1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

26 688 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Sở Lí Luận Về Cạnh Tranh Và Nâng Cao Khả Năng Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
Người hướng dẫn P. TS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 35,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm và chức năng thị trường: a khái niệm: Thị trường là nơi trao đổi hàng hoá được sản xuất ra và hình thành trongquá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá cùng với mọi quan hệ kinh

Trang 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

I THỊ TRƯỜNG VÀ CÁC QUY LUẬT KINH TẾ:

1 Khái niệm và chức năng thị trường:

a) khái niệm:

Thị trường là nơi trao đổi hàng hoá được sản xuất ra và hình thành trongquá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá cùng với mọi quan hệ kinh tế giữa ngườivới người, liên kết với nhau thông qua trao đổi hàng hoá, thông qua đó để xác địnhgiá cả và mức sản lượng hàng hoá cần tiêu thụ

Thị trường đó là nơi địa điểm diễn ra sự trao đổi mua bán, thị trường có thể

là chợ, của hàng, sở giao dịch mà ở đó có sự cạnh tranh của các chủ thể kinh tế Đó

là cạnh tranh giữa người mua, người bán sản xuất và tiêu dùng hàng hoá với nhau

để xác định khối lượng hàng hoá tiêu thụ cơ chế thị trường là guồng máy hoạt độngtheo nên kinh tế thị trường thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo yêu cầu của cơ chếkhách quan điều tiết quá trình lưu thông hàng hoá theo quy luật thị trường

Do đó cơ chế thị trường điều tiết nền kinh tế để làm nền sản xuất cân đốigiữa cung và cầu cân bằng giá cả, giá trị giữa sản xuất và lưu thông một cách tĩnhtại để giải quyết vấn đề cơ bản của nền sản xuất hàng hoá đó là sản xuất cái gì, sảnxuất như thế nào, sản xuất cho ai

b) Chức năng của thị trường:

Thị trường là nơi thừa nhận công dụng xã hội của các sản phẩm của hànghoá chỉ có quan hệ thị trường mới biết và chấp nhận hàng hoá Trên thị trường

Trang 2

người sản xuất, người tiêu thụ hàng hoá, mua nguyên vật liệu để sản xuất và ngườilao động mua về sinh hoạt để tái sản xuất sức lao động.

Thị trường còn là đòn bẩy kích thích sản xuất và tiêu dùng, đảm bảo sảnxuất luôn luôn phù hợp với nhu cầu tiêu dùng vì khi sản xuất mang ra thị trường,người sản xuất bán được hàng rồi tiếp tục sản xuất dẫn đến sản xuất phát triển

Thị trường kích thích làm giảm chi phí sản xuất

Thị trường còn là nơi cung cấp thông tin cực kì quan trọng giúp cho ngườisản xuất để sản xuất phù hợp với nhu cầu của thị hiếu của sản xuất

2 Các quy luật của thị trường:

a) Quy luật cạnh tranh:

Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh về mặt kinh tế giữa những người sảnxuất và tiêu thụ hàng hoá nhằm giành giật những điều thuận lợi trong sản xuất vàtiêu thụ hàng hoá để thu được nhiều lợi ích cao nhất cho mình

Cạnh tranh là quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá, nó không phụ thuộcvào ý muốn chủ quan của con người

Vai trò của quy luật cạnh tranh: Vì nó có chức năng tích cực, nó buộcngười sản xuất thường xuyên cải tiến kỹ thuật sản xuất, ứng dụng khoa học côngnghệ vào sản xuất, áp dụng phương pháp quản lí kinh tế có hiệu quả, phải thườngxuyên thực hành tiết kiệm và nâng cao trình độ kỹ thuật cho người lao động để haophí cá biệt luôn nhỏ hơn bằng hao phí xã hội Cạnh tranh nó bình tuyển tiến bộ,đào thải lạc hậu để thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển Tuy nhiên quy luậtcạnh tranh còn gây ra sự phân hoá người sản xuất nhỏ làm cho người sản xuất hànghoá không có điều kiện thuận thì bị phá sản

b) Quy luật cung cầu:

Trang 3

Cung và cầu là những phạm trù kinh tế của sản xuất và lưu thông hàng hoá

có quan hệ mật thiết với thị trường được gọi là quy luật cung cầu

Cầu là nhu cầu của xã hội được biểu hiện trên thị trường được đảm bảobằng một lượng tiền tương ứng thì người ta gọi là nhu cầu có khả năng

Quy mô của cầu phụ thuộc vào tổng số tiền mà người dân dùng để mua tưliệu sinh hoạt, người sản xuất dùng để mua tư liệu sản xuất và dịch vụ trong từngthời kì nhất định

Cung là tổng số những hàng hoá có ở trên thị trường hoặc có khả năngcung cấp cho thị trường Cung là kết quả của sản xuất nhưng không đồng nhất vớisản xuất vì người sản xuất ra để tự dùng mà không mang ra thị trường hoặc không

có khả năng mang ra thị trường

Cung cầu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại, cầu xác địnhcung, cung xác định cầu

Cầu xác định cung để cơ cấu khối lượng chủng loại hàng hoá, còn cung xácđịnh cầu chính là cung tạo ra cầu thông qua chủng loại giá cả của hàng hoá Mặthàng nào ưa chuộng tác động đến cầu làm cho cầu tăng lên

c) Quy luật giá cả:

Giá cả thị trường là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường , do sự thoảthuận giữa người mua và người bán

II CẠNH TRANH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG:

1 Khái niệm cạnh tranh:

Khái niệm về cạnh tranh được nhiều tác giả trình bày dưới nhiều góc độkhác nhau, trong các giai đoạn khác nhau của nền kinh tế xã hội Dưới thời kì Chủnghĩa Tư bản phát triển vượt bậc, Mác quan niệm rằng “Cạnh tranh TBCN là sựganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà Tư bản nhằm giành giật những điều

Trang 4

kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêungạch” Chủ nghĩa Tư bản phát triển đến đỉnh điểm chuyển sang Chủ nghĩa Đếquốc rồi suy vong và cho đến ngày nay kinh tế Thế giới đã dần đi vào quỹ đạo của

sự ổn định với su hướng chủ đạo là hôi nhập, hoà đồng giữa các nền kinh tế, cơ chếhoạt động là cơ chế thị trường có sự quản lí điều tiết của nhà nước thì khái niệmcạnh tranh đã mất hẳn tính chính trị nhưng về bản chất thì nó vẫn không thay đổi:Cạnh tranh vẫn là sự đấu tranh gay gắt, sự ganh đua giữa các tổ chức, các doangnghiệp nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh đểđạt được mục tiêu của tổ chức, của doanh nghiệp đó

Trong kinh tế thị trường cạnh tranh là sự sống còn của mỗi doanh nghiệp,cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữ các doanh nghiệp trong việc giànhmột nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thịtrường, để đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể Ví dụ như lợi nhuận, doanh sốhoặc thị phần Cạnh tranh trong một môi trường như vậy đồng nghĩa với ganh đua:Ganh đua về giá cả, số lượng, dịch vụ hoặc kết hợp giữa các yếu tố này với cácnhân tố khác để tác động lên khách hàng Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranhcác tín hiệu giá cả, lợi nhuận tạo lên sự kích thích giữa các doanh nghiệp từ nơi tạo

ra giá trị thấp hơn sang nơi cao giá trị cao hơn, việc phân cấp quá trình ra quyếtđịnh cho doanh nghiệp sẽ thúc đẩy phân bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm của

xã hội, tăng phúc lợi cho người tiêu dùng và tăng hiệu quả hoạt động thông qua đổimới thay đổi kỹ thuật và tiến bộ của toàn bộ nền kinh tế

2 Vai trò cạnh tranh:

Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, cạnh tranh diễn ra liên tục và được vínhư một cuộc đua “maratông” về kinh tế không có đích cuối cùng Ai cảm nhậnđược đích sẽ trở thành nhịp cầu cho các đối thủ cạnh tranh vươn lên phía trước

Trang 5

Trong cuộc đua này người chạy trước sẽ là đích để người sau vươn tới do đó khó

có thể đoán trước được điều gì sẽ xảy ra ở những chặng đường khác nhau

Mỗi doanh nghiệp không thể lẩn tránh được cạnh tranh vì làm như vậy làcầm chắc sự phá sản, phải chấp nhận cạnh tranh, đón trước cạnh tranh, săn sànglinh hoạt sử dụng các công cụ cạnh tranh hữu hiệu của mình Điều này dễ nhậnthấy nhất ở vai trò cạnh tranh:

Thứ nhất: Cạnh tranh buộc doanh nghiệp phải:

-Tối ưu hoá các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh

-Không ngừng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh.-Nhanh chóng tiếp cận cơ hội kinh doanh mới

-Không ngừng phục vụ tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng

Thứ hai: Cạnh tranh làm cho giá cả hàng hoá dịch vụ giảm xuống nhưng

chất lượng lại được nâng cao kích thích sức mua làm tăng tốc độ tăng trưởng củanền kinh tế

Thứ ba: Cạnh tranh là động lực thúc đẩy đổi mới.

Thứ tư: Cạnh tranh là cái nôi nuôi dưỡng đào tạo các nhà kinh doanh giỏi

và chân chính

Tóm lại: Cạnh tanh là sự vươn lên mạnh mẽ của các nhà sản xuất để sản

xuất một cách dễ dàng các loại sản phẩm hàng hoá, chiếm lĩnh, mở rộng thị trường

và thu được lợi nhuận cao Cạnh tranh làm cho nền kinh tế xã hội phát triển là điềukiện quan trọng phát triển nền sản xuất, tiến bộ về kỹ thuật, tạo điều kiện giáo dụctính năng động tháo vát cho các nhà sản xuất kinh doanh Nhưng bên cạnh đó vẫncòn những vấn đề còn tồn tại cần phải giải quyết như cạnh tranh không lành mạnhdẫn đến thiệt hại cho cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng những thủ đoạn lừabịp, hàng giả, hàng lậu

Trang 6

3 Các loại hình cạnh tranh:

Có nhiều cách phân loại cạnh tranh dựa trên các tiêu thức khác nhau

3.1- Căn cứ vào các chủ thể tham gia thị trường:

*) Cạnh tranh giữa những người bán với người mua: là cuộc cạnh tranh

diễn ra theo quy luật “Mua rẻ, bán đắt” những người bán muốn bán những sảnphẩm của mình với giá cao nhất, ngược lại những người mua lại có tham vọng muađược hàng hoá với giá rẻ Hai lực lượng này hình thành lên hai phía cung cầu trênthị trường Giá cuối cùng (Giá cân bằng) là giá thống nhất giữa người mua vàngười bán sau một quá trình mặc cả với nhau mà theo đó hoạt động Bán - Muađược thực hiện

*) Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Là cuộc cạnh tranh dựa

trên cơ sở quy luật cung cầu Khi lượng cung một loại hàng hoá dịch vụ nào đó màthấp hơn so với nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh giữa những người mua sẽ trởlên quyết liệt Lúc đó giá cả hàng hoá dịch vụ sẽ tăng vọt nhưng do hàng hoá dịch

vụ khan hiếm lên người mua vẫn chấp nhận gía cao để mua thứ mà mình cần Kếtquả là người bán thu được lợi nhuận cao, còn người mua thì mất thêm một số tiền.Đây là cuộc canh tranh mà theo đó những người mua sẽ bị thiệt còn người bán sẽđược lợi

*) cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Đây là cuộc cạnh tranh

chính trên thị trường tính gay go khốc liệt nhất mà có ý nghĩa sống còn đối vớidoanh nghiệp Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau, thủ tiêu nhau để giành giậtkhách hàng và thị trường làm cho giá cả không ngừng giảm xuống và người mua

sẽ được lợi kết quả đánh giá doanh nghiệp nào chiến thắng trong cuộc cạnh tranhnày là viẹec tăng doanh số tiêu thụ, tăng tỷ lệ thị phần cùng với nó là việc tăng lợinhuận, tăng đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất

Trang 7

Thực tế cho thấy khi sản xuất hàng hoá càng phát triển số người bán càngtăng lên thì cạnh tranh cũng càng quyết liệt Trong quá trình ấy, một mặt nó sẽ gạt

ra khỏi thị trường những doanh nghiệp không có chiến lược cạnh tranh thích hợp,mặt khác nó lại mở đường cho các doanh nghiệp khác lắm chắc được vũ khí cạnhtranh thị trường và giám chấp nhận “luật chơi” phát triển

3.2- Căn cứ vào mức độ tính chất cạnh tranh trên thị trường:

*) Cạnh tranh hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có rất

nhiều người bán và không có người nào có ưu thế để cung ứng một số lượng hànghoá dịch vụ đủ quan trọng để ảnh hưởng tới giá cả trên thị trường Điều đó cónghĩa là họ sản xuất và bán sản phẩm hàng hoá của mình tại một mức giá hiệnhành trên thị trường Vì vậy một hãng cạnh tranh trên thị trường cạnh tranh hoànhảo không có lí do gì để bán với mức giá rẻ hơn mức gía trên thị trường, hơn nữa

nó cũng không thể tăng giá của mình lên cao hơn mức giá thị trường, vì nếu thếdoanh nghiệp chẳng bán được gì và người tiêu dùng sẽ đi mua với múc giá rẻ hơn

từ phía các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp Doanh nghiệp chỉ còn cách thíchứng với giá trên thị trường và tìm mọi biện pháp giảm chi phí sản xuất ra một sốlượng sản phẩm ở mức giá giới hạn mà tại đó chi phí bằng doanh thu cận biên đểtối đa hoá lơị nhuận của mình

Đối thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì không có những hiện tượng cungcầu giả tạo, không bị hạn chế bởi các biện pháp hành chính của nhà nước Vì vậytrong thị trường này giá cả thị trường sẽ tiến tới mức chi phí sản xuất

*) Cạnh tranh không hoàn hảo: Nếu cạnh tranh hoàn hảo là cạnh tranh

trên thị trường mà các sản phẩm trên từng loại thị trường được xem là đồng nhấtvới nhau thì cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh trên thị trường mà phần lớn

cá sản phẩm không đồng nhất với nhau Mỗi loại sản phẩm có thể có nhiều nhãnhiệu khác nhau, mặc dù sự khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể Mỗi loại

Trang 8

nhãn hiệu lại có uy tín, hình ảnh khác nhau Các điều kiện mua bán rất khác nhaungười bán có thể có uy tín, sự độc đáo khác đối với người mua do nhiều lí do khác,như khách hàng quen, gây được lòng tin từ trước, sản phẩm có tên tuổi lâu đời trênthị trường.

Trong thị trường này, người bán lôi kéo khách hàng về phía mình bằngnhiều cách như quảng cáo, khuyến mại, phương thức thanh toán, phương thức bánhàng Loại hình cạnh tranh không hoàn hảo này rất phổ biến trong giai đoạn hiệnnay

*) Cạnh tranh độc quyền: Là cạnh tranh trên thị trường mà ở đó có một số

người bán một số sản phẩm thuần nhất hoặc nhiều người bán một số sản phẩmkhông đồng nhất Họ có thể kiểm soát gần như toàn bộ số lượng sản phẩm hayhàng hoá bán ra thị trường Thị trường này có sự pha trộn giữa độc quyền và cạnhtranh giữa các nhà độc quyền Điều kiện ra nhập hoặc rút lui ra khỏi thị trường này

có nhiều trở ngại do vốn đầu tư lớn hoặc độc quyền về bí quyết công nghệ Thịtrường cạnh tranh độc quyền không có cạnh tranh về giá cả mà một số người bántoàn quyền quyết định giá cả Họ có thể định giá cao hơn hoặc thấp hơn giá thịtrường tuỳ thuộc vào đặc điểm tác dụng của từng loại sản phẩm, cốt sao cuối cùng

họ thu được lợi nhuận tối đa Những doanh nghiệp nhỏ tham gia thị trường nàyphải chấp nhận bán hàng theo giá cả của những nhà độc quyền

Trong thực tế có tình trạng độc quyền xảy ra nếu không có sản phẩm nàothay thế sản phẩm độc quyền hoặc các nhà độc quyền liên kết với nhau Độcquyền gây trở ngại cho việc phát triển sản xuất làm phương hại cho người tiêudùng Vì vậy mà ở một số nước có luật chống độc quyền nhằm chống lại sự liênminh giữa các nhà kinh doanh

3.3- Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế:

Trang 9

*) Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các nhà doanh

nghiệp trong cùng một ngành sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hoá, dịch vụ nào

đó Trong cuộc cạnh tranh này, các chủ doanh nghiệp tìm mọi cách thôn tính lẫnnhau, giành khách hàng về mình Biện pháp của cạnh tranh chủ yếu là cải tiến kỹthuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất nhằm làm giảm giá trị cábiệt của hàng hoá do doanh nghiệp sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội để thu đượcnhiều lợi nhuận siêu nghạch Kết quả của cạnh tranh là kỹ thuật sản xuất phát triển,điều kiện sản xuất trung bình trong một ngành sản xuất thay đổi Giá trị xã hội củahàng hoá được xác định lại, tỷ suất lợi nhuận giảm xuống đồng thời các doanhnghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường, nhữngdoanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh thậm chí bị phá sản

*) Cạnh tranh giữa các ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các nhà doanh

nghiệp hay đồng minh giữa các nhà doanh nghiệp trong ngành kinh tế với nhau,nhằm giành lợi nhuận cao nhất Trong quá trình cạnh tranh các doanh nghiệp luôn

bị hấp dẫn bởi các ngành có lợi nhuận cao hơn Sự di chuyển này sau một thời giannhất định vô hình dung đã hình thành lên một sự phân phối vốn hợp lí giữa cácngành sản xuất để rồi kết quả cuối cùng là các chủ doanh nghiệp đầu tư với cácngành khác với cùng một số vốn chỉ thu được một lợi nhuận như nhau tức là hìnhthành tỷ suất lợi nhuận bình quân cho tất cả các ngành

III KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP:

1 Khái niệm về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp:

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà doanhnghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý trí trên thị trườngcạnh tranh bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận thấp nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi choviệc tài trợ cho những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực hiện những mụctiêu mà doanh nghiệp đã đề ra

Trang 10

2 Tính tất yếu khách quan của việc tăng khả năng cạnh tranh:

Cạnh tranh là một quy luật tất yếu bắt buộc các doanh nghiệp phải chấpnhận và tuân thủ, thực chất của việc tăng khả năng cạnh tranh là tạo ra ngày mộtnhiều hơn các ưu thế về tất cả các mặt: Giá cả, giá trị sử dụng của sản phẩm, uy tín,tiêu thụ Trong cơ chế thị trường cạnh tranh là một tất yếu khách quan, các doanhnghiệp khi tham gia vào thị trường thì phải chấp nhận cạnh tranh, tuân theo cácquy luật cạnh tranh Các điều kiện cạnh tranh ngày càng khó khăn hơn buộc cácdoanh nghiệp không ngừng phấn đấu giảm chi phí để giảm giá thành, giá bán sảnphẩm, thực hiện giá trị sử dụng sản phẩm, tổ chức tốt hệ thống tiêu thụ để tồn tại

và phát triển trong cạnh tranh thị trường

Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, do tác động của tiến bộ khoa học côngnghệ nên nhu cầu của người tiêu dùng nâng lên ở mức cao hơn rất nhiều Để đápứng kịp thời các nhu cầu, các doanh nghiệp phải không ngừng điều tra nghiên cứuthị trường, tìm hiểu nhu cầu khách hàng Doanh nghiệp nào nhanh chân hơn, doanhnghiệp đó sẽ chiến thắng và điều này làm cho cạnh tranh ngày càng quyết liệt hơn

Ở nước ta, trong điều kiện nền kinh tế bao cấp trước đây cạnh tranh khôngxảy ra, các doanh nghiệp không phải lo lắng cả đầu vào lẫn đầu ra, không phải locạnh tranh, và do đó rất thụ động, chỉ biết sản xuất theo lệnh của cấp trên chứkhông biết đến nhu cầu của xã hội Vì vậy khi chuyển sang nền kinh tế thị trường,nhiều doanh nghiệp nhà nước rất khó khăn vất vả để thích nghi với cơ chế mới Đểcạnh tranh và đứng vững trước các đối thủ mới là các doanh nghiệp thuộc cácthành phần kinh tế đặc biệt là các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài có vốnnhiều và kỹ thuật cao lại dầy dạn kinh nghiệm trong cạnh tranh Vì vậy nâng caokhả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp nhànước nói riêng vừa là sự cần thiết cho sự tồn tại của doanh nghiệp vừa là để tăngtính cạnh tranh thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển

Trang 11

3 Các tiêu thức đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp:

3.1- Thị phần của doanh nghiệp trên toàn bộ thị phần: Đây là một chỉ tiêu

thường được sử dụng đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Khi xem xétchỉ tiêu này người ta thường xem xét các loại thị phần sau:

-Thị phần của công ty so với toàn bộ thị trường: Đây là tỷ lệ phần trăm giữadoanh số của công ty so với toàn thị trường

-Thị phần của công ty so với phân phúc mà nó phục vụ là tỷ lệ phần trămgiữa doanh số của công ty so với doanh số của toàn phân khúc

-Thị phần tương đối là tỷ lệ so sánh về doanh số của công ty với đối thủcạnh tranh mạnh nhất nó cho biết vị thế của công ty trong thị trường như thế nào

Thông qua sự biến động của các chỉ tiêu này mà doanh nghiệp biết mìnhđang ở vị trí nào và cần đặt ra những chiến lược hành động như thế nào

Ưu điểm: Chỉ tiêu này đơn giản, dễ tính.

Nhược điểm: Khó đảm bảo chính xác do khó thu thập được doanh số chính

xác của doanh nghiệp

3.2- Tỷ suất lợi nhuận:

n

¸b

¸gi

thµnh)gi¸

b¸ngi¸

(

=tÝnh

­îc

®utiªChØ

Đây là một chỉ tiêu tổng hợp, nó không chỉ phản ánh tiềm năng của doanhnghiệp mà còn thể hiện tính hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

đó Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ cạnh tranh rất gay gắt và doanh nghiệp cũngphải chịu sự cạnh tranh gay gắt đó, và do vậy một phần nào đó chứng tỏ nó cũngcạnh tranh không kém gì các đối thủ của mình, ngược lại nếu chỉ tiêu này cao thìđiều đó doanh nghiệp đang kinh doanh rất thuận lợi

Trang 12

3.3- Tỷ lệ chi phí marketing trên tổng doanh thu: Thông qua chỉ tiêu này

doanh nghiệp thấy được hiệu quả hoạt động của mình, nếu cao có nghĩa là doanhnghiệp đầu tư quá nhiều vào công tác marketing mà hiệu quả không cao

Xem xét tỷ lệ chi phí marketing trên tổng doanh thu ta thấy nếu chỉ tiêu nàycao chứng tỏ việc đầu tư cho khâu marketing là tương đối lớn đòi hỏi doanh nghiệpphải xem xét lại cơ cấu chi tiêu của mình có thể thay vì quảng cáo tiếp thị rầm rộcông ty sẽ tăng cường đầu tư chiều sâu để tăng lợi ích lâu dài

4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: a) nhân tố bên trong:

*) khả năng huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn:

Vốn (năng lực tài chính của doanh nghiệp) điều này quyết định rất lớn đến

sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Có vốn mới có điều kiện đầu tư pháttriển, vốn là một yếu tố cơ bản chủ yếu tạo lên tài sản hữu hình của doanh nghiệp,

nó quyết định đến khả năng sản xuất cũng như nâng cao trình độ kinh tế kỹ thuậtcủa doanh nghiệp cả chiều rộng lẫn chiều sâu Như vậy vốn là yếu tố quyết địnhđến số lượng và chất lượng của sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra là yếu tốtiền đề tạo ra năng lực cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường.Khả năng về vốn dồi dào, kết hợp với việc sử dụng hiệu quả là yếu tố nâng caonăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Hiệu quả của việc sử dụng vốn có thể được đánh giá bằng tỷ suất lợi nhuậncủa vốn đầu tư Tỷ suất lợi nhuận càng cao càng kích thích doanh nghiệp tái đầu tư

mở rộng sản xuất Cùng với quá trình đầu tư mở rộng sản xuất là quá trình đầu tưchiều sâu Bên cạnh đó, tỷ suất lợi nhuận càng cao cũng là yếu tố đại biểu cho mộtlượng địa biểu lớn, đây là tiền đề tích luỹ cao cho đầu tư phát triển doanh nghiệp

*) Đổi mới công nghệ:

Trang 13

Công nghệ và máy móc thiết bị: Đó là bộ phận cơ bản tạo ra sản phẩm,tăng năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngày nay với sự tiến bộ củakhoa học công nghệ, xuất phát từ nhu cầu thị trường về số lượng, chủng loại, chấtlượng, giá cả sản phẩm, khả năng điều kiện của doanh nghiệp mà lựa chọn mụctiêu phương hướng trình độ đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Trong nền kinh

tế thị trường muốn tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tăng lợi nhuận củadoanh nghiệp, cần cải tiến nâng cao chất lượng của sản phẩm Xuất phát từ nhu cầuthị trường số lượng, chủng loại, chất lượng, giá cả sản phẩm tạo sản phẩm mớiđổi mới công nghệ là việc làm của doanh nghiệp do doanh nghiệp quyết định,doanh nghiệp được hưởng kết quả do đổi mới công nghệ đem lại và chịu tráchnhiệm nếu không thành công Phải có sự gắn bó giữa chiến lược sản phẩm vớichiến lược công nghệ

*) Đổi mới đội ngũ nhân lực:

Trong quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm cho xã hội người laođộng không những là yếu tố của quá trình sản xuất mà còn là một yếu tố quantrọng tác động có tính quyết định vào việc phát huy đồng bộ có hiệu quả các yếu tốkhác Qua nghiên cứu thực tế ở một số doanh nghiệp nước ta và một số nước kháctrên thế giới, chúng ta có thể nói rằng dù khả năng về vốn, tổ chức quản lý và côngnghệ có dồi dào hiện đại bao nhiêu, cũng sẽ trở thành vô ích nếu doanh nghiệp đó

sở hữu một đội ngũ cán bộ và công nhân kỹ thuật yếu kém về năng lực và taynghề, hiệu quả sử dụng đồng vốn không cao thậm chí còn có kết quả ngược lại vớimục tiêu của doanh nghiệp Điều này đồng nghĩa với không nâng cao được khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp Do đó trong quá trình phát triển mỗi doanhnghiệp phải phát huy được hiệu quả nguồn nhân lực của mình đồng thời ngày càngnâng cao số lượng cũng như nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

b Nhân tố bên ngoài:

Ngày đăng: 02/10/2013, 16:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w