1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

34 404 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khái Quát Chung Về Phương Thức Tín Dụng Chứng Từ
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Bài Tiểu Luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 60,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo điều 2 UCP600 Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụngchứng từ “Tín dụng là bất cứ một sự thoả thuận nào, dù cho được mô tảhoặc đặt tên như thế nào, là không thể huỷ bỏ và theo đó l

Trang 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG

TỪ, UCP600 VÀ ISBP681

I Phương thức tín dụng chứng từ:

1 Khái niệm phương thức tín dụng chứng từ:

Trước hết cần hiểu phương thức tín dụng chứng từ là một phươngthức thanh toán Nói đơn giản hơn đó chính là cách mà người nhập khẩutrả tiền và người xuất khẩu thu tiền về Trong thương mai quốc tế, hai bênmua bán có thể lựa chọn một trong số các phương thức thanh toán:Chuyển tiền, ghi sổ, nhờ thu Tuy nhiên trong các phương thức đó vai tròcủa ngân hàng chưa cao, chưa phát huy được thế mạnh của ngân hàng

Từ thực tiễn sự phát triển của thương mại quốc tế hiện nay, yêu cầumột phương thức thanh toán mới vừa đảm bảo được quyền lợi của ngườimua và người bán đồng thời lại phát huy được thế mạnh của ngân hàng-một trung gian tài chính có uy tín và có tiềm lực kinh tế lớn? Phương thức

ấy phải đảm bảo rằng người bán chắc chắn sẽ thu được tiền khi đã giaohàng theo đúng quy định trong hợp đồng, đồng thời cũng phải đảm bảorằng khi người mua trả tiền thì chắc chắn người mua sẽ nhận được hàngđúng theo yêu cầu của hợp đồng mua bán

Một phương thức thanh toán hữu hiệu nhất, an toàn nhất cho cảngười mua, người bán đồng thời lại có thể phát huy được thế mạnh củangân hàng đã ra đời Đó chính là phương thức tín dụng chứng từ(documentary credit)

Trang 2

Theo điều 2 UCP600 (Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụngchứng từ) “Tín dụng là bất cứ một sự thoả thuận nào, dù cho được mô tảhoặc đặt tên như thế nào, là không thể huỷ bỏ và theo đó là một sự camkết chắc chắn của ngân hàng phát hành để thanh toán khi xuất trình phùhợp”

Định nghĩa trên có thể hiểu một cách đơn giản như sau: về bản chất,phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong đó một ngânhàng (ngân hàng phát hành) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầuphát hành thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác(người hưởng lợi của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do ngườinày ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngânhàng một bộ chứng từ phù hợp với những quy định đề ra trong thư tíndụng Để có thể thực hiện việc thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu bằngphương thức tín dụng chứng từ thì trước hết người nhập khẩu (người trảtiền) phải làm đơn yêu cầu ngân hàng phát hành thư tín dụng Và để ngânhàng phát hành thư tín dụng cho người hưởng lợi hưởng thì thông thườngngười yêu cầu phát hành thư tín dụng phải ký quỹ một số tiền nhất định

mở L/C và cũng phải trả một khoản phí nhất định Tỷ lệ ký quỹ là bao nhiêuphần trăm trị giá L/C thì tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa người nhập khẩu

và ngân hàng Mức phí mở L/C thì áp dụng theo mức phí của từng ngânhàng cụ thể Như vậy thư tín dụng đã xác lập phương thức thanh toán theoL/C Nếu không có phương thức tín dụng thì phương thức thanh toán nàycũng không được áp dụng Các bên tham gia cơ bản trong phương thứctín dụng chứng từ gồm có:

Trang 3

Ngân hàngphát hành Ngân hàng thông báo

(6) (2)

- Người yêu cầu phát hành thư tín dụng: Đó chính là người nhập khẩu:Người nhập khẩu hàng hoá hoặc là người nhập khẩu uỷ thác cho mộtngười khác

- Ngân hàng phát hành thư tín dụng: Là ngân hàng đại diện cho ngườinhập khẩu, nó cấp tín dụng cho người nhập khẩu

- Người hưởng lợi thư tín dụng: Là người xuất khẩu: Người xuất khẩuhay bất cứ người nào mà người hưởng lợi chỉ định

- Ngân hàng thông báo: Là ngân hàng ở nước người hưởng lợi

Quy trình thanh toán thư tín dụng như sau:

Trang 4

Thông thường khi làm đơn xin mở thư tín dụng, người nhập khẩu phảicung cấp cho ngân hàng các giấy tờ cần thiết tuỳ theo yêu cầu của ngânhàng phát hành, thông thường gồm những giấy tờ sau: hợp đồng ngoạithương, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép xuất nhập khẩuhàng hoá (nếu là hàng hoá thuộc đối tượng chịu hạn ngạch xuất nhậpkhẩu)

Trong thực tế, quy trình phát hành thư tín dụng như sau:

Trang 5

Tiếp nhận yêu cầu

Kiểm tra và thẩm định

Ktra hồ sơ

Thông báo, mở tài khoản và bán ngoại tệ

kiểm tra, soạn điện và hạch toán

SƠ ĐỒ 1: QUY TRÌNH PHÁT HÀNH THƯ TÍN DỤNG

Ban Hỗ Trợ Kinh Doanh

Chuyên Viên Thanh Toán

Cấp Thẩm Quyền

Chuyên Viên Thanh Toán

Trang 6

Nguồn: Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam

Techcombank.

Diễn giải thực hiện:

Tiếp nhận yêu cầu: CVKH tiếp nhận yêu cầu của khách hàng và

hướng dẫn khách hàng lập đơn xin yêu cầu phát hành thư tín dụng (theomẫu sẵn có của các ngân hàng) và chuẩn bị bộ hồ sơ (các giấy tờ cần thiếttheo yêu cầu của ngân hàng)

Kiểm tra, thẩm định và phê duyệt hồ sơ mở L/C:

CVKH kiểm tra và xác định rõ tính đầy đủ, rõ ràng của yêu cầu pháthành hoặc điều chỉnh thư tín dụng, so sánh với hợp đồng ngoại thương đểkịp thời lưu ý khách hàng khi có mâu thuẫn

CVKH chịu trách nhiệm thẩm định khách hàng có đủ điều kiện để pháthành, điều chỉnh thư tín dụng hay không theo các hướng dẫn hiện hànhcủa các ngân hàng

Phê duyệt hồ sơ:

Sau khi CVKH kiểm tra hồ sơ và thẩm định khách hàng, trưởng đơn

vị, chuyên gia phê duyệt tín dụng các cấp có trách nhiệm phê duyệt hồ sơ.Nếu đồng ý thì phê duyệt chấp nhận và chuyển xuống cho CVKH, ban hỗtrợ kinh doanh Nếu không đồng ý thì trả lại cho CVKH để yêu cầu kháchhàng sửa đổi cho phù hợp

Thông báo, ký kết hợp đồng, mở tài khoản và mua ngoại tệ:

Trang 7

Sau khi thông báo cho khách hàng về việc đơn yêu cầu mở thư tíndụng được chấp nhận, hợp đồng dịch vụ giữa người yêu cầu mở L/C vàngân hàng phát hành được ký kết và một tài khoản được mở cho kháchhàng Nếu khách hàng chưa có ngoại tệ thì ngân hàng sẽ bán ngoại tệ chokhách hàng.

Trang 8

Kiểm tra, soạn điện và hạch toán:

CVTT có trách nhiệm kiểm tra yêu cầu mở L/C Nếu có sai sót thìthông báo cho CVKH liên hệ với khách hàng để điều chỉnh thích hợp Nếukhông có sai sót gì thì tiến hành soạn điện và hạch toán chi phí

Kiểm tra điện:

Cấp thẩm quyền có trách nhiệm phê duyệt điện Nếu đồng ý thìchuyển cho CVTT để phát điện và lưu hồ sơ Nếu có sai sót thì chuyển lại

sửa chữa

Phát điện và lưu hồ sơ:

Tại trung tâm thanh toán, sau khi soạn điện, đã kiểm soát, đã thựchiện thu phí, ký quỹ và được cấp có thẩm quyền cuối cùng phê duyệt thìtiến hành phát điện vào phiên gần nhất

Hồ sơ được lưu giữ tại ngân hàng

Muốn mở L/C người nhập khẩu phải trả một khoản phí và ký quỹ nhỏhơn hoặc bằng giá trị của L/C (Tuỳ theo hạn mức mà ngân hàng cấp chongười nhập khẩu mà người nhập khẩu có thể được miễn ký quỹ hoặc chỉphải ký quỹ một phần giá trị của L/C)

Về phía ngân hàng, khi nhận được đơn yêu cầu mở L/C của ngườinhập khẩu, ngân hàng cần xem xét, tư vấn cho người nhập khẩu về nộidung của L/C như: Số lượng các chứng từ, loại chứng từ, ngày tháng giaohàng… dựa trên hợp đồng mua bán ngoại thương, luật áp dụng và UCP600

Trang 9

Như vậy người nhập khẩu đã thực hiện nghĩa vụ của mình và sẽkhông thể từ chối nhận hàng hoặc không thanh toán cho người xuất khẩunếu người xuất khẩu hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và cung cấp chứng từ

của L/C

(3) Căn cứ vào đơn xin mở thư tín dụng, ngân hàng phát hành thư tíndụng sẽ lập một thư tín dụng và thông qua ngân hàng phục vụ người xuấtkhẩu (ngân hàng thông báo) ở nước người xuất khẩu thông báo thư tíndụng và chuyển thư tín dụng đến người xuất khẩu

Trên thực tế, quy trình thanh toán thư tín dụng có thể sẽ phải sử dụngnhiều hơn một ngân hàng thông báo, bởi vì trong trường hợp ngân hàngthông báo L/C được người yêu cầu đề nghị trong thư tín dụng mà ngânhàng đó lại không có quan hệ đại lý với ngân hàng phát hành L/C thì ngânhàng phát hành phải thông qua một ngân hàng đại lý của mình (nhưng cómối quan hệ với ngân hàng mà người yêu cầu chỉ định làm ngân hàngthông báo) thông báo thư tín dụng Như vậy trong quy trình sẽ có 2 ngânhàng thông báo: ngân hàng thông báo thứ nhất và ngân hàng thông báothứ 2

(4) Khi nhận được thư tín dụng, ngân hàng thông báo báo cho ngườixuất khẩu về thư tín dụng và khi nhận được bản gốc của thư tín dụng thìchuyển ngay cho người xuất khẩu

Trang 10

Thực tế có trường hợp thư tín dụng sẽ được thông báo sơ bộ, các chitiết đầy đủ gửi sau Trong trường hợp ấy, ngân hàng thông báo khi nhậnđược thông báo sơ bộ thư tín dụng từ ngân hàng phát hành sẽ thông báo

sơ bộ cho người xuất khẩu Trong thông báo sơ bộ ghi rõ: “các chi tiết đầy

đủ gửi sau” Khi nhận được bản gốc từ phía ngân hàng phát hành thìchuyển ngay cho người xuất khẩu

(5) Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giaohàng, nếu không chấp nhận thì đề nghị ngân hàng phát hành L/C sửa đổi,

bổ sung cho phù hợp với hợp đồng

(6) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ phù hợp theoyêu cầu của thư tín dụng xuất trình đến ngân hàng phát hành xin thanhtoán thông qua ngân hàng phục vụ mình (có thể là ngân hàng thông báohoặc ngân hàng khác)

(7) Ngân hàng phát hành kiểm tra bộ chứng từ nếu thấy phù hợp vớithư tín dụng thì tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu Nếu không phùhợp, ngân hàng từ chối thanh toán và gửi trả lại bộ chứng từ cho ngườixuất khẩu (nếu người nhập khẩu chấp nhận thanh toán thì ngân hàng vẫnthanh toán và trừ phí sai sót của bộ chứng từ)

(8) Ngân hàng phát hành thư tín dụng đòi tiền người nhập khẩu vàtiến hành chuyển bộ chứng từ cho người nhập khẩu sau khi người nhậpkhẩu trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán

(9) Người nhập khẩu kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với thư tíndụng thì trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán cho ngân hàng phát hành, nếukhông phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền

Trang 11

Từ sự phân tích quy trình của phương thức tín dụng chứng từ, chúng

ta sẽ rút ra các đặc điểm của phương thức thanh toán này

2 Đặc điểm của phương thức tín dụng chứng từ:

a Phương thức tín dụng chứng từ là phương thức có liên quan đến ba quan hệ hợp đồng:

♣ Hợp đồng mua bán giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu:

Hợp đồng mua bán hàng hoá là sự thoả thuận giữa người mua vàngười bán, trong đó người bán có trách nhiệm giao hàng đúng và đủ cònngười mua có trách nhiệm trả tiền Trong hợp đồng mua bán, các bêntham gia thoả thuận phương thức thanh toán tiền hàng: chuyển tiền, nhờthu, ghi sổ, tín dụng chứng từ Khi lựa chọn tín dụng thư làm phương thứcthanh toán tiền hàng thì thư tín dụng sẽ được mở Có thể nói hợp đồngmua bán hàng hoá làm cơ sở cho phương thức tín dụng chứng từ

Mặc dù thư tín dụng ra đời trên cơ sở hợp đồng mua bán giữa ngườixuất khẩu và người nhập khẩu nhưng thư tín dụng lại hoàn toàn độc lậpvới hợp đồng mua bán Bất cứ sự dẫn chiếu nào tới điều khoản trong hợpđồng mua bán đều không được coi là một phần cấu thành của tín dụng thư

và không được ngân hàng xem xét đến

♣ Hợp đồng dịch vụ giữa người yêu cầu phát hành thư tín dụng (người nhập khẩu) và ngân hàng phát hành:

Trang 12

Muốn thanh toán bằng phương thức tín dụng thư thì trước hết thư tíndụng phải được mở Để thư tín dụng được mở thì người nhập khẩu hànghoá (người trả tiền) phải làm đơn (Đơn yêu cầu phát hành thư tín dụng)gửi đến ngân hàng phát hành xin mở L/C Căn cứ vào đó, ngân hàng pháthành sẽ phát hành một thư tín dụng cho ngưòi hưởng lợi hưởng, và ngườinhập khẩu sẽ phải chịu một khoản lệ phí để mở L/C.

Thực chất, đây chính là một hợp đồng dịch vụ giữa ngân hàng vàngười xin phát hành L/C Theo đó, ngân hàng dùng uy tín và khả năng tàichính của mình để đảm bảo thanh toán cho người xuất khẩu khi họ xuấttrình phù hợp và thu phí từ người nhập khẩu Và khi đó, ngân hàng sẽchịu trách nhiệm kiểm tra bộ chứng từ do người xuất khẩu xuất trình trướckhi quyết định thanh toán hay từ chối thanh toán

♣ Thư tín dụng:

Trang 13

Thư tín dụng được ra đời trên cơ sở hợp đồng dịch vụ được ký kếtgiữa ngân hàng phát hành và người nhập khẩu Thư tín dụng hình thànhtrên cơ sở hợp đồng mua bán, nhưng sau khi ra đời lại hoàn toàn độc lậpvới hợp đồng mua bán Thậm chí trong trường hợp thư tín dụng có dẫnchiếu đến hợp đồng mua bán thì các ngân hàng cũng không coi hợp đồngmua bán như là một bộ phận cấu thành nên thư tín dụng Do vậy, các ngânhàng thường khuyên khách hàng của mình không nên dẫn chiếu hợp đồngmua bán vào thư tín dụng Người nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng để làmđơn yêu cầu phát hành thư tín dụng Người xuất khẩu căn cứ vào các điềukiện của thư tín dụng tiến hành giao hàng và lập chứng từ trên cơ sở yêucầu của thư tín dụng Do đó người xuất khẩu khi nhận được thư tín dụngphải kiểm tra kỹ các điều khoản của thư tín dụng, nếu có điều khoản nàochưa phù hợp phải yêu cầu người nhập khẩu tiến hành sửa đổi thư tíndụng cho phù hợp trước khi thực hiện giao hàng Người xuất khẩu phải lậpđầy đủ các chứng từ phù hợp với yêu cầu của thư tín dụng và xuất trìnhcho ngân hàng trong thời hạn quy định Sau khi kiểm tra chứng từ, nếuthây hoàn toàn phù hợp với các quy định của thư tín dụng, ngân hàng pháthành thanh toán tiền hàng cho người xuất khẩu.

Trang 14

Như vậy thư tín dụng là cam kết trả tiền của ngân hàng phát hành đốivới người xuất khẩu Nó hoàn toàn độc lập với hợp đồng cơ sở Điều 4aUCP600 nêu rõ: “Về bản chất, tín dụng là một giao dịch riêng biệt với cáchợp đồng mua bán hoặc các hợp đồng khác mà các hợp đồng này có thểlàm cơ sở của tín dụng Các ngân hàng không liên quan đến hoặc bị ràngbuộc bởi các hợp đồng như thế, thậm chí ngay cả trong tín dụng có bất cứ

sự dẫn chiếu nào đến các hợp đồng như thế Vì vậy sự cam kết của mộtngân hàng để thanh toán, thương lượng thanh toán hoặc thực hiện bất cứnghĩa vụ nào khác trong tín dụng không phụ thuộc vào các khiếu nại hoặccác biện hộ của người yêu cầu phát sinh từ quan hệ của họ với ngân hàngphát hành hoặc người thụ hưởng.”

b Trong phương thức tín dụng chứng từ, các bên giao dịch chỉ căn cứ vào chứng từ chứ không căn cứ vào hàng hoá:

Có thể nói trong phương thức tín dụng chứng từ, người nào nắmchứng từ sở hữu hàng hóa thì người đó là người có quyền sở hữu đối vớihàng hoá Vì chỉ cần nắm chứng từ là có thể đi nhận hàng Trong phươngthức tín dụng chứng từ, các bên giao dịch cũng chỉ căn cứ vào chứng từ

để xem rằng xuất trình đó đã phù hợp hay chưa? để quyết định việc cóthanh toán hay chấp nhận thanh toán không? Chính các chứng từ xuấttrình là căn cứ duy nhất để các ngân hàng quyết định trả tiền hay từ chốithanh toán cho người hưởng lợi, đồng thời cũng là căn cứ duy nhất đểngười nhập khẩu hoàn trả hay từ chối trả tiền cho ngân hàng Nếu ngườixuất khẩu xuất trình được các chứng từ thể hiện trên bề mặt của chúng làphù hợp với các quy định của thư tín dụng thì sẽ được ngân hàng trả tiền

Trang 15

Ngân hàng không có lý do gì để từ chối thanh toán tiền hàng khi ngườixuất khẩu xuất trình bộ chứng từ hợp lệ Bởi vì như đã nói ở trên, phươngthức tín dụng chứng từ là cam kết trả tiền của ngân hàng phát hành thư tíndụng đối với người xuất khẩu khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp vớiquy định trong thư tín dụng Ngân hàng không chịu trách nhiệm về tênhàng, số lượng, trọng lượng, chất lượng, trạng thái, bao bì, việc giao hàng,giá trị hay sự hiện hữu của hàng hoá mà bất cứ chứng từ nào đại diện.Cũng tương tự như vậy, nếu bộ chứng từ ngân hàng xuất trình để đòi tiềnngười nhập khẩu hợp lệ thì ngưòi nhập khẩu sẽ trả tiền cho ngân hàng,còn nếu không thì người nhập khẩu có quyền từ chối thanh toán Trongtrường hợp đó, rủi ro sẽ hoàn toàn thuộc về ngân hàng Vì vậy, ngân hàngcần phải kiểm tra kỹ bộ chứng từ xuất trình trước khi chấp nhận thanh toáncho nhà xuất khẩu

Như vậy, trong phương thức tín dụng chứng từ, các chứng từ có mộttầm quan trọng to lớn, nó tượng trưng cho giá trị hàng hoá mà người xuấtkhẩu đã giao và là căn cứ cho người xuất khẩu đòi ngân hàng thanh toántiền hàng, đồng thời nó cũng là căn cứ duy nhất để nhà nhập khẩu dựavào đó quyết định thanh toán hay từ chối thanh toán đối với ngân hàngphát hành

3 Các loại thư tín dụng chủ yếu:

Phương thức tín dụng chứng từ có ưu việt hơn hẳn những phươngthức thanh toán quốc tế khác Tuy vậy, hiệu quả của phương thức này sẽđược thể hiện đầy đủ hơn khi ta biết lựa chọn loại thư tín dụng phù hợp vớiyêu cầu của từng tình huống cụ thể trong mối quan hệ thương mại quốc tế

các bên

Trang 16

Theo quy ước quốc tế, thư tín dụng bao gồm nhiều loại Có thể phânbiệt chúng dưới các góc độ khác nhau dưới đây.

a Căn cứ vào tính chất:

Thư tín dụng có thể huỷ ngang (revocable L/C): Là loại thư tín dụng

mà sau khi L/C được mở thì người nhập khẩu có thể yêu cầu ngân hangsửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ bất cứ lúc nào mà không cần có sự đồng ýcủa người hưởng lợi L/C Thư tín dụng có thể huỷ ngang hầu như khôngđược sử dụng trong thực tế mà chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết

Thư tín dụng không thể huỷ ngang (irrevocable L/C): Là loại thư tín

dụng mà sau khi được mở thì người yêu cầu phát hành thư tín dụng sẽkhông được tự ý sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ những nội dung của nó nếukhông được sự đồng ý của người hưởng lợi thư tín dụng Để đảm bảođược tính chất và tác dụng của thư tín dụng, ngày nay hầu hết thư tín dụngđược mở theo hình thức không huỷ ngang

b Căn cứ vào thời điểm thanh toán:

- L/C trả ngay (at sight L/C): là L/C mà ngân hàng phải thanh toán

ngay cho người hưởng lợi khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp vớinhững điều khoản quy định trong thư tín dụng Trong trường hợp này,người xuất khẩu sẽ ký phát hối phiếu trả ngay để yêu cầu thanh toán

- L/C trả chậm ( time L/C): là loại L/C mà ngân hàng cam kết sẽ thanh

toán cho người hưởng lợi sau một số ngày nhất định quy định trong L/C

Có 2 loại L/C kỳ hạn

+ Acceptable L/C: là loại L/C sử dụng hối phiếu trả chậm để đòi tiềnngân hàng

Trang 17

+ Deferred L/C: là loại L/C không sử dụng hối phiếu để đòi tiền ngânhàng.

c Một số loại L/C đặc biệt:

- L/C xác nhận (confirm L/C): là L/C được một ngân hàng khác ngoài

ngân hàng phát hành xác nhận, là cam kết trả tiền của đồng thời 2 ngânhàng

- L/C chuyển nhượng (transferable L/C): là L/C trong đó quy định

người hưởng lợi thứ nhất có thể yêu cầu ngân hàng phát hành L/C, hoặc

là ngân hàng chỉ định chuyển nhượng toàn bộ hay một phần quyền thựchiện L/C cho một hay nhiều người khác

- L/C tuần hoàn (revolving L/C): là L/C không thể huỷ ngang mà sau

khi thực hiện hết giá trị hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì L/C lại tự động cógiá trị như cũ và tiếp tục được sử dụng một cách tuần hoàn trong một thờihạn nhất định cho đến khi tổng giá trị hợp đồng được thực hiện

- L/C giáp lưng (back to back L/C): là loại L/C mà sau khi người xuất

khẩu nhận được L/C người nhập khẩu mở cho mình hưởng lại dùng chínhL/C đó thế chấp để mở một L/C khác cho người khác hưởng L/C đem đithế chấp là L/C gốc, L/C sau gọi là L/C giáp lưng

- L/C đối ứng (reciprocal L/C): là loại L/C chỉ bắt đầu có hiêụ lực khi

một L/C đối ứng với nó đã được mở

- L/C điều khoản đỏ (red clause L/C): là L/C có điều khoản (trước đây

thường in bằng mực đỏ) cho phép ngân hàng chỉ định ứng trước một phầntiền cho người thụ hưởng để mua nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và giaohàng theo L/C đã mở

Ngày đăng: 02/10/2013, 23:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ 1: QUY TRÌNH PHÁT HÀNH THƯ TÍN DỤNG - KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
SƠ ĐỒ 1 QUY TRÌNH PHÁT HÀNH THƯ TÍN DỤNG (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w