Kuhn hay Kuhn là một trong những nhân vật bước ngoặt của ngành khoa học học, các tư tưởng về khoa học học của ông ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của nghiên cứu liên ngành về khoa họ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VIỆT HÙNG
ỨNG DỤNG KHOA HỌC LUẬN CỦA THOMAS SAMUEL KUHN TRONG KHOA HỌC
VỀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HÀ NỘI, 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VIỆT HÙNG
ỨNG DỤNG KHOA HỌC LUẬN CỦA THOMAS SAMUEL KUHN TRONG KHOA HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nghiên cứu này là kết quả nghiên cứu của bản thân tác
giả dưới sự hướng dẫn của TS Trịnh Hữu Tuệ
Mọi tham khảo đều được trích dẫn đầy đủ Nếu có gì sai phạm tôi xin
hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả luận văn
Lê Việt Hùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin cảm ơn thầy hướng dẫn, các thầy cô giáo dạy khóa học, học
viện và cơ quan công tác đã tạo mọi điều kiện học tập, nghiên cứu Xin cảm
ơn, gia đình và bạn bè đã luôn động viên hỗ trợ cho tác giả trong quá trình
làm luận văn
Để có thể tiếp tục được học hỏi và hoàn thiện hơn nữa luận văn này, tôi
chân thành mong muốn nhận được sự góp ý quý báu của quý thầy, cô giáo và
các bạn học viên cho bản luận văn này của tôi
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHOA HỌC CỦA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC 7
1.1 Khoa học học – khoa học lý thuyết về khoa học 7
1.2 Khoa học về chính sách khoa học – Khoa học hành động về khoa học 15
Chương 2: KHOA HỌC LUẬN CỦA THOMAS SAMUEL KUHN 24
2.1 Bối cảnh ra đời các tư tưởng khoa học luận của Thomas Kuhn 24
2.2 Các tư tưởng chủ đạo trong khoa học luận của Thomas Kuhn 32
2.3 Các tư tưởng khoa học luận của Kuhn trong các ngành khoa học học cụ thể 37
Chương 3: ỨNG DỤNG KHOA HỌC LUẬN CỦA KUHN VÀO KHOA HỌC VỀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC 54
3.1 Xây dựng mẫu hình: Đặt nền tảng cho khoa học về chính sách khoa học 54
3.2 Củng cố mẫu hình: Các kiến nghị cho khoa học về chính sách khoa học từ khoa học luận của T S Kuhn 57
KẾT LUẬN 60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới đang bước vào thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư với
sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ với cả những mặt tích cực cũng như tiêu cực đi kèm với nó, một thời đại mà Klaus Schwab nói rằng
nó sẽ “thay đổi căn bản cách chúng ta sống, làm việc và liên hệ với nhau” [18, tr.7] Tác động qua lại của khoa học công nghệ với xã hội đòi hỏi phải có sự quản lý chủ động tích cực của con người đối với cả việc tạo ra tri thức khoa học và công nghệ lẫn tác động ngược trở lại của khoa học công nghệ Mỗi chính sách nói chung và chính sách khoa học công nghệ nói riêng của các quốc gia, tổ chức đều có hệ thống các tư tưởng về khoa học công nghệ nền tảng, tường minh hoặc ngầm ẩn cho chính sách và quản lý Để quản lý khoa học một cách hiệu quả và khoa học, bản thân các dữ liệu về chính sách khoa học phải chính xác, khách quan, điều này chỉ có thể có được khi có một bộ môn khoa học độc lập nghiên cứu về chính sách khoa học, chứ không chỉ nương tựa vào dữ liệu hay hoạt động thu thập thông tin của các cơ quan chuyên môn của các chính phủ, các tổ chức sự nghiệp Để xây dựng một khoa
học về chính sách khoa học, cần làm rõ nền tảng về khoa học luận (Khoa học
luận”, tiếng anh là “Theory of Science” hay “Science Studies”, là hệ thống lý thuyết về khoa học hoặc một bộ môn nghiên cứu về các khoa học, lấy chính khoa học làm đối tượng nghiên cứu.) mà dựa trên đó tạo ra các định hướng để
xây dựng khoa học về chính sách khoa học
Khoa học học (science studies) là một bộ môn nghiên cứu về chính khoa học, ra đời manh nha từ thời Hy Lạp cổ đại, với những bộ Công cụ Logic học của Aristotles như là phương pháp luận cho nghiên cứu khoa học Một hệ tư tưởng của một nhà khoa học, hay một trường phái nào đó của khoa học học được gọi là khoa học luận
Trang 7Từ năm 1970 đến nay môn khoa học và công nghệ luận dần dần tiếp cận liên ngành với môn nghiên cứu chính sách khoa học công nghệ, bắc chiếc cầu
từ khoa học và công nghệ luận sang ứng dụng thực hành về chính sách và quản lý khoa học
Thomas Samuel Kuhn (T S Kuhn hay Kuhn) là một trong những nhân vật bước ngoặt của ngành khoa học học, các tư tưởng về khoa học học của ông ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của nghiên cứu liên ngành về khoa học công nghệ và xã hội Là một nhà vật lý chuyển sang làm nhà lịch sử và triết học về khoa học [15, tr.9] , Thomas Kuhn chủ yếu được nghiên cứu dưới góc độ triết học khoa học và lịch sử khoa học hoặc xã hội học khoa học [17,
tr 6] Tuy nhiên, các nghiên cứu về ứng dụng tư tưởng về khoa học của ông trong khoa học hành động, cụ thể là khoa học chính sách lại chưa nhiều, đặc biệt là khoa học về chính sách khoa học, vốn là bộ môn cần thiết trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ
Với những phân tích và lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Ứng dụng khoa học luận của Thomas Samuel Kuhn trong khoa học về chính sách khoa học” làm luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Mặc dù Kuhn tự giới hạn mình trong các lý luận về khoa học tự nhiên, đặc biệt là các khoa học vật lý (vật lý, hóa học) [17, p 217] nhưng ảnh hưởng
tư tưởng của Kuhn (đặc biệt là với khái niệm “mẫu hình” (paradigm) của ông lên các khoa học khác là rất lớn, Barnes, B (1982) đã phân tích ảnh hưởng của Thomas Kuhn lên các khoa học xã hội ; Dando, M R và Bennett, P G (1981), đã đưa khái niệm paradigm của Kuhn vào phân tích sự khủng hoảng trong môn khoa học quản lý và nghiên cứu vận trù học (operation research)
Trang 8Trong chuyên ngành quản lý khoa học công nghệ và nghiên cứu chính sách khoa học công nghệ, có các công trình nghiên cứu sau:
- Beatriz Ruivo; ‘Phases’ or ‘paradigms’ of science policy?, Science and
Public Policy, Volume 21, Issue 3, 1 June 1994, Pages 157–
164, https://doi.org/10.1093/spp/21.3.157 trong bài báo này, Ruivo đã phân tích sự tiến hóa và chu kỳ hóa của chính sách khoa học nhiều nước khác nhau, ông nhận ra rằng bất chấp những khác biệt về quốc gia, thì có những sự tương đồng về quan điểm cốt lõi cũng như các công cụ được sử dụng Dựa vào thuật ngữ “mẫu hình” của T S Kuhn, Ruivo đưa ra thuật ngữ “mẫu hình của chính sách khoa học” để chỉ sự tương đồng đó, và cho rằng mẫu hình sinh ra từ bản chất quốc tế của hoạt động khoa học cùng với sự quốc tế hóa của chính sách khoa học mà trong đó các cơ quan liên chính phủ đóng vai trò quan trọng Tuy nhiên, có thể nói nghiên cứu của Ruivo tập trung vào phân tích hệ hình cho chính sách khoa học hơn là cho khoa học về chính sách khoa học Hơn nữa, Ruivo không tách bạch giữa “cộng đồng các nhà phân tích (nghiên cứu)
về chính sách khoa học” và “cộng đồng các nhà quản lý, hoạch định chính sách khoa học” mà gộp chúng chung vào một hệ hình quốc tế của chính sách khoa học
2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Về Thomas Kuhn đã có một số tác giả có những đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực triết học khoa học của ông như: Đỗ Khắc Linh (2016) Quan niệm
của Thomas Samuel Kuhn về cách mạng khoa học trong tác phẩm “Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học”, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Nguyễn Thái
Hòa (2017) “Tư tưởng triết học khoa học của Thomas Samuel Kuhn trong tác
phẩm “Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học””, Luận văn Thạc sĩ Triết
học, Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Có một số chuyên khảo có điểm qua khoa học luận của Kuhn như của tác giả
Trang 9Đỗ Anh Thơ, Những kiến giải về triết học khoa học cùng một số sách giáo
trình, chuyên khảo về triết học phương Tây…Các công trình trên chủ nghiên cứu khoa học luận của ông dưới giác độ triết học Theo tìm hiểu của tác giả thì chưa thấy có công trình nào vạch ra ý nghĩa ứng dụng trong triết học khoa học của ông với ngành quản lý khoa học hay nghiên cứu chính sách khoa học
Về Kuhn trong khoa học luận và trong quản lý và phân tích chính sách
khoa học có các công trình nghiên cứu: Tác giả Vũ Cao Đàm, trong Giáo
trình Khoa học luận Đại cương, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhắc đến Thomas Kuhn trong tổng thể môn học rộng lớn hơn là Khoa học và Công nghệ luận Cũng tác giả Vũ Cao Đàm
trong Tập bài giảng Lý thuyết hệ thống và cuốn sách Kỹ năng Phân tích và
Hoạch định Chính sách đã dựa vào khái niệm paradigm của Kuhn để đưa ra
khái niệm khung mẫu của chính sách gồm 4 tầng Việc khung mẫu hóa chính sách khiến cho việc nghiên cứu chính sách nói chung và chính sách khoa học nói riêng đến gần hơn khoa học chuẩn định, bởi lẽ chính sách khoa học như là đối tượng nghiên cứu của khoa học về chính sách khoa học được định dạng, định hình
Ở Việt Nam có tương đối ít công trình khoa học và sách vở đề cập đến khoa học luận của Kuhn, và theo sự tìm hiểu của tác giả, chưa có công trình nào nghiên cứu về ứng dụng khoa học luận của Kuhn trong khoa học về chính sách khoa học trong chuyên ngành quản lý khoa học công nghệ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn đưa ra những gợi ý ứng dụng khoa học luận của Kuhn vào khoa học về chính sách khoa học
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các khái niệm của khoa học học
Trang 10- Phân tích thực trạng môn khoa học học trên thế giới
- Làm rõ ý nghĩa ứng dụng của khoa học luận của Kuhn với bộ môn khoa học về chính sách khoa học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về ý nghĩa ứng dụng khoa học luận của T S Kuhn vào khoa học về chính sách khoa học
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu khoa học luận của Kuhn trong toàn bộ tiến trình tư tưởng của ông về khoa học, từ bài báo đầu tiên của ông trên tạp chí Isis cho đến bài phỏng vấn ông trước khi qua đời tại khoa triết học và lịch sử khoa học
ở Hy Lạp năm 1995 (Danh mục các công trình khoa học của Kuhn được ghi
ở phụ lục 1 của luận văn.) Từ đó, chắt lọc và nghiên cứu tập trung vào các tư tưởng khoa học luận của Kuhn có khả năng ứng dụng trong việc xây dựng
môn khoa học về chính sách khoa học
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các tác phẩm gốc của Thomas Samuel Kuhn, tác phẩm được dịch sang tiếng Việt của ông, có tham khảo thêm các tài liệu như luận văn, luận án, các bài báo khoa học và sách chuyên khảo và để phân tích, làm
rõ, hệ thống hóa nội dung tư tưởng về khoa học luận của ông; đối chiếu các khái niệm, học thuyết của Kuhn về khoa học luận và các khái niệm, học thuyết của quản lý khoa học nhằm vạch ra các mối liên hệ khả dĩ Việc phân tích các tư tưởng khoa học luận của Kuhn được đặt trong bối cảnh lịch sử kinh tế - chính trị - xã hội cùng với môi trường trí thức mà chúng ra đời nhằm nắm bắt chính xác các tư tưởng của ông về khoa học
Luận văn sử dụng các tư liệu nước ngoài và trong nước về khoa học
về chính sách khoa học để nhận biết, đánh giá thực trạng của bộ môn khoa
Trang 11học này, đối chiếu với quan điểm khoa học luận của T S Kuhn để đưa ra các đánh giá
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ mối liên hệ giữa cơ sở lý thuyết về khoa học luận của Thomas Samuel Kuhn với việc xây dựng và củng cố một khoa học
về chính sách khoa học, góp phần làm luận cứ khoa học cho các nghiên cứu
xa hơn về chủ đề này Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các lớp khoa học luận tổng quan hay tổng quan chính sách khoa học công nghệ
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo Luận văn được kết cấu thành 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận của khoa học về chính sách khoa học
Chương 2: Khoa học luận của Thomas Samuel Kuhn
Chương 3: Ứng dụng khoa học luận của Kuhn vào khoa học về chính sách khoa học
Trang 12và F Engels lưu ý tính chất quan trọng của khoa học tự nhiên và các ứng dụng kỹ thuật của nó Marx và Engels đã chỉ ra nhiều lần mối tương tác giữa các yếu tố xã hội, đặc biệt là quan hệ sản xuất và khoa học, công nghệ [21] [22] Công nghệ là yếu tố quan trọng cấu thành nên lực lượng sản xuất, sự phát triển của công nghệ dưới góc độ công cụ lao động là một nhân tố then chốt dẫn đến những biến động lớn lao của lịch sử loài người như sự thay đổi các hình thái kinh tế xã hội Công nghệ lại dựa vào khoa học tự nhiên, do vậy
sự phát triển của khoa học, hay khoa học và công nghệ có quan hệ mật thiết với sự phát triển của lịch sử nhân loại
Khoa học học lấy các khía cạnh, phương diện khác nhau của khoa học làm đối tượng nghiên cứu của mình, María Ossowska và Stanislaw Ossowski
đã chia khoa học luận theo hai cách tiếp cận: cách tiếp cận nhận thức luận và
cách tiếp cận nhân học [20, pp.72] Cách tiếp cận nhận thức luận xem khoa
Trang 13học như một một cách nhận thức thế giới, cách tiếp cận nhân học xem khoa học như một hoạt động văn hóa đặc thù trong tổng thể các hoạt động văn hóa
đa dạng của con người Tất nhiên, các tác giả này nhấn mạnh, sự phân chia theo 2 cách tiếp cận chỉ là tương đối, có những phân môn của khoa học học, chú ý đến cả khía cạnh nhân học lẫn khía cạnh nhận thức luận của khoa học như môn tâm lý học về khoa học [20, p.73]
Khách thể nghiên cứu của khoa học học chính là khoa học, đối tượng nghiên cứu của khoa học học là những phương diện xoay quanh khoa học cũng như mối liên hệ giữa khoa học và các lĩnh vực khác Phương pháp nghiên cứu khoa học học rất đa dạng tùy theo từng chuyên ngành khoa học học; khoa học học là một khoa học mang tính đa bộ môn, liên bộ môn và xuyên bộ môn
Từ năm 2015, Hakob Barseghyan của Viện nghiên cứu Lịch sử và Triết học Khoa học, Đại học Toronto đã đưa ra khái niệm về một bộ môn khoa học học mang tính mô tả về sự phát triển khoa học lấy tên là scientonomy Hakob
đã kế thừa các tư tưởng khoa học luận từ Kuhn, Lakatos, Laudan và các bậc tiền bối khoa học luận khác để đề xuất một bộ môn mới: gồm nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu quan sát về sự thay đổi các lý thuyết khoa học [28] Kể
từ đó đến nay, cộng đồng khoa học học scientonomy dần định hình bằng một cộng đồng, có tạp chí chuyên ngành, có từ điển bách khoa, có các buổi hội thảo chuyên đề và thảo luận thường niên, mở ra một triển vọng cho một môn khoa học học thực sự mang tính hệ thống
1.1.2 Các khái niệm cơ bản trong khoa học học
1.1.2.1 Khoa học
Vì khoa học là một đối tượng động, thay đổi theo thời gian nên định nghĩa về khoa học cũng thay đổi theo thời gian Ta có thể điểm qua các mốc định nghĩa của lịch sử khái niệm “khoa học”
Trang 14Aristotle quan niệm “Chỉ có cái tổng quát mới đáng gọi là khoa học” và
“Đối tượng thực sự của khoa học không phải là cái tổng quát mà là cái tất yếu, vì rằng nếu khoa học là tổng quát thì cũng chính vì tính tất yếu đã hàm chứa tính tổng quát” (trích dẫn bởi Lê Tử Thành, 2006) [5]
Bacon cũng cho rằng: “Chỉ có cái tất yếu mới là khoa học”
Fouliqué: “Khoa học là hệ thống những chân lý tổng quát hoặc hơn nữa, tất yếu về cùng một đối tượng”
Cuvillier: “Khoa học là hệ thống những nhận thức và nghiên cứu có phương pháp, nhằm mục đích khám phá ra những định luật tổng quát về các hiện tượng”
Lalande: “Khoa học là toàn thể những nhận thức và những nghiên cứu có trình độ thống nhất, tổng quát, chính xác nhờ đó có thể quy tụ các nhà khảo cứu, vượt lên trên những thành kiến cá nhân và những ước định độc đoán để chỉ ra những quan hệ khách quan có thể được chứng minh hay kiểm chứng bằng những phương pháp đúng đắn”
Hữu Ngọc và các tác giả khác định nghĩa:
“Khoa học là hệ thống tri thức gồm những quy luật về tự nhiên, xã hội
và tư duy, được tích lũy trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết Nhiệm vụ khoa học là miêu tả hiện tượng một cách chính xác và phát hiện những quy luật khách quan của các hiện tượng ngẫu nhiên để giải thích và dự kiến chúng Khoa học giúp con người ngày càng có khả năng chinh phục tự nhiên và xã hội” [5] Karl Hemper đưa ra định nghĩa: “Khoa học là một hoạt động tìm kiếm một thế giới quan ngày càng bao quát, được tổ chức có hệ thống, mang tính giải thích và dự đoán về thế giới” [11, p 73-100] Luận văn sử dụng định nghĩa này của Karl Hemper về khoa học và áp dụng nó cho định nghĩa về khoa học của chính sách khoa học
Trang 151.2.2.2 Phân loại khoa học – cây tri thức
Phân loại khoa học là phân tách khoa học như một tổng thể thành các cụm và các phạm trù khác nhau Có nhiều cách để phân loại khoa học: phân theo đối tượng nghiên cứu, phân theo phương pháp nghiên cứu, phân theo mục đích của nghiên cứu [1, tr 40-47]
Phân theo đối tượng nghiên cứu ta có khoa học tự nhiên, nghiên cứu về giới tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn nghiên cứu về con người, khoa học hình thức và tư duy nghiên cứu các đối tượng hình thức của tư duy và các đối tượng logic, toán học, mẫu hình tính toán
Phân theo cấu trúc của hệ thống tri thức ta có khoa học cơ bản và khoa học chuyên ngành Trong hệ thống tri thức của một ngành khoa học cụ thể ta
có thể có: khoa học cơ bản, khoa học cơ sở và khoa học chuyên ngành
Phân loại theo cách thức hình thành khoa học ta có thể thấy có khoa học tiên nghiệm (tiên đề): dựa trên những tiên đề hoặc hệ tiên đề, khoa học hậu nghiệm được hình thành trên cơ sở quan sát, thực nghiệm Khoa học phân lập tách ra từ một chuyên ngành lớn hơn, hoặc khoa học tổng hợp là “con lai” của hai ngành khoa học như lý hóa hay hóa sinh
Phân loại theo mục đích, chức năng của khoa học ta có thể có: khoa học mô
tả, khoa học ứng dụng, khoa học hành động Khoa học về chính sách nói chung
và khoa học về chính sách khoa học nói riêng thuộc về khoa học hành động
1.1.3 Các bộ môn và các học thuyết trong khoa học học
Có rất nhiều môn khoa học học tùy theo phương diện nghiên cứu, cách tiếp cận và đối tượng nghiên cứu, nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của khoa học như triết học về khoa học, lịch sử khoa học, xã hội học khoa học, kinh tế học khoa học, nhân chủng học khoa học, tâm lý học khoa học Các bộ môn này có thể chồng lấn, phân tách, tổng hợp và bổ trợ lẫn nhau Luận văn chỉ điểm qua bốn bộ môn khoa học học xuất hiện trong hệ tư tưởng về khoa
Trang 16học của Kuhn, đó là lịch sử khoa học, triết học về khoa học, tâm lý học về khoa học và xã hội học khoa học
1.1.3.1 Lịch sử khoa học
Lịch sử khoa học là bộ môn nghiên cứu quá trình phát triển, sự thay thế, quy luật lịch sử nếu có của cá nhân, tổ chức, và các quan niệm, lý thuyết khoa học theo thời gian, thời kỳ, thời đại Trong đó, sự phát triển và thay thế các lý thuyết khoa học là phần quan trọng nhất và khó nhất
Bộ môn lịch sử khoa học có thể coi là được thành lập bởi nhà bác học, sử gia và triết gia khoa học William Whewell (1794-1866), các tác phẩm của ông
về lịch sử khoa học nổi tiếng như History of the Inductive Sciences (1837)
và The Philosophy of the Inductive Sciences, Founded Upon Their
History (1840) trong đó ông truy nguyên các bộ môn khoa học như là đã tiến
hóa từ các bộ môn thời cổ đại và đưa ra một lý thuyết chung về sự phát triển
và thống nhất của tri thức khoa học Lịch sử khoa học ngoài việc khám phá các sự kiện và quy luật lịch sử phát triển của khoa học ra còn nghiên cứu phương pháp luận của việc chép sử khoa học Ngoài William Whewell, các ông tổ khác của bộ môn phương pháp chép sử khoa học có thể coi gồm Pierre Duhem và Alexandre Koyré
Thomas Kuhn là một bước ngoặt lớn đóng góp cả về phương pháp luận lẫn nội dung của lịch sử khoa học Các nhà lịch sử khoa học sau ông, dù có thể bất đồng hay đồng thuận, bác bỏ hay kế thừa, cũng khó có thể phủ nhận Kuhn là một nhà sử học lý thuyết lẫn thực hành lớn trong bộ môn lịch sử khoa học
Lịch sử khoa học, ngoài nhiệm vụ chung nâng cao dân trí, còn đóng góp cho môn lịch sử nói chung hay các môn lịch sử khác; khoa học là đặc trưng của loài người, nên lịch sử nhân loại gắn bó mật thiết với lịch sử khoa học Nghiên cứu lịch sử khoa học, có thể giúp nhận biết những nét chi tiết hoặc đại cương trong tiến trình phát triển tri thức của nhân loại, có thể thúc đẩy sự tăng
Trang 17trưởng tri thức, hoặc giúp khai thác tốt hơn các tri thức đã có trong kho tàng tri thức của nhân loại
1.1.3.2 Triết học về khoa học
Triết học về khoa học là một tiểu lĩnh vực của triết học nghiên cứu các nền tảng, phương pháp và ý nghĩa của khoa học Triết học khoa học nghiên cứu bản thể của tri thức khoa học (tri thức khoa học có tồn tại độc lập, khách quan với con người, xã hội không, hay tri thức là một dạng kiến tạo xã hội, hay tri thức khoa học sinh ra từ đầu óc thiên tài của cá nhân nhà khoa học?), vấn đề chân lý trong tri thức khoa học (chân lý khoa học là tương đối hay tuyệt đối, liệu có thể đạt đến chân lý tuyệt đối bằng khoa học hay không? Liệu chân lý có phải là tiêu chuẩn cao nhất để vươn tới của tri thức khoa học hay không? Bản chất của một cộng đồng khoa học là gì? Triết học khoa học cũng nghiên cứu vấn đề đạo đức học của khoa học, chẳng hạn như hệ quan điểm nào của khoa học thì đúng đắn về mặt đạo đức, những đối tượng nào không được phép nghiên cứu, những phương pháp nghiên cứu nào không đúng đắn
về mặt đạo đức? Trách nhiệm của nhà khoa học với các hệ quả sinh ra từ nghiên cứu của mình là gì? Mối quan hệ của khoa học và đạo đức là gì?
Triết học về khoa học manh như từ thời cổ đại, và vào thế kỷ 20, chủ nghĩa thực chứng logic nổi lên như một trào lưu lớn về triết học khoa học; tuy triết học này có nhiều ưu điểm nhưng cũng không ít bất cập Triết học về khoa học có một quan tâm lớn về ngôn ngữ, và do đó có sự giao nhau lớn giữa triết học ngôn ngữ và triết học khoa học
Do tầm quan trọng của ngôn ngữ và đặc biệt là ngôn ngữ chuyên ngành; đồng thời những xem xét về lịch sử cũng là một đòi hỏi thực tế trong triết học khoa học Triết học lịch sử và triết học ngôn ngữ về khoa học là những tiếp cận quan trọng của triết học khoa học Điều đó ta sẽ thấy rõ ở Kuhn
Trang 181.1.3.3 Tâm lý học khoa học
Tâm lý học khoa học nghiên cứu phương diện tâm lý của hoạt động khoa học, bao gồm hoạt động sáng tạo, hoạt động tổ chức quản lý trong khoa học Phân ngành này của tâm lý học nổi lên từ những năm 1960 với tác phẩm có ảnh hưởng của nhà tâm lý học nổi tiếng Abraham Maslow “The Psychology
of Science: A Reconnaissance” (1966), lĩnh vực này sau đó bị quên lãng và quay trở lại được chú ý vào những năm 1980 [12]
Nhà khoa học với tư cách là một con người mang những đặc điểm tâm lý của một con người và với tư cách nhà khoa học, nhà nghiên cứu, đều có thể là đối tượng của ngành tâm lý học Có thể nói, tâm lý học khoa học là sự soi chiếu, ứng dụng nói chung của tâm lý học nói chung vào khoa học, đồng thời nghiên cứu những khía cạnh tâm lý đặc thù của đời sống khoa học
Tâm lý của nhà khoa học có thể được nghiên cứu dưới góc độ cá nhân (tâm lý học cá nhân) và tập thể (tâm lý học xã hội), bởi nhà khoa học vừa là các cá nhân độc lập, đặc thù, nhưng lại làm việc trong mối liên hệ mật thiết với cộng đồng khoa học của mình
Một trong những “mảnh đất” mà khoa học về chính sách khoa học thường bỏ qua đó là việc xây dựng sự phát triển khoa học ở cấp độ nhận thức Những khảo sát vi mô này về chính sách khoa học là một lĩnh vực đang xuất hiện dưới sự hợp tác giữa các tâm lý học và các kỹ sư [9, pp 5]
Trong những chương dưới, ta có thể thấy Kuhn đã dùng các lý thuyết của môn tâm lý học hình trạng (Gestalt psychology) là tâm lý học về tri giác
để giải thích một số khía cạnh tâm lý khoa học
1.1.3.4 Xã hội học về khoa học
Xã hội học khoa học bắt nguồn từ xã hội học tri thức và dần tách ra thành một bộ môn độc lập Xã hội học khoa học manh nha từ xã hội học tri thức (trong đó có tri thức khoa học) mang lập trường duy vật của Marx-
Trang 19Engels và lập trường duy tâm của Sorokin Với Marx và Engels, sự phát triển của khoa học bị ảnh hưởng bởi cấu trúc giai cấp và quan hệ sản xuất Với Sorokin, các nền tảng tinh thần văn hóa (cultural mentalities) là đặc tính chung, thiết yếu quy định tính chất của các tổ chức, cá nhân tại một thời kỳ nhất định Cả Marx và Sorokin, dù ở lập trường duy vật hay duy tâm, cũng đều dành một tính tự trị tương đối cho các tổ chức cụ thể trong xã hội, đặc biệt là các tổ chức tri thức chuyên ngành [18, p.152]
Sự độc lập của xã hội học khoa học có thể coi được đánh dấu bởi nhà xã hội học khoa học Hoa Kỳ Robert K Merton với nghiên cứu về khoa học ở Vương quốc Anh thế kỷ 17
Xã hội học khoa học nổi lên mạnh mẽ từ cuối những năm 1960 đầu 1970
và chủ yếu ở Anh, một vài nơi khác xuất hiện sớm là Pháp, Đức và Mỹ (đặc biệt tại đại học Cornell)
Xã hội học khoa học nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa xã hội và khoa học, nó nghiên cứu các vấn đề xoay quanh mạng lưới, quyền lực và các thể chế trong khoa học [9, p.56] Xã hội học khoa học có hai loại: xã hội học
về nhà khoa học (hoặc tổ chức khoa học) và xã hội học về tri thức khoa học
Xã hội học về khoa học xem khoa học như một hoạt động xã hội, đặc biệt là
“các điều kiện xã hội ảnh hưởng đến khoa học và các quá trình cũng như cấu trúc của các hoạt động khoa học.” [7] Về cơ bản, xã hội học khoa học không
cổ súy một thứ chủ nghĩa tương đối hay là công kích các dự án khoa học mà tìm cách giải thích vì sao trong khoa học một diễn giải này lại được ưa chuộng hơn một diễn giải khác tùy theo các yếu tố xã hội
Xã hội học về tri thức khoa học nổi lên như một cách tiếp cận khác Merton (tập trung vào nhà khoa học và tổ chức khoa học) Trường phái Edinburg với David Bloor và Barry Barne đã dựa vào truyền thống nhân học văn hóa của Durkheim, Mauss; triết học ngôn ngữ của Wittgenstein hậu kỳ và
Trang 20một phần khoa học luận của Kuhn để phát triển một xã hội học có thể tính đến
cả nội dung các ý tưởng khoa học
Có nhiều trường phái và quan niệm khác nhau về xã hội học khoa học, nhưng về cơ bản chúng đều phân biệt với tâm lý học khoa học, rằng đơn vị cơ bản của phân tích chuyên ngành phải là cộng đồng khoa học cùng hệ giá trị của chúng, hơn là tâm lý học cá nhân hay tâm lý học tập thể của các nhà khoa học Điều này chúng ta sẽ thấy Kuhn chỉ ra trong các tác phẩm của mình
1.2 Khoa học về chính sách khoa học – Khoa học hành động về khoa học
1.2.1 Chính sách
Có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về chính sách Luận văn xin điểm qua một vài định nghĩa và quan niệm về “chính sách”
Theo từ điển Australian Concise Oxford Dictionary: “Chính sách là một
loại nguyên tắc hay chương trình hành động, được thực thi hay đề xuất bởi một chính phủ, một đảng phái, một doanh nghiệp hay một cá nhân.”
Richard Rose định nghĩa chính sách không phải là những hành vi rời rạc
mà là “một chuỗi dài các hoạt động ít nhiều có liên quan đến nhau”, nhấn mạnh tính xâu chuỗi, tính xuyên suốt, tính liên kết, tính thống nhất của các hành động trong chính sách [21, x]
Amitai Etzioni coi chính sách như một dạng ra quyết định tổng quát trong đó “toàn bộ tập hợp các quyết định được xem xét và hoàn cảnh ra quyết định được tính tới” [8, p 252]
James E Anderson định nghĩa: “Chính sách là quá trình hành động có mục tiêu mà một chủ thể theo đuổi để giải quyết những vấn đề mà họ quan tâm”
Chính sách được chia thành chính sách công và chính sách tư Theo tác giả Đặng Duy Thịnh, chính sách công là “những chính sách do các cơ quan
Trang 21hay các cấp chính quyền trong bộ máy nhà nước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng được gọi là chính sách công”
Hiểu một cách đơn giản, chính sách là “chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình” (TS Đặng Duy Thịnh, Tập bài giảng Tổng quan Chính sách khoa học)
1.2.2 Chính sách khoa học
Chính sách khoa học là loại chính sách trong lĩnh vực khoa học, có các đặc điểm chung của chính sách nói chung và đặc điểm riêng của lĩnh vực khoa học Có hai loại chính sách khoa học: chính sách dùng khoa học và chính sách cho khoa học (chính sách coi khoa học như phương tiện và chính sách coi khoa học như mục đích [6]
Chính sách khoa học quan tâm tới việc phân bổ các nguồn lực cho hoạt động khoa học nhằm đạt được mục tiêu phục vụ tốt nhất tới lợi ích cộng đồng Các chủ đề bao gồm: quỹ khoa học, nghề nghiệp của nhà khoa học, việc chuyển từ phát minh khoa học sang sáng chế kỹ thuật để thúc đẩy phát triển thương mại sản phẩm, cạnh tranh, sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Chính sách khoa học tập trung vào việc sản xuất tri thức và vai trò của mạng lưới tri thức, hợp tác và sự phân bố phức tạp của chuyên gia, các thiết bị và tri thức thực hành Hiểu những quá trình và bối cảnh tổ chức của của việc sản sinh ra những ý tưởng khoa học và kỹ thuật mới là quan tâm cốt lõi của chính sách khoa học Các chủ đề của chính sách khoa học còn gồm phát triển vũ khí, chăm sóc sức khỏe và quản lý môi trường Nói ngắn gọn, “chính sách khoa học là một nỗ lực thay đổi các quỹ đạo, công việc và nội dung của hệ thống
xã hội của khoa học với một đòn bẩy tương đối yếu của việc kiểm soát các phương diện thể chế của khoa học” [9, p 57]
Trang 22Chính sách khoa học do vậy có làm việc với toàn bộ các vấn đề có liên quan đến khoa học Một mạng lưới lớn và phức tạp các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển khoa học và kỹ thuật bao gồm các nhà hoạch định chính sách khoa học chính phủ, các hãng tư nhân (gồm cả các hãng quốc gia và đa quốc gia), các phong trào xã hội, truyền thông, các tổ chức phi chính phủ, các trường đại học và các tổ chức nghiên cứu khác nhau Thêm nữa, chính sách khoa học ngày càng mang tính quốc tế xác định bởi hoạt động toàn cầu của các hãng
và các cơ quan nghiên cứu cũng như bởi mạng lưới hợp tác của các tổ chức phi chính phủ, và cũng chính bởi bản chất của chính nghiên cứu khoa học
Tác giả Đặng Duy Thịnh, chính sách khoa học “là việc sử dụng công cụ, biện pháp dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật /thể chế hóa) của chủ thể quản
lý tác động lên khách thể quản lý/đối tượng quản lý (các cá nhân các nhà khoa học, nhóm các nhà khoa học, tổ chức khoa học và công nghệ) để đạt được mục tiêu của chính sách khoa học và công nghệ đề ra” Nếu đặt chính sách tư về khoa học công nghệ sang một bên, thì chính sách khoa học là chính sách công trong lĩnh vực khoa học và công nghệ… nó có các đặc thù của chính sách công nói chung, sau là thêm những đặc thù do khoa học và công nghệ mang lại… chính sách bao gồm cả chiến lược, kế hoạch khoa học công nghệ”
UNESCO định nghĩa: “Chính sách khoa học và công nghệ là một tập hợp các biện pháp lập pháp và hành pháp được thực hiện nhằm nâng cao, tổ chức, sử dụng tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia để đạt được mục tiêu quốc gia đề ra (trong và ngoài hệ thống khoa học và công nghệ)
Trong luận văn này, chúng tôi dùng thuật ngữ “chính sách khoa học” với ngoại diên bao gồm cả chính sách công và chính sách tư về khoa học công nghệ (bởi các tập đoàn đa quốc gia, thành phần kinh tế tư nhân ngày càng có vai trò lớn trong hoạt động khoa học công nghệ) Định nghĩa sau của Trung Quốc là gần nhất với quan niệm gộp như vậy:
Trang 23Trung Quốc định nghĩa chính sách khoa học và công nghệ “là những phương châm, điều lệ quy định Đó là những nguyên tắc và quy tắc do một Nhà nước, một ngành, một cơ sở (viện, trường, doanh nghiệp) trong một thời kỳ nhất định và với một mục tiêu chiến lược nhất định đặt ra nhằm phát triển khoa học
và công nghệ.” [8]
1.2.3 Khoa học về chính sách khoa học
1.2.3.1 Định nghĩa khoa học về chính sách khoa học
Khoa học về chính sách khoa học (Science of Science Policy – viết tắt SoSP) là một lĩnh vực nghiên cứu mới nhằm phát triển các mẫu hình lý thuyết
và thực nghiệm trong tổ chức khoa học Cơ sở khoa học của nó có thể được
sử dụng để giúp các chính phủ nói riêng và xã hội nói chung đưa ra các quyết định quản lý về nghiên cứu phát triển tốt hơn bằng việc thiết lập một nền tảng định lượng chặt chẽ khoa học mà từ đó các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu có thể đánh giá những tác động của hoạt động, tổ chức khoa học và kỹ thuật của quốc gia Ví dụ về nghiên cứu trong khoa học về chính sách khoa học bao gồm các mẫu hình để hiểu phương thức sản xuất khoa học một cách định tính, định lượng và bằng phương pháp tính toán để đo lường tác động của khoa học, và các quá trình lựa chọn các mẫu hình hoạt động khoa học khác
Khoa học về chính sách khoa học có bản chất liên ngành, tổng hợp Các câu hỏi nghiên cứu đa dạng của khoa học về chính sách khoa học thể hiện bản chất này: Đâu là yếu tố chủ chốt trong sáng tạo và đổi mới trong khoa học và công nghệ và làm thế nào để chúng có thể được định nghĩa để phục vụ cho một cách tiếp cận thực sự khoa học tới chính sách? Làm thế nào để lượng hóa
và mẫu hình hóa các lực lượng kỹ thuật? Toàn cầu hóa tác động như thế nào đến sáng tạo và năng suất trong khoa học và kỹ thuật? Đâu là vai trò tối ưu của chính phủ và tư nhân trong việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển và
Trang 24những khác biệt trong đầu ra sản phẩm của họ ảnh hưởng đến các hoạt động nghiên cứu, phát triển và đổi mới như thế nào? Có thể nói, rất nhiều các khoa học khác đóng góp cho sự phát triển của khoa học về chính sách khoa học như kinh tế học, chính trị học, tâm lý học, xã hội học…
Sử dụng định nghĩa của Karl Hemper, ta có thể coi khoa học về chính sách khoa học là một hoạt động tìm kiếm một thế giới quan/hệ thống lý thuyết ngày càng bao quát, được tổ chức có hệ thống, mang tính giải thích và dự đoán về các chính sách khoa học Khoa học về chính sách khoa học là một hoạt động nghiên cứu chuẩn định, có hệ phương pháp, có các giá trị, có hệ khái niệm nền tảng, có một cộng đồng chuyên môn được tổ chức chặt chẽ và tương tác với nhau để gia tăng tri thức về chính sách khoa học
1.2.3.2 Lược sử ra đời của khoa học về chính sách khoa học
Các nghiên cứu về chính sách khoa học xuất phát từ thực tiễn, các nước phát triển với nhu cầu hoạch định và thực thi chính sách, thường có cơ quan nghiên cứu và cố vấn về chính sách khoa học Việc đưa ra các chính sách khoa học đòi hỏi phải phân tích, nghiên cứu kỹ lưỡng các vấn đề của chính sách Từ nhu cầu thực tiễn đó, khoa học về chính sách khoa học ra đời, và dần dần hướng tới cả những nghiên cứu mang tính lý thuyết và cơ bản
Năm 1951, tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman thiết lập Ủy ban Cố vấn Khoa học (Science Advisory Committee - SAC) như là một phần của Cơ quan Vận động Quốc Phòng (Office of Defence Mobillization - ODM) với chức năng tư vấn cho tổng thống về những vấn đề khoa học nói chung, hay những vấn đề khoa học trong quân sự nói riêng Vào năm 1957 khi Liên Xô phóng các vệ tinh Sputnik 1 và 2, tổng thống đương nhiệm lúc đó là Dwight Eisenhower đã nâng cấp SAC thành Ủy ban Cố vấn Khoa học của Tổng Thống (President’s Science Advisory Committee – PSAC) và di chuyển trụ
Trang 25sở tới Nhà Trắng và lần đầu tiên bổ nhiệm chức vụ cố vấn khoa học toàn thời gian
Năm 1961, tổng thống John Kennedy đổi tên PSAC thành Văn phòng Khoa học và Công nghệ (Office of Science and Technology Policy - OST) Năm 1976, Nghị viện Hoa Kỳ đưa ra nghị quyết thành lập Cơ quan Chính sách Khoa học và Công nghệ (Office of Science and Technology Policy – OSTP) với thẩm quyền rộng lớn trong việc cố vấn cho tổng thống và các cơ quan trong nhánh hành pháp về các vấn đề khoa học công nghệ trong nước hay quốc tế
Năm 2006, Giám đốc của OSTP là John H Marburger đã đưa ra một đề xuất về một “khoa học về chính sách khoa học” mới, Tiểu ban Khoa học Kinh
tế, Hành vi và Xã hội thuộc Hội đồng Khoa học và Công nghệ Quốc Gia Hoa
Kỳ đã thiết lập một nhóm tác nghiệp liên cơ quan (Interagency Task Group –ICG) cho “khoa học về chính sách khoa học” [9, p.131]
Năm 2008, ITG xuất bản “Khoa học về chính sách khoa học: Bản đồ lộ trình nghiên cứu liên bang” (The Science of Science Policy: A Federal Research Roadmap)
Các cơ quan phi chính phủ cũng được thành lập và có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến chính sách khoa học quốc gia và quốc tế Các cơ quan nghiên cứu về chính sách khoa học có thể là dạng một trí năng đoàn (think tank) hay một đơn vị nghiên cứu (reseach unit) trong một trường đại học, viện nghiên cứu Chẳng hạn, Đại học University of Sussex ở Vương quốc Anh có Đơn vị Nghiên cứu Chính sách Khoa học đặt ở Falmer gần Brighton
1.2.3.3 Thực trạng hiện nay của ngành khoa học về chính sách khoa học
So với các ngành khác trong cùng ngành khoa học chính sách, khoa học
về chính sách khoa học là môn ra đời muộn hơn và có nhiều đặc thù phức tạp
Trang 26Thứ nhất, khoa học chính sách nói chung và khoa học về chính sách khoa học nói riêng bị ảnh hưởng nhiều bởi chính trị Harvey Sapolsky và Mark Zachary Taylor chỉ ra rằng “chính trị là trở ngại chính trong việc phát triển và ứng dụng của khoa học về chính sách khoa học” [9, p.31] Sự ủng hộ tăng trưởng khoa học của chính phủ hầu hết là cho các sứ mệnh đặc thù như quốc phòng hay sức khỏe – là chính trị của những sứ mệnh này cùng nhiều mục tiêu mang tính bối cảnh khác quyết định tỷ lệ và định hướng của việc nghiên cứu và đầu tư cho nghiên cứu Ngoài ra, việc đổi mới dẫn đến ảnh hưởng các nhóm lợi ích khác nhau, mà chính phủ không bao giờ là người quan sát trung gian giữa các nhóm lợi ích, mà bị thuyết phục, theo đuổi bởi các nhóm lợi ích khác nhau Trong trường hợp này, các nghiên cứu về chính sách khoa học thường bỏ qua các khía cạnh chính trị mà chỉ tập trung vào các yếu tố tối đa hóa kết quả chính sách [9, p.33]
Hai là, so với các nghiên cứu về chính sách khác như sức khỏe, lao động
và giáo dục thì những lĩnh vực kể trên có lượng dữ liệu dồi dào, có những phân tích chất lượng cao và thực hiện các mẫu hình máy tính còn các phân tích về chính sách khoa học không có được những lợi thế như vậy [9, p.1] Các thông tin được lấy ra từ hệ thống hành chính phải được tổ chức lại, các thông tin về đầu vào và đầu ra của chính sách khoa học cần được thu thập sâu hơn và rộng hơn, đặc biệt là từ phía lực lượng khoa học do đặc thù của thông tin thu thập vì mục đích hành chính là chúng mang tính định hướng chương trình, chứ không phải những phân tích thường nghiệm Việc phân tích chính sách khoa học thường dựa vào các mẫu hình phân tích kinh tế
“đầu vào - đầu ra” của dòng chi phí Theo Julia Lane, cách tiếp cận này đã đánh đồng tác động của khoa học với tác động của việc xây sân vận động thể thao hay sân bay
Trang 27Một trong những khác biệt khó khăn hơn nữa về nghiên cứu chính sách khoa học, đó là làm thế nào để mô tả các hoạt động khoa học nói chung và sự tăng trưởng khoa học nói riêng [9, p.183] Như luận văn sẽ chỉ ra, khái niệm
“tiến bộ khoa học” ở các thời kỳ lịch sử khác nhau là khác nhau
Ngành khoa học về chính sách khoa học đã được thể chế hóa bằng các tổ chức hiệp hội và tập san chuyên ngành cùng các chương trình đào tạo Luận văn xem xét điểm qua các khía cạnh này:
Các tổ chức nghiên cứu về chính sách khoa học
Hiện nay đã có nhiều tổ chức quốc tế, quốc gia nghiên cứu về chính sách khoa học Hiệp hội Nghiên cứu Xã hội về Khoa học (Society for Social Studies of Science – 4S), Hiệp hội nghiên cứu về khoa học và công nghệ Châu Âu (European Association for the Study of Science and Technology –EASST) Hiệp hội liên trường đại học Châu Âu về Xã hội, Khoa học và Công nghệ (European Inter-University Association on Society, Science and Technology - ESST) Japanese Society for Science and Technology Studies (JSSTS) được thành lập năm 2001; The Asia Pacific Science Technology & Society Network (APSTSN) có các thành viên chủ yếu đến từ Australasia, Southeast and East Asia and Oceania
Hiện nay đã có hơn 100 chương trình về khoa học luận trên thế giới trong đó có nghiên cứu về chính sách khoa học Tuy nhiên khoa học về chính sách khoa học vẫn còn được lồng trong các ngành khoa học và công nghệ luận khác như một tiểu phân ngành
Khoa học về chính sách khoa học cần được phân định rõ hơn về ranh giới ngành so với các ngành khoa học luận khác, ranh giới về tổ chức cũng như ranh giới về hệ thống lý thuyết
Trang 28Do vậy, các tạp chí nghiên cứu về chính sách khoa học có bản chất hỗn dung nhiều ngành khoa học luận Có một số tạp chí khá tập trung về khoa học luận như: Science and Public Policy, Research Policy nhưng tựu trung các nghiên cứu về chính sách khoa học vẫn còn rời rạc không thống nhất
Tiểu kết chương
Khoa học và lý luận về chính khoa học có thể coi là ra đời manh nha từ thời cổ đại với phương pháp nghiên cứu tự nhiên, nhưng phải đến đây không lâu, nhu cầu hiểu và quản lý các hoạt động khoa học mới tăng cao rõ rệt, đặc biệt từ sau thế chiến thứ hai ở Mỹ và Tây Âu do đặc thù của thời đại Khoa học về chính sách khoa học, do đó đã ra đời như một hệ luận khách quan, dựa vào và cùng với sự ra đời và phát triển của một loạt các bộ môn khoa học luận
lý thuyết như lịch sử khoa học, triết học khoa học, tâm lý học khoa học và xã hội học khoa học Tuy vậy, khoa học về chính sách khoa học vẫn còn là một
bộ môn non trẻ cần được thiết lập nền tảng vững chắc và củng cố cả về mặt thể chế lẫn lý thuyết
Trang 29Chương 2 KHOA HỌC LUẬN CỦA THOMAS SAMUEL KUHN
Khi nói đến khoa học luận của Kuhn, tác giả dùng nó với nghĩa những tư tưởng và lý thuyết của Kuhn về khoa học Những tư tưởng này ra đời và phát triển trong một bối cảnh lịch sử đặc thù vừa mang tính cá nhân vừa mang tính
xã hội Chúng ta hãy xem xét một số bối cảnh chung của lịch sử và khoa học, những ảnh hưởng thời đại và cá nhân lên tư tưởng của Kuhn và làm rõ nội dung những tư tưởng đó
2.1 Bối cảnh ra đời các tư tưởng khoa học luận của Thomas Kuhn
2.1.1 Bối cảnh kinh tế xã hội Hoa Kỳ và thế giới
Thế kỷ 20 là một thế kỷ có nhiều biến cố lớn, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, sự xung đột giữa các hệ thống kinh tế, chính trị, tôn giáo Trái Đất phân chia thành các chiến tuyến hoặc khu vực, mỗi nơi có một mẫu hình riêng
về kinh tế, chính trị, văn hóa Các giá trị khác biệt, khi không có nền tảng chung và không có sự khoan dung, dễ bùng lên xung đột, bạo loạn, cách mạng
và chiến tranh, ở nhiều quy mô khác nhau; nguyên nhân nằm trong tính bất khả so sánh và bất khả ước giữa các mẫu hình và giá trị Thế kỷ 20 nở rộ nhiều hệ tư tưởng, nhiều cuộc cách mạng Có thể nói thế kỷ 20 là thế kỷ của
hệ tư tưởng và của cách mạng
Hoa Kỳ có điều kiện khá thuận lợi về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên Được ngăn cách với Châu Âu và Châu Á bởi hai đại dương rộng lớn, Hoa Kỳ tránh được các cuộc xung đột, chiến tranh lớn và tập trung phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật công nghệ hơn nhiều nước khác
Trong thế kỷ 20, hai siêu cường Hoa Kỳ và Liên Xô cạnh tranh với nhau sau khi chủ nghĩa phát xít bị đánh bại và sụp đổ, trong đó cạnh tranh về khoa học và công nghệ là một trong những lãnh địa quan trọng Nhận thấy vai trò ngày càng quan trọng của khoa học và công nghệ, cả Hoa Kỳ và Liên Xô đều
Trang 30chú ý chiêu mộ, khai thác và tận dụng nhân tài Khi Đức Quốc Xã bị đánh bại, Hoa Kỳ và Liên Xô đều dùng các chiến lược chiêu mộ các nhà khoa học, kỹ
sư của chế độ cũ Nhìn chung Hoa Kỳ là quốc gia tận dụng được các nhà khoa học và kỹ sư hơn; góp phần giúp họ dành lợi thế trong khoa học công nghệ cả
ở lĩnh vực dân sự và lĩnh vực quân sự [30]
Các quốc gia dần dần phát hiện ra tầm quan trọng của khoa học công nghệ, và chú trọng xây dựng chính sách và khoa học công nghệ Nhu cầu xây dựng chính sách hợp lý dẫn đến đòi phân tích chính sách và các phương cách
đo lường các thông số liên quan đến các hoạt động khoa học và công nghệ
Từ đó, các bộ môn khoa học luận (cả và lý thuyết lẫn thực hành) dần hình thành trong thế kỷ 20 như là những bộ môn độc lập ở các nước phát triển
2.1.2 Bối cảnh khoa học; các lý thuyết, quan niệm về khoa học ở Hoa Kỳ
và trên thế giới
Kuhn sống trọn trong thế kỷ XX, là một thế kỷ nhân loại có nhiều thành tựu, bước ngoặt, dấu mốc vĩ đại trong khoa học Có thể nói không quá rằng, song song và đan dệt với các cuộc cách mạng chính trị và tư tưởng thế kỷ 20
là thế kỷ của khoa học Dựa trên những tiền đề phát triển về khoa học kỹ thuật từ thế kỷ 19, khoa học thế kỷ 20 có nhiều khám phá đột phá dẫn đến những thay đổi căn bản trong quan niệm của con người về thế giới
Sự phát triển của vật lý học hậu Newton như lý thuyết tương đối rộng và hẹp, cơ học lượng tử đã dẫn tới sự phát triển của các vũ khí hạt nhân Những mẫu hình mới về cấu trúc nguyên tử dẫn đến các lý thuyết mới về hóa học và tạo ra các vật liệu mới như nhựa và nylon Sự phát triển của sinh học dẫn tới tăng sản lượng thực phẩm và xóa bỏ một số bệnh tật Có thể điểm qua một số thành tựu lớn của khoa học thế kỷ 20:
1905 - Albert Einstein: lý thuyết tương đối hẹp, giải thích về chuyển động Brown và hiệu ứng quang điện
Trang 311906 - Walther Nernst: Định luật thứ ba của nhiệt động lực học
1907 - Alfred Bertheim: Arsphenamine, tác nhân hóa trị liệu hiện đại đầu tiên
1909 - Fritz Haber: Quy trình sản xuất amoniac công nghiệp
1909 - Robert Andrews Millikan: tiến hành thí nghiệm giọt dầu và xác định điện tích trên một electron
1910 - Williamina Fleming: sao lùn trắng đầu tiên, 40 Eridani B
1911 - Ernest Rutherford: Hạt nhân nguyên tử
1911 - Heike Kam Muffh Onnes: Siêu dẫn
1912 - Alfred Wegener: Lý thuyết trôi dạt lục địa
1912 - Max von Laue: nhiễu xạ tia X
1912 - Vesto Slodes: dịch chuyển đỏ thiên hà
1912 - Henrietta Swan Leavitt: Mối quan hệ độ sáng của thời kỳ biến đổi Cepheid
1913 - Henry Moseley: số nguyên tử xác định
1913 - Niels Bohr: Mẫu hình nguyên tử
1915 - Albert Einstein: lý thuyết tương đối rộng
1915 - Karl Schwarzschild: khám phá bán kính Schwarzschild dẫn đến việc xác định các lỗ đen
1918 - Emmy Noether: Định lý của Noether - điều kiện theo đó các luật bảo toàn có hiệu lực
1920 - Arthur Eddington: tổng hợp hạt nhân trong lõi sao
1922 - Frederick Banting, Charles Best, James Collip, John Macleod: cô lập và sản xuất insulin để kiểm soát bệnh tiểu đường
1924 - Wolfgang Pauli: nguyên tắc loại trừ lượng tử Pauli
1924 - Edwin Hubble: khám phá rằng Dải Ngân hà chỉ là một trong nhiều thiên hà
Trang 321925 - Erwin Schrödinger: Phương trình Schrödinger (Cơ học lượng tử)
1925 - Cecilia Payne-Gaposchkin: Khám phá thành phần của Mặt trời và Hydrogen là nguyên tố phong phú nhất trong Vũ trụ
1927 - Werner Heisenberg: Nguyên lý bất định (Cơ học lượng tử)
1927 - Georges Lemaître: Lý thuyết về Vụ nổ lớn
1928 - Paul Dirac: Phương trình Dirac (Cơ học lượng tử)
1929 - Edwin Hubble: Định luật vũ trụ giãn nở của Hubble
1929 - Alexander Fleming: Penicillin, loại kháng sinh beta-lactam đầu tiên
1929 - Quan hệ đối ứng của Lars Onsuber, một định luật nhiệt động thứ
tư tiềm năng
1930 - Subrahmanyan Chandrasekhar phát hiện ra giới hạn về khối lượng tối đa của một ngôi sao lùn trắng
1931 - Kurt Gödel: các định lý không hoàn chỉnh chứng minh các hệ tiên
đề hình thức là không hoàn chỉnh
1932 - James Chadwick: Khám phá ra Neutron
1932 - Karl Guthe Jansky phát hiện ra nguồn phát sóng radio thiên văn đầu tiên, Sagittarius A
1932 - Ernest Walton và John Cockcroft: Phân hạch hạt nhân bằng bắn phá proton
1934 - Enrico Fermi: Phân hạch hạt nhân bằng chiếu xạ neutron
1934 - Clive McCay: Hạn chế calo giúp kéo dài tuổi thọ tối đa của một loài khác
1938 - Otto Hahn, Lise Meitner và Fritz Strassmann: Sự phân hạch hạt nhân của hạt nhân nặng
1938 - Isidor Rabi: Cộng hưởng từ hạt nhân
Trang 331943 - Oswald Avery chứng minh rằng DNA là vật liệu di truyền của nhiễm sắc thể
Năm 1945 - Howard Florey Sản xuất penicillin hàng loạt
1947 - William Shockley, John Bardeen và Walter Brattain sáng chế ra bóng bán dẫn đầu tiên
1948 - Claude Elwood Shannon: 'Một lý thuyết toán học về giao tiếp' một bài báo quan trọng trong lý thuyết Thông tin
1948 - Richard Feynman, Julian Schwinger, Sin-Itiro Tomonaga và Freeman Dyson: Điện động lực học lượng tử
1951 - George Otto Gey sản xuất dòng tế bào ung thư đầu tiên, HeLa
1952 - Jonas Salk: phát triển và thử nghiệm vắc-xin bại liệt đầu tiên
1952 - Frederick Sanger: đã chứng minh rằng protein là chuỗi các axit amin
1953 - James Watson, Francis Crick, Maurice Wilkins và Rosalind Franklin: cấu trúc xoắn ốc của DNA, cơ sở cho sinh học phân tử
1962 - Riccardo Giacconi và nhóm của ông khám phá ra nguồn tia X vũ trụ đầu tiên, Scorpius X-1
1963 - Lawrence Morley, Fred Vine và Drumond Matthews: Các dải từ trường cổ trong lớp vỏ đại dương là bằng chứng của kiến tạo mảng (giả thuyết Vine-Matthews-Morley)
1964 - Murray Gell-Mann và George Zweig: định nghĩa các quark dẫn đến mô hình chuẩn
1964 - Arno Penzias và Robert Woodrow Wilson: phát hiện CMBR cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho Vụ nổ lớn
1965 - Leonard Hayflick: các tế bào bình thường chỉ phân chia một số lần nhất định: giới hạn Hayflick
1967 - Jocelyn Bell Burnell và Antony Hewish khám phá ra pulsar đầu tiên
Trang 341967 - Các vệ tinh phát hiện thử nghiệm hạt nhân Vela phát hiện vụ nổ tia gamma đầu tiên
1971 - Đặt các tế bào định vị trong não được phát hiện bởi John O'Keefe
1974 - Russell Alan Hulse và Joseph Hooton Taylor, Jr khám phá bằng chứng gián tiếp cho bức xạ sóng hấp dẫn trong nhị phân Hulse - Taylor
1977 - Frederick Sanger sắp xếp bộ gen DNA đầu tiên của một sinh vật bằng cách sử dụng trình tự Sanger
1980 - Klaus von Klitzing đã phát hiện ra Hiệu ứng Hội trường Lượng tử
1982 - Donald C Backer và cộng sự khám phá Pulsa mili-giây đầu tiên
1983 - Kary Mullis phát minh ra phản ứng chuỗi polymerase, một khám phá quan trọng trong sinh học phân tử
1986 - Karl Müller và Johannes Bednorz: Khám phá tính siêu dẫn nhiệt
1994 - Andrew Wiles chứng minh Định lý cuối cùng của Fermat
1995 – Michel Mayor và Didier Queloz dứt khoát quan sát hành tinh ngoài hệ mặt trời đầu tiên xung quanh một ngôi sao theo trình tự chính
1995 - Eric Cornell, Carl Wieman và Wolfgang Ketterle đạt được ngưng
tụ Bose-Einstein đầu tiên bằng khí nguyên tử, nên được gọi là trạng thái vật chất thứ năm ở nhiệt độ cực thấp
1996 - Viện Roslin: Cừu Dolly được nhân bản
1997 - Các thí nghiệm CDF và DØ tại Fermilab: Top quark
Trang 351998 - Dự án Vũ trụ Siêu tân tinh và Nhóm Tìm kiếm Siêu tân tinh High-Z: khám phá sự giãn nở có gia tốc của Vũ trụ / Năng lượng tối
2000 - Tau neutrino được phát hiện bởi sự hợp tác của DONUT
Có thể nói, nhiều thành tựu khoa học đột phá, căn bản đã nảy sinh ra nhu cầu nghiên cứu về những khía cạnh khác nhau của khoa học, cả về lý thuyết lẫn thực hành Mặc khác, sự tương tác giữa khoa học và các nhân tố còn lại của xã hội ngày càng rõ rệt, đòi hỏi có những khám phá và tổng kết trong lý luận
về khoa học Các phát kiến khoa học ra đời cũng đặt ra sự đối sánh với các thời
kỳ trước, thúc đẩy việc nghiên cứu lịch sử khoa học Khoa học luận của Thomas Kuhn ra đời trong bối cảnh sôi động về thời sự khoa học như vậy
2.1.3 Tiểu sử khoa học của Thomas Kuhn
Thomas Kuhn sinh ra trong một gia đình mà bên nội có truyền thống học tại các trường có uy tín, cha Kuhn là một kỹ sư, thạc sĩ tại đại học Harvard và Viện Công nghệ Massachuset Kuhn tốt nghiệp cử nhân, thạc sĩ rồi làm luận
án tiến sĩ về vật lý lý thuyết tại Khoa Vật lý, Đại học Harvard Mẹ ông là một người trí thức, làm công việc biên tập sách Chính mẹ ông đã căn dặn ông rằng khác với việc nói, phải rất cẩn thận khi viết Ngay từ nhỏ Kuhn đã viết các bài luận dài hơn 20 trang, ông nói rằng điều đó đã giúp đỡ ông nhiều sau này Kuhn kể rằng ông cũng có một người chú đam mê triết học Spinoza và Kuhn cũng có những câu hỏi triết học về khoa học đã ấp ủ từ trước khi chính thức nghiên cứu lịch sử và triết học khoa học [17, p 255-263]
Kuhn học đại học, thạc sĩ rồi tiến sĩ tại đại học Harvard, sự đào tạo bài bản về vật lý học giúp ông có cái nhìn bên trong của một nhà khoa học có chuyên môn với lịch sử khoa học Tại đại học Harvard, Kuhn làm quen với hiệu trưởng đại học Harvard, nhà hóa học James B Conant (sau là đại sứ Mỹ tại Tây Đức), người có tư tưởng phổ biến khoa học và bảo vệ lý tưởng tự trị của khoa học trước các ảnh hưởng xã hội Chính Conant là người đã ảnh
Trang 36hưởng đến tư duy lịch sử của Kuhn về giá trị của nghiên cứu lịch sử khoa học
và dìu dắt ông đến với bộ môn lịch sử khoa học
Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ vật lý, Kuhn xin hiệu trưởng James B Conant học bổng của Hiệp hội Nghiên cứu sinh Harvard Tại nơi đây, ông tập trung nghiên cứu lịch sử khoa học Ông đọc các tác phẩm về triết học và lịch sử khoa học của Alexandre Koyre, biết đến lịch sử khoa học theo trường phái Sarton nhưng ông buồn chán và không thỏa mãn với quan niệm lịch sử khoa học của Sarton Ông giảng dạy chuỗi bài giảng Lowell phổ biến khoa học tự nhiên cho các sinh viên ngành nhân văn và viết cuốn sách đầu tay “Cuộc cách mạng Copernicus” sau một thời gian cộng tác với nhà sử học khoa học Leonard K Nash Ông được tiếp xúc với các tác phẩm triết học của Quine, triết học của Quine về phân tích và tổng hợp đã giúp Kuhn hình thành sự xóa
bỏ giữa “bối cảnh khám phá” và “bối cảnh chứng minh” trong lịch sử khoa học Kuhn cũng được tiếp xúc với các tư tưởng tâm lý học hình trạng (Gestalt psychology) về tính toàn thể của tri giác, khiến ông có những liên tưởng sâu sắc tới sự thay đổi thế giới quan của nhà khoa học sau cách mạng khoa học Kuhn dạy đại học Berkerley, và tiếp xúc với các triết gia Stanley Cavell
và Paul Feyarabend, tại đây ông được thảo luận với Feyarabend về tính bất khả ước, được giới thiệu cho các vấn đề về triết học ngôn ngữ của Wittgenstein Dần dần ngoài quan niệm về tiến trình lịch sử của khoa học, ông cũng hình thành rõ ràng hơn về triết học khoa học của chính mình Sau đại học Berkerley, Kuhn chuyển sang dạy đại học Princeton (1964) và giữ ghế giáo sư M Taylor Pyne về triết học và lịch sử khoa học Vào năm đó, Kuhn tham dự hội nghị Triết học khoa học tổ chức tại Cao đẳng Bedford, London
mà một trong các mục đích chính là tranh luận về quan điểm của Kuhn và Karl Popper về khoa học Hội nghị có sự tham gia của nhiều nhà triết học khoa học quan trọng như Karl Popper, Paul Feyarabend, Imre Lakatos, John