1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN LÝ CHO VAY VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN CHO VAY SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

23 670 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng quan về nguyên lý cho vay và các điều kiện cho vay sản xuất kinh doanh của ngân hàng thương mại
Chuyên ngành Ngân hàng Thương mại
Thể loại Bài giảng
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 38,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Còn đối với các Ngân hàng hay là các tổ chức tín dụng TCTD nói chungthì cho vay là một nội dụng nghiệp vụ, đó là việc Ngân hàng giao cho khách hàngmột khoản tiền nhất định với điều kiện

Trang 1

TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN LÝ CHO VAY VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN CHO VAYSẢN XUẤT KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

I KHÁI QUÁT CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG MẠI

1 Khái niệm, vai trò hoạt động cho vay

1.1 Khái niệm:

Theo nghĩa thông thường, cho vay là việc chuyển giao một số tiền hay tạisản nhất định cho người khác sử dụng với điều kiện có hoàn trả lại Khái niệm phổbiến này được dùng rộng rãi trong đời sống thường ngày, từ những món tiền haytài sản có giá trị lớn cho tới những món tiền lớn hay đồ vật có gía trị nhỏ Với kháiniệm này, hoạt động cho vay hay quan hệ vay mượn nói chung có 2 đặc điểmchính là:

- Thứ nhất: Trong quan hệ ấy, chỉ có sự chuyển giao quyền sử dụng (tiền,

tài sản) mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu các tài sản hay số tiền đó

- Thứ hai: người cho vay được hoàn trả lại sau một thời gian nhất định theo

sự thoả thuận giữa hai bên người cho vay và người đi vay

Người cho vay có nhận được một khoản lãi nào không cũng phụ thuộc vào

sự thoả thuận này, và trong đời sống thường ngày không phải bao giờ người chovay cũng lấy lãi

Còn đối với các Ngân hàng hay là các tổ chức tín dụng (TCTD) nói chungthì cho vay là một nội dụng nghiệp vụ, đó là việc Ngân hàng giao cho khách hàngmột khoản tiền nhất định với điều kiện là họ phải hoàn trả lại cùng với một khoảntiền vượt trội đóng vai trò là tiền lãi Như vậy, ngoài hai đặc điểm vừa nêu đối vớicho vay nói chung, hoạt động cho vay của các Ngân hàng còn có đặc trưng thứ ba

là người cho vay luôn đòi hỏi một khoản tiền lãi ngoài khoản tiền gốc mà họ đãcho vay, song với các Ngân hàng, bao giờ họ cũng thu lãi, ít nhất là phải đủ để trả

Trang 2

lãi cho người gửi tiền vào Ngân hàng, bởi vì họ cũng là những người kinh doanh vìmục tiêu lợi nhuận Ở Việt nam, theo quy chế cho vay ban hành kèm quyết định số284/2001/QĐ-NHNN1, thì cho vay là một hình thực cung cấp tín dụng vào mụcđích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi.Như vậy ta cũng cần phân biệt giữa cho vay và cấp tín dụng: một Ngân hàng có thểcấp cho khách hàng các khoản tín dụng bằng các nghiệp vụ cho vay, cho thuê tàichính, bảo lãnh Ngân hàng, tín dụng chứng từ, cho vay chỉ là một hình thức cấptín dụng, song nó lại là một hình thức chủ yếu và quan trọng nhất của Ngân hàng.Chúng ta thấy rõ điều đó qua phân tích vai trò của hoạt động cho vay.

1.2 Vai trò

Đối với bản thân Ngân hàng : Những doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ-cho vay

luôn là hoạt động quan trọng nhất Trước hết, đó là hoạt động đóng góp lớn nhấtvào thu nhập, và khoản mục cho vay luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tàisản của một Ngân hàng thương mại Ở Mỹ các khoản cho vay thường chiếmkhoảng 70% tổng tài sản của các Ngân hàng thương mại và đem về từ 75-80% thunhập Cũng lưu ý là ở Mỹ cũng như các nước có nền kinh tế thị trường phát triểnthì các Ngân hàng thương mại thường thực hiện rất nhiều nghiệp vụ, và tỷ trọngthu về dịch vụ thường lớn hơn rất nhiều so với ở các nước kém phát triển khác.Mặt khác, nếu nhìn từ góc độ lịch sử cho vay là một trong những hoạt động khởithuỷ của các Ngân hàng thương mại Cùng với nghiệp vụ bảo quản vàng bạc và các

đồ vật quý giá, những người thợ vàng, nguồn gốc đầu tiên của các Ngân hàng cũngtiến hành cho vay bằng vàng bạc để kiếm lợi, bởi họ phát hiện ra rằng ở một thờiđiểm bất kỳ các biên lai trình để rút vàng chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong số tiềnvàng họ nắm giữ Cho tới ngày nay dù xã hội đã phát triển với những bước tiếnnhảy vọt thì cho vay vẫn cứ là một trong ba hoạt động cơ bản chứng tỏ sự tồn tạicủa một Ngân hàng thương mại, đó là nhận tiền gửi, cho vay và làm dịch vụ thanhtoán

Trang 3

Nếu như cho vay là hoạt động quan trọng nhất của các Ngân hàng, thì đối vớitoàn bộ nền kinh tế quốc dân nó cúng giữ một vị trí thiết yếu không kém Cùng với

hoạt động nhận tiền gửi, các Ngân hàng thương mại đã " tạo tiền" qua cho vay nền kinh tế Các lý thuyết đã chỉ ra phần lớn các khoản vay Ngân hàng đều tạo ra các

khoản tiền gửi Ngân hàng khác, và như vậy bằng cách cấp một kho tàng khối tiền

tệ ản vay, một khoản tiền gửi mới sẽ được tạo ra ở một Ngân hàng nào đó và khốitiền tệ sẽ tăng lên quá trình sẽ diễn ra theo chiều ngược lại khi Ngân hàng thu nợ.Tất nhiên, khả năng tạo tiền của các nước là không giống nhau do tỷ lệ dự trữ ở cácNgân hàng thương mại từ lượng tiền huy động được (gồm cả dự trữ bất buốc và dựtrữ tự nguyện) và tỷ lệ giữa tiền trong dân là khác nhau, song trong một trừng mựcnào đó thì khả năng ấy cũng phụ thuộc vào khả năng tăng dư nợ cho vay của họ.Mặt khác, hoạt động cho vay còn làm giảm hệ số giữ tiền mặt trong nền kinh tế,bởi các chủ thể có thể dễ dàng vay Ngân hàng cho các nhu cầu chi tiêu, qua đó làmcác tác động trên của hoạt động cho vay tới mức cung tiền được cho bởi công thức:

"bàn tay vô hình" Chính phủ cũng đóng một vai trò tích cực trong các quá trìnhkinh tế Một trong những thể hiện của nó là sự khuyến khích đầu tư từ phía Chínhphủ vào một số lĩnh vực hoặc thành phần được cho là cần thiết, và một trong số các

ưu đãi thường được áp dụng là ưu đãi về tín dụng Đối với nước Việt nam điều này

m= 1+s r+s

Trang 4

càng có ý nghĩa, bởi nó còn đáp ứng được yêu cầu của một nền kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN với cơ sở kinh tế là vai trò chủ đạo của các DNNN Các Ngânhàng có khả năng huy động để đầu tư tập trung, trọng điểm, tăng quy mô của cácdoanh nghiệp, cải thiện kỹ thuật, công nghệ sản xuất đóng góp phần chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; nâng cao hiệuquả của nền sản xuất xã hội thông qua việc nâng cao hiệu quả việc sản xuất kinhdoanh của từng doanh nghiệp

Về phía các doanh nghiệp: Vốn vay Ngân hàng là một nguồn quan trọng, góp

phần hình thành vốn tối ưu qua đó nâng cao hiệu quả kinh doanh Ta hiểu ngắn gọn

cơ cấu vốn tối đa của một công ty là cơ cấu vốn làm tối đa hoá gía trị thị trường(hay giá cả cổ phiếu) của công ty đó, và cơ cấu vốn tối ưu này thì chi phí vốn bìnhquân được cho bởi công thức sau đây là hợp nhất: WACC = Wd Kd(1-t) + Wp + WsKs

Trong đó

- WACC là chi phí vốn bình quân -Wd, Wp, Ws lần lượt là tỷ trọng của nợ vay, vốn huy đọng từ cổphiếu ưu đãi và cổ phiếu thường (hay lợi nhuận giữ lại) Vốn vay có tác dụngkhuyếch đại lợi nhuận qua đòn cân nợ:

Đòn cân nợ DFL chính là thay đổi của thu nhập của

mối cổ phiếu thường thay đổi 1% của lợi nhuận hoạt động (EBIT); là lãi suất tiềnvay (R) là một loại chi phí hợp lý được trừ ra khỏi lợi nhuận hoạt động khi tínhthuế thu nhập doanh nghiệp Do vậy theo công thức tính chi phí bình quân, doanhnghiệp chỉ phải thực chịu mức lãi suất (1-t), trong đó Kd là lãi suất tiền vay và (t)

là thuế suất thuế thu nhập Tuy vậy không phải doanh nghiệp sẽ dùng toàn bộ vốnvay để tài trợ cho hoạt động của mình, bởi thường thì đến một giới hạn nào đó, cácNgân hàng sẽ đòi hỏi lãi suất cao hơn để bù đáp mức rủi ro tăng lên mà họ phảichịu; Hơn nữa càng sử dụng nhiều nợ vay thì quyền tự chủ kinh doanh của doanh

DFL= EBIT

EBIT −R

Trang 5

nghiệp càng bị ảnh hưởng Như vậy, các doanh nghiệp cân nhắc một tỷ lệ vốn vayhợp lý để có một cơ cấu vốn tối ưu, và các Ngân hàng thương mại đã giúp cácdoanh nghiệp tìm ra một cơ cấu vốn có chi phí rẻ nhất

Những để được một Ngân hàng cho vay, các doanh nghiệp lại phải có nhữngđiều kiện nhất định Một điều kiện thường thấy là các doanh nghiệp phải giải trìnhtình hình tài chính được thể hiện qua sổ sách kế toán, các báo cáo tài chính, định

kỳ chuyển cho Ngân hàng các tài liệu thể hiện hoạt động kinh doanh và sử dụngvốn vay Chính bởi vậy nó tạo ra sức ép đối với các doanh nghiệp trong việc thựchiện hoạch toán kinh doanh, góp phần quản lý giám sát nền kinh tế, lành mạnh hoámôi trường kinh doanh Sự sắn có của các khoản cho vay khiến các doanh nghiệp

an tâm hơn về vốn lưu động, có khả năng đầu tư nhiều hơn vào hàng dự trữ nếuthấy có lợi mà vốn lưu động tự có của họ không đáp ứng nổi Các khoản cho vaylãi dài hạn của Ngân hàng lại tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư vào tài sản cốđịnh đầu tư vào sản xuất, cải tiến công nghệ nâng cao năng lực sản xuất Và dù làvay theo hình thức nào thì lãi suất vốn vay cùng sự kiểm tra giám sát Ngân hàngthúc đẩy các doanh nghiệp quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả để có lãi hoàn trảđược nợ Ngân hàng, tạo uy tín để tiếp tục vay vốn Ngân hàng

2 Phân loại các khoản cho vay

Tuy theo các tiêu thức phân loại chúng ta có các loại cho vay khách nhau:

2.1 Theo thời hạn cho vay

Theo tiêu thức này, người ta chia các khoản cho vay thành cho vay ngắn hạn,trung hạn và dài hạn Mặc dù hầu hết các nước đều thống nhất về điều này, nhữngthời gian cụ thể được quy định theo từng loại lại không hoàn toàn đồng nhất Ở cácnước phương Tây người ta cho vay ngắn hạn có thời hạn nhỏ hơn 1 năm; cáckhoản cho vay trung hạn có thời hạn từ trên 1 năm tới 7 năm; các món cho vay dàihạn có kỳ hạn dài hơn Tuy vậy cũng có nhiều khoản cho vay có thời hạn tới 10năm (như cho vay tiêu dùng) vẫn được coi là vay trung hạn Còn ở Việt nam hiện

Trang 6

nay theo quy chế cho vay thì cho vay Ngắn hạn cũng có thời hạn đến 1 năm; chovay trung hạn có thể tới 5 năm; cho vay dài hạn có thời gian từ 5 năm trở lênnhững không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấyphép thành lập đối với pháp nhân, không quá 15 năm với cho vay các dự án phục

vụ đời sống

Phân loại các món vay theo thời hạn là phổ biến của mọi Ngân hàng Họ sẽcăn cứ vào đối tượng cho vay mà quyết định loại cho vay cho phù hợp (thuộc loạingắn hạn, trung hạn, dài hạn và thời hạn cụ thể), từ đó mà áp dụng các phươngthức kiểm tra, kiểm soát món vay phù hợp Với cách phân loại này, các Ngân hàng

sẽ xây dựng một cơ cấu hợp lý các khoản cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn,

từ đó tạo ra cơ cấu kỳ hạn tối ưu của tài sản, phù hợp với kỳ hạn của nguồn vốnhuy động, kết hợp tốt nhất giữa khả năng sinh lợi và khả năng thanh khoản

2.2 Theo lĩnh vực đầu tư

Theo cách phân loại này ta có thể chia các khoản cho vay thành:

-Cho vay thương mại và công nghiệp

-Cho vay bất động sản

-Cho vay nông nghiệp

-Cho vay cá nhân

-Cho vay khác

Tuy theo điều kiện và yêu cầu quản lý ta có thể chia nhỏ hơn nữa các lĩnh vựctrên để được các loại cho vay với lĩnh vực hẹp hơn Phân loại các món vay theolĩnh vực rất có ý nghĩa trong việc kết hợp giữa đa dạng hoá để giảm rủi ro vớichuyên môn hoá ở mức độ phù hợp Các Ngân hàng thường dưa vào các lợi thế củamình (lợi thế về vị trí, về trang thiết bị công nghệ, về quy mô, về đội ngũ cán bộ, )

để chuyên môn hoá vào một hay một số lĩnh vực nhằm khai thác triệt để các lợi thế

ấy, dự báo tốt về động thái các ngành mình cho vay, khả năng hoàn trả đúng hạncác khoản vay của khách hàng Tuy vậy xu hướng của thế giới hiện nay vẫn là

Trang 7

hướng tới các Ngân hàng đa năng, trong đó sự chuyên môn hoá điễn ra ở cấp độcác phòng ban hay bộ phần của Ngân hàng Bằng cách chia các khách hàng vay racác lĩnh vực khách nhau, Ngân hàng có thể theo dõi động thái của nền kinh tế vàtừng lĩnh vực để mở rộng cho vay vào lĩnh vực này hay rút bớt vốn khỏi lĩnh vựckia.

2.3 Theo mức độ đảm bảo.

Các Ngân hàng có thể cho vay có hay không có đảm bảo tuỳ theo tín nhiệmcũng như độ rủi ro của phương án xin vay vốn Từ đảm bảo của khách hàng ở đâychỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố hay bảolãnh của bên thứ ba Các đảm bảo này có mục đích giảm bớt rủi ro mất mát trongtrường hợp người vay không trả được nợ hay không muốn trả nợ khi đáo hạn Cáctài sản được đem ra thế chấp thường là các bất động sản trong khi ấy các tài sảnđược cầm cố lại là những động sản nhỏ chứng khoán và các giấy tờ có giá khác,vật tư Yêu cầu cơ bản đối với các tài sản đưa ra cầm cố, thế chấp là chúng phải

có tính thị trường, tức là có khả năng thanh lý được Thường thì các Ngân hàngcho vay dưới mức giá trị thanh lý của các tài sản đảm bảo bởi khi mà giá trị các tàisản ấy còn lớn hơn giá trị của món vay thì khách hàng còn có động lực trả nợ ỞViệt nam các Ngân hàng có thể cho vay tới 70 -75% giá trị tài sản thế chấp hoặctới 90% giá trị các số tiết kiệm cầm cố Tuy vậy cũng cần khẳng định mục đích củacác đảm bảo trên là tạo động lực buộc khách hàng trả nợ chứ chẳng Ngân hàng nàomuốn thanh lý những tài sản đảm bảo ấy để bù đáp cho những món vay không thểthu hồi

Trường hợp khách hàng có tín nhiệm, có tình hình tài chính vững mạnh vàlợi nhuận có được từ dự án sẽ cho vay là khả quan thì Ngân hàng có thể cho vaykhông cần đảm bảo, điều mà các sở Việt nam gọi là cho vay tín chấp Điều đó giảithích tại sao nhiều Ngân hàng cấp những khoản cho vay lớn nhất lại không cầnđảm bảo Đó là các khoản cho vay những khách hàng chủ yếu, những công ty có

Trang 8

quan hệ thường xuyên với Ngân hàng, có tình hình tài chính vững mạnh với lợinhuận tương đối ổn định bởi hệ thống quản lý có hiệu quả và các sản phẩm dịch vụđược thị trường chấp nhận Như vậy, để quyết định món vay là có đảm bảo haykhông có đảm bảo các Ngân hàng phải dựa vào các yếu tố nhất định như đã phântích.

2.4 Theo phương pháp hoàn trả

Các khoản cho vay còn có thể được hoàn trả một lần hay trả góp Cho vayhoàn trả một lần thì khoản tiền vay được hoàn trả toàn bộ một lần vào thời gianđáo hạn theo hợp động tín dụng, lãi suất có thể được trả theo những thời hạn nhấtđịnh (chẳng hạn theo tháng, theo quý hay năm) trong khi ấy, cho vay trả góp đòihỏi việc hoàn trả theo định kỳ theo nguyên tắc trả dần trong suốt thời gian thựchiện hợp đồng, các khoản trả nợ có thể bằng nhau (trả theo niên kim cố định) hoặckhông bằng nhau tuỳ theo thoả thuận Thông thường các Ngân hàng áp dụngphương thức trả góp với các khoản cho vay trung dài hạn (TDH) để đầu tư vào các

dự án để mở rộng sản xuất kinh doanh hay đầu tư mới, hay đầu tư vào bất động sảncòn các khoản cho vay hoàn trả một lần lại thường được áp dụng với cho ngắn hạnhơn, theo quy chế cho vay hiện nay, các khoản cho vay ngắn hạn được cấp hai hìnhthức là cho vay theo món và hạn mức tín dụng

2.5 Theo thành phần kinh tế

Ta cũng có thể phân các khoản cho vay ra thành cho vay DNNN và cho vayngoài quốc doanh Đây là cách phân loại không được nhấn mạnh trong các nềnkinh tế TBCN nhưng đối với nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nướcViệt nam nó lại rất có ý nghĩa trong thực tiến Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủđạo, Nhà nước có chính sách khác nhau với từng khu vực kinh tế chẳng hạn việcquy định các DNNN không cần phải có tài sản thế chấp khi vay vốn tại cácNHTMQD, các ưu tiên và hạn chế khác liên quan tới mở rộng hay thu hẹp tín dụngNgân hàng tới các thành phần kinh tế nói chung Mặt khác, mối thành phần kinh tế

Trang 9

lại có những đặc điểm riêng biệt, và phải nói một cách công bằng là Ngân hàng sẽ

có thái độ ứng xử khác nhau trong hoạt động cho vay các chủ thể thuộc các thànhphần kinh tế khác nhau Đây cũng là điều hợp lý Lưu ý là trong cách phân loại tacũng có thể phân chia chi tiết hơn nữa, chẳng hạn đối với cho vay ngoài quốcdoanh, cho vay cá nhân, cho vay công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần,cho vay doanh nghiệp tư nhân, cho vay vốn đầu tư nước ngoài Đối với cho vayDNNN, bao gồm cho vay các DNNN độc lập và cho vay các Tổng công ty vàthành viên của chúng

3.1.1 Tài sản được dùng làm thế chấp bao gồm:

- Đất đai, quyền sử dụng đất đai: Đó là quyền sử dụng đất ở, đất canh tác cho nôngnghiệp, lâm nghiệp được Nhà nước giao cho các hộ gia định, các cá nhân sử dụngvào mục đích đã được pháp luật quy định; quyền sử dụng đất của các tổ chức trongnước được Nhà nước giao cho thuê đất; quyền sử dụng đất được hình thành dothừa kế, chuyển nhượng, chuyển đổi sử dụng đúng mục đích theo quy định củapháp luật; quyền sử dụng đất của các tổ chức cá nhân nước ngoài, người Việt namđịnh cư ở nước ngoài được phép đầu tư vào Việt nam được Nhà nước cho thuê đất

- Các tài sản gắn liền với đất đai như: Nhà ở, Nhà máy, khách sạn, văn phòng,vượn cây, ao cá

- Các tài sản như tàu thuỷ, máy bay và cả tài sản khác được thế chấp nếu như phápluật có quy định

Trang 10

- Hoa lợi, lợi tức và các quyền lợi phát sinh từ tài sản thế chấp có thuộc tài sản thếchấp hay không là do Ngân hàng và khách hàng thoả thuận.

3.1.2 Các tải sản không được dụng làm thế chấp:

- Các tài sản gắn liền với đất sử dụng vào mục đích vì lợi ích công cộng khôngnhằm mục đích kinh doanh

- Các kết cấu hạ tầng quan tâm xây dựng gắn liền với đất vì lợi ích quốc gia như:đường dây tải điện, trạm phát điện, trạm biên thế điện, công trình thuỷ lợi, đườnggiao thông, cầu cống, hệ thống thông tin quốc gia, công trình nghiên cứu khoa học

và các công trình kết cấu hạ tầng công cộng khác

- Các công sở như: trụ sở các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội, đoànngoại giao, văn phòng đại diện của nước ngoài

- Tài sản sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh và những trường hợp đặc biệtkhác theo quy định của Chính phủ

- Tài sản không thuộc quyền quản lý, quyền sử dụng và quyền sở hữu hợp phápcủa bên vay

- Tài sản đang bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tạm giữ, phong toả, tài sảnđang làm thủ tục giải thể hoặc phá sản doanh nghiệp

- Tài sản gắn liền với đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê quy hoạch sử dụngvào mục đích khác

- Tài sản Nhà nước quy định cấm kinh doanh, mua bán, chuyển nhượng

- Tài sản được hình thành bằng vốn vay đang làm đảm bảo cho khoản vay chưa trảhết nợ cho tổ chức tín dụng

- Tài sản khác không được thế chấp nếu pháp luật có quy định

3.2 Cầm cố tài sản

Cầm cố là hành vi giao nộp tài sản hoặc các chứng từ nhận quyền tài sở hữucủa con nợ (Người cầm cố) cho chủ nợ (người được cầm cố) để đảm bảo thực hiện

Trang 11

một nghĩa vụ Nghĩa vụ cầm cố trong quan hệ tín dụng là người đi vay thực hiệnnghĩa vụ hoàn trả nợ đúng hạn theo hợp đồng.

Hành vi cầm cố tài sản hết hiệu lực khi người đi vay đã hoàn trả đẩy đủ cáckhoản nợ được đảm bảo bằng cầm cố Trong trường hợp người đi vay không thanhtoán nợ đúng hạn theo hợp đồng thì Ngân hàng được quyền bán tài sản cầm cố vàđược ưu tiên thu nợ trước các chủ nợ khác

- Các vật quý bằng vàng bạc đá quý

3.2.2 Những tài sản không được dùng để cầm cố:

-Những tài sản không thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên vay vốn

-Những tài sản mà Nhà nước cấm kinh doanh, mua bán, chuyển nhượng

-Cổ phiếu của các tỏ chức tín dụng phát hành cho cổ đông không được cầm cố chochính tổ chức tín dụng đó

- Tài sản đang có sự tranh chấp

-Tài sản bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ, niêm phong, phong toả tài sản đanglàm thủ tục giải thể

-Tài sản đang cầm cố hoặc thực hiện nghĩa vụ khác

-Tài sản khó kiểm định, khó đánh giá, khó mua bán

-Tài sản hình thành bằng vốn vay mà chưa trả hết nợ cho Ngân hàng

3.2.3 Kỹ thuật nghiệp vụ cầm cố :

Ngày đăng: 02/10/2013, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w