lâu nay coi văn hóa như phép cộng của những tri thức rời rạc từnhiều lĩnh vực Định nghĩa văn hóa của E.B Taylor (1871) cũng thuộc loại này: văn hoábằng một “phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phongtục…”

Trang 12

Do vậy, cần thiết nhấn mạnh đến tính hệ thống của văn hóa Cần xem xét mọi giá trị văn hóa trong mối quan hệ mật thiết với nhau Tính hoàn chỉnh cho phép phân biệt một nền văn hoá hoàn chỉnh với một tập hợp rời rạc các giá trị văn hoá Bản thân các yếu tố văn hóa liên quan mật thiết với nhau trong những thời điểm lịnh sử cũng như trong một thời gian dài Do vậy, việc xem xét văn hóa mang tính hệ thống giúp chúng ta có cái nhìn, sự nhận diện một cách đầy đủ nhất về văn hóa nói chung và văn hóa doanh nghiệp nói riêng.

b) Tính giá trị của văn hóa

Song, không phải mọi hệ thống đều là văn hóa mà chỉ có những hệ thống giá trị mới là văn hóa Văn hóa chỉ chứa cái hữu ích, cái tốt, cái đẹp Nó là thước đo mức độ nhân bảncủa con người

Cuộc sống là quá trình tìm kiếm các giá trị để thoả mãn các nhu cầu Giá trị là kết quảthẩm định của chủ thể đối với đối tượng theo một hoặc một số thang độ nhất định (như

“đúng-sai”, “tốt-xấu”, “đẹp-xấu” )

Vạn vật đều có tính hai mặt, đồng thời chứa cả cái giá trị và phi giá trị Ngay cả nhữnghiện tượng tưởng như xấu xa tồi tệ nhất như ma tuý, mại dâm, chiến tranh, chửi nhau cũng có những mặt giá trị của nó Và ngay cả những hiện tượng tưởng như tốt đẹp nhấtnhư thành tựu y học, thuỷ điện cũng có những mặt phi giá trị của nó

Do vậy, giá trị là khái niệm có tính tương đối Nó phụ thuộc vào chủ thể, không gian và thời gian Vì vậy, muốn xác định được giá trị của một sự vật (khái niệm) thì phải xem xét

sự vật (khái niệm) trong bối cảnh “không gian - thời gian - chủ thể” cụ thể, trong mối tương quan giữa mức độ “giá trị” và “phi giá trị” trong nó

Tính giá trị là đặc trưng quan trọng nhất giúp đi sâu vào bản chất của khái niệm văn hóa Nó cho phép phân biệt văn hóa với cái phi văn hóa, vô văn hoá; phân biệt văn hoá thấp với văn hoá cao; phân biệt văn hoá theo nghĩa hẹp và văn hoá theo nghĩa rộng Nhờtính giá trị, ta có được cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh giá tính giá trịcủa sự vật, hiện tượng; tránh được những xu hướng cực đoan – phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời

Trang 13

c) Tính nhân sinh của văn hóa

Văn hóa là sản phẩm của con người Văn hóa và con người là hai khái niệm không táchrời nhau Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, đồng thời chính bản thân con ngườicũng là một sản phẩm của văn hóa

Tính nhân sinh tạo ra những khả năng không có sẵn trong bản thân sự vật (hiện tượng)

mà được con người gán cho để đáp ứng các nhu cầu của con người, đó là giá trị biểu trưng Tính nhân sinh kéo theo tính biểu trưng của văn hoá

Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hoá với tự nhiên Văn hóa là sản phẩm trực tiếpcủa con người và gián tiếp của tự nhiên Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi conngười, là một “tự nhiên thứ hai”

d) Tính lịch sử của văn hóa

Tự nhiên được biến thành văn hóa là nhờ có hoạt động xã hội - sáng tạo của con người Nhờ có hoạt động này mà các giá trị được tích lũy và tạo thành văn hoá Bản thân các hoạt động cũng chính là các giá trị văn hoá Sự tích lũy các giá trị tạo nên đặc điểm thứ

ba của văn hoá là tính lịch sử.Tính lịch sử tạo ra tính ổn định của văn hoá Đồng thời, tínhlịch sử cần để phân biệt văn hóa như cái được tích lũy lâu đời với văn minh như cái chỉ trình độ phát triển ở một thời điểm nhất định

3 Nhận diện văn hóa

Để nhận diện một đối tượng có phải là văn hoá hay không, cần phải dựa vào định

nghĩa văn hoá với bốn đặc trưng nêu trên Chúng ta xem xét trên các khía cạnh sau:

a) Theo sự phân lọai các yếu tố cấu thành văn hóa

Trên cơ sở đó phân tích, so sánh và nhận diện một nền văn hóa hoặc giữa các nên vănhóa với nhau Thuật ngữ này, chúng ta có thể sử dụng tương đồng đối với các phươngpháp để nhận diện thương hiệu của doanh nghiệp

b) Theo khía cạnh sự khác biệt

Theo khía cạnh này, văn hóa được khác biệt với khu biệt với Tự Nhiên, Văn Minh cácnền văn hóa khác Văn hóa khu biệt với tự nhiên là nhờ có tính nhân sinh Thiếu tính

Trang 14

nhân sinh, tự nhiên chưa phải là văn hóa Văn hóa khu biệt với văn minh là nhờ có tínhlịch sử Thiếu tính lịch sử, văn minh cũng chưa phải là văn hoá.

Như vậy, đây là sự khác biệt có hay không có chất văn hoá, có hay không có yếu tố vănhoá

Tuy nhiên, có chất văn hoá vẫn chưa hẳn đã đủ cơ sở để xếp một sự vật (hiện tượng) vào văn hoá Vịnh Hạ Long, hòn Vọng Phu, đều có bàn tay và khối óc của con người, chúng đều có tính biểu trưng Nhưng để khu biệt và quyết định xếp đối tượng này vào tựnhiên, đối tượng kia vào văn hóa, cần so sánh mức độ tỷ lệ giữa “chất con người” và

“chất tự nhiên” trong mỗi đối tượng

Văn hoá đứng giữa tự nhiên và văn minh Tính nhân sinh chưa có hoặc quá ít thì thuộc về

tự nhiên Tính nhân sinh (nhân tạo) quá nhiều thì thuộc về văn minh Khi tính nhân sinh

có liều lượng thì thuộc về văn hoá

Văn hoá còn phân biệt với văn minh ở tính giá trị, tính dân tộc, đặc trưng khu vực và tổchức xã hội

c) Trên khía cạnh giá trị

Trên bình diện giá trị, văn hóa được phân biệt với Tập hợp giá trị và Phản văn hoá Văn hóa phân biệt với tập hợp giá trị là nhờ có tính hệ thống Một tập hợp giá trị thiếu tính

hệ thống thì vẫn đã thuộc văn hoá rồi, nhưng do rời rạc, không có liên hệ với nhau nên

nó chưa trở thành được một đối tượng (một nền) văn hoá riêng biệt

Văn hóa phân biệt với phản văn hoá là nhờ tính giá trị Phản văn hoá không phải là

không có chất văn hoá, không có tính giá trị, mà là ở chỗ tính giá trị của nó có thể bộc lộ trong một toạ độ văn hoá khác Một sự vật, hiện tượng có thể có giá trị trong hệ toạ độ này, nhưng lại là phản văn hoá trong một hệ toạ độ khác

Như vậy, việc một tập hợp giá trị, một phản văn hoá có là một (nền) văn hoá hay

không là do các mối quan hệ của chúng quyết định

4 Vai trò của văn hóa

 Thúc đẩy kinh tế tăng trưởng ổn định

Trang 15

 Tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển XH trong giai đoạn phát triển

bền vững

5 Chức năng của văn hóa

 Chức năng tổ chức xã hội

 Chức năng điều chỉnh xã hội

 Chức năng giao tiếp

 Chức năng giáo dục

6 Cấu trúc hệ thống văn hóa

 Văn hóa nhận thức

 Văn hóa tổ chức cộng đồng

 Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên

 Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội

7 Vận dụng khái niệm văn hoá vào doanh nghiệp

Từ những điều trên đây có thể rút ra những nhận xét sau: về bản chất, văn hoá doanh nghiệp

là phương pháp quản lý (phương thức hoạt động) riêng mà tổ chức, doanh nghiệp lựa chọn

và sử dụng để tiến hành các hoạt động kinh doanh, nghiệp vụ hằng ngày, trong đó có sự tham gia của tất cả mọi thành viên trong quá trình xây dựng và thực hiện (do tổ chức, doanhnghiệp sáng tạo ra), mang dấu ấn, bản sắc riêng về phong cách và được thể hiện bằng nhữnghành vi, dấu hiệu có thể nhận biết và phân biệt được với các tổ chức, doanh nghiệp khác (cùng với biểu hiện của nó) Những biểu hiện này trở nên những dấu hiệu nhận diện – thương hiệu – của tổ chức, doanh nghiệp và được sử dụng trong hoạt động hằng ngày như một phương tiện giúp các đối tượng hữu quan nhận biết, đánh giá, so sánh và lựa chọn trongquá trình sử dụng (yêu cầu của môi trường hoạt động) Trong môi trường kinh doanh toàn cầu hoá ngày nay, những đặc trưng này có thể được sử dụng như một lợi thế trong kinh doanh (đòi hỏi của sự cạnh tranh)

Như vậy, văn hoá doanh nghiệp là một phương pháp quản lý kinh doanh được xây dựng

và thực thi bởi tất cả các thành viên, thể hiện một bản sắc, phong cách riêng, có thể nhận biết nhờ những dấu hiệu đặc trưng, thể hiện những ý nghĩa, hình ảnh và giá trị nhất định đối với các đối tượng hữu quan, và được tổ chức, doanh nghiệp sử dụng để tạo lập lợi thếcạnh tranh bằng thương hiệu khi hoạt động trong nền kinh tế toàn cầu

Trang 16

II Văn hóa doanh nghiệp

1 Khái niệm văn hóa doanh nghiệp

Mọi tổ chức đều có văn hóa và những giá trị độc đáo riêng của nó Hầu hết các tổ chức đều không tự ý thức là phải cố gắng để tạo ra một nền văn hóa nhất định của mình Văn hóa của một tổ chức thường được tạo ra một cách vô thức, dựa trên những tiêu chuẩn của những người điều hành đứng đầu hay những người sáng lập ra tổ chức đó

Theo E.Heriôt: "Cái gì còn lại khi tất cả những cái khác bị quên đi - cái đó là văn hoá" Ðiều đó khẳng định rằng, văn hoá doanh nghiệp (VHDN) là một giá trị tinh thần và hơn thế nữa, là một tài sản vô hình của DN Nó là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một DN (hay một tổ chức), trở thành cácgiá trị, các quan niệm và tập quán, thể hiện trong các hoạt động của DN ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi ứng xử của mọi thành viên của DN

Văn hoá doanh nghiệp chính là chuẩn mực mà ở đó người ta sẽ quay quanh cái chuẩnmực đó để có hành vi ứng xử Mỗi nhân viên vào hoạt động trong hệ thống của chúng tôiđều được nghe ít nhất hai tiếng đồng hồ về văn hoá doanh nghiệp

Có thể thấy rõ: văn hoá doanh nghiệp bao gồm các yếu tố pháp luật và đạo đức Vănhoá doanh nghiệp không thể hình thành một cách tự phát mà phải được hình thànhthông qua nhiều hoạt động của bản thân mỗi doanh nghiệp, mỗi doanh nhân, của Nh ànước và các tổ chức xã hội

Trước hết, cần phải thống nhất nột khái niệm chung về văn hoá doanh nghiệp Văn hoá doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ các quy tắc ứng xử, cách nghĩ, chuẩn mực, đường lối kinh doanh có tác dụng đặt dấu ấn tới hành vi, thái độ, niếm tin và quan hệ của cácthành viên, cao hơn nữa là hình ảnh của một doanh nghiệp trên thương trường

Văn hoá doanh nghiệp không chỉ giới hạn đơn thuần trong phạm trù văn hoá tổ chức, haytrong cặp quan hệ “văn hoá trong kinh doanh” và “kinh doanh có văn hoá” Văn hoá doanh nghiệp là một tiểu văn hoá (subculture)

Trang 17

 Văn hoá doanh nghiệp là một hệ thống của các giá trị do doanh nghiệp sáng tạo

và tích luỹ qua quá trình hoạt động kinh doanh, trong mối quan hệ với môi trường

xã hội và tự nhiên của mình

 Văn hoá doanh nghiệp là tổng thể các truyền thống, các cấu trúc và bí quyết kinh doanh xác lập qui tắc ứng xử của một doanh nghiệp

 Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ phương thức kinh doanh, quản lý điều hành kinhdoanh, phong cáchứng xử trong quan hệ với đối tác và trong nội bộ doanh nghiệp

 Văn hoá doanh nghiệp là những qui tắc ứng xử bất thành văn, là lực lượng vô hìnhtrở thành qui định của pháp luật, nhưng được các chủ thể tham gia thị trường hiểu

và chấp nhận

2 Đặc điểm văn hóa doanh nghiệp

a) Văn hóa doanh nghiệp tồn tại khách quan

Văn hoá tồn tại ngoài sự nhận biết của chúng ta Có con người, có gia đình, có xã hội là

có văn hoá Văn hoá rất quan trọng, nó tồn tại độc lập với chúng ta Văn hoá không có nghĩa là cái đẹp Dù ta có nhận thức hay không nhận thức thì nó vẫn trường tồn Nếu ta biết nhận thức nó, xây dựng nó thì nó lành mạnh, phát triển Có thể có văn hoá đồi trụy đixuống, văn hoá phát triển đi lên, văn hoá mạnh hay văn hóa yếu, chứ không thể không cóvăn hoá Người ta đồng nghĩa giữa văn hoá doanh nhân, văn hoá kinh doanh và nhiều người nghĩ văn hoá giao tiếp là văn hóa doanh nghiệp

b) Văn hoá doanh nghiệp hình thành trong một thời gian khá dài

c) Văn hóa doanh nghiệp mang tính bền vững

Tính giá trị: là sự khác biệt của một doanh nghiệp có văn hoá với một doanh nghiệp phivăn hoá Giá trị văn hoá của doanh nghiệp có giá trị nội bộ; giá trị vùng; giá trị quốc gia;giá trị quốc tế Doanh nghiệp càng tôn trọng và theo đuổi những giá trị chung cho nhữngcộng đồng càng rộng lớn bao nhiêu thì vai trò của nó càng lớn bấy nhiêu

d) Văn hóa doanh nghiệp có cấu trúc mạnh mẽ

Nếu coi văn hóa như là một tòa nhà (của doanh nghiệp), khi thiết kế một tòa nhà cần phảituân thủ 3 nguyên tắc sau:

Trang 18

 Kết cấu vững chắc

 Tiện lợi khi sử dụng

 Phù hợp thẩm mỹ

Như vậy, một doanh nghiệp xuất sắc phải xây dựng văn hóa doanh nghiệp cũng dựa trên

3 nền tảng cơ bản Một doanh nghiệp xuất sắc bền vững lâu dài không phải vì có những ýtưởng kinh doanh vĩ đại hay những nhà lãnh đạo tài giỏi, biết mọi việc, mà là có một tổchức thiết kế tốt, thích ứng với sự thay đổikhông phụ thuộc vào cá nhân lãnh đạo nào

Những người lãnh đạo trong tổ chức phải biết tập trung sức lực cho việc thiết kế tổ chức phù hợp, thích ứng Đồng thời doanh nghiệp cũng phải hiểu rằng nếu chỉ xác định tầm nhìn, sứ mệnh, lựa chọn mục tiêu, chiến lược,… thôi thì chưa đủ, doanh nghiệp cần phải mang tầm nhìn vào cuộc sống, chuyển biến những mong ước tốt đẹp thành hiện thực cụ thể,chỉnh tề cơ cấu - đội ngũ thẳng hàng hướng đích vào các mục tiêu chiến lược

Văn hóa doanh nghiệp đòi hỏi doanh nghiệp phải hài hòa trong tư duy, hành động nhất quán để tạo ra một tổ chức xuất sắc, bền vững Sự hài hòa đó chính là tính thẩm mỹ cao nhất trong cấu trúc của tòa nhà văn hóa doanh nghiệp Doanh nghiệp bảo thủ xung quanh

tư tưởng cốt lõi, nhưng luôn thử nghiệm và dò tìm cơ hội, cải tiến liên tục tạo ra sự tiến bộ

e) Văn hóa doanh nghiệp tạo nên chuẩn mực hành động

Trong văn hóa doanh nghiệp, việc thực hiện các nhiệm vụ bất khả thi là một cơ chế mạnh

để thúc đẩy sự tiến bộ Các doanh nghiệp khi xây dựng văn hóa phải luôn đặt ra cho mìnhnhững nhiệm vụ to lớn, quá sức mình, có vẻ như liều lĩnh, mạo hiểm, nhưng phải nhất quán với giá trị cốt lõi của doanh nghiệp Từ mục tiêu bất khả thi của doanh nghiệp, các quản lý, lãnh đạo đơn vị thành viên xây dựng các mục tiêu bất khả thi cho đơn vị mình tạo một sự sống động thẳng hàng trên toàn tổ chức Chính các nhiệm vụ bất khả thi đó được đặt ra nối tiếp, khi đạt được lại có một mục tiêu mới, nhiệm vụ mới sẽ tạo đà thúc đẩy sự tiến bộ mạnh mẽ và liên tục giúp một doanh nghiệp trở thành một doanh nghiệp lớn và xuất sắc trong tương lai

Trang 19

Để thực hiện các nhiệm vụ bất khả thi, doanh nghiệp phải tìm kiếm, lựa chọn, đào tạonhững con người thích hợp, nhất quán và chia sẻ các giá trị cốt lõi của doanh nghiệp.Những con người không thích hợp cần phải được loại ra khỏi doanh nghiệp Bên cạnh đó,doanh nghiệp phải một mặt kiểm soát chặt chẽ tư tưởng nhân viên, mặt khác ủng hộ sự tựchủ cao nhất cho mỗi người, thúc đẩy mọi người luôn hành động và thử nghiệm và làmmọi thứ có thể cho sự tiến bộ của doanh nghiệp Trong các doanh nghiệp xuất sắc, nhiềuhành động xuất sắc, tạo ra cú đẩy phát triển vượt bậc không phải từ những kế hoạch chiếnlược định trước, mà từ các thử nghiệm ngẫu nhiên Các doanh nghiệp xuất sắc tạo ra mộtvăn hóa mạnh với các nguyên tắc hành động thích hợp để đẩy mạnh quá trình tiến hóa.

f) Văn hoá doanh nghiệp mang tính hệ thống, thống nhất tương tự như đặc tính của văn hóa nói chung

Văn hóa doanh nghiệp là một tổng thể thống nhất ở chỗ:

 Văn hóa doanh nghiệp trước hết phải là một tổng thể có kết cấu thống nhất và mạnh

mẽ dựa trên các thành tố: Các mục tiêu/chiến lược/chiến thuật/chính sách; Các quá trình nội bộ/hoạt động kinh doanh hàng ngày/công tác quản lý; Các hệ thống lương/

kế toán/thiết kế công việc/bố trí văn phòng; Các giá trị/con người/sinh hoạt/giao tiếp,…

 Biểu hiện tổng quan văn hóa doanh nghiệp là một khối thống nhất gồm 2 mối quan

hệ bên trong và bên ngoài có tác động qua lại với nhau (biểu hiện như vòng tròn

Âm Dương có mối quan hệ tác động lẫn nhau)

- Trong cứng: là duy trì kỷ luật; thống nhất quan điểm/tư tưởng/hành động; chuẩnhóa mọi hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh,… từ đó xây dựng giáo lý của tổchức và kiên trì thực hiện nhằm tiến tới một định hướng rõ ràng

- Ngoài mềm: là những mối quan hệ với khách hàng và đối tác; là hệ thống dịch vụ,chăm sóc khách hàng hoàn hảo, phải hết sức uyển chuyển linh hoạt trong ứng xử

Trang 20

3 Chủ thể của văn hóa doanh

nghiệp a) Văn hóa doanh nhân

Doanh nhân trong tài liệu này được hiểu là những chủ sơ hữu chính của doanh nghiệp.Hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm cho rằng văn hoá doanh nhân và văn hoá doanh

nghiệp là giống nhau Thực tế, văn hoá doanh nhân là một bộ phận cấu thành của vănhoá doanh nghiệp, nhưng văn hoá doanh nhân thể hiện một số điểm khác biệt và khôngthuộc văn hoá doanh nghiệp

Doanh nhân là người đưa ra những quyết định trong việc hướng doanh nghiệp theo mộtđường lối, phương hướng nhất định Chính vì vậy, không phủ nhận văn hoá doanh nhân

có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của văn hoá doanh nghiệp

b) Nhà quản trị

c) Nhân viên và người lao động

d) Khách hàng

Dưới con mắt khách hàng, văn hoá Doanh nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng,

tạo nên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Văn hoá DN đóng hai vai trò:

 Là nguồn lực, lợi thế cạnh tranh, lợi thế so sánh khi khách hàng quyết định lựachọn các nhà cung cấp khác nhau

 Văn hoá DN là cơ sở duy trì và phát triển mối quan hệ khách hàng

Khi khách hàng tiếp xúc, ký hợp đồng/mua hàng thì những yếu tố của văn hóa doanh nghiệp sẽ làm cho khách hàng yên tâm đây là một tổ chức rất chuyên nghiệp, có tâm Đây

sẽ làm một lợi thế cạnh tranh khác so với cùng đối thủ nếu như có cùng lợi thế về sản phẩm, chất lượng, dịch vụ

Khi khách hàng đã mua hàng, họ sẽ được tiếp xét nhiều hơn với doanh nghiệp từ chữ tín,phong cách giao tiếp, biểu tượng….qua đó chữ tín càng được cũng cố Nói không quá rằng VHDN là cơ sở để duy trì khách hàng trung thành của doanh nghiệp

e) Nhà cung cấp

Tương tự như đối với khách hàng, nhà cung cấp sẽ tin tưởng hơn khi bán hàng cho doanh nghiệp Sau khi bán hàng, mức độ tin nhiệm càng nâng lên, nhà cung cấp sẽ coi doanh

Trang 21

nghiệp là những khách hàng trung thành đặc biệt và có những chế độ quan tâm đặc biệt nhưng ngày giao hàng, chiết khấu tài chính…

4 Sự cần thiết xây dựng văn hóa doanh nghiệp,và vai trò của văn hóa doanh

nghiệp a) Sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường

Ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa và khu vực hóa đang đã và đang diễn ra một cách sâu rộng trong tất cả lĩnh vực Điều đó làm cho môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn, mỗi doanh nghiệp tìm mọi cách để phát triển, hòa nhập và xácđịnh vị trí riêng của mình trên thị trường

Việc gia nhập các tổ chức quốc tế với những luật chơi chung đã giúp tháo gỡ phần nàonhững rào cản, đem lại cho các doanh nghiệp nhiều cơ hội hợp tác làm ăn Bên cạnhnhững cơ hội đó, các doanh nghiệp cũng phải đương đầu với rất nhiều thử thách và cuộccạnh tranh cho sự tồn tại cũng ngày một sâu sắc hơn Để thành công, nhiều doanh nghiệpđang cố gắng tạo ra môi trường làm việc hoàn thiện nhằm thu hút nhân tài và nuôi dưỡngnăng lực, ngăn chặn tình trạng thất thoát nhân lực và chảy máy chất xám

Bên cạnh đó, bộ máy quản lý nhân lực ở nhiều nơi cũng đã xác định rõ mục tiêu hoạtđộng và thay đổi biện pháp quản lí, tăng cường hiệu quả hoạt động và phát triển ra thịtrường nước ngoài

b) Văn hóa văn nghiệp tạo nên khả năng thích ứng với thời cuộc mới

Có một sự thật buộc chúng ta phải nhìn nhận rằng, chỉ có một văn hoá doanh nghiệpmạnh thì mới có khả năng thích ứng cao với những thay đổi liên tục từ bên ngoài Nhưchúng ta đã thấy mọi yếu tố xã hội, khoa học công nghệ, khả năng của con người đangthay đổi từng giờ, từng phút, thế giới vẫn không ngừng chuyển động và một doanh

nghiệp tốt, thành công hôm nay nhưng chưa chắc đã là tốt trong tương lai nếu không có

sự định hướng cho những sự thích ứng đó ngay từ bây giờ Quan trọng hơn, hoạt độngcủa các doanh nghiệp sẽ bị tụt hậu nhiều hơn nữa nếu không tiến hành một cuộc cáchmạng cho việc xây dựng và đổi mới văn hoá trong phạm vi doanh nghiệp ngay trong hiệntại

Trang 22

c) Tạo nên giá trị tinh thần, bản sắc cho doanh nghiệp

Được sống trong một môi trường văn hoá lành mạnh với sự quan tâm thoả đáng của các cấp lãnh đạo, một môi trường khuyến khích mọi người học hỏi và quan tâm lẫn nhau sẽ làm cho mọi người cảm thấy lạc quan, gắn bó và cống hiến hết mình cho mục tiêu của doanh nghiệp Khi bước vào một doanh nghiệp mà tất cả nhân viên đều làm việc với thái

độ cởi mở, thoải mái, vui vẻ sẽ tạo cho khách hàng sự thoải mái và yên tâm

Trong một tập thể tốt sẽ là một cơ hội cho mọi người có thể học tập lẫn nhau và mang lạinhiều giá trị về tinh thần bởi vì không ai “mạnh” một cách toàn diện, sẽ có những việc người khác giải quyết tốt hơn bản thân mình giải quyết Những giá trị tinh thần như thế tạo nên bản sắc cho doanh nghiệp Nó sẽ khích lệ khả năng làm việc hết mình của các thành viên đối với mục tiêu chung của doanh nghiệp Người ta không chỉ suốt đời lao động vì lý do chỉ để tồn tại mà họ còn có thể thấy được ý nghĩa của bản thân qua những đóng góp cho cộng đồng và xã hội

Văn hóa doanh nghiệp tạo nét bản sắc phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác Chính nhờ bản sắc này mà doanh nghiệp được xã hội chấp nhận, có được sức mạnh và lợi thế cạnh tranh

d) Tạo sức hút của doanh nghiệp

Văn hoá doanh nghiệp chính là hình ảnh về một doanh nghiệp và tạo nên sự khác biệt vớicác doanh nghiệp khác Qua văn hoá doanh nghiệp ta sẽ cảm nhận rằng hoạt động của doanh nghiệp đó là mạnh hay yếu và tương lai của doanh nghiệp

Khi đến liên hệ công việc với một công ty, nếu bắt gặp thái độ trân trọng từ những nhân viên bảo vệ đến chị lao công, sự chỉ dẫn tận tình của các nhân viên văn phòng với nhữngthủ tục nhanh chóng nhất có thể, sẽ đem lại cho ta cảm giáchài lòng và hứa hẹn sự quay lại lần sau Một cửa hàng đông khách thì ngoài thái độ trân trọng khách hàng, cách ăn mặc đẹp đẽ của nhân viên còn do sự độc đáo của cửa hàng trong việc cung cấp một dịch

vụ thuận tiện hoặc chế độ chăm sóc và hậu mãi khách hàng Một doanh nghiệp cũng vậy,muốn có được nhiều tiềm năng khách hàng, thu hút các hợp đồng kinh tế và nhiều cơ hộiliên doanh liên kết với các đối tác hay không thì cần phải có một văn hoá doanh nghiệp tốt mới có thể tạo được lòng tin với các đối tác trong kinh doanh

Trang 23

Ngoài ra, một doanh nghiệp xây dựng được văn hóa doanh nghiệp tốt sẽ là điều kiện cầnthiết để thu hút nhân tài, thu hút chất xám Mỗi người lao động đều mong muốn có một môi trường làm việc tốt, mọi người gắn bó, chia sẻ với nhau, được cấp trên quan tâm và hiểu được những mong muốn của mình, ở đó mỗi lao động sẽ được học tập và khuyến khích phát triển các kỹ năng cá nhân và khả năng sáng tạo.

5 Vai trò của văn hóa doanh nghiệp

a) Là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh

Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp được xem xét trên các khía cạnh như: chất lượngsản phẩm, chi phí, sự linh hoạt (trước phản ứng của thị trường), thời gian giao hàng… Để

có được những lợi thế này doanh nghiệp phải có những nguồn lực như nhân lực, tài chính, công nghệ, máy móc, nguyên vật liệu, phương pháp làm việc (phương pháp 5 M: man, money, material, machine, method) Nguồn lực tài chính, máy móc, nguyên vật liệuđóng vai trò lợi thế so sánh với đối thủ cạnh tranh trước khách hàng Nguồn nhân lực đóng vai trò tham gia toàn bộ quá trình chuyển hoá các nguồn lực khác thành sản phẩm đầu ra, vì vậy có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định tạo ra những lợi thế cạnh tranhnhư chất lượng sản phẩm, thời gian giao hàng

Tính hiệu quả của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào yếu tố văn hoá (VHDN Nó ảnh hưởng trực tiếp to lớn đến việc hình thành mục tiêu, chiến lược và chính sách, nó tạo ratính định hướng có tính chất chiến lược cho bản thân doanh nghiệp, đồng thời cũng tạo thuận lợi cho việc thực hiện thành công chiến lược đã lựa chọn của doanh nghiệp Môi trường văn hoá của doanh nghiệp còn có ý nghĩa tác động quyết định đến tinh thần, thái

độ, động cơ lao động của các thành viên và việc sử dụng đội ngũ lao động và các yếu tốkhác Môi trường văn hoá càng trở nên quan trọng hơn trong các doanh nghiệp liên doanh, bởi vì ở đó có sự kết hợp giữa văn hoá của các dân tộc, các nước khác nhau

b) Là một nguồn lực của doanh nghiệp

Mục tiêu của văn hoá doanh nghiệp là nhằm xây dựng một phong cách quản trị hiệu quảđưa hoạt động của doanh nghiệp vào nề nếp và xây dựng mối quan hệ hợp tác thân thiệngiữa các thành viên của doanh nghiệp , làm cho doanh nghiệp trở thành một cộng đồng

Trang 24

làm việc trên tinh thần hợp tác, tin cậy, gắn bó, thân thiện và tiến thủ Trên cơ sở đó hìnhthành tâm lý chung và lòng tin vào sự thành công của doanh nghiệp Do đó nó xây dựngmột nề nếp văn hoá lành mạnh tiến bộ trong tổ chức, đảm bảo sự phát triển của mỗi cánhân trong doanh nghiệp Văn hoá càng mạnh bao nhiêu, nó càng định hướng tới thịtrường, văn hoá và sự định hướng tới thị trường càng mạnh bao nhiêu thì công ty càngcần ít chỉ thị, mệnh lệnh, sơ đồ tổ chức, chỉ dẫn cụ thể hay điều lệ bấy nhiêu Các công tyxuất sắc đều có một hệ thống giá trị, một bản sắc riêng không ai bắt chước được.

c) Thu hút nhân tài , tăng cường sự gắn bó người lao động

d) Văn hoá doanh nghiệp tạo nên bản sắc của doanh nghiệp

Văn hoá doanh nghiệp là tài sản tinh thần của doanh nghiệp và phân biệt doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác tạo nên bản sắc (phong thái, sắc thái, nền nếp, tập tục) của doanh nghiệp văn hoá doanh nghiệp di truyền, bảo tồn cái bản sắc của doanh nghiệp qua nhiều thế hệ thành viên, tạo ra khả năng phát triển bền vững của doanh nghiệp Vănhoá doanh nghiệp như là “bộ gen” của doanh nghiệp

Những doanh nghiệp thành công thường là những doanh nghiệp chú trọng xây dựng, tạo

ra môi trường văn hoá riêng biệt khác với các doanh nghiệp khác Bản sắc văn hoá không chỉ là tấm căn cước để nhận diện doanh nghiệp mà còn là phương thức sinh hoạt

và hoạt động chung của doanh nghiệp Nó tạo ra lối hoạt động, kinh doanh của doanh nghiệp Đó là bầu không khí, là tình cảm, sự giao lưu, mối quan hệ và ý thức trách

nhiệm, tinh thần hiệp tác phối hợp trong thực hiện công việc

e) Văn hoá ảnh hướng tới hoạch định chiến lược

Văn hoá tổ chức có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạch định chiến lược phát triển của tổ chứcthông qua việc chọn lọc thông tin thích hợp (áp dụng kinh nghiệm, mô h ình phù hợp), đặt ra những mức tiêu chuẩn theo giá trị của tổ chức, cung cấp những tiêu chuẩn, nguyêntắc cho các hoạt động Hoạch định chiến lược phát triển của tổ chức sẽ giúp cho các thành viên thấy hết vai trò của họ trong tổ chức, cung cấp những cơ sở quan trọng để cácthành viên tổ chức hiểu được môi trường của họ và vị trí của DN trong môi trường đó

Trang 25

Văn hoá tổ chức cũng sẽ có ảnh hưởng tới hiệu quả thực hiện chiến lược của tổ chức Bởi

vì một văn hoá mạnh, tức là tạo được một sự thống nhất và tuân thủ cao đối với giá trị, niềm tin của tổ chức sẽ là cơ sở quan trọng để thực hiện thành công chiến lược của tổ chức Văn hoá tổ chức với chức năng tạo được cam kết cao của các thành viên trong tổ chức, yếu tố quyết định để nâng cao hiệu quả hoạt động, năng suất lao động của tổ chức Văn hoá tổ chức, chính vì vậy sẽ góp phần quan trọng tạo nên một “công thức thành công” cho các DN trên con đường hội nhập

f) Tạo ra nhận dạng riêng cho tổ chức đó, để nhận biết sự khác nhau giữa tổ

chức này và tổ chức khác

g) Truyền tải ý thức, giá trị của tổ chức tới các thành viên trong tổ chức đó

h) Văn hoá tạo nên một cam kết chung vì mục tiêu và giá trị của tổ chức, nó lớn hơn lợi ích của từng cá nhân trong tổ chức đó

i) Văn hoá tạo nên sự ổn định của tổ chức: Chính vì vậy có thể nói rằng văn hoá như một chất keo kết dính các thành viên trong tổ chức, để giúp việc quản lý tổ chức bằng cách đưa ra những chuẩn mực để hướng các thành viên nên nói gì và làm gì

k) Văn hoá tạo ra như một cơ chế khẳng định mục tiêu của tổ chức, hướng dẫn

và uốn nắn những hành vi và ứng xử của các thành viên trong tổ chức Như một nhà nghiên cứu về văn hoá tổ chức có nói rằng “văn hoá xác định luật chơi”.

l) Nguyên nhân dẫn đến sự suy yếu của doanh nghiệp, rào cản cho sự phát triển

Ngăn cản sự thay đổi: văn hoá tổ chức có thể tạo một lực cản đối với những mong muốnthay đổi để thúc đẩy hiệu quả của tổ chức Điều này sẽ tồn tại trong một môi trường tổ chức năng động Khi môi trường đang chịu sự thay nhanh chóng Văn hoá tổ chức có thểkhông thể kéo dài sự tồn tại, bởi vì tính vững chắc của cách ứng xử chỉ tạo ra được đối với một tổ chức có môi trường ổn định Văn hoá tổ chức lúc đó có thể trở thành lực cản đối với sự thay đổi

Ngăn cản tính đa dạng của tổ chức: Việc tuyển dụng những thành viên mới có nguồn gốc

đa dạng về kinh nghiệm, xuất xứ, dân tộc hay trình độ học vấn dường như làm giảm bớt những giá trị văn hoá mà mọi thành viên của tổ chứcđang cố gắng để phù hợp và đáp ứng Văn hoá tổ chức vì vậy có thể tạo ra rào cản sức mạnh đa dạng mà những người vớinhững kinh nghiệm khác nhau muốn đóng góp cho tổ chức

Trang 26

Ngăn cản sự đoàn kết và hiệp lực của việc hợp tác giữa các DN, nếu như trước đây sựhoà hợp về các yếu tố cơ bản trong kinh doanh có thể là cơ sở tốt cho một liên doanh,nhưng ngày nay điều đó chưa đủ nếu chúng ta không tính đến yếu tố văn hoá tổ chức.Nhiều liên doanh đã vấp phải thất bại do sự đối nghịch của văn hoá hai tổ chức thànhviên.

6 Cơ sở xây dựng Văn hóa doanh nghiệp

a) Các hạt nhân của VHDN

Đây là cơ sở để hình thành Văn hóa doanh nghiệp Các hạt nhân văn hóa là kết quả của sự tác động qua lại giữa các thành viên trong doanh nghiệp với nhau Khi doanh nghiệp bắt đầu hoạt động, nền văn hóa doanh nghiệp xuất hiện, phát triển và tự bảo vệ Văn hóa

doanh nghiệp có tính đặc thù nên các hạt nhân văn hóa được hình thành cũng có tính chất riêng biệt Văn hóa của các tập đoàn đa quốc gia khác với văn hóa của các doanh nghiệp liên doanh hoặc văn hóa của doanh nghiệp gia đình Hạt nhân văn hóa doanh nghiệp bao gồm triết lý, niềm tin, các chuẩn mực làm việc và hệ giá trị

b) Phát triển văn hóa giao lưu của các DN

Các doanh nghiệp thường có xu hướng liên doanh, liên kết với nhau để tồn tại trong môitrường kinh doanh phức tạp, đa văn hóa, các doanh nghiệp không thể duy trì văn hóa doanh nghiệp mình giống như những lãnh địa đóng kín của mà phải mở cửa và phát triểngiao lưu về văn hóa Việc phát triển văn hóa giao lưu sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp học tập, lựa chọn những khía cạnh tốt về văn hóa của các doanh nghiệp khác nhằm phát triển mạnh nền văn hóa của doanh nghiệp mình và ngược lại

c) Xây dựng các tiêu chuẩn về VHDN

Để hình thành một nền văn hóa mạnh và có bản sắc riêng, hầu hết các doanh nghiệp thường xây dựng cho mình những tiêu chuẩn về văn hóa và buộc mọi người khi vào làmviệc cho doanh nghiệp phải tuân theo Tuy nhiên, các tiêu chuẩn này có thể thay đổi khi không còn phù hợp hoặc hiệu quả thấp Trong trường hợp như vậy, việc sáng tạo ra những tiêu chuẩn mới là cần thiết

Trang 27

Trong điều kiện toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới và quá trình cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt thì văn hóa doanh nghiệp được chú trọng xây dựng và phát triển Nó trở thành một loại tài sản vô hình đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong kho tài sản doanh nghiệp và là một trong những công cụ cạnh tranh khá sắc bén Những doanh nghiệp không có nền văn hóa mạnh khó có thể cạnh tranh cao trên thị trường Đồng thời, doanhnghiệp có thể tạo ra và tăng uy tín của mình trên thị trường thông qua việc xây dựng và phát triển một nền văn hóa doanh nghiệp mạnh.

d) Văn hóa tập đoàn đa quốc gia

Các tập đoàn đa quốc gia có nhiều chi nhánh hoạt động ở nhiều nước trên thế giới,

thường phải đối mặt với môi trường kinh doanh đa sắc tộc, đa quốc tịch và đa văn hóa

Để tăng cường sức mạnh và sự liên kết giữa các chi nhánh của các công ty đa quốc gia ởcác nước khác nhau, các tập đoàn phải có một nền văn hóa đủ mạnh Hầu như tập đoàn

đa quốc gia nào cũng có bản sắc văn hóa riêng của mình và đây được coi là một trong những điều kiện sống còn, một loại vũ khí cạnh tranh lợi hại Các công ty đa quốc gia

có mục đích kinh doanh chiến lược, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng và danh tiếng cao về chất lượng sản phẩm và dịch vụ trên thị trường thế giới

Những kết quả này có thể coi là sản phẩm của quá trình vận động của văn hóa tập đoàn.Tuy nhiên, để đạt được những đỉnh cao của sự thành công đó, các tập đoàn phải mất nhiều thời gian và tiền bạc

e) Văn hóa doanh nghiệp gia đình

Các doanh nghiệp gia đình được xem là một loại định chế độc đáo trong đó một gia đình

là hạt nhân của doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp gia đình chịu ảnh hưởng của truyền thống gia đình, sự kế tục giữa các thế hệ và lòng trung thành với những triết lý kinh doanh, kinh nghiệm, bí quyết được gia đình đúc rút được trong quá trình kinh doanh Thông thường, trong gia đình, người chủ gia đình thường nắm được bí quyết về một nghềnghiệp nào đó và dựa vào nghề nghiệp đó để thành lập doanh nghiệp gia đình Vì thế, Văn hóa doanh nghiệp gia đình chịu ảnh hưởng rất lớn tác động của phong cách lãnh đạo

Trang 28

của người chủ gia đình Kỷ luật trong doanh nghiệp gia đình thường được đề cao vì họvừa là người chủ sở hữu vừa là người sử dụng các tài sản của gia đình.

 Tóm lại: Văn hoá doanh nghiệp là nhằm tạo ra quy tắc ứng xử cho doanh nghiệp

mà không phải tạo ra tác dụng chỉ đạo Cách làm này của các doanh nghiệp khôngchỉ có tác dụng thúc đẩy cho doanh nghiệp mình thực hiện được phương thức kinh doanh “lấy con người làm trung tâm”, mà còn làm cho năng lực phát triển sản phẩm và năng lực đoàn kết hiệp đồng tập thể của doanh nghiệp trở nên phồn vinh, tăng thêm sự gắn bó của nhân viên với doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh doanh

III Triển khai văn hóa doanh nghiệp

1 Quá trình văn hóa doanh nghiệp

a) Quá trình phát triển văn hóa doanh nghiệp

Triển khai văn hoá doanh nghiệp là một quá trình phát triển về nhận thức và năng lựchành động Quá trình này diễn ra đối với một tổ chức, doanh nghiệp cũng như đối vớitừng cá nhân, thành viên của tổ chức, doanh nghiệp đó Bắt đầu từ việc tổ chức tiếp nhận,sàng lọc thông tin từ môi trường sống về đối tượng mục tiêu, giá trị, mong muốn và kỳvọng được họ tôn trọng Tiến đến là quá trình phân tích, lựa chọn, chắt lọc và chuyển hoácác giá trị, kỳ vọng của đối tượng hữu quan thành giá trị, triết lý và nhận thức của tổchức/doanh nghiệp Những giá trị, triết lý, mục tiêu và nhận thức này tiếp tục được

chuyển hoá thành những nội dung văn hoá doanh nghiệp, nhằm tạo thuận lợi cho quátrình chuyển hoá thành nhận thức của các cá nhân, thành viên của tổ chức, doanh nghiệp.Quá trình chuyển hoá ở các cá nhân, thành viên tổ chức được thực hiện với sự hỗ trợ vàhậu thuẫn của các chính sách, biện pháp quản lý, nhằm giúp mỗi cá nhân và thành viên tổchức nhận thức đúng và hình thành năng lực hành động phù hợp để thể hiện các giá trị,triết lý, nhận thức của tổ chức/doanh nghiệp thành hành động cụ thể trên cương vị củamình trong mỗi trường hợp khi đối đầu với thực tế cuộc sống

Bước đầu tiên của quá trình nhận thứcbắt đầu từ cấp tổ chức/doanh nghiệp Bằng việc

phân tích, đánh giá về thị trường – phân tích chiến lược - những người quản lý có thể

nhận ra cácđối tượng hữu quan không chỉ khác nhau về nhu cầu, mong muốn và mối

quan tâm liên quan đến hoạt động kinh doanh và sản phẩm của doanh nghiệp, mà còn

khác nhau trong cách quan niệm vềchuẩn mực hành vi vàquy tắc ứng xử Trên cơ sở

Trang 29

những phát hiện này, những người đại diện tổ chức/doanh nghiệp tiến hành xây dựng nộidung văn hoá doanh nghiệp, trong đó xácđịnh rõgiátrịmà tổ chức/doanh nghiệp có thểđóng góp cho xã hội - những người hữu quan, các triết lý sẽ áp dụng trong hoạt động kinhdoanh và trong quản lý Những triết lý này được thể hiện thành những nguyên tắc cơ bản

áp dụng trong tổ chức để tạo thuận lợi cho các thành viên trong quá trìnhra quyết địnhvàtriển khai hoạt động tác nghiệp Để hỗ trợ cho các thành viên tổ chức trong quá trìnhnhận thức, giúp họ đạt được sự thống nhất và nhắc nhở họ luôn kiên trì, nhất quán, trungthành với những nguyên tắc, phương pháp đã đề ra trong các quyếtđịnh và hàn động tácnghiệp hằng ngày, nội dung văn hoá doanh nghiệp được thể hiện dưới hình thứccác biểutrưng trực quan một cách đa dạng, phong phú và sáng tạo Qua việc sử dụng nhiều hìnhthứctruyền thông, truyền đạt nhắc tác động đồng thời đến nhiều giác quan, kết hợp vớihọc tập, rèn luyện và thực hành thường xuyên, các giá trị, nguyên tắc, phương pháp raquyếtđịnh được tổ chức/doanh nghiệp lựa chọn dần chuyển hoá từng bước vào trong nhậnthức thành các giá trị, nguyên tắc, phương pháp ra quyếtđịnh của cá nhân, và chuyểnthành năng lực, thói quen Kết quả của quá trình nhận thức và rèn luyện được phản ánhthông qua hành vi cá nhân khi tương tác với môi trường sống thể hiện mức độ chuyểnhoá của cá nhân ở các mức độ khác nhau qua các biểu trưng phi trực quan, như giá trị(tiếp nhận, tiếp thu chưa chuyển hoá) – thái độ(bước đầu chuyển hoá, trải nghiệm, tíchluỹ) - niềm tin (chuyển hoá thành có chọn lọc, phán xét giá trị bản thân, giàu kinh

nghiệm) - lối sống(chuyển hoá hoàn toàn thành giá trị, nguyên tắc, phương pháp của bảnthân, trở thành thói quen hằng ngày) Khi nhận thức đạt được ở cấp độ ―niềm tin và

―lối sống, động lực được hình thành từ tính nhất thiết phải coi trọng và tuân thủ nhữnggiá trị, nguyên tắc, phương pháp đã chuyển hoá, sự tự nguyện, tự giác xuất hiện, ý thứcđược hình thành.Thông qua hành vi, hành động, những người hữu quan bên ngoài cảmnhận được về giá trị, triết lý, nguyên tắc của tổ chức/doanh nghiệp và thể hiện được thểhiện bằng nhận thức, phong cách, cá tính của cá nhân Hình ảnh, thương hiệu của tổchức/doanh nghiệp nhờ đó mà cũng đượcđịnh hình trong nhận thức của người hữu quan

b) Triển khai văn hóa doanh nghiệp

Triển khai văn hoá doanh nghiệp, về mặt tác nghiệp, là tiến hành các bước công việcnhằm xây dựng những nội dung, công việc, hoạt động hay kế hoạch hành động có thể tiếnhành trong thực tiễn để thực thi các nội dung của quá trình văn hoá doanh nghiệp và thúcđẩy quá trình phát triển một cách có kết quả nhất

Việc triển khai văn hoá doanh nghiệp gồm ba bước:

 Bước 1: Xác định giá trị

o Chủ sỡ hữu, các cổ đông

Trang 30

o Quản lý chung, ban lãnh đạo cao cấp

o Quản lý chuyên môn, chức năng

o Nhân viên, người lao động

o Khách hàng

o Đại diện các đối tượng hữu quan khác

 Bước 2: Truyền đạt và quán triệt

o Các sự kiện văn hóa - xã hội, lễ nghi, các hoạt động đạo đức

o Lô-gô, biểu tượng, khẩu hiệu

o Mẫu chuyện (thư điện tử, tin nhắn điện thoại,…)

o Các ấn phẩm chính thức (poster, brochure, bản in,…) nội bộ

 Bước 3: Chuyển hóa thành động lực và hành động

- Hành vi cá nhân:

o Kiểm soát và rèn luyện bản thân

o Hoàn thiện phương pháp ra quyết định và giải quyết vấn đề

o Phát huy khả năng lãnh đạo

o Tự hoàn thiện nhân cách

- Hành vi của nhóm:

o Hợp tác và hòa nhập của cá nhân

o Định hướng chung và hình thành mối liên kết nhóm

o Xây dựng động cơ, triết lý chung

o Phối hợp và hỗ trợ hành động

- Hành vi tổ chức:

o Quản lý và triển khai chiến lược

o Xây dựng hệ thống và quá trình

o Quản lý nguồn lực và yếu tố

o Kiểm soát tổ chức (đánh giá, khen thưởng)

- Tiếp tục cải thiện:

o Thường xuyên rà soát biến động

o Phân tích và đánh giá lại về nhân tố, về sự thay đổi và xu thế o Hoạch định các kế hoạch điều chỉnh

Để việc triển khai văn hoá doanh nghiệp đạt kết quả mong muốn, các nhân tố tham

gia quá trình cần được phân tích kỹ lưỡng

2 Một số phương pháp phân tích về văn hóa doanh nghiệp

a) Phương pháp phân tích những người hữu quan (stakeholders’ approach)

Những người hữu quan (stakeholders), còn gọi là cácđối tượng hữu quan, là những ngườichịu ảnh hưởng, trực tiếp hoặc gián tiếp, bởi một quyết định/hoạt động sản xuất kinh

29

Trang 31

doanh của một doanh nghiệp, hay là những người có quan tâm hoặc ràng buộc về giá trị, vật chất/tinh thần, với doanh nghiệp, với hoạt động hay quá trình thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp Những ảnh hưởng và ràng buộc này có thể mang lại những hệ quả có lợi hoặc thiệt hại cho họ Bằng mối quan hệ khác nhau với doanh nghiệp, năng lực hành động khác nhau, họ có thể thể hiện thái độ/hành động phản ứng của mình theo nhiều cách khác nhau để tác động trở lại doanh nghiệp nhằm làm “lái” quyết định/hoạt động hay tiến trình thực hiện mục tiêu theo hướng mong muốn Tác nhân dẫn đến những nhân

tố bất thường – “rủi ro kinh doanh” - xuất hiện từ đó là chủ yếu

Có rất nhiều đối tượng quan tâm/liên quan đến công việc kinh doanh của một doanh nghiệp Các đối tượng là rất khác nhau về mối quan hệ với doanh nghiệp, khả năng và cách thức bị tác động, lợi ích/mối quan tâm và khả năng phản ứng của họ Có thể xếp cácđối tượng hữu quan theo các đặc điểm trên thành 6 nhóm chủ yếu sau: khách hàng – người lao động – nhà cung cấp – chủ đầu tư – cộng đồng/xã hội – cơ quan quản lý nhà nước

- Khách hàng là đối tượng có nhu cầu và mong muốn được thoả mãn nhu cầu bằng

việc tiêu dùng các sản phẩm/dịch vụ Do khả năng tự cung, tự cấp sản phẩm/dịch

vụ là rất hạn chế hoặc không có, họ cần đến người cung cấp – doanh nghiệp – và sẵn sàng trả giá xứng đáng cho việc giúp họ thoả mãn nhu cầu/mong muốn Đối với khách hàng, mối quan tâm hàng đầu là sự thoả mãn một cách thuận lợi, an toàn

và ít tốn kém nhất Một khi những mong muốn này không đạt được, phản ứng của

họ là từ chối/tẩy chay hay chuyển sang tiêu dùng các sản phẩm/dịch vụ khác

- Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế được thành lập với mục đích chủ yếu là cung ứng (sản xuất và cung cấp) sản phẩm/dịch vụ có khả năng tạo ra giá trị gia tăng

cho người tiêu dùng (sự thoả mãn) và cho doanh nghiệp (lợi nhuận) Thay mặt chodoanh nghiệp trong mối quan hệ với khách hàng là người đại diện, người lao động, nhân viên giao dịch của doanh nghiệp Ở các cương vị khách nhau trong tổ chức, với những nhiệm khác nhau trong quá trình cung cấp sản phẩm/dịch vụ cho thị trường, mỗi thành viên trong doanh nghiệp tham gia vào quá trình cung ứng hàng hoá và tạo giá trị gia tăng cho hàng hoá theo cách khác nhau bằng việc đóng góp công sức, năng lực của mình trong việc thực hiện mục tiêucủa doanh nghiệp

Là những người có năng lực, họ mong muốn được tạo điều kiện thuận lợi (môi trường, điều kiện làm việc) để có thể cống hiến được nhiều nhất, sự nỗ lực của họ được đánh giá một cách công bằng, và được trả côngxứng đáng cho những đóng góp của họ Công lao của họ được đền đáp không chỉ bằng những phần thưởng vậtchất (lương, thưởng) mà cả sự ghi nhận về tinh thần (động viên, khen thưởng, tôn vinh, đào tạo, cơ hội phát triển nghề nghiệp) Một khi mong muốn không đạt

30

Trang 32

được, họ thể hiện phản ứng bằng việc giảm bớt sự nỗ lực, thiếu tự giác, né tránhtrách nhiệm, lơ là nhiệm vụ, thậm chí đình công, bỏ việc.

- Cung ứng là những tổ chức/doanh nghiệp khác được doanh nghiệp lựa chọn làm đối tác để

cung cấp những phương tiện (máy móc, thiết bị công nghệ), yếu tố sản xuất (nguyên, nhiên liệu, vật tư…) nhằm tạo môi trường và điều kiện lao động thuận lợi cho người lao động để thực hiện có kết quả những nhiệm vụ và mục tiêu đã xác định Mong muốn của các doanh nghiệp – cung ứng là tham gia như một “mắt xích” trong một “chuỗi” các hoạt động sản xuất – kinh doanh để cùng chia sẻ lợi ích/phần giá trị gia tăng thu được Chuyển hoá yếu tố “đầu vào” thành sản phẩm “đầu ra” và thành “hàng hoá” tiêu dùng là một quá trình cần nhiều thời gian Mong muốn giảm thiểu thời gian và rủi ro liên quan đến các mặt xích khác buộc các hãng cung ứng đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất phải hoàn trả ngay số tiền tương ứng giá trị hàng hoá, vật tư đã cung ứng cộng thêm một khoản thặng dư đủ hấp dẫn Việc những yêu cầu không được đáp ứng, do doanh nghiệp sản xuất chưa bán được hàng hoặc do bị chiến dụng, nhà cung cấp có thể sẽ phản ứng bằng cách gây sức ép, hoặc ngừng việc cung cấp cho đến khi thu hồi được nợ, thậm chí chấm dứt mối quan hệ hay rút khỏi “chuỗi” để tìm đối tác khác.

- Chủ đầu tư là người giúp doanh nghiệp bằng cách ứng ra số tiền (vốn) ban đầu cần

thiết cho việc thiết lập hệ thống sản xuất, xây dựng cơ sở sản xuất, duy trì công việc kinh doanh cho đến khi có “dòng tiền” hoặc để mở rộng, phát triển sản xuất Họ sẵn sàng chờ đợi và chia sẻ những may rủi trong công việc kinh doanh của doanh

nghiệp Rủi ro gắn với việc “ứng vốn” của họ là khá lớn Để đáp lại sự hy sinh và rủi

ro phải gánh chịu, doanh nghiệp - người sử dụng vốn cần thoả mãn mong muốn/kỳ vọng của các chủ đầu tư về việc bảo toàn và phát triển tài sản của họ, thực hiện những cam kết và tôn trọng thiện chí và sự hy sinh của họ Một khi mong muốn/kỳ vọng chính đáng của họ không được đáp lại một cách tương xứng, họ sẽ phản ứng bằng cách gây sức ép buộc doanh nghiệp thực hiện cam kết hoặc rút vốn đầu tư khỏi doanh nghiệp, chuyển thiện chí và tài sản sang giúp doanh nghiệp khác

- Cộng đồng bao gồm những nhóm dân cư sống gần các nguồn phát sinh chất thải.

Mặc dù không tham gia vào chuỗi giá trị và không được hưởng lợi từ các hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, họ lại là người phải gánh chịu những tác động bất lợi do quá trình sản xuất kinh doanh gây ra Việc “tiêu dùng cưỡng bức” các “sản phẩm - chất thải” đòi hỏi

họ phải chi những khoản chi tiêu nhất định để phòng trừ, ngăn chặn tác hại của chúng đối với sức khoẻ và cuộc sống của họ Trong những hoàn cảnh như vậy, mối quan tâm và mong muốn chính đáng cần được tôn trọng của họ là có một môi trường sống trong lành, điều kiện phát triển

31

Trang 33

thuận lợi, tăng trưởngkinh tế và phúc lợi xã hội của địa phương được cải thiện, đảm bảo công bằng, văn minh Khi mối quan tâm/mong muốn của họ không được đáp ứng, cách phản ứng thông thưởng của họ là gây áp lực đối với doanh nghiệp thông qua việc phản đối trực tiếp, công khai hay sử dụng hệ thống pháp luật hoặc gián tiếp thông qua sự can thiệp của các cơ quan quản lý/chính sách can thiệp/điềutiết của chính phủ Họ có thể trực tiếp yêu cầu sự can thiệp của chính phủ hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức quần chúng, tổ chức xã hội, tổ chức phát triển hay bảo vệ môi trường…

- Chính phủ bao gồm các cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp ở các cấp trung

ương và địa phương có chức năng, nhiệm vụ hoặc định và quản lý phát triển kinh

tế - xã hội, quản lý doanh nghiệp, thực thi pháp luật Mục tiêu và mong muốn của chính phủ thể hiện trong các mong muốn/kỳ vọng của các cộng đồng, bộ phận dân

cư, xã hội khách nhau nhưng ở phạm vi rộng hơn Hơn thế nữa, mục tiêu của các chính sách và sự điều tiết/can thiệp của chinh phủ còn nhằm đảm bảo sự phát triểncân đối và bền vững của các bộ phận, khu vực trong nền kinh tế và của toàn bộ nền kinh tế Mục tiêu này có thể được thực hiện với sự tham gia và phối hợp giữa các khu vực kinh tế - xã hội khác nhau Sự can thiệp của chính phủ để điều tiếthoạt động, sự tham gia và đóng góp của các đối tượng/thành phần xã hội được thực hiện thông qua việc ban hành những cơ chế, chính sách, quy định những nghĩa vụ đóng góp và chi tiêu của chính phủ Sự can thiệp này có thể nhằm vàomột số đối tượng, nhưng cũng có thể bao hàm tất cả mọi đối tượng hữu quan

Phương pháp phân tích những người hữu quan

Đối tượng hữu quan là những người khác nhau, chịu tác động theo những cách khác nhau bởiviệc triển khai hoạt động kinh doanh Tác động có thể phù hợp mong muốn hoặc nằm ngoài

sự mong muốn của họ; vì vậy họ luôn tìm cách và sử dụng những phương tiên, biện pháp có thể sử dụng và phù hợp khả năng của họ để phản ứnghay tác động trở lại doanh nghiệp để điều trình quá trình thực hiện hay kết quả theo hướng phù hợp với mong muốn của họ Do vậy, họ luôn quan tâm đến những quyết định và hành động của doanh nghiệp

Do mong muốn và mối quan tâm của các đối tượng hữu quan là khác nhau, năng lực và biện pháp phản ứng cũng khác nhau, hành động của họ có thể dẫn đến những tác động trái ngược nhau dẫn đến xung đột, gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp trong việc thực thi và kiểm soát quá trình triển khai và kết quả đạt được Như vậy, rủi ro kinh doanh tiềm

ẩn ngay trong những quyết định và hành động thiếu cân nhắc của doanh nghiệp Để giảmthiểu những tác động trái ngược và rủi ro đến từ hành động phản ứng của những người hữu quan, cần hiểu rõ mối quan tâm, mong muốn và khả năng hành động của các đối tượng hữu quan trước một quyết định của doanh nghiệp

Trang 34

Phân tích những người hữu quan là phương pháp phân tích các đối tượng hữu quan đến một quyết định hay hành động dự kiến để phát hiện những xung đột, mâu thuẫn tiềm ẩn giữa họ có khả năng dẫn đến phản ứng Trên cơ sở đó, lựa chọn quyết định, hành động cóthể thoả mãn nhiều nhất mong muốn của họ hoặc dẫn đến hành động ủng hộ nhiều nhất hay phản ứng chống đối ít nhất có thể Phương pháp phân tích hữu quan có thể được thựchiện theo một trình tự ba bước sau:

Bước thứ nhất là xác minh đối tượng hữu quan liên quan đến một hoạt động,

quyết định cụ thể có thể có những đối tượng khác nhau, trực tiếp và gián tiếp, bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Trong kinh doanh, người ra quyết định thường chỉ chú ý đến các đối tượng trực tiếp; Trong sản xuất, người quản lý thường chỉ chú ý đến các đối tượng tham gia các hoạt động tác nghiệp Ví dụ, người bán hàngquan tâm đến khách hàng, mà quên những người mua hàng tiềm năng, doanh nghiệp đối thủ; người sản xuất quan tâm đến công nhân, mà quên vấn đề môi trường Bước phân tích này đòi hỏi phải liệt kê đầy đủ tất cả các đối tượng hữu quan tiềm năng của một hoạt động, quyết định

Bước thứ hai là xác minh mối quan tâm, mong muốn của các đối tượng hữu quan

liên quan đến sự việc, tình huống, vấn đề, quyết định đang xem xét Liên quan đếnmột sự viết, vấn đề, quyết định, mỗi đối tượng hữu quan đều có những mong muốn, kỳ vọng thể hiện thành những mục tiêu nhất định Hơn thế, mong muốn, kỳvọng của họ còn thể hiện ở cách ứng xử của họ đối với đối tượng khác và của đối tượng khác đối với họ Ví dụ, người bán hàng có mong muốn nhất định ở người mua hàng và ngược lại, người mua hàng có nhu cầu cần được người bán hàng thoảmãn; Người quản lý có những yêu cầu nhất định về hành vi và kết quả cần đạt được ở người lao động, trong khi người lao động cũng có những yêu cầu cần thoả mãn về điều kiện, phương tiện làm việc và về việc đánh giá và trả công xứng đángcho đóng góp của họ Giữa những người công nhân, nhân viên, bộ phận phòng bantác nghiệp cũng có những yêu cầu/mong muốn cần đáp ứng/thoả mãn lẫn nhau để đảm bảo sự hợp tác, phối hợp hành động

Bước thứ ba là xác định những xung đột, mâu thuẫn tiềm ẩn Xung đột và mâu

thuẫn sẽ xuất hiện khi việc thực hiện mục tiêu/mong muốn/kỳ vọng của một (số)

đối tượng có thể dẫn đến cản trở việc thực hiện mục tiêu/mong muốn/kỳ vọng của một (số) đối tượng khác Nói cách khác, nếu thực hiện điều “A mong muốn ở B” thì có thể sẽ không thể thoả mãn được điều “B mong muốn ở A” Sự không thoả mãn sẽ dẫn đến phản ứng ngăn chặn ở một (số) đối tượng đáp ứng Hậu quả là “nỗ lực thì lớn, kết quả lại nhỏ, hậu quả nghiêm trọng” Nguy cơ này cần được phát hiện và loại trừ hoặc hạn chế.

33

Trang 35

b) Phương pháp phản hồi 360 °

Trong phạm vi doanh nghiệp, cách tiếp cận những người hữu quan cũng được vậndụng như một công cụ quản lý nhân sự hiện đại với một vài điều chỉnh về đối tượng vàđược mang tên “phương pháp phản hồi 360°”

Phản hồi 360° là phương pháp đánh giá dựa trên ý kiến phản hồi từ nhiều hướng khác nhau, từ các nhân viên thuộc các nhóm khác, sếp trực tiếp, nhân viên thuộc cấp, thành viên ban giám đốc đến khách hàng và nhà cung cấp… Đây là phương pháp hiệu quả nhất

để thu thập những thông tin liên quan đến các khía cạnh khó đo lường trong cách thực hiện công việc (cách ứng xử, hành vi lãnh đạo, v.v.) Phương pháp này giúp người quản

lý nhận được thông tin phản hồi từ nhiều nguồn khác nhau về các hành vi của một người tại nơi làm việc Về mặt nguyên tắc, trong phương pháp này những người được hỏi là các

“đối tượng hữu quan” của một người Ý kiến phản hồi của họ là thể hiện những mong muốn/kỳ vọng của những người hữu quan đối với một cá nhân

Nếu được thực hiện đúng cách, đúng quy trình, phương pháp phản hồi 360° có thể manglại nhiều lợi ích lớn cho doanh nghiệp:

 Phản hồi từ đồng nghiệp – Đa số mọi người cho ý kiến nhận xét thường cảm thấykhông thoải mái khi phải đưa ra ý kiến nhận xét về một người khác Họ càng không muốn xúc phạm hay làm buồn lòng đồng nghiệp bằng những nhận xét tiêucực Phản hồi 360° có thể giải quyết những e ngại trên thông qua việc cung cấp một phương thức an toàn với tính chất ẩn danh và bảo mật để mọi người có thể nêu lên ý kiến chân thành của mình về cách thức làm việc của đồng nghiệp

 Phản hồi từ nhiều nguồn –Phản hồi từ một người, dù người đó là cấp trên, cũng không tránh khỏi tính phiến diện Phản hồi cần phải mang tính toàn diện và đáng tin cậy để có thể giúp người nhận phản hồi vượt qua trở ngại tâm lý để thay đổi cách cư xử và hành vi theo chiều hướng tích cực hơn nhằm đạt được hiệu quả caohơn trong công việc và trong giao tiếp với những người xung quanh Vì thế, phảnhồi thường xuyên và liên tục từ nhiều nguồn khác nhau luôn luôn mang lại hiệu quả cao hơn

 Thông tin khách quan về các kỹ năng mềm – Kết quả khảo sát theo phương pháp phản hồi 360° được tổng hợp từ nhiều nguồn ý kiến khác nhau và tập trungvào những khía cạnh chi tiết của hành vi ứng xử nên có thể bảo đảm cung cấp những thông tin về kỹ năng, năng lực và thái độ của người được nhận xét liên quan đến công việc

 Xây dựng kế hoạch phát triển cá nhân – Nguồn thông tin khách quan và phong phú

mà phản hồi 360° cung cấp có thể giúp các cá nhân thấy rõ những điểm mạnh

34

Trang 36

cũng như điểm cần hoàn thiện của bản thân để từ đó xây dựng kế hoạch phát triểntương ứng.

Trang 37

Phần 2: Tìm hiểu về văn hóa doanh nghiệp của công ty Vinamilk

I.Tổng quát về công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk.

1 Giới thiệu chung

Vinamilk là công ty sữa lớn nhất Việt Nam Dựa trên báo cáo 200 công ty lớn nhất tại

Việt Nam được đưa vào danh sách 200 Best Under A Billion của Forbes Châu Á, nổi bậtvới 200 công ty vừa và nhỏ hoạt động hàng đầu với doanh thu hàng năm dưới 1 tỷ USD.Tên đăng ký hợp pháp của Công ty bằng tiếng Anh: là Vietnam Dairy Products Joint-Stock Company

Tên viết tắt là: Vinamilk

Địa chỉ: 184-186-188 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh

 Công ty TNHH Đầu tư sữa F & N: 16,50%

10,03%

Trang 38

 F & N BEV Sản xuất PTE.Ltd: 2,70%

 Quỹ Hổ Matthews Thái Bình Dương 2,02%

 Quỹ tiêu dùng Arisaig Châu Á, Ltd 1,65%

 nhà đầu tư nước ngoài khác: 30%

Hội đồng quản trị

3 Quá trình phát triển và cấu trúc hữu hình của doanh

nghiệp a Quá trình phát triển

Vinamilk được thành lập vào ngày 20 tháng 8 năm 1976 trên cơ sở ba nhà máy sữa từ chế độ cũ:

 Nhà máy sữa Thống Nhất (trước đây gọi là nhà máy Foremost)

 Nhà máy sữa Trương Thơ (trước đây gọi là nhà máy Cosuvina)

 Nhà máy sữa bột Dielac (trước đây gọi là nhà máy Nestlé (Thụy Sĩ)

Trang 39

Năm 2010:

 Xây dựng trang trại bò sữa thứ tư tại Thanh Hóa

 Vinh dự nhận được Huân chương Độc lập II

 Vinamilk áp dụng công nghệ mới, lắp đặt thiết bị tiên tiến và máy móc hiện đại cho tất cả các nhà máy của mình.Bên cạnh đó, Vinamilk cũng thành lập Trung tâm

tư vấn dinh dưỡng y tế công cộng trong nước và ra mắt hơn 30 sản phẩm mới

 Vinamilk đã đầu tư vào một công ty ở New Zealand sản xuất sữa bột nguyên chấtvới công suất 32.000 tấn / năm.Ngoài ra, Vinamilk cũng đầu tư vào Mỹ và mở thêm nhà máy ở một số quốc gia Doanh thu xuất khẩu của nó chiếm 15% tổng doanh thu và đang tăng lên

Ngày đăng: 05/06/2020, 22:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w