Lần đầu tiên họ sử dụng vạt này để che phủ một khuyết tổ chức ở thành ngực trước, các phẫu thuật viên đi vào nghiên cứu sử dụngvạt nói trên theo các hướng khác nhau tuỳ theo cách lấy đảo
Trang 1NGUYỄN VĂN ĐƯỜNG
§¸NH GI¸ T×NH TR¹NG N¥I LÊY V¹T DIEP TRONG PHÉU THUËT T¹O H×NH C¸C KHUYÕT PHÇN MÒM
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HÀ NỘI – 2018
Trang 2NGUYỄN VĂN ĐƯỜNG
§¸NH GI¸ T×NH TR¹NG N¥I LÊY V¹T DIEP TRONG PHÉU THUËT T¹O H×NH C¸C KHUYÕT PHÇN MÒM
Chuyên nghành: Phẫu Thuật Tạo Hình
Mã số: 60720123
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS Trần Thiết Sơn
HÀ NỘI – 2018DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 3ĐM : Động mạch
PTTH : Phẫu thuật tạo hình
SIEA : Superfical inferior epigastric artery
TB : Trung bình
TM : Tĩnh mạch
TRAM : Transverse Rectus Abdominis Musculocutaneous VRAM : Vertical Rectus Abdominis Musculocutaneous
Trang 4PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư vú đã và đang là mối lo ngại của mỗi người cũng như toàn xãhội Người bệnh cũng như bác sĩ đều có mong muốn điều trị khởi hẳn cănbệnh quái ác này Điều trị khỏi hẳn bệnh đã khó nhưng sau khi điều trị thànhcông chúng cũng để lại không ít các khó khăn vất nếu muốn phục hồi lại bầu
vú như ban đầu Đó là vấn đề được không ít phẫu thuật viên chăn chở và quantâm đến Mathes và Bostwick là những người đầu tiên mô tả vạt cơ - da thẳngbụng vào năm 1977 Lần đầu tiên họ sử dụng vạt này để che phủ một khuyết
tổ chức ở thành ngực trước, các phẫu thuật viên đi vào nghiên cứu sử dụngvạt nói trên theo các hướng khác nhau tuỳ theo cách lấy đảo da đi kèm theo
cơ mà có các vạt: Vạt dọc (VRAM),Vạt thượng vị trên (SIEA), vạt ngang
(TRAM) Sự ra đời của kỹ thuật vi phẫu, Sự xuất hiện các vạt mới nhằm đáp
ứng tốt hơn đòi hỏi về khối lượng và chất liệu tổ chức dùng để tạo hình vú nóiriêng và khuyết hổng vùng ngực trước nói chung, đồng thời làm giảm tối đa
di chứng tại nơi lấy vạt vì vậy vạt DIEP ra đời và được mô tả lần đầu tiên bởiKoshima và Soeda [17] Vạt này được Allen và Treece [18] ứng dụng trongphẫu thuật tái tạo vú từ năm 1994 Với các khuyết hổng phần mềm khác trên
cơ thể cũng có rất nhiều phương pháp che phủ: khâu đóng trực tiếp, liềnthương thì hai, ghép da, sử dụng vạt tại chỗ, vạt lân cận, vạt từ xa Tùy thuộcvào đặc điểm của khuyết hổng để lựu chọn phương pháp che phủ cho phùhợp nhất và sử dụng vạt DIEP được chỉ định với các khuyết tổn: khuyết hổng
lộ gân, cơ, xương, khớp, viêm xương, vùng khớp vận động: cổ, khuỷu tay,khớp gối, cổ chân… [2] Với nhiều loại vạt có thể lấy được ở thành bụngtrước như: vạt TRAM, SIEA, DIEP nhưng DIEP được các phẫu thuật viên tạohình ưu tiên lựa chọn hơn cả bởi ưu điểm vượt trội: nó vẫn có được các đặctính của các vạt TRAM, SIEA… nhưng cơ thẳng bụng không bị phá hủy, hạn
Trang 7chế các di chứng về chức năng cũng như thẩm mỹ đặc biệt đối với nhữngngười phụ nữ nhiều lần mang thai, có thành bụng chảy sệ thừa da mỡ, béo phìgiảm cân [3][6] Với xu hướng phát triển chuyên môn, với quyết tâm đem lạikết quả tốt nhất cho người bệnh, khoa phẫu thuật tạo hình Bệnh Viên Đa KhoaXanh Pôn đã, đang sử dụng vạt DIEP để tạo hình che phủ các tổn khuyết phầnmềm nói chung và khuyết vú nói riêng Bởi đây là một phẫu thuật khó, nó đòihỏi phải có sự đầu tư nhất định về cơ sở vật chất: phòng mổ, kính hiển vi,dụng cụ vi phẫu… Quan trọng hơn nữa là phải có sự đầu tư đặc biệt về conngười để có thể thực hiện được phẫu thuật này đòi hỏi phải có kiến thứcchuyên môn, có sự đam mê công việc, có kỹ năng làm việc …[3] Tại đâyphẫu thuật sử dụng vạt DIEP trong tạo hình khuyết phần mềm đã được thựchiện và đạt được kết quả như mong đợi nhưng tình trạng nơi lấy vạt sau phẫuthuật sẽ như thế nào thì chưa được để biết đến nhiều Chính vậy chúng tôi
làm đề tài: “Đánh giá tình trạng nơi lấy vạt DIEP trong phẫu thuật tạo
hình khuyết phần mềm” với hai mục tiêu:
1 Đánh giá đặc điểm của vạt DIEP sử dụng trong che phủ các khuyết phần mềm.
2 Đánh giá tình trạng nơi lấy vạt DIEP.
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm giải phẫu thành bụng
1.1.1.Cấu trúc thành bụng
- Thành bụng thuộc phần thân nằm giữa cơ hoành (ở trên) và eo trên cánh haixương chậu (ở dưới)
- Thành bụng sau do cột sống và các cơ gắn liền nó tạo nên
- Thành bụng trước bên là nơi yếu của thành bụng được cấu tạo bởi các cơthẳng bụng, cơ chéo bụng ngoài, cơ chéo bụng trong, cơ ngang bụng chạy các
cơ này sắp xếp theo lớp, chạy theo các hướng khác nhau tạo nên sự vững chắccủa thành bụng trước bên với chức năng giữ các tạng trong ổ bụng không bị
sa ra ngoài, tham gia nén các tạng lúc thở ra gắng sức và tạo áp lực khi cầnthiết trong lúc đại tiện, tiểu tiện và sinh đẻ [8][10] Đây cũng là nơi được chocác vạt trong thuật tạo hình thành bụng nói riêng và đường vào ổ bụng thuậnlợi đối với phẫu thuật can thiệp trong ổ bụng [8]
+ Cơ thẳng bụng nằm dọc theo đường giữa, đi từ xương mu đến ngực.Phần dưới gân cơ thẳng bụng thường chia làm hai bó trong và ngoài riêng biệtbám vào xương mu Ở trên , từ ngoài vào trong, cơ thẳng bụng chia làm ba dải
cơ bám vào sụn sườn thứ 5,6,7 và mũi ức Mỗi cơ thẳng bụng nằm trong mộtbao cân, được tạo bởi cân của các cơ chéo lớn, chéo bé và cơ ngang bụng Haiphần ba hoặc ba phần tư trên của cơ, mặt sau của bao cân cơ được tạo bởi cân
cơ ngang bụng hợp nhất với lá sau của cân cơ chéo bé Còn mặt trước cấu tạobởi cân cơ chéo lớn kết hợp với lá trước của cân cơ chéo bé Môt phẩn ba hoặcmột phần tư dưới cơ, các lá cân của cơ chéo lớn, chéo bé và cơ ngang bụng đềuchạy ra phía trước Mặt sau cơ chỉ có mạc ngang, là lá cân phủ mặt sau của cơngang bụng và sau đó phủ mặt sau cơ thẳng bụng Như vậy, ở trên mặt sau cơ
Trang 9thẳng bụng có một lớp cân dày, còn ở dưới chỉ có một lớp mô sợi Giữa haivùng này được giới hạn bởi cung Douglas, nằm ở giữa củ mu và rốn Hai cơthẳng bụng ngăn cách nhau bởi đường trắng giữa [10][8].
Hình 1.1 Cắt ngang qua thành bụng[13]
+ Cơ chéo bụng ngoài: nguyên ủy mặt ngoài các xương sườn từ V-XIIchạy ra trước,xuống dưới bám vào đường trắng, củ mu và nửa trước màochậu [8]
+ Cơ chéo bụng trong: nguyên ủy từ mạc ngực –lưng, mào chậu và mộtphần hai ngoài dây chằng bẹn chạy ra trước lên trên bám vào bờ dưới xươngsườn X-XII, đường trắng và xương mu [8]
+ Cơ ngang bụng: Nguyên ủy bán vào mặt trong của 6 xương sườn vàsụn sườn dưới, mạc ngực lưng, mào chậu và một phần ba ngoài dây chằngbẹn chạy ra trước bám vào đường trắng, mào mu và lược xương mu [8]
Trang 10Hình 1.2 Hình ảnh phẫu tích thành bụng trước bên [13]
- Vì mục đích lâm sàng, bụng được chia làm 9 vùng bằng hai đường thẳngđứng đi qua điểm giữa bẹn và hai đường ngang, đường ngang trên nối điểmthấp nhất của bờ sườn hai bên, bờ dưới xương sườn 10 và nằm ngang đốt thắtlưng ba Đường ngang dưới nối củ của các mào chậu hai bên ngang mức thắtlưng thứ 5 Tương ứng mỗi vùng là các tạng ở khu vực đó
1 Dưới sườn phải
Trang 11Cấp máu cho da vùng bụng trước
Theo tác giả Trần Thiết Sơn [7], Thành bụng được cấp máu bởi cácnguồn động mạch khác nhau Lớp cơ sâu được cấp máu bởi ba nguồn: vùngtrên rốn từ động mạch thượng vị trên, vùng hạ sườn từ các động mạch liênsườn và lưng, vùng dưới rốn từ nhánh mũ chậu Lớp da và mỡ dưới da đượccấp máu chủ yếu bởi các nhánh xiên từ cơ hoặc nhánh động mạch da Riênglớp mỡ sâu rất ít mạch máu
Trong da và lớp mỡ có ba mạng lưới mạch máu nông nối thông vớinhau, sâu nhất là mạng lưới mạch trên cân và dưới cân, mạng lưới trung giannằm trên cân nông, mạng lưới trong lớp chân bì, cả ba mạng lưới này đềuđược nối thông với nhau bởi các nhánh mạch xiên liên vách khoang mỡ, tạothành một hệ thống cấp máu cho toàn bộ chiều dày da
Hệ thống tĩnh mạch nông tùy hành cùng với hệ thống động mạch
Hình 1.4 Hệ thống mạch thành bụng [5]
1.1.3 Đặc điểm phân bố thần kinh cảm giác
Trang 12 Phân bố thần kinh
Theo tác giả Melvin A Shiffman (2001)[21], đã mô tả như sau:
- Thành bụng trước bên được chi phối bởi 6 dây thần kinh (TK) liên sườn cuối,các dây TK liên sườn này tiếp tục vào các khoảng gian sườn vào thành bụng
- Thành bụng trước nhận sự chi phối của những sợi TK dưới sườn, TK chậu hạ
+ Nhánh ngoài sẽ tiếp tục chia thành 2 nhánh:
Riêng nhánh trước sẽ đi xuyên qua cơ thành bụng và ra đường nách giữa + Nhánh trong đi ra phía trước, đi giữa hai lớp cơ đó là cơ liên sườntrong và cơ gian sườn trong cùng, đi đến sau cơ thẳng bụng sẽ chui ra phíatrước và ra da
- TK liên sườn 9 -10- 11 đi xuyên qua cơ thành bụng và đi giữa cơ ngang bụng
và cơ chéo thành bụng trong, đi ra lớp sau của cơ chéo bụng trong và cũng tạinhững điểm tương tự như TK liên sườn 7-8 chúng cũng đi xuyên ra da nhưđường đi của TK liên sườn 7 và 8
- TK dưới sườn 12 xuyên qua cơ ngang bụng và cơ chéo bụng trong và cũngtương tự như các nhánh TK liên sườn sẽ cho ra nhánh trước và nhánh ngoàicủa TK liên sườn [3]
Trang 13Hình 1.5 Thần kinh bì chi phối thành bụng trước bên [5]
Hình 1.6 Thần kinh chi phối thành bụng trước – bên [5]
Trang 14 Cảm giác và dẫn truyền cảm giác:
- Các đường cảm giác gồm [ 4]:
oĐường cảm giác nông tức là cảm giác ở da bao gồm cảm giác
sờ mó (cảm giác xúc giác) và cảm giác thống nhiệt (cảm giácđau, cảm giác nóng lạnh)
o Đường cảm giác sâu có ý thức ở xương, khớp, gân cơ như
cảm giác cơ khớp, cảm giác rung, cảm giác áp lực và cảmgiác trọng lượng
o Đường cảm giác sâu không có ý thức gồm các cảm giác phức tạp
như cảm giác không gian ba chiều, cảm giác nhận thức vật
- Bộ phận nhận cảm da tương đối đơn giản nhất Nó gồm nhữngnhánh trần của các sợi thần kinh hoặc được bọc bởi các mô liênkết Da nhận cảm giác chung về sờ mó, nóng lạnh, đau đớn, áp lực.Trong lớp bì của da có các tiểu thể thần kinh tận cùng như tiểu thểhành (Krause) tiểu thể lá (pacini) tiểu thể xúc giác (Meissner), tiểuthể sinh dục (genitalia), và tiểu thể khớp (articularia) Các tiểu thể
này có tác dụng nhận các cảm giác ở da
1.2 Vạt DIEP sử dụng trong phẫu thuật tạo hình
1.2.1 Đặc điểm giải phẫu vạt DIEP
1.2.1.1 Nghiên cứu giải phẫu
Mathes và Bostwick [19] là những người đầu tiên mô tả vạt cơ - da thẳngbụng vào năm 1977 Lần đầu tiên họ sử dụng vạt này để che phủ một khuyết
tổ chức ở thành ngực trước Khi ý tưởng này được đưa ra, các phẫu thuật viên
đi vào nghiên cứu sử dụng vạt nói trên theo các hướng khác nhau Tuỳ theocách lấy đảo da đi kèm theo cơ mà có các vạt sau đây [9]:
- Vạt dọc hay vạt VRAM (Vertical Rectus Abdominis Musculocutaneousflap), có cuống mạch dựa trên cơ thẳng bụng cùng bên, được Drever mô tảnăm 1977
Trang 15- Vạt thượng vị trên hay vạt ERF (Epigastric Rectus Flap), dựa trêncuống mạch cơ thẳng bụng bên đối diện, được Lejour mô tả năm 1982, chophép giấu sẹo nơi cho vạt dưới nếp lằn vú bên đối diện.
- Vạt ngang hay vạt TRAM (Transverse Rectus AbdominisMusculocutaneousflap), được Hartrampt mô tả năm 1982, cho phép lấy mộtvạt da bụng lớn theo chiều ngang, qua toàn bộ phần dưới bụng mà chỉ dựatrên cơ thẳng bụng một bên
- Năm 1985, Bostwick sử dụng vạt da được cấp máu bởi cả hai cơ thẳngbụng hai bên, áp dụng cho các trường hợp vạt TRAM kinh điển không đảmbảo về mặt cấp máu Đó là vạt TRAM hai cuống
Sự ra đời của kỹ thuật vi phẫu
Những năm 1980 và 1990 là những năm phát triển kỹ thuật tạo hìnhcùng với sự ra đời của vi phẫu thuật, làm tăng độ tin cậy của vạt về mặt cấpmáu và mở rộng chỉ định dùng vạt
Sự ra đời của các vạt mới nhằm đáp ứng tốt hơn đòi hỏi về khối lượng vàchất liệu tổ chức dùng để tạo hình vú, đồng thời làm giảm tối đa di chứng gâyảnh hưởng tới thẩm mỹ tại nơi lấy vạt
Vạt DIEP (Deep Inferior Epigastric Perforator flap) được mô tả lần đầutiên bởi Koshima và Soeda [17] năm 1989 Vạt này được Allen và Treece [18]ứng dụng trong phẫu thuật tái tạo vú từ năm 1994
1.2.1.2 Nghiên cứu lâm sàng giải phẫu vạt DIEP
Đặc điểm cấp máu của cơ thẳng bụng được Boyd và Taylor [20] nghiêncứu rất kỹ Nghiên cứu giải phẫu của Taylor công bố năm 1984 và 1988 chỉ ra:
- Các thay đổi giải phẫu của ĐM thượng vị sâu trên và thượng vị sâudưới, trong đó đặc biệt chú ý tới sự thông nối giữa hai mạng mạch này
- Sự liên quan giữa trục mạch nói trên với mặt trước của bao cân cơthẳng bụng
Trang 16- Mức độ cấp máu khác nhau cho các vùng của thành bụng, quy định cácvạt tương ứng.
Động mạch
- Động mạch thượng vị trên
Là một trong hai nhánh tận của ĐM ngực trong Nguyên uỷ của ĐM ở sausụn sườn sáu, từ đó chạy ra sau sụn sườn bảy Đường kính trung bình của ĐMtại nguyên uỷ là 1,6 mm (TM là 1,2mm) ĐM này chạy tiếp theo hướng của
ĐM ngực trong, đi qua cơ hoành để vào trong bao cân cơ thẳng bụng Khi đếnđiểm giữa mũi ức và rốn, nó đi vào trong cơ và nối với ĐM thượng vị sâu dưới
- Động mạch thượng vị sâu dưới
Là nhánh của ĐM chậu ngoài, có nguyên uỷ nằm ngay ở cung bẹn, chỗtách ra nằm ở mặt sau trong của ĐM chậu ngoài, đối diện với nguyên uỷ của
ĐM mũ đùi sâu Không nên nhầm lẫn giữa ĐM thượng vị sâu dưới (tên gọikhác là ĐM thượng vị sâu) và ĐM thượng vị nông (hay còn gọi là ĐM dưới
da bụng) Khẩu kính của ĐM thượng vị sâu dưới tại nguyên uỷ là 3,4 mm(một phần tư các trường hợp có hai TM đi kèm ĐM, đường kính TM từ 2,5đến 4,4 mm)
Ban đầu, hướng của ĐM thượng vị sâu dưới là đường thẳng nối điểmgiữa cung đùi và rốn ở đoạn này, ĐM tiến lại gần cơ thẳng bụng, gặp bờngoài của cơ này và luồn dưới cung Douglas Đến đây, ĐM nằm trước cân cơngang bụng Từ cung Douglas, ĐM đi vào trong bao cơ, nằm ở mặt dưới cơ.Khi đến vùng rốn, ĐM đi vào trong cơ và nối với ĐM thượng vị trên Trong71% các trường hợp, ĐM chia làm hai hoặc ba nhánh ở dưới rốn
ĐM thượng vị trên và ĐM thượng vị sâu dưới nối với nhau trong chiềudày cơ, đặc biệt ở vùng ngay trên rốn bởi các mạch máu trung gian có đườngkính nhỏ
Taylor đã mô tả ba cách thông nối giữa hai ĐM này:
Trang 17- Cách I (chiếm 29% các trường hợp): Mỗi ĐM thượng vị sâu dưới vàthượng vị trên cho một nhánh, mỗi nhánh này lại chia làm khoảng năm nhánhnhỏ nối với nhau ở vùng trên rốn.
- Cách II (chiếm 57%): Mỗi ĐM cho hai nhánh, ĐM thượng vị sâu dướiphân nhánh ở ngay dưới cung Douglas rồi chia thành khoảng chín nhánh nhỏ
để nối với các nhánh tương ứng đến từ ĐM thượng vị trên
- Cách III (chiếm 14%°): ĐM cho ít nhất ba nhánh, nối với ba nhánh tươngứng của ĐM thượng vị trên bằng khoảng mười ba nhánh nhỏ trung gian
Từ mạng mạch trên cho ra rất nhiều các mạch máu nuôi da vùng bụng.Các mạch máu này có thể đi xuyên qua lá trước của bao cân cơ (mạch xuyên
cơ - da) hoặc đi từ bờ trong hay bờ ngoài của bao cơ (mạch xuyên cân - da).Những mạch xuyên có đường kính lớn nhất nằm ở vùng quanh rốn, đặc biệt ởvùng hai phần ba trong của cơ
Các mạch xuyên thường đến từ ĐM thượng vị sâu dưới nối với nhau bởimạng mạch dưới da ở quanh rốn Mạng mạch này nối với các mạch xuyêngian sườn, các mạch xuyên đến từ mũ chậu sâu, mũ chậu nông, dưới da bụng
và thẹn ngoài
Các mạch xuyên nuôi da vùng dưới rốn xuất phát từ ĐM thượng vị sâudưới là cơ sở của vạt DIEP Năm 1984, Boyd và Taylor [20] đã nghiên cứu hệmạch cấp máu cho vạt cơ thẳng bụng Các tác giả lập bản đồ về các mạch xuyên
cơ - da của hệ mạch thượng vị bằng cách chia mỗi cơ thẳng bụng thành 15 vùng.Kết quả cho thấy trung bình mỗi cơ thẳng bụng có 6,5 mạch xuyên lớn (ĐK≥ 0,5cm) trên tổng số 36,4 mạch xuyên, các mạch xuyên lớn đa số tập trung ở vùngquanh rốn
Năm 1999, Hartrampf chia vạt da bụng dưới rốn thành bốn vùng (Hình3) theo thứ tự ưu tiên cấp máu, cách chia này được đa số các tác giả côngnhận và áp dụng Cách chia vùng nói trên chủ yếu dựa vào nhận định về mức
Trang 18độ tưới máu trên lâm sàng, khi tác giả phẫu tích 16 vạt TRAM một cuống,chứ không có dữ liệu đo đạc thực sự Do vậy, một số phẫu thuật viên nghi ngờtính xác thực của cách phân vùng nói trên khi ứng dụng vào vạt DIEP.
Tháng 2 năm 2006, nhóm tác giả người Đức gồm Holm, Mayr, Hoăfter,Ninkovic công bố nghiên cứu lại phân vùng cấp máu của vạt DIEP Bằng kỹ
thuật chụp mạch máu động với laser huỳnh quang (technique of dynamic
laser fluorescence videoangiography), các tác giả đo mức độ cấp máu từng
vùng vạt sau khi phẫu tích cuống mạch và sau khi đã nối mạch máu của vạtvào vùng nhận vạt
Theo nhóm tác giả này, vùng III theo Hartrampf thực ra là vùng II vàngược lại
Hình 1.7 Phân vùng cấp máu cho vạt DIEP Tĩnh mạch
Hệ thống TM được nghiên cứu rất kỹ bởi Carramenha TM nhận máu từvùng da mỡ của vạt, và được dẫn về hệ thống TM thượng vị sâu qua cácnhánh xuyên ở vùng quanh rốn Máu TM sau đó chủ yếu được dẫn về TMthượng vị trên, rồi TM ngực trong
TM thượng vị nông ở đoạn trên có đường kính xấp xỉ 1,8 mm Trên suốtdọc đường đi, nó cho các nhánh nối chạy qua đường giữa, nối với tĩnh mạchcùng tên bên đối diện Đặc biệt, tĩnh mạch này cho các nhánh xuyên xuyên qua
lá trước bao cân cơ thẳng bụng và nối với nhau trong hệ thống tĩnh mạch thượng
vị sâu Các nhánh mạch xuyên này chủ yếu tập trung ở vùng quanh rốn
Trang 19Các TM thượng vị sâu trên và dưới đi theo mạng lưới ĐM thượng vị sâudưới, TM nằm cạnh ĐM Phần một ba trên và dưới cơ, các tĩnh mạch nằmgiữa cơ và lá sau bao cơ.
- Tĩnh mạch thượng vị sâu trên
Có đường kính khoảng 2 mm, được tạo bởi hai nhánh, sau đó nối vớitĩnh mạch cơ hoành để trở thành tĩnh mạch ngực trong
- Tĩnh mạch thượng vị sâu dưới
Cũng cấu tạo từ hai tĩnh mạch ban đầu, hợp nhất với nhau làm một tạivùng bẹn, có đường kính trung bình 2,8 mm Hai tĩnh mạch này luôn nằm haibên động mạch cùng tên, và giữa chúng có nhiều nhánh thông
Tĩnh mạch này cho nhiều nhánh thông nối với tĩnh mạch cùng tên bênđối diện, đặc biệt ở vùng quanh rốn và trên mu
Khi tiêm chất cản quang vào tĩnh mạch thượng vị nông thấy chất cảnquang trong tĩnh mạch thượng vị sâu dưới cả hai bên Ngược lại, khi tiêm chấtcản quang vào tĩnh mạch thượng vị sâu, thấy thuốc xuất hiện ở tĩnh mạchcùng tên bên đối diện, nhưng thuốc không xuất hiện trong hệ thống tĩnh mạchthượng vị nông
Như vậy dẫn lưu TM đi từ hệ thống TM thượng vị nông về hệ TM sâuqua các nhánh xuyên Sau đó máu TM đổ về hệ thống TM thượng vị sâu trênrồi TM ngực trong, nhưng ngoài ra còn có một luồng máu đi ngược về TMthượng vị sâu dưới
1.2.2 Lịch sử sử dụng vạt DIEP
1.2.2.1 Sử dụng vạt DIEP để tái tạo vú sau ung thư
- Năm 1994, Allen và Treece [18] là những người đầu tiên sử dụng thành côngvạt DIEP dưới dạng tự do để tái tạo vú Tuy nhiên, phải sau một loạt thànhcông của Hamdi (Anh) năm 1999 thì vạt mới được tin tưởng và áp dụng ngàymột nhiều như hiện nay Trong thời gian từ 1995 - 1997, ông đã sử dụng 50
Trang 20vạt DIEP để tạo hình vú cho 42 bệnh nhân Theo Hamdi, vạt DIEP rất có giátrị trong tạo hình vú với tỷ lệ thành công rất cao: 98%.
- Năm 2001, Kroll (Mỹ)[3] báo cáo đã sử dụng 21 vạt DIEP để tái tạo vú Cũngtrong năm này, Keller công bố dùng 148 vạt DIEP để tái tạo vú cho 109 bệnhnhân và thấy đều có kết quả rất tốt Theo tác giả, đây là một phương pháp tốt
và tiến bộ nhằm giảm tối thiểu những tổn thương cơ ở thành bụng khi lấy vạt.Hai tác giả ý Guzzetti và Thione cũng sử dụng thành công vạt DIEP trong táitạo vú
- Năm 2003, Sanda [3] báo cáo dùng 3 vạt DIEP trong tái tạo vú cho kết quảtốt Cùng năm đó Yano công bố sử dụng 8 vạt DIEP tái tạo vú cho kết quả tốt
về mọi mặt sau phẫu thuật Cũng năm này Munhoz (Brazil) sử dụng vạt DIEP
để tạo hình vú hai bên
- Kaplan [3] công bố kết quả nghiên cứu vạt DIEP trong tái tạo vú năm 2004,với tỷ lệ thành công là 49/50 vạt Gill và cộng sự (Mỹ) công bố kết quả tổngkết sử dụng 758 vạt DIEP để tái tạo vú trong 10 năm, với tỷ lệ hoại tử mộtphần vạt là 2.5%, hoại tử toàn bộ vạt là 0.5%
- Theo báo cáo năm 2004 của Guerra và cộng sự (Mỹ),[3] họ đã dùng 280 vạtDIEP để tái tạo vú tức thì sau cắt bỏ dự phòng cả hai bên vú trên những phụ
nữ có nguy cơ ung thư vú cao Ông nhận thấy tỷ lệ mất vạt toàn bộ và mộtphần lần lượt là 0% và 5% [3]
- Năm 2005, Nahabedian tổng kết dùng 153 vạt DIEP trên 123 bệnh nhân trongvòng 4 năm, tác giả nhận thấy tỷ lệ phồng thành bụng sau mổ chỉ có 4% [3].Garvey báo cáo dùng 80 vạt DIEP tái tạo vú cho 71 bệnh nhân Theo ông, vạtDIEP là vạt được ưa chuộng và có thuận lợi trong tái tạo vú ở những ngườibéo phì
1.2.2.2.Sử dụng vạt DIEP để tạo hình khác
- Năm 2000, Koshima công bố đã dùng 8 vạt DIEP tái tạo vùng sọ mặt cho kếtquả thẩm mỹ tốt Trong năm này, Li dùng 5 vạt DIEP để phối hợp bù đắpphần mềm trong chuyển ngón chân cái để thay thế ngón tay cái
Trang 21- Guerra sử dụng vạt DIEP ở một trẻ 15 tháng tuổi để khôi phục thiếu hụt tổchức cho phần trên đùi sau khi cắt bỏ dị tật về hạch bạch huyết vào năm 2004.Một năm sau đó, Binder và cộng sự sử dụng vạt DIEP tái tạo toàn bộ âm đạo
và đáy chậu sau cắt bỏ do ung thư
- Ở Việt Nam, tại Bệnh viện trung ương quân đội 108, với sự giúp đỡ của cácchuyên gia Mỹ, vạt DIEP được sử dụng để tái tạo vú sau cắt bỏ do ung thư lầnđầu tiên vào năm 2004 Cùng trong năm đó, vạt DIEP được sử dụng để tạohình che phủ khuyết hổng lớn vùng má tại Bệnh viện Việt nam - Cu ba, cũngvới sự giúp đỡ về kỹ thuật của đoàn chuyên gia Mỹ
1.3 Đặc điểm nơi cho vạt DIEP sau tạo hình
1.3.1 Tình hình nghiên cứu nơi lấy vạt DIEP trên thế giới
Hình 1.8 Ảnh nơi láy vạt DIEP
- Tháng 1/2014 , J Niddam, và cộng sự đã công bố tài liệu nghiên cứutrong tạp chí phẫu thuật tao hình của Nước Anh về “Đánh giá mức độ hài lòng
về kêt quả thành bụng sau phẫu thuật sử dụng vạt DIEP với 53 ca trong phẫuthuật tái cấu trúc vú” [14]