1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ TRONG KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG

32 3,4K 31
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Lợi Ích Chi Phí Trong Kinh Tế Học Môi Trường
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Học Môi Trường
Thể loại Luận Văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 334,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, phần lớncác trường hợp, để cân nhắc có nên triển khai một dự án hay không nên chọn triển khai dự án nào giữa các dự án được đề xuất, chúng ta cần bám theo các bước phân tích l

Trang 1

PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ TRONG KINH TẾ HỌC

Như vậy, phân tích lợi ích - chi phí (Cost - Benefit Analysis (CBA)) là một công cụ của chính sách, cho phép người ra quyết định lựa chọn một trong các giải pháp tương đương nhau, thay thế nhau hoặc thậm chí có thể là đối lập nhau.

4.1.2 Các bước tiến hành phân tích lợi ích - chi phí

Phân tích lợi ích chi phí có thể được xem như là một quá trình vận hành, trong đó có một số bước nổibật; dĩ nhiên không phải bất cứ phân tích nào cũng cần phải thực hiện đầy đủ tất cả các bước này Chẳnghạn như một dự án ngắn hạn sẽ không đòi hỏi phải chiết khấu lợi ích trong tương lai Tuy nhiên, phần lớncác trường hợp, để cân nhắc có nên triển khai một dự án hay không nên chọn triển khai dự án nào giữa các

dự án được đề xuất, chúng ta cần bám theo các bước phân tích lợi ích - chi phí như sau:

4.1.2.1 Làm rõ vị trí của dự án

Khi bắt đầu phân tích, cần phải làm rõ dự án này là do ai thực hiện, ai sẽ trả chi phí và ai sẽ đượchưởng lợi từ dự án Chúng ta luôn phải làm rõ và nhất quán trong việc giải quyết những vấn đề này cũngnhư tính toán được lợi ích và chi phí cho những người/nhóm người khác nhau

4.1.2.2 Xác định các phương án thay thế

Một phân tích cần phải nêu rõ được dự án hay các dự án là đối tượng cần xem xét có loại trừ lẫn nhauhay không và cần phải đưa được các lựa chọn thay thế tương ứng vào trong phân tích Ngoài ra, cũng cầnphải trả lời câu hỏi nếu chúng ta thay đổi quy mô, thời gian thực hiện của một dự án, chúng ta có thể cóđược những thay thế nào tương ứng ?

Trang 2

4.1.2.3 Đưa ra các giả định

Giả định là một phần thiết yếu của phân tích lợi ích - chi phí Có thể dùng giả định đối với hàng loạtcác yếu tố liên quan đến số lượng hành hóa - dịch vụ, chi phí, điều kiện thị trường, thời gian hay các mứclãi suất để phân tích

4.1.2.4 Lập danh sách các tác động của mỗi dự án thay thế

Nên liệt kê các tác động tiềm tàng của mỗi dự án cũng như của các lựa chọn thay thế một cách đầy đủnhất Trong trường hợp này, việc xác định tổng lượng đầu vào và tổng lượng đầu ra là rất cần thiết vìthông qua đó ta có thể biết được các tác động

4.1.2.5 Quy các giá trị cụ thể cho những tác động này

Trong phân tích lợi ích - chi phí, tiền tệ là thước đo duy nhất để đánh giá nên cần phải quy mỗi tácđộng ra thành một giá trị tiền tệ nhất định

4.1.2.6 Xử lý các tác động không được lượng hóa

Cần phải liệt kê rõ bất kỳ tác động nào chưa được quy ra giá trị bằng tiền Chỉ bằng cách này, chúng

ta mới có thể so sánh được giữa chúng với những chi phí và lợi ích đã được lượng giá cụ thể

4.1.2.7 Chiết khấu giá trị tương lai để có được giá trị hiện tại

Đối với phần lớn các dự án môi trường, cần phải tính toán chi phí và lợi ích được chiết khấu tại nhữngthời điểm khác nhau Người ta thường thực hiện việc này bằng cách sử dụng biện pháp chiết khấu lũy thừa(exponential discounting) để tính giá trị hiện tại của chi phí và lợi ích

4.1.2.8 Xác định yếu tố không chắc chắn

Một vấn đề thường gặp nhất trong phân tích lợi ích - chi phí là sự thất bại trong việc xử lý rủi ro vàcác yếu tố không chắc chắn Cần phải xác định được đầy đủ các khả năng gây ra rủi ro và không chắcchắn này một cách đầy đủ để đưa vào tính toán Chẳng hạn như, khi dự toán cho một công trình xử lýnước thải ngành chế biến cà phê theo công nghệ ướt, tính thời vụ chính là khả năng gây ra rủi ro và khôngchắc chắn

4.1.2.9 So sánh lợi ích và chi phí

Sau khi đã tính toán được (hay ít nhất là đã liệt kê ra được) các chi phí và lợi ích, chúng ta phải sosánh chúng với nhau để xác định xem giá trị hiện tại (Net Present Value ~ NPV) của dự án có thể mang lạidương hay không Nếu đang xem xét lựa chọn giữa nhiều dự án thì dự án nào có mức NPV cao nhất vàphải thỏa mãn giá trị dương là dự án sẽ được chọn

Phương pháp phân tích lợi ích - chi phí là việc đánh giá một cách có hệ thống toàn bộ lợi ích và chiphí của một tiến trình được dự báo/tính trước hoặc của một vài tiến trình khác nhau của các hoạt động.Tiêu chuẩn lợi ích - chi phí dù cho có được thực hiện hay không thì ngay chính bản thân thuật ngữ cũng

đã xác định được điều đó Theo đó, tiêu chuẩn lợi ích - chi phí không gì khác hơn chính là sự mô tả về thái

độ cư xử có lý trí của con người Nói cách khác, ai sẽ hành động như là người có lý trí thì không bao giờ

để cho chi phí vượt trội lên trên lợi ích Mặc dù, tính đơn giản của cách thức suy xét này dễ làm cho người

ta nhầm lẫn, nhưng phương pháp tiếp cận lợi ích - chi phí chính nó đã góp phần đặc biệt quan trọng trongviệc giải quyết những vấn đề có tính chất kinh tế, xã hội và môi trường như hiện nay

Trang 3

Việc so sánh và phân định giữa lợi ích và chi phí một cách có hệ thống và việc cân nhắc mọi giải phápcho ta thấy rằng phương pháp tiếp cận vấn đề của những nhà kinh tế học có thể khác so với phương pháptiếp cận của các nhà chuyên môn khác Chúng tôi biên soạn chương này vì chúng tôi cho rằng việc phântích tương tự như vậy sẽ đem lại sự thành công đáng kể khi được áp dụng cho những vấn đề đặc biệt cóliên quan đến khoa học về môi trường.

4.2 NGUYÊN TẮC QUYẾT ĐỊNH

4.2.1 Nguyên tắc quyết định của cá nhân

Trước khi tìm hiểu về nguyên tắc quyết định của cá nhân, chúng ta xem xét 2 khái niệm cơ bản sau:

- Lợi ích cá nhân chính là các yếu tố làm tăng sự thỏa mãn nhu cầu của cá nhân (gia tăng ý thích)

- Chi phí là tất cả các yếu tố làm giảm sự thỏa mãn nhu cầu của cá nhân (thiệt hại mà cá nhân phảigánh chịu)

Cơ sở quyết định của các cá nhân chính là vấn đề tăng thỏa mãn nhu cầu của chính bản thân họ Nếumột cá nhân nào đó thích tình trạng A hơn tình trạng hiện tại thì lợi ích từ việc dịch chuyển tình trạng hiệntại sang tình trạng A là dương

Trước khi cá nhân đưa ra quyết định đầu tư thực sự, họ cần phải tiến hành phân tích lợi ích - chi phíthông qua 4 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: lựa chọn đối tượng và công nghệ sản xuất phù hợp với năng lực sản xuất, có tính đến

xu thế phát triển trong tương lai bởi nhiều phương án

- Giai đoạn 2: xem xét khả năng và chi phí có liên quan đến việc cung cấp các yếu tố đầu vào như:lao động, nguyên vật liệu, mặt bằng sản xuất cũng như vấn đề tiêu thụ các sản phẩm đầu ra tươngứng với đối tượng và công nghệ được lựa chọn

- Giai đoạn 3: xác định chi phí để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của các phương án, cùng với việctính toán các yếu tố về giá cả được hình thành trên thị trường

- Giai đoạn 4: so sánh lợi ích và chi phí của các phương án đưa ra để đi đến quyết định cuối cùng chophương án lựa chọn của mình

Đối với phương án A được lựa chọn thì phải thỏa mãn điều kiện BA > CA, hay BA - CA > 0 Tất nhiên,phương án tối ưu là phương án có sự chênh lệch lớn nhất giữa lợi ích và chi phí (hiệu số của lợi ích và chiphí là lớn nhất), nghĩa là có sự phân bổ tối ưu các nguồn tài nguyên cho dự án

4.2.2 Nguyên tắc quyết định của xã hội

Trong rất nhiều trường hợp, lợi ích - chi phí tư nhân và lợi ích - chi phí xã hội có sự mâu thuẫn vớinhau, và thậm chí mâu thuẫn càng lớn hơn khi giá trị thị trường không thể tồn tại được Chẳng hạn như,không có giá thị trường cho vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường, vấn đề hòa bình, vấn đề bảo vệ bầukhí quyển

Như vậy, các lĩnh vực kinh tế xuất hiện sự thất bại của thị trường thì thị trường không thể hiện được gìtrong chi phí và lợi ích xã hội biên tế Chính vì thế, việc phân tích lợi ích - chi phí xã hội thường đượcdùng cho các phương án sản xuất hàng hóa công

Tuy nhiên, vẫn có những loại hàng hóa - dịch vụ thị trường vẫn được quyết định theo nguyên tắc xãhội Chính ví vậy, phân tích lợi ích - chi phí xã hội vẫn được sử dụng trong trường hợp này

Chẳng hạn khi xét đến ý thích cá nhân trong việc chuyển sang tình trạng A, ta thấy:

Trang 4

- Trường hợp 1: nếu mọi người đều thích chuyển sang tình trạng A (di dời nơi ở khỏi hệ thống kênhNhiêu Lộc - Thị Nghè) thì xã hội dễ dàng xác định nguyên tắc quyết định (vì tất cả mọi người đều

có lợi từ việc chuyển tình trạng này)

- Trường hợp 2: có nhiều người thích chuyển sang tình trạng A (những người có lợi khi chuyển), sốcòn lại không bận tâm đến việc di chuyển này (những người bàng quan giữa hai tình trạng) thì cũng

sẽ rất đơn giản trong việc xác định nguyên tắc quyết định Trong trường hợp này, những người thíchchuyển sang tình trạng A là những người có lợi còn những người bàng quan là những người không

có lợi và cũng không bị thiệt hại gì

- Trường hợp 3: một số người thích chuyển (những người được lợi khi chuyển), số còn lại chống đối(vì họ cho rằng việc chuyển sang tình trạng A sẽ gây ra thiệt hại cho họ) Trong trường hợp nàychúng ta phải so sánh lợi ích và thiệt hại của tất cả các cá nhân để tìm ra nguyên tắc quyết định

- Trường hợp 4: một số người không quan tâm, phần còn lại chống đối với việc chuyển sang tìnhtrạng A hoặc tất cả mọi người đều không thích chuyển sang tình trạng A vì họ cảm thấy không đượcbất cứ lợi ích gì khi chuyển

Mặc dù, rất nhiều người phản đối việc so sánh thỏa mãn của từng cá nhân với nhau; nhưng trong thực

tế, chúng ta vẫn thường dùng giải pháp so sánh này bởi vì không thể tìm thấy một giải pháp nào chonguyên tắc quyết định xã hội mà không cần đến sự so sánh như thế và cũng khó có thể có một chính sáchnào mà mọi thành viên trong xã hội đều có lợi (không một ai bị hại) và ngược lại

Như vậy, nguyên tắc quyết định của xã hội phải dựa vào cơ sở tổng hợp các ý thích của mọi ngườitrong xã hội tuân theo một hệ thống thể chế, pháp luật và mang tính đạo đức

4.2.3 Giá sẵn lòng trả và đường cầu xã hội

Như vậy, WTP là rất cần thiết để giải quyết vấn đề một cá nhân hay một số cá nhân thích chuyển sangtình trạng A, còn một số cá nhân khác lại không thích (và thậm chí là chống đối) việc chuyển sang tìnhtrạng A này

Ví dụ, khi xem xét việc chuyển sang tình trạng A của một số cá nhân, ta thu được các dữ liệu sau:

- Cá nhân thứ nhất: WTP để chuyển sang tình trạng A là 100 đồng

- Cá nhân thứ hai: WTP để chuyển sang tình trạng A là 70 đồng

- Cá nhân thứ ba: WTP để chịu đựng việc chuyển sang tình trạng A là 50 đồng

- Cá nhân thứ tư: WTP để chịu đựng việc chuyển sang tình trạng A là 20 đồng

Xem xét ví dụ trên ta thấy cá nhân thứ nhất và cá nhân thứ hai có lợi, trong khi đó cá nhân thứ ba và

cá nhân thứ tư có hại (phải chịu đựng cho việc chuyển sang tình trạng khác) Nếu gọi TB (total benefits) làtổng lợi ích xã hội (giá trị của TB có thể dương, cũng có thể là âm), thì:

TB = WTP1 + WTP2 - WPT3 - WPT4 = 100 + 70 - 50 - 20 = 100 > 0

Trang 5

Do TB > 0 nên xét chung cho toàn xã hội, việc chuyển sang trạng thái A sẽ có lợi.

Bây giờ, chúng ta giả sử có rất nhiều loại hàng hóa - dịch vụ để một cá nhân lựa chọn Ban đầu c ánhân này chưa có bất cứ thứ gì và xét giả định về quy luật lựa chọn mua hàng của cá nhân đó ta thấy:

- Đơn vị hàng hóa - dịch vụ thứ nhất, giá 10 đồng

- Đơn vị hàng hóa - dịch vụ thứ hai, giá 9 đồng

- Đơn vị hàng hóa - dịch vụ thứ ba, giá 7 đồng

- Đơn vị hàng hóa - dịch vụ thứ tư, giá 5 đồng

- Đơn vị hàng hóa - dịch vụ thứ năm, giá 4 đồng

- Đơn vị hàng hóa - dịch vụ thứ sáu, giá 3 đồng

Các số liệu trên thể hiện mối quan hệ kinh tế cơ bản rằng “sự bằng lòng trả tiền giảm xuống” và phù

hợp với quy luật là khi có số đơn vị tiêu thụ tăng lên thì sự bằng lòng trả tiền cho các đơn vị hàng hóa dịch vụ được mua thêm sẽ giảm xuống

-Biểu diễn quan hệ kinh tế cơ bản lên trục giá cả (P) và trục sản lượng tiêu thụ (Q) như sau (xem hình4.1)

Hình 4.1 Mô hình đường sẵn lòng trả của cá nhân cho hàng hóa - dịch vụ theo từng mức sản lượng

cụ thể

Khi nối các giao điểm của trục giá và trục sản lượng ta sẽ được một đường cong liên tục và phù hợpvới bất kỳ một lượng hàng hóa - dịch vụ nào trên trục hoành sẽ định ra một mức giá cả tương ứng trên trụctung

Trang 6

Đường cong tính từ trái sang phải biểu diễn sự bằng lòng trả tiền cận biên cho một đơn vị tiếp theođược tiêu thụ Ví dụ, bằng lòng trả tiền để tiêu thụ đơn vị hàng hóa - dịch vụ thứ hai là 9 đồng, đơn vịhàng hóa - dịch vụ thứ 3 là 7 đồng.

Trong khi đó, toàn bộ sự bằng lòng trả tiền lại được tính bằng tổng số tiền mà cá nhân đó bỏ ra chitiêu cho các đơn vị hàng hóa - dịch vụ cần tiêu thụ

Đối với ví dụ trên thì toàn bộ sự bằng lòng trả tiền sẽ là:

TWP = TWP1 + TWP2 + TWP3 + TWP4 + TWP5 + TWP6

= 10 + 9 + 7 + 5 + 4 + 3 = 38

Ở một số trường hợp, sự bằng lòng trả tiền để tiêu thụ thêm một đơn vị sản phẩm có thể bằng không.Chẳng hạn như, một cá nhân nào đó khi đã tiêu thụ đủ lượng thực phẩm cần thiết, nếu ta thêm bất cứ mộtđơn vị thực phẩm nào cho họ thì không những họ không bằng lòng trả tiền cho đơn vị thực phẩm tiêu thụthêm đó mà họ còn cảm thấy khó chịu cho vấn đề này

4.2.3.2 Đường cầu xã hội

Trong kinh tế học môi trường, chúng ta có thể dùng khái niệm đường cầu xã hội để biểu diễn cho tổngcác đường cầu cá nhân trong xã hội Do đặc điểm chi trả cho hàng hóa - dịch vụ của mỗi cá nhân trong xãhội là khác nhau (do có sự khác biệt về thu nhập, sở thích tiêu thụ, nhu cầu tiêu thụ ) nên đường cầu củatừng cá nhân cũng không giống nhau

Chẳng hạn như, đường cầu xã hội trong trường hợp xã hội chỉ có 3 thành viên tham gia vào tiêu thụsản phẩm X, ở mức giá 1000đ/sp thì:

- Cá nhân A yêu cầu 100 sp

- Cá nhân B yêu cầu 50 sp

- Cá nhân C yêu cầu 70 sp

Trang 7

Đường cầu biên tổng hợp biểu diễn cho nhu cầu mà tất cả các chủ thể của nền kinh tế (người tiêudùng, các ngành kinh doanh, chính phủ ) cần tiêu thụ ở mức giá chung Thực chất thì đây là một đườngcầu cộng ngang của tập hợp các đường cầu về loại hàng hóa - dịch vụ đó ở cùng một mức giá.

Trong trường hợp trên thì ở mức giá 1000đ/sp thì cá nhân A bằng lòng mua 100 sản phẩm, cá nhân Bbằng lòng mua 50sp và cá nhân C bằng lòng mua 70sp

Đường cầu xã hội là tổng hợp cộng ngang của 3 đường cầu cá nhân trên cùng một mức giá và bằng

100 + 50 + 70 = 220sp

4.2.4 Nguyên lý đền bù

Đây là nguyên lý để giải quyết vấn đề chuyển dịch nền kinh tế từ tình trạng A sang tình trạng B

Năm 1906 Vilfredo Pareto đưa ra khái niệm hiệu quả Pareto hay còn gọi là hiệu quả cấp phát Ông

cho rằng “tính hiệu quả sẽ xảy ra khi không thể nào tổ chức lại sản xuất khiến cho tất cả mọi người được tốt hơn mà không một ai bị xấu đi” Hay nói cách khác, lợi ích của người này tăng lên không dựa trên cơ

sở lợi ích của những người khác bị giảm đi

Hình 4.2 Mô phỏng đường cầu xã hội cho việc tiêu thụ hàng hóa –

Trang 8

Vilfredo Pareto viết “Một tiêu chuẩn hiển nhiên và hoàn toàn có thể chấp nhận được là một nền kinh

tế được coi là hơn hẳn nền kinh tế kia nếu khi ta tác động vào nó sẽ có ít nhất một cá nhân khá trội lên và không một cá nhân nào bị sa sút rõ rệt, cho đến chừng nào mà điều đó không thể xảy ra”.

Như vậy, một nền kinh tế được coi là hiệu quả khi nó nằm trên ranh giới giữa tính lợi ích và khả năng.Lợi ích của nền kinh tế không thể tăng lên được khi khả năng của nền kinh tế đã đạt đến giới hạn (ranhgiới khả năng - tiện ích) Khi đạt được một phân bổ mà không còn cách nào khác để đạt thêm sự cải thiệnPareto, cách phân bổ đó gọi là hiệu quả Pareto hoặc tối ưu Pareto

4.2.4.1 Phân tích lý thuyết kinh tế phúc lợi của Pareto

Giả thuyết:

- Nền kinh tế đơn giản chỉ có 2 cá nhân A và B tham gia

- Khả năng sản xuất của nền kinh tế đã đạt đến ranh giới khả năng - tiện ích

Định lý 1: với những điều kiện nhất định, một nền kinh tế cạnh tranh sẽ đạt đến điểm nào đó trên đường cong khả năng - tiện ích (đường cong biểu diễn mức độ tiện ích có được của một cá nhân khi biết trước mức độ tiện ích của một cá nhân khác) tại điểm cân bằng của thị trường.

Hình 4.3 Đường cong khả năng - tiện ích

Định lý 2: Một nền kinh tế cạnh tranh có thể đạt đến mọi điểm trên đường cong khả năng - tiện ích với điều kiện là phải tuân thủ hoàn toàn sự điều khiển của sức mạnh của thị trường cạnh tranh ngay từ sự

Trang 9

phân phối nguồn lực ban đầu cho đến kết quả phân phối nguồn lực này; hoặc là chỉ tác động đến sự phân phối nguồn lực ban đầu, phần còn lại phải dành cho sự phân phối do cơ chế thị trường phi tập trung hóa.

Cạnh tranh lý tưởng (có hiệu quả Pareto) chỉ dẫn dắt nền kinh tế đến ranh giới chứ không phải là điềukiện phúc lợi tốt nhất về mặt xã hội Ngoài ra, cạnh tranh có hiệu quả Pareto không có nghĩa là tự bản thân

nó có tính đến sự công bằng

Nền kinh tế đạt đến điểm E do thị trường cạnh tranh mang lại có thể đó là sự phân phối tốt đối với cánhân A nhưng không hẵn là tốt đối với cá nhân B Khi nền kinh tế dịch chuyển từ E sang E’ có nghĩa làphúc lợi của cá nhân A bị lấy bớt nhưng phúc lợi của cá nhân B được tăng thêm Dĩ nhiên, sự dịch chuyểnnày không làm thay đổi về phúc lợi xã hội vì nó vẫn nằm trên đường cong khả năng - tiện ích

4.2.4.2 Nguyên lý đền bù

Giả sử nền kinh tế chỉ gồm 2 cá nhân E và E’ Khi dịch chuyển nền kinh tế từ E sang E’ thì sẽ có một

cá nhân được lợi còn cá nhân kia sẽ bị hại Khi xét trong mối quan hệ với hiệu quả Pareto thì có vẻ hơinghịch lý đối với việc thực hiện sự dịch chuyển này Tuy nhiên, do nguồn lực được phân phối chưa hiệuquả nên nền kinh tế chưa nằm trên đường cong khả năng - tiện ích mà chỉ là một điểm I nào đó nằm ở phíabên trong của đường cong khả năng - tiện ích Vì vậy, bất kỳ một sự dịch chuyển nào của nền kinh tế vềhướng ra phía đường cong khả năng - tiện ích cũng đều là một hoàn thiện Pareto

Thường thì một hoàn thiện Pareto có được phải thông qua sự đền bù Như vậy, nếu một điểm của nềnkinh tế không phải là hiệu quả Pareto thì sẽ tồn tại một sự dịch chuyển nào đó để đưa nền kinh tế lên trênđường cong khả năng - tiện ích

Ví dụ: Chính phủ thực hiện chính sách tự do hóa mậu dịch mặt hàng A nào đó thì hàng nhập khẩu sẽtràn ngập thị trường nên giá cả sẽ giảm xuống Điều này có lợi cho người tiêu dùng nhưng lại có hại chonhà sản xuất Nếu chính phủ kết hợp việc đánh thuế nhập khẩu để đền bù cho nhà sản xuất thì cả ngườitiêu dùng lẫn nhà sản xuất đều có lợi, trường hợp này đã xuất hiện một hoàn thiện Pareto

Hình 4.4 Đường cong khả năng - tiện ích biểu diễn cho sự dịch chuyển của nền kinh tế.

Theo nguyên lý đền bù thì tương quan giữa tổng phần lợi tăng thêm và tổng thiệt hại (tổng chi phí)phải không âm thì mới xuất hiện sự chuyển dịch nền kinh tế

Có nghĩa là:

UBUBE’

UBE

E’

EB

0

Trang 10

4.3 NHẬN DẠNG LỢI ÍCH VÀ CHI PHÍ

4.3.1 Lợi ích

Lợi ích (Benefits) là một thuật ngữ mà các nhà kinh tế thường sử dụng Tuy nhiên, trong thời gian gầnđây nó vẫn được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học, đặc biệt là khoa học môi trường Nhận dạnglợi ích trong kinh tế học môi trường, bao gồm những phần lợi mà con người nhận được không là ngoại lệ.Chẳng hạn như, trồng rừng, làm sạch môi trường, chương trình xóa đói giảm nghèo sẽ đem lại lợi íchcho cộng đồng, tuy nhiên, phá rừng, gây ô nhiễm môi trường lại lấy lợi ích ra khỏi cộng đồng (gây thiệthại cho cộng đồng)

Về mặt kinh tế thì một cá nhân có được lợi ích thì họ sẵn sàng hy sinh hoặc vui lòng trả tiền để có nó.Như vậy, lợi ích thu được chính là số tiền mà họ bằng lòng chi trả để có nó

Giới hạn cận biên của lợi ích chính là phần diện tích nằm phía dưới đường cong cận biên (đường cầu)

Trang 11

Hình 4.5 Đường cong cận biên giới hạn về lợi ích

Với 2 đường cầu khác nhau thì lợi ích thu được sẽ khác nhau Trong trường hợp này, lợi ích thu đượcđược giới hạn bởi đường cầu D2 lớn hơn lợi ích thu được được giới hạn bởi đường cầu D1 Với đường cầu

D1, phần lợi ích thu được được giới hạn bởi diện tích I1, và đường cầu D2, phần lợi ích thu được được giớihạn bởi phần diện tích I = I1 + I2

Như vậy, đối với bất kỳ một loại hàng hóa - dịch vụ nào, đường cầu cao hơn sẽ cho giá trị lợi ích lớnhơn Tương tự như vậy, những cá nhân có đường cầu cao hơn sẽ bằng lòng trả tiền cao hơn để có chúng sovới những cá nhân có đường cầu thấp hơn

Sự bằng lòng trả tiền cũng được áp dụng đối với các loại hàng hóa - dịch vụ môi trường, là nền tảngcho việc đánh giá các lợi ích và thiệt hại cho môi trường tự nhiên một khi dự án đi vào hoạt động Ngoài

ra, đánh giá lợi ích thiệt hại môi trường thông qua phương thức bằng lòng trả tiền cũng có thể được dùng

để lượng hóa các lợi ích kinh tế - xã hội cho nền kinh tế

Trong kinh tế học môi trường, chi phí cơ hội là khái niệm rất quan trọng để lượng hóa về mặt xã hộicủa các dự án đầu tư môi trường

4.3.2.1 Chi phí cơ hội

Chi phí cơ hội là một thuật ngữ được sử dụng để xem xét khả năng lựa chọn trong các quyết định sảnxuất Chi phí cơ hội để đầu tư vào một dự án A nào đó bao gồm trị giá tối đa của các dự án khác có thểđược đầu tư nếu chúng ta không dùng các nguồn lực để đầu tư vào dự án A đó

- Đối với nhà sản xuất hay nhà đầu tư, chi phí cơ hội là việc quyết định sử dụng tài nguyên hay nguồnlực cho mục đích này thay vì cho mục đích khác

- Đối với người tiêu dùng, chi phí cơ hội để tiêu thụ sản phẩm A là sự hy sinh tiêu thụ sản phẩm B.Chẳng hạn như, cá nhân A quyết định mua xe hơi với giá rẻ (sử dụng nhiều nhiên liệu) thì chi phí

cơ hội của cá nhân đó chính là sự hy sinh khoản tiền để mua chiếc xe hơi với giá cao (tiêu thụ ítnhiện liệu)

- Đối với chính phủ: chi phí cơ hội của một chính sách nhất định nào đó là giá trị thực của các chínhsách khác mà lẽ ra chính phủ có thể theo đuổi Chẳng hạn như, chi phí cơ hội của việc khắc phụchậu quả sau trận lũ lụt miền Trung năm 2009 là sự hy sinh các khoản tài chính lẽ ra được dùng đểxây dựng một bệnh viện hay một trung tâm khoa học ngang tầm cỡ Quốc tế

Lượng giá chi phí cơ hội là một việc làm rất khó khăn vì chúng ta không đủ các thông tin về nhữngsản phẩm có thể thay thế Tuy vậy, chúng ta vẫn có thể lượng giá bằng cách tính tổng phí các yếu tố đầuvào để sản xuất, cũng như các ảnh hưởng về mặt xã hội, môi trường được quy đổi thành tiền Như vậy,tổng giá trị của chúng (được quy đổi thành tiền) có thể được xem là chi phí cơ hội của sản xuất

Trang 12

4.3.2.2 Đường cong chi phí

Đường cong chi phí được xây dựng dựa trên cơ sở mô tả hình học của chi phí sản xuất Chẳng hạnnhư, công ty A sản xuất một loại mặt hàng - dịch vụ với chi phí cận biên như sau:

sẽ giảm từ 25 đồng còn 19 đồng

Đường cong chi phí cận biên ở (b) là hệ quả của sự gia tăng chi phí theo biểu đồ bậc thang (a) Đườngcong chi phí cận biên thể hiện ở mỗi mức sản lượng sẽ có một chi phí tương ứng

Hình 4.6 Đường cong chi phí cận biên của sản xuất

Ngoài ra, ta cũng có thể sử dụng biểu đồ (a) để xác định tổng chi phí sản xuất Chẳng hạn, ở biểu đồ(a) ta xác định được tổng phí (total costs) của 5 đơn vị hàng hóa - dịch vụ được sản xuất Tổng chi phí nàychính là tổng diện tích của các cột trên biểu đồ, được xác định như sau:

10

14

19

Trang 13

Như vậy, khi áp dụng với đường cong chi phí cận biên ta có tổng chi phí được tính bằng diện tích giớihạn phía dưới bởi đường cong chi phí cận biên và tính từ gốc đến mức sản lượng cần tính, đối với hìnhtrên chính là diện tích S.

4.3.2.3 Đường cong cung

Chi phí cận biên của sản xuất là một trong những yếu tố quan trọng để xác định thái độ cung của cáccông ty trong điều kiện cạnh tranh Thực chất, đường cong chi phí cận biên hoạt động như là một đườngcung (cho biết số lượng hàng hóa - dịch vụ mà các công ty muốn cung cấp ở mỗi mức giá khác nhau)

Hình 4.7 Mô phỏng đường cung của các công ty trong điều kiện cạnh tranh

Khi tổng sản lượng được yêu cầu tăng lên thì các ngành kinh doanh có xu hướng tăng giá lên Dọctheo đường AS, sản lượng thực tế (Q) tăng lên thì giá chung (P) tăng lên

Giả sử công ty sản xuất ở mức sản lượng Q1, ở đó mức giá ngoài thị trường sẽ bán là P1 Ở bất kỳ mứcsản lượng nào làm cho chi phí biên nhỏ hơn giá thị trường (MC < P1) thì công ty có thể gia tăng lợi nhuậncủa mình bằng cách gia tăng sản lượng Tương tự như vậy, ở bất kỳ mức sản lượng nào làm cho chi phíbiên lớn hơn giá trị thị trường (MC > P1) thì công ty có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách thu hẹp sản lượngsản xuất

Ta thiết lập được đường cung thị trường của loại sản phẩm giấy từ 3 công ty này như sau:

Với:

- (H.a) : Đường cung của công ty A

- (H.b) : Đường cung của công ty B

- (H.c) : Đường cung của công ty C

- (H.d) : Đường cung của thị trường sản phẩm giấy

P

0

QAS

Trang 14

Hình 4.8 Minh họa đường cung thị trường

Thực chất, khi sản xuất cùng một loại hàng hóa - dịch vụ để cung cấp cho thị trường thì có rất nhiềucông ty cùng tham gia Do đó, đường công chí phí cận biên để sản xuất (đường cong cung) liên quan đếnrất nhiều công ty Chẳng hạn như, trường hợp thị trường chỉ có 3 công ty sản xuất sản phẩm giấy tập vớichi phí cận biên ở mức giá 5000 đồng mỗi sản phẩm thì công ty A cung cấp được 20 sản phẩm, công ty Bcung cấp được 17 sản phẩm và công ty C cung cấp được 14 sản phẩm

Như vậy, tổng cung của thị trường giấy tập ở mức giá 5000 đồng mỗi sản phẩm thì trong trường hợpnày tổng cung sẽ là 51 sản phẩm Được minh họa bởi đường cung (H.d), đây là đường cung gộp hay còngọi là đường cung của thị trường

4.4 PHÂN TÍCH LỢI ÍCH - CHI PHÍ

4.4.1 Hàng hóa - dịch vụ phi thị trường

Như đã đề cập, việc phân tích lợi ích - chi phí phục vụ cho lĩnh vực kinh tế học môi trường thườngđược sử dụng đối với các loại hàng hóa - dịch vụ phi thị trường, đặc biệt là các loại hàng hóa công Vìvậy, chúng tôi trực tiếp đánh giá một số thuộc tính của hàng hóa - dịch vụ phi thị trường để tạo cơ sở choviệc phân tích này

4.4.1.1 Thặng dư của người tiêu dùng

Thặng dư của người tiêu dùng được xem là thước đo quan trọng để đánh giá lợi ích của các loại hànghóa - dịch vụ phi thị trường Đây là khái niệm để chỉ toàn bộ phúc lợi mà người tiêu dùng có được khi giatăng việc sử dụng hàng hóa - dịch vụ

Ví dụ: đường cầu bù để xây dựng tuyến kênh thoát nước cho chương trình phát triển nông thôn (đượcbiểu diễn ở hình 4.9)

5000

0 20 Q 0 17 Q 0 14 Q 0 51 Q

Trang 15

Hình 4.9: Đường cầu bù để xây dựng tuyến kênh thoát nước cho chương trình phát triển nông thôn

Để xác định thặng dư tiêu dùng từ việc xây dựng tuyến kênh thoát nước, ta chỉ cần biết toàn bộ số tiền

mà người tiêu dùng sẵn sàng chi trả khi họ tiêu dùng kênh thoát nước này Trong trường hợp này, thặng

Trang 16

4.4.1.2 Giá trị của cuộc sống

Có rất nhiều hàng hóa - dịch vụ phi thị trường có tác động trực tiếp đến cuộc sống như sự an toàn, ônhiễm môi trường, suy nghĩ tiêu cực trong cuộc sống… Tuy vậy, việc lượng hóa giá trị của những loạihàng hóa - dịch vụ này là rất khó khăn và phức tạp Các nhà kinh tế đã đưa ra một giải pháp có thể chấpnhận được, đó là tiền tệ hóa cuộc sống (dùng tiền tệ như là thước đo đại diện cho giá trị của cuộc sống)

Có hai phương pháp để tiền tệ hóa cuộc sống:

1) Phương pháp suy diễn

Với phương pháp này, để tiền tệ hóa cuộc sống cần phải xác định được toàn bộ giá trị các hàng hóa dịch vụ mà chính cá nhân sẽ phải kiếm tiêu dùng để duy trì cuộc sống của họ cho đến khi chết

-Như vậy, giá trị của cuộc sống của cá nhân theo phương pháp này được xem như là giá trị tới hạnhoặc là khoản thu nhập bị mất đi khi xảy ra cái chết của cá nhân Một vấn đề cần bàn luận ở đây là chi phí

cá nhân không được đề cập đến (vì rất khó xác định) nên việc giá trị hóa cuộc sống ở đây thường có độ tincậy không cao

- Hoàn cảnh riêng tư của cá nhân

- Không đủ những thông tin, kiến thức khoa học cần thiết có liên quan đến khả năng chết mà cá nhân

đó chấp nhận

Cho dù sử dụng phương pháp nào đi nữa thì trong hầu hết các dự án đưa ra, chính phủ cũng cần xemxét đến mối tương quan giữa lợi ích của dự án và chi phí của dự án, kể cả chi phí xã hội (mức độ tác độngđến cuộc sống của con người)

4.4.1.3 Giá trị thời gian

Giá trị thời gian (giá trị thời gian được tiết kiệm) cũng có thể được xem như là thặng dư của ngườitiêu dùng (lợi ích của hàng hóa - dịch vụ phi thị trường)

Để lượng hóa giá trị thời gian người ta thường thực hiện việc so sánh giữa lượng thời gian nhân vớigiá trị đạt được nếu sử dụng toàn bộ lượng thời gian nhàn rỗi vào những công việc mang lại thu nhập

Ngày đăng: 03/10/2013, 08:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1. Mô hình đường sẵn lòng trả của cá nhân cho hàng hóa - dịch vụ theo từng mức sản lượng - PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ TRONG KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG
Hình 4.1. Mô hình đường sẵn lòng trả của cá nhân cho hàng hóa - dịch vụ theo từng mức sản lượng (Trang 5)
Hình 4.2. Mô phỏng đường cầu xã hội cho việc tiêu thụ hàng hóa – - PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ TRONG KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG
Hình 4.2. Mô phỏng đường cầu xã hội cho việc tiêu thụ hàng hóa – (Trang 7)
Hình 4.3. Đường cong khả năng - tiện ích - PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ TRONG KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG
Hình 4.3. Đường cong khả năng - tiện ích (Trang 8)
Hình 4.4. Đường cong khả năng - tiện ích biểu diễn cho sự dịch chuyển của nền kinh tế. - PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ TRONG KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG
Hình 4.4. Đường cong khả năng - tiện ích biểu diễn cho sự dịch chuyển của nền kinh tế (Trang 9)
Hình 4.6. Đường cong chi phí cận biên của sản xuất - PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ TRONG KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG
Hình 4.6. Đường cong chi phí cận biên của sản xuất (Trang 12)
Hình 4.7. Mô phỏng đường cung của các công ty trong điều kiện cạnh tranh - PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ TRONG KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG
Hình 4.7. Mô phỏng đường cung của các công ty trong điều kiện cạnh tranh (Trang 13)
Hình 4.8. Minh họa đường cung thị trường - PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ TRONG KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG
Hình 4.8. Minh họa đường cung thị trường (Trang 14)
Hình 4.9: Đường cầu bù để xây dựng tuyến kênh thoát nước cho chương trình phát triển nông thôn - PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ TRONG KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG
Hình 4.9 Đường cầu bù để xây dựng tuyến kênh thoát nước cho chương trình phát triển nông thôn (Trang 15)
Hình trên ta thấy, để đạt được tiêu chuẩn chi phí khí thải cần chi phí 100.000 USD để tăng thêm 250 công nhân (khi này số công nhân được sử dụng là 350) - PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ TRONG KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG
Hình tr ên ta thấy, để đạt được tiêu chuẩn chi phí khí thải cần chi phí 100.000 USD để tăng thêm 250 công nhân (khi này số công nhân được sử dụng là 350) (Trang 17)
Bảng 4.1. Các dự án đầu tư - PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ TRONG KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG
Bảng 4.1. Các dự án đầu tư (Trang 19)
Bảng 4.2. Các tầng lớp dân cư - PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ TRONG KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG
Bảng 4.2. Các tầng lớp dân cư (Trang 25)
Hình 4.11. Hàm số lợi ích của dự án công - PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ TRONG KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG
Hình 4.11. Hàm số lợi ích của dự án công (Trang 26)
Hình 4.12. Mô phỏng các đường cong bàng quan - PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ TRONG KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG
Hình 4.12. Mô phỏng các đường cong bàng quan (Trang 27)
Hình 4.13. Mô phỏng các đường cong bàng quan xã hội theo thuyết - PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ TRONG KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG
Hình 4.13. Mô phỏng các đường cong bàng quan xã hội theo thuyết (Trang 28)
Bảng 4.4. Lợi ích của các chương trình A, B - PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ TRONG KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG
Bảng 4.4. Lợi ích của các chương trình A, B (Trang 30)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w