Đặc điểm nguồn nước và hiện trạng khai thác, sử dụng: a Đặc điểm nguồn nước: * Nước dưới đất: - Nguồn nước dưới đất tại các xã thuộc vùng đồng bằng duyên hải phía Nam của tỉnh nhưcác xã
Trang 1MỞ ĐẦU
1 - Điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Nam:
Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm của miền Trung,phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng, phía Đông giáp biển Đông với trên 125 km bờ biển, phía Tâygiáp với tỉnh Kon Tum và nước bạn Lào, phía Nam giáp với tỉnh Quảng Ngãi Quảng Nam có 17huyện, thị xã, thành phố, trong đó có 8 huyện miền núi là: Đông Giang, Nam Giang, Tây Giang,Phước Sơn, Bắc Trà My, Nam Trà My, Hiệp Đức và Tiên Phước; 9 huyện thị đồng bằng: Thànhphố Tam Kỳ, Thị xã Hội An, huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, Thăng Bình, Quế Sơn, NúiThành, Phú Ninh Diện tích tự nhiên 10.406 km2, trong đó hơn ¾ là đồi núi Dân số khoảng 1,45triệu người (2005)
Địa hình tỉnh Quảng Nam tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông, hình thành ba vùngsinh thái: vùng núi cao, vùng trung du, vùng đồng bằng và ven biển; bị chia cắt theo các lưu vựcsông Vu Gia, Thu Bồn và Tam Kỳ
- Vùng đồng bằng và ven biển có 2 dạng địa hình khác nhau:
+ Vùng đồng bằng nhỏ, hẹp thuộc hạ lưu các sông Vu Gia, Thu Bồn, Tam Kỳ, được phù sa bồiđắp hàng năm, nhân dân có truyền thống thâm canh lúa nước và cây công nghiệp ngắn ngày, câythực phẩm
+ Vùng ven biển chủ yếu là đất cát, sản xuất nông nghiệp chủ yếu là hoa màu, trồng rừngchống cát, nuôi trồng và đánh bắt hải sản Tuy nhiên vùng đất này dễ bị nước biển xâm thực, đặcbiệt các vùng duyên hải phía Nam của tỉnh phần lớn đất đã bị nhiễm phèn nên ảnh hưởng đến chấtlượng nguồn nước ngầm
- Vùng Trung du với độ cao trung bình 50 - 200m, địa hình đồi bát úp xen kẽ các giải đồng bằngnhỏ, bậc thang, là vùng có nhiều khoáng sản, thuộc miền tây các huyện Thăng Bình, Duy Xuyên,Đại Lộc, Nhân dân có truyền thống trồng lúa, hoa màu, cây công nghiệp, chăn nuôi, trồng rừng.Đây còn là vùng tập trung nhiều khoáng sản như: vàng và vàng sa khoáng đã và đang được khaithác ở Bông Miêu, Du Hiệp, Trà Dương, Dốc Kiền; than đá ở Nông Sơn, Ngọc Kinh, An Điềm
- Vùng miền núi phân bố về phía tây của tỉnh, là vùng núi cao, đầu nguồn các lưu vực sông và lànơi cư trú của đồng bào các dân tộc ít người
2 - Điều kiện khí hậu, thủy văn, mạng lưới sông suối.
Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, chỉ có 2 mùa là mùa khô và mùamưa, ít chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc Nhiệt độ trung bình năm 20 – 210C, không
có sự cách biệt lớn giữa các tháng trong năm Lượng mưa trung bình 2.000 – 2.500 mm nhưngphân bố không đều, mưa ở miền núi nhiều hơn đồng bằng, mưa tập trung vào các tháng 9 – 12,
Trang 2chiếm 80% lượng mưa cả năm; mùa mưa trùng với mùa bão, nên các cơn bão đổ vào miền Trungthường gây ra lở đất, lũ quét ở các huyện niền núi và ngập lụt ở các huyện đồng bằng.
Ở Quảng Nam có 3 hệ thống sông chính là: hệ thống sông Thu Bồn, hệ thống sông Vu Gia và
hệ thống sông Tam Kỳ Hệ thống sông Thu Bồn chảy theo hướng Tây - Đông, là hệ thống sônglớn nhất của tỉnh, là nguồn cung cấp nước chính cho các huyện phía Bắc như: Đại Lộc, DuyXuyên, Điện Bàn, Hội An Đầu nguồn của hệ thống sông này là các nhánh: sông Tranh, sôngTiên chảy qua các huyện Trà My, Hiệp Đức, Tiên Phước, có độ dốc lớn, chảy xiếc vào mùa mưa
và trở nên cạn kiệt vào mùa khô Hệ thống sông Vu Gia, đầu nguồn là các sông Avương chảytheo hướng Tây Nam qua các huyện Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang và Đại Lộc Vùng hạlưu sông Vu Gia chia thành nhiều nhánh, có nhánh đổ ra của biển Đà Nẵng, nhánh hợp lưu với hệthống sông Thu Bồn tại Giao thuỷ đổ ra cửa Đại Hội An Hệ thống sông Tam Kỳ là hợp lưu của
10 con sông suối nhỏ tạo thành, bắt nguồn từ các dãy núi phía Tây Nam của tỉnh, chảy theo hướngTây sang Đông, rồi theo hướng Tây Bắc - Đông Nam chảy ra cửa An Hòa Hệ thống sông Tam Kỳchảy qua các huyện Núi Thành, thành phố Tam Kỳ và huyện Thăng Bình, độ dốc và lưu lượng củasông nhỏ hơn nhiều so với hệ thống sông Thu Bồn và hệ thống sông Vu Gia Cả hai hệ thống sông
là hợp lưu của hàng ngàn con suối nhỏ từ các dãy núi phía Tây, nơi nguồn cung cấp nước chínhcho đồng bào dân tộc thiểu số
Về ao hồ, Quảng Nam rất ít ao hồ tự nhiên, chủ yếu là các hồ thuỷ lợi như: hồ Phú Ninh, KheTân, Vĩnh Trinh, Việt An, Thạch Bàn Đây là nguồn nước dự trữ cho sản xuất nông nghiệp, riêngnguồn nước từ hồ Phú Ninh còn cung cấp nước cho ăn uống sinh hoạt, sản xuất công nghiệp chothành phố Tam Kỳ và các huyện lân cận
3 - Đặc điểm nguồn nước dưới đất.
Qua quá trình khảo sát tại thực địa, nguồn nước dưới đất ở Quảng Nam có thể chia thành bavùng với ba đặc điểm khác nhau như sau:
- Các xã thuộc vùng đồng bằng duyên hải các huyện phía Nam của tỉnh có chất lượng nước kém,hầu hết bị nhiễm phèn nặng, thường cạn kiệt vào mùa khô hạn
- Các xã, phường thuộc các huyện cánh Bắc, nguồn nước dưới đất về chất lượng có khá hơn, tuynhiên hầu hết đều nhiễm phèn, trữ lượng khá dồi dào Riêng các vùng thị trấn, thị xã nguồn nướcdưới đất còn bị ô nhiễm do quá trình đô thị hóa
- Các xã thuộc vùng trung du miền núi có chất lượng nước khá tốt, tuy nhiên trữ lượng thấp, khókhai thác, thường cạn kiệt vào mùa khô hạn
Về nguồn nước ngầm, độ sâu và trữ lượng cũng khác nhau giữa các vùng trong tỉnh: vùngđồng bằng duyên hải mực nước tĩnh dao động từ 5 - 10m, vùng trung du thì mực nước dao độngtrong khoảng từ 20 - 50m Qua quá trình khảo sát tại thực địa cho thấy vào mùa khô mạch nước
Trang 3ngầm thường cạn kiệt, nhất là vùng trung du, do đó ảnh hưởng đến nhu cầu sinh hoạt của ngườidân.
CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VÙNG ĐIỀU TRA KHẢO SÁT:
1 - Phạm vi vùng điều tra khảo sát:
1.1 Khu vực điều tra khảo sát:
Số lượng đơn vị điều tra là 124 xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là xã): trong đó có 52
xã đồng bằng và 72 xã thuộc khu vực trung du, miền núi trên tổng số 17 huyện, thị xã, thành phốcủa tỉnh Các xã điều tra phân theo huyện:
- Huyện Quế Sơn : 11 xã
- Huyện Duy Xuyên : 09 xã
- Huyện Phước Sơn : 05 xã
- Huyện Đông Giang : 05 xã
- Huyện Tây Giang : 03 xã
- Huyện Nam Giang : 04 xã
1.2 Nội dung và phương pháp điều tra khảo sát:
a) Nội dung các bước thực hiện:
Trang 4* Tiến hành tập huấn cho cán bộ được phân công điều tra, khảo sát về nội dung của dự án, cáchlấy mẫu và phân tích mẫu tại hiện trường cũng như trong phòng thí nghiệm.
* Lập danh sách các xã sẽ dự kiến điều tra, đồng thời kết hợp với Phòng Tài nguyên và Môitrường các huyện để đưa ra danh sách các xã sẽ điều tra phù hợp với tiêu chí mà dự án đề ra
* Kết hợp với chính quyền địa phương (xã, phường) trong quá trình lấy mẫu phân tích tại hiệntrường để quá trình điều tra được thuận lợi (có những xã địa bàn rất phức tạp cả về mặt địa hìnhlẫn an ninh) và việc lấy mẫu được đồng đều, chính xác, chọn được những vùng có nguy cơ nhiễmArsenic cao
* Tiến hành lấy mẫu phân tích tại hiện trường
* Thu thập, chọn lọc, lấy mẫu phân tích trong phòng thí nghiệm
* Tổng hợp số liệu và viết Báo cáo
b) Phương pháp và cách thức tiến hành điều tra, khảo sát:
* Phương pháp:
- Phương pháp Test-kit ngoài thực địa
- Lấy mẫu phân tích trong phòng thí nghiệm
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp người dân
- Phương pháp thống kê, so sánh kết quả
* Cách thức tiến hành:
Đội điều tra có nhiều nhóm, mỗi nhóm có 2 người vừa thực hiện test vừa phỏng vấn
Sau khi điều tra khảo sát tại hiện trường xong, dựa vào sổ nhật ký, chọn những mẫu có nồng
độ cao nhất của các xã để đưa vào danh sách các mẫu dự kiến lấy phân tích trong phòng thí nghiệm.Dựa vào qui định của đề án về số lượng mẫu phân tích trong phòng thí nghiệm cho các xã đồngbằng và trung du miền núi, chốt lại danh sách cuối cùng Tiến hành lấy mấu trong thời gian hai tuần,đồng thời kết hợp với chính quyền địa phương để việc lấy mẫu được thuận lợi, tránh nhầm lẫn
2 - Khái quát đặc điểm nguồn nước và hiện trạng khai thác, sử dụng nước tại các khu vực điều tra.
2.1 Đặc điểm nguồn nước và hiện trạng khai thác, sử dụng:
a) Đặc điểm nguồn nước:
* Nước dưới đất:
- Nguồn nước dưới đất tại các xã thuộc vùng đồng bằng duyên hải phía Nam của tỉnh nhưcác xã của huyện Núi Thành, huyện Thăng Bình, thành phố Tam Kỳ hầu hết bị nhiễm phèn, một
Trang 5số giếng có chất lượng rất kém, có màu vàng ố và mùi hôi Lượng nước biến đổi rõ rệt theo mùa,thường cạn kiệt vào mùa nắng hạn (từ tháng 4 đến tháng 8) hàng năm.
- Vùng thứ hai là các xã thuộc huyện Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên, các xã đồng bằngcủa huyện Quế Sơn và thị xã Hội An, lượng nước tại vùng này khá dồi dào, tuy nhiên chất lượngnước không được tốt, hầu hết cũng bị nhiễm phèn Riêng nguồn nước tại thị trấn Vĩnh Điện và cácphường nội thị của thị xã Hội An còn bị ô nhiễm do quá trình đô thị hóa
- Vùng còn lại là các xã thuộc vùng trung du miền núi, vùng này có chất lượng nước khátốt, tuy nhiên mạch nước ngầm sâu và khó khai thác đồng thời lượng nước biến đổi khá rõ rệt giữacác mùa trong năm, thường cạn kiệt vào mùa khô hạn
* Nước ao hồ: Hầu hết nước trong các hồ dùng cho sinh hoạt như Phú Ninh nguồn gây ô
nhiễm chủ yếu là do sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, tuy nhiên mức độ gây ô nhiễm thấp
* Nước sông, suối: Nguồn nước của hai hệ thống sông Thu Bồn - Vu Gia và Tam Kỳ qua
quá trình khảo sát tại thực địa và số liệu quan trắc của Sở Tài nguyên và môi trường cho thấy: + Đối với hệ thống sông Tam Kỳ, nguồn nước này chủ yếu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp,vùng thượng lưu và trung lưu mà nó chảy qua là vùng thưa dân cư, ít có hoạt đông khai thác khoángsản nên mức độ ô nhiễm thấp Riêng vùng hạ lưu, nguồn nước bị ô nhiễm do nước thải sinh hoạt từthành phố Tam Kỳ, nước thải của các khu công nghiệp Nhánh sông Trường Giang quanh năm bịnhiễm mặn do nằm sát biển và có lưu vực thấp
+ Đối với hệ thống sông Thu Bồn, Vu Gia có thành phần khá phức tạp Vùng thượng nguồn làcác nhánh sông: Tranh, Tiên, AVương do hoạt động khai thác khoáng sản, xây dựng các công trìnhthuỷ điện nên nguồn nước bị ô nhiễm nặng, dòng nước đục ngầu quanh năm Vùng trung lưu chảyqua các huyện Đại Lộc, Quế Sơn, Duy Xuyên, là nguồn nước sinh hoạt chủ yếu cho người dânsống hai ven bờ vào mùa khô hạn khi nguồn nước ngầm cạn kiệt Qua khảo sát cho thấy nước ởsông Thu Bồn khu vực trung lưu và hạ lưu còn trong xanh, nước thuộc nhánh sông Vu Gia bị ônhiễm khá nặng, quanh năm đục ngầu Vùng hạ lưu, nơi hợp lưu của hai con sông Thu Bồn và VuGia chảy qua các huyện Điện Bàn, Duy Xuyên và thị xã Hội An Đây là nguồn cung cấp nướcsinh hoạt cho nhân dân các huyện nói trên, nguồn nước này ngoài bị ô nhiễm từ thượng nguồn(tuy nồng độ đã bị pha loãng) còn bị ô nhiễm do nước thải sinh hoạt của các thị trấn, thị xã vànước thải của các khu và cụm công nghiệp Đặc biệt vào mùa khô khi lưu lượng nước trên sônggiảm thì nguồn nước tại vùng này bị nhiễm mặn do sự xâm thực của nước biển, do đó ảnh hưởngđến đời sống sinh hoạt và sức khỏe của người dân
+ Đối với hệ thống khe, suối vùng thường nguồn của hai hệ thống sông trên, nơi đồng bào dântộc thiểu số sinh sống, cũng chia thành hai loại:
Trang 6Một số dòng suối bị ô nhiễm do hoạt động khai tác khoáng sản tại một số xã thuộc các huyệnNam Trà My, Phước Sơn, Đông Giang và Tây Giang, tuy nhiên người dân không sử dụng nguồnnước này cho sinh hoạt
Nguồn nước sinh hoạt của đồng bào chủ yếu là các khe suối không bị ô nhiễm do hoạt độngkhai thác khoáng sản, tuy nhiên nguồn nước này có thể bị ô nhiễm do quá trình chăn nuôi gia súcthả rong trong rừng
b) Hiện trạng khai thác và sử dụng nước.
Hiện trạng khai thác và sử dụng nước cho ăn uống sinh hoạt và sản xuất trong khu vực điều tra
có sự khác nhau giữa các vùng miền trong tỉnh
- Về nguồn nước sử dụng cấp cho ăn uống, sinh hoạt có những đặc thù theo các vùng miền như sau: + Các huyện đồng bằng như Núi Thành, Phú Ninh, Thăng Bình, Duy Xuyên, Điện Bàn, chủyếu dùng nước từ giếng khoan và giếng đào, trong đó khoảng 60% dân số sử dụng giếng khoan,30% dân số sử dụng giếng đào, 10% dân số còn lại được sử dụng hệ thống cấp nước tập trung(chủ yếu là người dân sống khu vực thị trấn) Trong số hộ dân sử dụng giếng khoan, có khoảng20% sử dụng hệ thống lọc, đối với hộ sử dụng nước giếng thì tỷ lệ lọc vào khoảng 5%
+ Các thị xã, thành phố như Hội An, Tam Kỳ thì tỷ lệ sử dụng nước máy chiếm khoảng hơn60% chủ yếu tập trung ở các vùng nội thị (phường) Một số phường còn lại như Tân Phú, HoàThuận, Trường Xuân của thành phố Tam Kỳ, phường Cẩm An và các xã ngoại thị của thị xã Hội
An chưa có nước máy, chủ yếu sử dụng giếng khoan và giếng đào Những hộ sử dụng giếngkhoan có khoảng 10% nước đã qua hệ thống lọc cát, những hộ sử dụng giếng đào có khoảng 5%nước sử dụng có qua hệ thống lọc cát
+ Các huyện thuộc vùng trung du như Quế Sơn, Đại Lộc có khoảng 25% dân số sử dụng giếngkhoan, 70% sử dụng giếng đào, 5% sử dụng nước tập trung lấy từ sông Thu Bồn - Vu Gia (chủyếu là người dân sống khu vực thị trấn) Trên 90% hộ sử dụng giếng đào không có qua hệ thốnglọc, khoảng 50% hộ sử dụng giếng khoan có qua hệ thống lọc, 100% nước tập trung có qua lọc + Các huyện trung du - miền núi như Tiên Phước, Hiệp Đức, tỷ lệ sử dụng giếng đào là 85%,gần 15% hộ dân sử dụng nước tập trung lấy từ sông suối với tỷ lệ lọc là 70%, hộ sử dụng giếngkhoan hầu như không có Trong các hộ sử dụng giếng đào thì trên 95% không qua hệ thống lọc + Các huyện miền núi như Nam Trà My, Bắc Trà My, Đông Giang, Nam Giang và Tây Giang,
tỷ lệ sử dụng nước tập trung lấy từ suối là trên 90% nhưng đều không qua hệ thống lọc Cókhoảng 10% hộ dân sử dụng nước giếng đào, chủ yếu tập trung ở các huyện Bắc Trà My và NamGiang với 100% không qua hệ thống lọc
Trang 7c) Đặc điểm công trình khai thác nước:
+ Đối với giếng khoan:
Các xã thuộc khu vực đồng bằng duyên hải, chiều sâu phổ biến của giếng là từ 6 - 10m, lượngnước khai thác sử dụng trong ngày phần lớn vào khoảng 1 - 3m3/ngày, chất lượng nước rất kém,hầu hết bị nhiễm phèn, một số giếng cạn kiệt vào mùa khô (nhất là các xã thuộc các huyện phíaNam của tỉnh) Đặc biệt có một số giếng thuộc huyện Núi Thành, Thăng Bình nước vừa bơm lên
có mùi hôi nặng Hệ thống lọc khá đơn giản, hầu hết là lọc bằng cát, than Người ta cho hỗn hợpthan, cát vào trong bể có dung tích khoảng 1m3, bề dày lớp than, cát trung bình vào khoảng 0,5đến 0,8m, dưới đáy bể đặt một ống nhỏ cho nước cháy sang một bể khác Chế độ thay rửa tùytheo gia đình, tuy nhiên nhanh nhất cũng 1lần/tháng, có hộ 1 năm mới thay rửa một lần Khi tiếnhành phân tích trên các mẫu sau lọc thì hiệu quả của phương pháp lọc này trong việc giảm thiểunồng độ Arsenic là hiệu quả đối với những hệ thống lọc mới thay rửa vật liệu lọc, còn những hệthống lọc để lâu ngày không thay rửa thì hiệu quả lọc không cao
Các xã thuộc khu vực trung du miền núi, chiều sâu của giếng khoan trung bình vào khoảng 15 20m, thậm chí có giếng sâu đến 50m, chất lượng nước tốt hơn so với vùng đồng bằng duyên hải,hầu như không bị nhiễm phèn, lượng nước ít dồi dào, dễ bị cạn kiệt vào mùa khô, lượng khai tháctrung bình vào khoảng 1 - 2m3/ngày Những giếng có sử dụng hệ thống lọc cũng khá đơn giản,chủ yếu dùng vật liệu là than, cát, sỏi, mô hình hệ thống lọc cũng tương tự như trên
+ Đối với giếng đào:
Những giếng thuộc vùng đồng bằng duyên hải có chiều sâu trung bình từ 4 - 8m, đường kínhcủa giếng từ 0,8 - 1m, mạch nước tĩnh trung bình từ 3 - 6m, chất lượng rất kém, hầu hết bị nhiễmphèn, những giếng ở các xã thuộc huyện Núi Thành hầu hết có màu vàng đục, ít bị khô hạn vàomùa khô, mùa mưa thì có hiện tượng ứ đọng, mực nước tĩnh giảm chỉ còn 0,5m Một số giếngthuộc vùng nông thôn, diễn biến mực nước không những phụ thuộc vào các mùa trong năm màcòn phụ thuộc vào lưu lượng của các kênh thủy lợi Tỷ lệ hộ sử dụng giếng đào có hệ thống lọckhá thấp, nếu có thì qui mô, đặc điểm công trình lọc cũng như trên
Vùng trung du, miền núi, chiều sâu trung bình của giếng vào khoảng 6 - 15m, đường kính trungbình từ 0,8 - 1m, mạch nước tĩnh trung bình vào khoảng 7 - 14m, chất lượng tương đối, hầu hếtkhông màu, không mùi, ít bị nhiễm phèn Mực nước diễn biến khá rõ rệt giữa các mùa trong năm,vào mùa mưa mực nước tĩnh giảm xuống còn khoảng 5 - 10m
+ Đối với công trình khai thác mạch lộ:
Những công trình này hầu hết nằm ở các huyện miền núi cao như Bắc Trà My, Nam Trà My,Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang và một số xã của huyện Hiệp Đức Nguồn nước là các khesuối, khu vực xuất lộ là từ các khe núi cao, đặc điểm là không màu, không mùi, là nguồn nước ănuống, sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số
Hình thức khai thác: Các khe suối được ngăn chắn, sau đó dẫn đường ống về bể nước tập trung
có dung tích khoảng 10m3, qui mô cấp cho 200 đến 700 người, trên 90% đồng bào dân tộc được
Trang 8sử dụng nguồn nước này Khoảng 10% còn lại là tự ngăn các khe suối gần nhà, sau đó đặt ống dẫn
về nhà và cho chảy tự do, qui mô sử dụng hộ gia đình
Hầu hết các công trình khai thác giếng khoan và giếng đào trong toàn tỉnh không qua hệ thốnglọc là bơm lên bể chứa sau đó sử dụng trực tiếp trong vóng 1 đến 2 ngày
Tên, đặc điểm, hình thức khai thác của các sông, suối:
Khe Mường Trà Linh (Hiệp Hòa - Hiệp Đức), lưu lượng lớn khoảng 1m3/s (vào tháng 4),đặc điểm không màu, không mùi, hình thức khai thác là dập dâng sau đó đặt ống dẫn vào bể tậptrung, qui mô cấp cho 700 người
Khe Trà Lái (Phước Trà - Hiệp Đức), lưu lượng khoảng 0,5m3/s (vào tháng 4), đến thángbảy, tháng tám gần như cạn kiệt, đặc điểm không màu, không mùi, hình thức khai thác là đập dângdẫn bằng đường ống, qui mô cấp cho khoảng 300 người
Khe Ông Sanh (Hiệp Thuận - Hiệp Đức), lưu lượng khoảng 0,5m3/s (vào tháng 4), đặcđiểm không màu, không mùi, hình thức khai thác là dập dâng sau đó đặt ống dẫn vào bể tập trung,qui mô cấp cho 500 người
Suối Đồi E (Khâm Đức - Phước Sơn), lưu lượng khoảng 0,3m3/s (vào tháng 4), cạn kiệtvào các tháng; sáu, bảy, tám, đặc điểm không màu, không mùi, hình thức khai thác là dập dângsau đó đặt ống dẫn vào bể tập trung, qui mô cấp cho 60 người
Suối nước Keng, suối Choải, suối nước Teo,, suối Kăng, (Phước Năng - Phước Sơn), lưulượng trung bình 0,2m3/s (vào tháng 4), đến tháng sáu thì cạn kiệt, đặc điểm không màu, khôngmùi, hình thức khai thác là dập dâng dẫn bằng đường vào bể tập trung sau đó dẫn về từng hộ giađình, qui mô mỗi suối cấp cho khoảng 100 người
Suối nước Look, suối ÔPe, suối Sà Rả (Phước Đức - Phước Sơn), lưu lượng trung bình0,5m3/s (vào tháng 4), thường khô cạn vào tháng bảy, đặc điểm không màu, không mùi, hình thứckhai thác là dập dâng dẫn bằng đường vào bể tập trung sau đó dẫn về từng hộ gia đình, qui mômỗi suối cấp cho khoảng 50 người
Suối Me Rót, suối Nước Xa, suối Nước Che, suối Cà Rết (Trà Nú - Bắc Trà My), lưulượng trung bình 1m3/s (vào thánh 5), đến tháng sáu, tháng bảy lưu lượng giảm còn khoảng0,2m3/s, đặc điểm không màu, không mùi, hình thức khai thác là đặt đường ống dẫn về từng hộgia đình, qui mô mỗi suối cấp cho khoảng 30 người
Các suối thuộc xã Trà Bui huyện Bắc Trà My: Suối Dê, lưu lượng trung bình 1m3/s (vàotháng tư), vào tháng bảy, tháng tám có năm bị cạn kiệt, đặc điểm không màu, không mùi, hìnhthức khai thác ngăn đập dẫn về bể tập trung, qui mô cung cấp cho 400 người Suối Lác có lưulượng khoảng 0,5m3/s (vào tháng 4), khô cạn vào các tháng bảy và tám, đặc điểm không màu,không mùi, hình thức khai thác là mỗi gia đình tự đặt ống dẫn về nhà, cung cấp cho khoảng 250
Trang 9người Các suối: Suối Đá, suối Nước Cúp, suối Ôm, suối Dơn, suối Tê, có lưu lượng nhỏ khoảng0,2m3/s, có đặc điểm giống như các suối trên, hình thức khai thác giống như suối Lác, nhưng qui
mô cung cấp nhỏ khoảng 20 người
Suối Nâng, suối Kor thuộc xã Trà Giác huyện Bắc Trà My, có lưu lượng khoảng 0,5m3/s(vào tháng 4), cạn kiệt vào các tháng: sáu, bảy, tám, đặc điểm không màu, không mùi, riêng suốiKor khi có mưa thì bị đục Hình thức khai thác là dâng đập, dẫn về bể tập trung, sau đó đặt đườngống đến từng hộ gia đình, qui mô cung cấp cho khoảng hơn 200 người
Các suối thuộc xã Trà Dơn huyện Nam Trà My: khe Nước Ma, khe Klân, khe Rân, kheGri, khe TakPun, khe Nước Vin có lưu lượng nhỏ khoảng 0,2m3/s (vào tháng 4), cạn kiệt vào cáctháng: sáu, bảy, tám Chúng có đặc điểm không màu, không mùi, hình thức khai thác là mỗi giađình tự đặt ống dẫn về nhà, mỗi suối có khoảng 20 người sử dụng
Những suối thuộc xã Trà Tập, huyện Nam Trà My như: Nước Ri, Pan, Nước Dênh, NướcSót, Lùng Nang, Nước Tung, Nước Lam, Nước Túb đều có lưu lượng nhỏ khoảng 0.2m3/s (vàotháng 4), cạn kiệt vào các tháng: sáu, bảy, tám Đặc điểm và hình thức khai thác giống như cácsuối ở xã Trà Dơn, qui mô cung cấp của mỗi suối cho khoảng 30 người
Suối Dốc Kiền thuộc xã Ba, huyện Đông Giang có lưu lượng khoảng 1m3/s (vào tháng 5),lưu lượng giảm còn khoảng 0,2m3/s vào tháng bảy và tháng tám Nước suối này có đặc điểmkhông màu, không mùi, khai thác bằng cách ngăn đập dẫn về bể tập trung, cung cấp cho khoảng
70 hộ
Các suối: Dong, Ra Ê, Pơ Pih, Tơ Mah, Ka Boong thuộc xã ATing, huyện Đông Giang đều
có lưu lượng nhỏ khoảng 0,2m3/s (vào tháng 5), khô cạn vào các tháng: sáu, bảy, tám Chúng cóđặc điểm không màu, không mùi, qui mô khai thác hộ gia đình, mỗi suối cung cấp cho khoảng 20
- 30 người
Những suối thuộc xã SôngKôn, huyện Đông Giang: Boon, Tang, Kaoon có lưu lượngkhoảng 0,5m3/s (tháng 5), cạn kiệt vào các tháng bảy và tám, có đặc điểm không màu, không mùi,mỗi hộ gia đình tự đặt đường ống dẫn về nhà, mỗi suối có khoảng 300 người sử dụng
Những suối ở thị trấn Prao được người dân sử dụng làm nguồn nước sinh hoạt: Suối ChơKer, có lưu lượng khoảng 1m3/s (vào tháng 5), lưu lượng giảm còn khoảng 0,2m3/s vào các thángbảy và tám, có năm cạn kiệt, đặc điểm không màu, không mùi, khai thác bằng hình thức ngăn đậpdẫn về bể tập trung, cung cấp cho khoảng 550 người Suối Tung Túi và suối Tơ Roo có lưu lượngkhoảng 0,5m3/s (vào tháng 5), vào các tháng bảy và tám lưu lượng giảm còn khoảng 0,1m3/s, cónăm gần như cạn kiệt, mỗi hộ gia đình tự đặt ống dẫn về nhà, mỗi suối có khoảng 250 người sửdụng
Trang 10 Những suối thuộc xã Ma Cooih, huyện Đông Giang như: Suối Cút, suối Ta Rac có lưulượng khoảng 1m3/s (tháng 5), tháng bảy và tám lưu lượng giảm còn khoảng 0,2m3/s, chúng cóđặc điểm không màu, không mùi, khai thác bằng hình thức ngăn đập dẫn vào bể tập trung, mốisuối cung cấp cho khoảng 400 người Những suối có lưu lượng nhỏ hơn vào khoảng 0,5m3/s(tháng 5) như: A Dới, A Lieng 2, Na Nâu, Chrun, đều có đặc điểm không màu, không mùi, thườngcạn kiệt vào tháng bảy và tám, mỗi hộ gia đình tự đặt ống dẫn về nhà, mỗi suối có khoảng 50 đến
100 người sử dụng
Tại xã AVương huyện Tây Giang, những suối được người dân sử dụng làm nguồn nước ănuống, sinh hoạt là: suối Nấp, Đhợt, La Har, Abét, CơRé, Tà Còo, Gừng, DơRơ Càng, Brđeng,CơRoảm, chúng có lưu lượng nhỏ khoảng 0,5m3/s (tháng 5), cạn kiệt vào các tháng bảy và tám,tất cả đều không màu, không mùi, qui mô khai thác hộ gia đình bằng hình thức tự đặt ống dẫn vềnhà, mỗi suối cung cung cấp cho khoảng 10 hộ gia đình
Tại xã Lăng, huyện Tây Giang, cả 5 thôn của xã chỉ sử dụng hai nguồn nước chính từ haicon suối: PơĐăng và suối Cơớp, chúng có lưu lượng khoảng 2m3/s (vào tháng 5), vào tháng bảy
và tám lưu lượng giảm còn khoảng 0,5m3/s, chúng không màu, không mùi, khai thác bằng hìnhthức ngăn đập dẫn về bể tập trung, mối suối cung cấp cho khoảng 700 người
Những suối tại xã ATiêng, huyện Nam Giang như: Atoor, Ti Ngứt, Dee có lưu lượng khoảng1m3/s, có đặc điểm và hình thức khai thác giống như các suối ở xã Lăng, mỗi suối cung cấp chokhoảng 250 - 300 người
2.2 Đánh giá chung về hiện trạng ô nhiễm nguồn nước tại các khu vực trong tỉnh:
a) Đánh giá chung về hiện trạng ô nhiễm nguồn nước:
- Hầu hết nguồn nước dưới đất được khai thác sử dụng cho sinh hoạt ở các xã vùng đồng bằngduyên hải đã bị ô nhiễm, nghiêm trọng nhất là các xã ven biển, các thị trấn và các phường nội thịthuộc thị xã Hội An và thành phố Tam Kỳ
- Các xã vùng trung du, nguồn nước tại các vùng trũng phần lớn bị ô nhiễm, chất lượng nướckém Những vùng có địa hình cao hơn thì chất lượng nước khá hơn Qua khảo sát cho thấy cácvùng trũng thuộc các xã Đại Tân, Đại Thắng, Đại Chánh của huyện Đại Lộc, xã Duy Hoà thuộchuyện Duy Xuyên nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt bị ô nhiễm khá nặng
- Tại vùng núi cao, chất lượng nước dùng cho sinh hoạt về mặt cảm quan và kết quả phân tíchnồng độ Arsenic thì tốt hơn các vùng còn lại, chưa thấy có dấu hiệu ô nhiễm
b) Nguyên nhân gây ô nhiễm:
Qua quá trình điều tra khảo sát tại thực địa, nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước tại mỗi vùng
có những nguyên nhân khác nhau như sau:
Trang 11- Vùng đồng bằng duyên hải (không kể các thị trấn, thị xã, thành phố), nguyên nhân chủ yếu gây
ô nhiễm nguồn nước là do cấu tạo địa chất, sự xâm thực của nước biển, các hoạt động nuôi trồngthủy hải sản và các hoạt động sản xuất nông nghiệp
- Tại các vùng thị trấn, thị xã, thành phố, nguồn nước bị ô nhiễm chủ yếu là do quá trình đô thịhóa, nước thải sinh hoạt, nước thải từ các bệnh viện và nước thải từ các cụm, khu công nghiệp,nhất là tại thị xã Hội An, khu CN Điện Nam - Điện Ngọc, thành phố Tam Kỳ
- Các vùng trũng thuộc vùng trung du, nguyên nhân gây ô nhiễm chủ yếu do tự nhiên (cấu tạođịa chất) và các hoạt động sản xuất nông nghiệp
- Vùng miền núi, nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước là do các hoạt động khai tháckhoáng sản, tập trung chủ yếu ở các huyện Hiệp Đức, Phước Sơn, Tây Giang, Nam Giang và NamTrà My, ngoài ra nguồn nước bị ô nhiễm còn do hoạt động sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi giasúc thả rong
CHƯƠNG II KẾT QUẢ ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG ARSENIC TRONG CÁC NGUỒN
NƯỚC THUỘC VÙNG ĐIỀU TRA KHẢO SÁT.
1 - Tổng hợp chung khối lượng điều tra, khảo sát.
Bảng tổng hợp khối lượng điều tra.
Tổng số Xã trung du
-miền núi
Xã đồng bằng
Trang 1215 Thăng Bình 11 2 9 236 20 216
Tổng cộng 124 72 52 1968 720 1248
2 - Tổng hợp khối lượng điều tra, khảo sát theo nguồn nước sử dụng.
Bảng tổng hợp khối lượng điều tra theo nguồn nước sử dụng
STT Huyện, thị xã Số xã Tổng số
mẫu
Sau xử lý
Nước thô Nước
giếng đào
Nước giếng khoan
Trang 133 - Hiện trạng ô nhiễm Arsenic theo các loại nguồn nước:
3.1 Tổng hợp hiện trạng ô nhiễm Arsenic chung trong các loại nguồn nước.
số mẫu
Số mẫu có hàm lượng Arsenic theo các thang phân tích