1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌNH HÌNH CHO VAY TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HAI BÀ TRƯNG

40 300 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình hình cho vay trung dài hạn tại Ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Ngân hàng và Tài chính
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 81,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về nguồn tiền gửi tiết kiệm: Đây là nguồn quan trọng nhất trong các nguồn của Ngân hàng và thường chiếm tỷ trọng caoCân đối của tổng nguồn so với sử dụng cho vay tại cơ sở, ở Ngân hàng c

Trang 1

TÌNH HÌNH CHO VAY TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG CÔNG

THƯƠNG HAI BÀ TRƯNG

I GIỚI THIỆU CHUNG

1 Lịch sử hình thành.

Từ tháng 7/1988, Ngân hàng Công thương Việt Nam đã chính thức trở thành một tổ chức kinh doanh với chức năng tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng Thời gian đầu Ngân hàng Công thương Việt Nam thực hiện mô hình ba cấp: Cấp trung ương, cấp tỉnh thành phố, cấp quận huyện Đây quả là một mô hình kồng kềnh, phức tạp Theo mô hình đó ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng trực thuộc hạch toán chung, chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ Ngân hàng Công thương Hà Nội Ngay từ khi ra đời, hoạt động ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng vẫn mang tính bao cấp hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, hệ số sử dụng vốn thấp, thua lỗ liên miên Cụ thể năm 1992 tổng nguồn vốn huy động bình quân là: 168

tỷ đồng, tổng dư nợ bình quân đạt 12%, hệ số sử dụng vốn chỉ đạt 12% là quá thấp, Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng lỗ trầm trọng, cả năm lỗ 46 tỷ đồng, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của cán bộ công nhân viên

Sau quyết định số 93/NHCT - TCCB của tổng giám đốc Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt nam đã đổi mới cơ chế quản lý

từ Ngân hàng ba cấp sang Ngân hàng hai cấp (Ngân hàng hội sở - các chi nhánh trực thuộc) Lúc này ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng là một chi nhánh trực thuộc của Ngân hàng Công thương Việt Nam Đồng thời với việc đổi mới cơ chế quản lý là sự đổi mới của các chỉ tiêu quản lý và điều hành kinh doanh Trước kia Ngân hàng công thương Việt Nam quản lý và điều hành với chỉ tiêu: Nguồn vốn huy động, dư nợ, doanh thu, chi phí thì lúc này có thêm hệ thống chỉ tiêu mới

Trang 2

là: nộp vốn điều hoà, thu nghập, lợi nhuận hạch toán gắn với thu nhập và kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh

2 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng

Chi nhánh ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng là Chi nhánh khá lớn mạnh với số lượng cán bộ công nhân viên hơn 300 người, trong đó hơn 60% có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học Về cơ cấu tổ chức: Ngoài một giám đốc và 4 phó giám đốc Ngân hàng còn có 8 phòng chức năng

Phòng kinh doanh đối nội: Gồm có tổ cho vay quốc doanh, tổ cho vay ngoài quốc doanh và các tổ cho vay tại các phường hoạt động chủ yếu của phòng này là cho vay, tiến hành các hoạt động tiếp thị, tổng hợp thông tin và báo cáo

Phòng kinh doanh đối ngoại: Thực hiện nhiệm vụ thanh toán quốc tế bằng các hình thức như: Mở L/C, thông báo L/C, nhờ thu, lập bộ chứng từ với những đơi vị suất nhập khẩu, kinh doanh thu đổi ngoại tệ trên cơ sở tỷ giá chính thức của Ngân hàng Nhà Nước công bố và biên độ cho phép và cung cấp các dịch vụ khác như: Chi trả kiều hối, thanh toán thẻ tín dụng

Phòng kế toán tài chính: Làm nhiệm vụ kế toán Ngân hàng, hạch toán tiền gửi, tiền vay, thanh toán chuyển tiền, chuyển khoản giữa các Ngân hàng trong cùng và khác hệ thống, quản lý tài khoản của khác hàng

Phòng ngân quỹ: Có chức năng chủ yếu là thu chi tiền mặt, ngân phiếu đáp ứng nhu cầu tiền mặt cho Ngân hàng, đảm bảo an toàn kho qũy

Phòng nguồn vốn: Có nhiệm vụ chủ yếu là nhận tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu theo chỉ định của Ngân hàng Công thương Việt Nam, chịu trách nhiệm về công tác huy động vốn của Ngân hàng

Trang 3

Phòng kiểm soát: Có chức năng kiểm tra, giám soát toàn bộ nghiệp vụ và hoạt động kinh doanh của Chi nhánh trong việc thực thi các quy định, quy chế của Nhà Nước, của Ngân hàng cấp trên

Phòng hành chính tổ chức: Có nhiệm vụ bố trí sắp xếp nhân lực, tiếp nhận

và tổ chức đào tạo cán bộ cho Ngân hàng

Phòng giao dịch: Được thành lập với mục đích mở rông hoạt động kinh doanh của Chi nhánh trên trên địa bàn, thực hiện hoạt động tín dụng, thu chi tiền mặt

Ngoài trụ sở chính ở 306 Bà Triệu Ngân hàng còn bố trí 9 quỹ tiết kiệm và một số địa điểm cho vay kinh tế ngoài quốc doanh tại các phường trên địa bàn quận nhằm đáp ứng nhu cấu huy động vốn và cho vay các cá nhân, tổ chức kinh

tế trên địa bàn quận Hai Bà Trưng cũng như ở mọt số quận khác

3.Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng

Trang 4

Về nguồn tiền gửi tiết kiệm: Đây là nguồn quan trọng nhất trong các nguồn của Ngân hàng và thường chiếm tỷ trọng cao

Cân đối của tổng nguồn so với sử dụng cho vay tại cơ sở, ở Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng thường thuộc loại thừa vốn cho nên có khả năng tham gia vào hoạt động điều hoà và cân đối vốn trong toàn hệ thống Ngân hàng Công thương

b.Tình hình sử dụng vốn của ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng

Hình thức sử dụng vốn của ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng khá phong phú và đa dạng bao gồm: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn, tín dụng thuê mua và liên doanh , cho vay tài trợ uỷ thác Để nâng cao hiệu quả tín dụng, Ngân hàng đã không ngừng tăng cường trách nhiệm khi phát tiền vay để thu hồi đúng thời hạn, hạn chế nợ quá hạn

Ngân hàng đã áp dụng cơ chế cho vay linh hoạt, đầu tư khách hàng đúng hướng

cụ thể như:

Ngân hàng đã lựa chọn những khách hàng sản xuất kinh doanh có uy tín, có khả năng tài chính vững mạnh, lựa chọn những ngành, những mặt hàng mũi nhọn, các công trình trọng điểm của Nhà Nước

Ngân hàng ưu tiên đầu tư cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu

Mở rộng địa bàn hoạt động không chỉ trong quận Ba Đình mà còn tới các khách hàng ở các vùng khác

Ngân hàng bám sát các doanh nghiệp vừa và nhỏ xem xét, đầu tư vốn hợp

lý giúp doanh nghiệp từng bước ổn định sản xuất kinh doanh

Quan tâm đầu tư tín dụng đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh

Trang 5

Biểu 3: Tình hình sử dụng vốn phân theo thành phần kinh tế tại ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng

Biểu 3: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN PHÂN THEO THÀNH PHẦN KINH

TẾ TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HAI BÀ TRƯNG

Chỉ tiêu

31/12/1996 31/12/1997 31/12/1998 1997

so với 1996 (%)

1998

so với 1997 (%)

Số tuyệt đối (tr đ)

%

Số tuyệt đối (tr đ)

%

Số tuyệt đối (tr đ)

( QD : kinh tế quốc doanh

NQD: kinh tế ngoài quốc doanh)

Ngoài các hoạt động tín dụng, Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng còn thực hiện nhiều hoạt động đầu tư khác như: Tín dụng thuê mua và liên doanh, cho vay tài trợ uỷ thác của các tổ chức tín dụng nước ngoài như: Ngân hàng tái thiết

Trang 6

và phát triển Đức Đã được ngân hàng Công thương Hai Bà Trưng triển khai kịp thời theo hợp đồng đã ký kết Cuối năm 1998 dư nợ tín dụng Đài Loan là:

12460 tr đồng, cho vay EU, Việt Đức là: 155 tr đ

Tuy còn một số hạn chế song những kết quả trên đây đã chứng tỏ rằng Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng đã và đang phát triển trên mọi lĩnh vực, mọi phương diện Không ngừng tăng trưởng nguồn vốn phục vụ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, chiến lược phát triển kinh tế của đảng và Nhà Nước

II TÌNH HÌNH CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG

CÔNG THƯƠNG HAI BÀ TRƯNG.

1 Tình hình cho vay trung và dài hạn.

Trong những năm qua ( kể từ năm 1996 -1998 ) cho vay và đầu tư của chi nhánh đã bám sát được mục tiêu chung của Ngân Hàng Công Thương Việt Nam

và phù hợp với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trên địa bàn Với quan điểm

“Đầu tư theo chiều sâu cho doanh nhiệp chính là đầu tư cho tương lai của Ngân hàng “ ngân hàng công thương Hai Bà Trưng đã chủ động khai thác bổ xung các nguồn vốn trung - dài hạn bằng VND và ngoại tệ với lãi suất hợp lý để đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước , bám sát kế hoạch phát triển của đất nước

Ngân hàng đã tập trung vào các dự án mua sắm máy móc, thiết bị, công nghệ tiên tiế, xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh mới, cải tạo, mở rộng đầu tư theo chiều sâu Những kết quả đó được thể hiện cụ thể như sau: Căn cứ vào biểu 4 “ Tình hình cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng “ ta thấy: Năm 1996 dư nợ cho vay trung và dài hạn bình quân cả năm đạt: 73537 triệu đồng chiếm 16.5% ttổng dư nợ cho vay bình quân Nếu xét số dư ngày 31/12/1996 thì dư nợ cho vay trung và dài hạn đạt: 80657 triệu đồng và chiếm

Trang 7

16.5% tổng dư nợ cho vay cùng thời điểm Sang năm 1997 tổng dư nợ cho vay trung và dài hạn bình quân cả năm là: 89101 triệu đồng, tăng 21.1% so với bình quân năm 1996 tương đương chiếm 18.4% tổng dư nợ cho vay bình quân Tính đến 31/12/1997 dư nợ cho vay trung và dài hạn đạt: 100306 triệu đồng tăng 24.4

% so với 31/12/1996 và chiếm 18.1% tổng dư nợ cho vay Đến năm 1998 nếu xem xét tổng quan thì cho vay trung và dài hạn không có biến động lớ, dư nợ cho vay bình quân cả năm đạt:1045213 triệu đồng tăng 17.3% so với năm 1997, nếu tính số dư thời điểm (31/12/1998) thì đạt 108591 triệu đồng và tăng 8.2% so với năm 31/121997 và chiếm 19.68% so với tổng dư nợ Trong năm 1998 do bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế cho nên ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động của chi nhánh Các chỉ tiêu tổng quan về cho vay trung và dài hạn (như đã phân tích ở trên) tuy rằng có tăng trưởng so với năm 1997 nhưng tốc độ tăng lại có su hướng giảm (Dư nợ trung dài hạn năm 1997 tăng 24.4% so với năm 1996 nhưng trong năm 1998 tốc độ tăng này chỉ đạt 8.2%)

Với số lượng dư nợ cho vay trung dài hạn lớn như vậy ngân hàng công thương Hai Bà Trưng đã góp phần không nhỏ vào đổi mới công nghệ, tăng năng lực sản xuất kinh doanh theo hướng hiện đại hoá công nghệ sản xuất đặc biệt trong các tổng công ty xây dựng , bộ giao thông vận tải, bộ xây dựng Để xây dựng các cỏ sở hạ tầng cho đất nước, đầu tư năng lực sản suất cho các doanh nghiệp nâng cao chất lượng hàng hoá, tăng doanh số hàng suất khẩu trong các doanh nghiệp doanh nghiệp thuộc nghành chế biến

Nếu xem xét tình hình cho vay trung và dài hạn theo VND và ngoại tệ ta thấy: Dư nợ ngoại tệ chiếm tỷ trọng tương đối cao trong tổng dư nợ cho vay trung dài hạn Trong năm 1996 tỷ lệ cho vay trung và dài hạn bằng ngoại tệ chiếm: 60% tổng cho vay trung và dài hạn và bằng 37.2% tổng dư nợ bằng ngoại

Trang 8

tệ (cả ngắn hạn và trung dài hạn) Sang năm 1997 dư nợ cho vay trung dài hạn bằn ngoại tệ đạt 47361 triệu đồng và chỉ bằng 97.7% so với năm 1996 và chiếm

tỷ trọng 47.2% trên tổng dư nợ cho vay trung và dài hạn (bằng 45.2% tổng dư nợ cho vay bằng ngoại tệ của chi nhánh).Trong năm 1998 tổng dư nợ cho vay trung

và dài hạn bằng ngoại tệ tiếp tục giảm sút, tính đến 31/12/1998 dư nợ trung dài hạn bằng ngoại tệ là: 400897 triệu đồng và bằng 84.6% so với cùng kỳ năm

1997 Và tỷ trọng trên tổng dư nợ trung dài hạn cũng giảm so với năm 1997 (năm

1998 chỉ đạt 36.9%) Sở dĩ có tình trạnh giảm sút đối với cho vay trung dài hạn bằng ngoại tệ là vì vào cuối năm 1997, đầu năm 1998 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Đông Nam á dẫn đến sự phá giá của hàng loạt đồng tiền trong khu vực trong đó có đồng VND Tỷ giá USD/VND tăng mạnh, dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp không muốn vay băng ngoại tệ (chủ yếu là bằng đồng USD) bởi vì nếu vay bằng ngoại tệ trong điều kiện không ổn định nói trên thì các doanh nghiệp chịu rủi ro về tỷ giá (mặc dù lãi suất cho vay bằng ngoại tệ thường nhỏ hơn đối với lãi suất cho vay bằng VND khoảng 7.5% / năm đối với USD) Một nguyên nhân nữa dẫn đến tình trạng trên là do sự điều chỉnh lãi suất cho vay bằng ngoại tệ tăng (theo chủ trương của Ngân hàng Nhà nước là “từng bước điều chỉnh lãi suất cho vay VND bằng với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ”)

Cũng như tình hình chung của cho vay trung dài hạn thì cho vay bằng ngoại

tệ trung dài hạn cũng chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp quốc doanh và thường chiếm tỷ trọng khá cao Trong năm 1996tỷ lệ này là: 83.3%, năm 1997 là: 84.3% Và năm 1998 là 84.2%

Nếu phân chia tình hình cho vay trung và dài hạn tại ngân hàng công thương Hai Bà Trưng theo thành phần kinh tế thì ta thấy xu thế chung là chi nhánh chủ yếu tập trung vào thành phần kinh tế quốc doanh, khu vực kinh tế ngoài quốc

Trang 9

doanh vẫn còn bị xem nhẹ Căn cứ vào biểu 4 “Tình hình cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng” ta có thể phân tích cụ thể như sau:

Năm 1996 dư nợ cho vay trung và dài hạh khu vực kinh tế quốc doanh đạt

64805 triệu đồng chiếm 13.2% trên tổng dư nợ cho vay (tương đương chiếm 80% trên tổng dư nợ cho vay trung và dài hạn ) Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chỉ chiếm 3.3% trên tổng dư nợ cho vay (tương đương chiếm 20% trên tổng dư nợ cho vay trung và dài hạn).Tính đến 31/12/1997 dư nợ cho vay trung dài hạn đối với khu vực kinh tế quốc doanh đạt: 87557 triệu đồng tăng 35% so với năm 1996 (với số tuyệt đối tăng:22752 triệu đồng ) chiếm tỷ trọng 15.7%trên tổng dư nợ (tương đương chiếm 87% trên tổng dư nợ cho vay trung và dài hạn) Còn lại dư

nợ cho vay trung dài hạn khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chỉ chiếm 2.4% trên tổng dư nợ (tương đương 13% dư nợ trung dài hạn) Do việc cho vay trung dài hạn đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có phần không được an toàn so với khu vực quốc doanh, hơn nữa trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh vốn tự

có thường thấp, khả năng quản lý kinh doanh yếu kém và đặc biệt là thiếu các các

dự án đầu tư theo chiều sâu nên doanh số cho vay trung dài hạn đối với khu vực kinh tế này tại Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng có su hướng giảm sút Kể

cả trong năm 1998 tình hình này vẫn chưa được cải thiện, tính đến 31/12/1998 tổng dư nợ cho vay trung dài hạn khu vực quốc doanh là: 9346 triệu đồng chiếm

tỷ lệ 18% trên tổng dư nợ cho vay (tương đương chiếm: 91.4% tren tổng dư nợ cho vay trung và dài hạn), khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có tổng doanh số dư nợ: 9245 triệu đồng giảm 38.8% so với năm 1997 và chỉ chiếm 1.7% trên tổng dư

nợ cho vay Sự hạn chế trong cho vay trung dài hạn đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh này cần từng bước được khắc phục

Trang 10

BIỂU 5:CƠ CẤU CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HAI BÀ TRƯNG

SốTiền(tr đ)

Tỷ trọng(%)

Số tiền(tr đ)

Tỷ trọng(%)Tổng 80657 100.0 100306 100.0 108591 100.0

Qua biểu 5: “Chi tiết về cho vay trung dài hạn theo các thành phần kinh tế”

Ta thấy các ngành có quan hệ vay vốn trung dài hạn tại ngân hàng công thương Hai Bà Trưng chủ yếu là các ngành xây dựng, ngành giao thông vận tải, ngành công nghiệp chế biến, khách sạn nhà hàng Sở dĩ có đặc trưng như vậy một phần

là do địa bàn quận Hai Bà Trưng chủ yếu tập trung các tổng công ty, các doanh nghiệp hoạt động theo các lĩnh vực trên là chủ yếu Còn lại một số ngành khác như ngành lâm nghiệp, mặc dù tổng công ty Vi Na cà phê là một trong những khách hàng lớn nhất của Ngân hàng với mức dư nợ thường xuyên khoảnh 100 tỷ đồng nhưng lại không có nhu cầu vay vốn trung dài hạn mà chỉ vay vốn ngắn hạn Có thể còn do nhiều yếu tố mà Ngân hàng và khách hàng còn chưa gặp nhau trong việc cho vay trung và dài hạn nhưng qua phân tích ta thấy tình hình cho vay trung và dài hạn tại chi nhánh là rất đa dạng và phong phú

Để nghiên cứu kỹ hơn về tình hình cho vay trung và dài hạn tại ngân hàng công thương Hai Bà Trưng ta tiến hành phân tích quan hệ cho vay trung dài hạn của chi nhánh với từng ngành kinh tế :

Trang 11

+Ngành giao thông vận tải: Có mức dư nợ năm 1996 là 21139 triệu đồng chiếm tỷ trọng 26.2% , năm 1997 dư nợ : 34751 triệu đồng tăng 64% so với năm

1996, chiếm tỷ trọng 34.6% và tính đến 31/12/1998 tổng dư nợ ngành này là:

36319 triệu đồng, tăng 4.5%, chiếm tỷ trọng 33.5% Mặc dù trong năm 1998 tốc

độ tăng dư nợ ngành này có chậm lại nhưng nhìn chung thông qua số liệu trên ta thấy mức đầu tư trung dài hạn cho ngành giao thông vận tải của Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng tăng đáng kể trong thời gian gần đây Nguyên nhân chính là

do đây là ngành tập trung chủ yếu các dự án đầu tư máy móc, thiết bị để tăng năng suất và chất lượng thi công các công trình thuộc chiến lược phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng của đất nước Trong năm1998 Ngân hàng đã tiến hành đầu tư mới hàng loạt các dự án với số lượng vốn khoảng 20 tỷ VND và 700.000 USD cho ngành giao thông vận tải để mua sắm các thiết bị thi công như: Cần cẩu, máy xúc, trạm trộn bê tông, các phương tiện vận tải Cho các tổng công ty như: Tổng công ty xây dựng đường thuỷ, tổng công ty xây dựng công thình 1, các công ty trực thuộc tổng công ty cầu Thăng Long Để thi công các công trình phát triển giao thông đường bộ, xây dựng các cầu trên quốc lộ 1A

+Ngành xây dựng: Năm 1996 dư nợ đạt 21186 triệu đồng chiếm 26.3% tổng

dư nợ trung dài hạn, năm 1997 đạt 8405 triệu đồng, giảm 60.3% so với năm 1996

và chiếm tỷ trọng 8,3% Sang năm 1998 dư nợ đối với ngành xây dựng chỉ còn:

2812 triệu đồng tức giảm 66.5% so với năm 1997 và chiếm 2.6% Qua số liệu trên ta thấy được sự giảm sút nhanh chóng trong dư nợ của ngành này từ 21186 triệu đồng (năm 1996) xuống còn 2812 triệu đồng (năm 1998) Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do đặc điểm hoạt động của ngành chủ yếu cần vốn lưu động để mua sắm nguyên vật liệu, chi phí nhân công đến khi công trình bàn giao

họ có thể hoàn vốn lại cho Ngân hàng ngay vì vậy họ chủ yếu có nhu cầu vay vốn ngắn hạn Bên cạnh đó sau một thời gian tăng nhanh chóng các công trình xây

Trang 12

dựng đến nay số lượng các công trình xây dựng giảm đi một cách nhanh chóng

do những biến động về kinh tế xã hội, các doanh nghiệp này hiện nay gặp rất nhều khó khăn do chính phủ chưa phê duyệt các dự án xây dựng lớn, cũng như kế hoạch quy hoạch tổng thể đến năm 2010 Tính đến nay chỉ còn ba doanh nghiệp còn dư nợ trên tài khoản đó là: Tổng công ty xây dựng Hà Nội dư nợ:450 triệu đồng, Công ty xây dựng số 1 dư nợ: 787 triệu đồng, công ty xây dựng số 4 dư nợ:

1575 triệu đồng

+Ngành công nghiệp: Năm 1996 dư nợ 10320 triệu đồng chiếm13%, năm

1997 dư nợ: 39806 triệu đồng tăng 3.85 lần so với năm 1996 và chiếm:39.6%,đến năm 1998 doanh nghiệp đạt 53680 triệu đồng tăng 1.34 lần so với năm 1997 và chiếm tỷ trọng 49.4% Như vậy ta thấy có một sự tăng trưởng đáng kể trong dư

nợ cho vay trung và dài hạn trung dài hạn đối với ngành công nghiệp, sự tăng trưởng trên là do trong thời gian qua ngân hàng công thương Hai Bà Trưng đã chú trọng đến việc đầu tư cho các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế biến hàng xuất khẩu như: Công ty may Chiến Thắng, công ty gốm Hữu Hưng

Để đầu tư mua sắm các trang thiết bị sản xuất nhằm nâng cao chất lượng, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường và nước ngoài đối với các mặt hàng xuất khẩu

*Về quan hệ giữa cho vay và thu nợ: Xem xét cụ thể biểu 7: “Tình hình cho vay và thu nợ trung dài hạn tại Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng” ta thấy: Trong năm 1996 doanh số cho vay trung dài hạn đạt: 58320 triệu đồng, trong đó kinh tế quốc doanh chiếm 97.9% doanh số thu nợ trung dài hạn trong năm đạt:

37664 triệu đồng và cũng như cho vay thu nợ trung dài hạn chỉ tập trung vào khu vực kinh tế quốc doanh Sang năm 1997mặc dù dư nợ trung dài hạn tăng nhưng

Trang 13

doanh số cho vay và thu nợ bị giảm cụ thể: Doanh số cho vay trung dài hạn chỉ bằng 94% so với năm 1997, doanh số thu nợ chỉ bằng 92% so với năm 1997 Tuy nhiên tính đến năm 1998 thì tình hình lại có chuyển biến ngược lại:Doanh số cho vay trung và dài hạn58057 triệu đồng tăng 6% so với năm 1997, doanh số thu nợ trung dài hạn đạt 49706 triệu đồng tăng 43% so với 1997 Trong đó cũng chủ yếu

là cho vay và thu nợ đối với khu vực kinh tế quốc doanh Qua phân tích trên đây

ta thấy mặc dù có giảm về doanh số cho vay và thu nợ trong năm 1997 nhưng sang năm 1998 lại tăng chứng tỏ tình hình cho vay và thu nợ của chi nhánh đang phát triển theo chiều hướng tốt Nhìn chung doanh số cho vay và thu nợ trong các năm là khá cân bằng

2 Tình hình nợ quá hạn tại chi nhánh.

Nhìn chung tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của cho vay là tương đối thấp

cụ thể như sau: Đến 31/12/1997 tổng nợ quá hạn 18488 triệu đồng và chiếm tỷ lệ 3.32% trên tổng dư nợ Sang đấu năm 1998 do ảnh hưởng biến động nhỏ của nền kinh tế dẫn đến nợ quá hạn có tăng, tính đến 30/6/1998 tổng dư nợ quá hạn là:

20403 triệu đồng với tỷ lệ 3.55% trên tổng dư nợ Tuy nhiên vào những tháng cuối năm tình hình có chuyển biến ngược lại Tính đến31/12/1998 tổng dư nợ quá hạn giảm xuống còn 15286 triệu đồng và với tỷ lệ 1.81% trên tổng dư nợ cho vay Nếu so sánh với tỷ lệ nợ quá hạn của các Ngân hàng nói chung (thường tỷ lệ này khoảng 5%) thì đối với chi nhánh vấn đề nợ quá hạn có thể chấp nhận được Có được những kết quả như trên một phần là nhờ vào việc các cán bộ tín dụng luôn bám sát khách hàng vay vốn tạo điều kịên cho các khoản vay được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả cao, các khoản vay đến thời gian thu hồi đều được các cán

bộ tín dụng theo dõi sát sao, có nhiều hình thức đôn đốc đơn vị vay trả nợ kịp thời và có được những kết quả như vậy là nhờ vào việc chi nhánh có được số lượng khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh, có uy tín và đặc biệt là có

Trang 14

quan hệ lâu dài với Ngân hàng nhìn chung việc thu hồi vốn đều được tiến hành nhanh, thuận lợi đảm bảo an toàn vốn.

“Tình hình nợ quá hạn tại Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng.” Ta thấy

dư nợ quá hạn ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là rất lớn trong tổng dư nợ quá hạn tính đến cuối năm 1997là: 4785 triệu đồng chiếm gần 30% tổng dư nợ quá hạn Trong khi đó mức dư nợ đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cùng thời gian đó chỉ chiếm khoảnh 32% trên tổng dư nợ Chính vì tình trạng trên mà Ngân hàng có su hướng giảm cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nhờ đó mà nợ quá hạn đã giảm xuống đáng kể đối với khu vực ngoài quốc doanh vào cuối năm 1998 và đầu năm 1999 Đến 31/12/1998 tổng nợ quá hạn khu vực kinh tế ngoài quốc doanh giảm xuống còn 3216 triệu đồng chiếm 26.2% tổng dư

nợ quá hạn và với tỷ tệ 22.2% trên tổng dư nợ ngoài quốc doanh Đến 31/03/1999

nợ quá hạn khu vực này còn 3061 triệu đồng chiếm tỷ lệ 22.1% trên tổng dư nợ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh

Qua phân tích trên đây ta thấy trên thực tế nợ quá hạn khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có giảm nhưng thực chất lại là do doanh số cho vay của khu vực này giảm Chính vì vậy nếu so sánh tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của kinh tế ngoài quốc doanh thì ta thấy tỷ lệ này không hề giảm thậm chí còn tăng và tỷ lệ này còn quá cao Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thu hẹp cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh của ngân hàng công thương Hai Bà Trưng

Vấn đề đặt ra cho chi nhánh trong thời gian tới không những phải nâng dần doanh số cho vay với khu vực ngoài quốc doanh mà còn phải hạ thấp dần tỷ trọng

nợ quá hạn của khu vực này tạo ra sự cân bằng giữa các thành phần kinh tế trong việc đầu tư tín dụng của chi nhánh

Khu vực kinh tế quốc doanh tuy rằng tỷ trọng nợ quá hạn so với tổng dư nợ thấp nhưng mức dư nợ nợ quá hạn không phải là nhỏ cụ thể như sau: Vào thời điểm cuối năm 1997nợ quá hạn là: 13703 triệu đồng, sang năm 1998 vào những tháng đầu năm mức dư nợ quá hạn có tăng nhưng lai giảm vào những tháng cuối năm và đến 31/12/1998 tổng dư nợ quá hạn đối với khu vực kinh tế quốc doanh

Trang 15

là:12052 triệu đồng chiếm tỷ trọng 2.24% trên tổng dư nợ khu vực quốc doanh, đến 31/03/1999 còn tiếp tục giảm và chỉ còn: 7084 triệu đồng chiếm tỷ trọng 1.3% trên tổng dư nợ khu vực kinh tế quốc doanh Nhìn chung các doanh nghiệp quốc doanh có tình hình tài chính lành mạnh, sản xuất kinh doanh có hiệu quả Tuy nhiên các doanh nghiệp này thường vay với số tiền lớn nên khi gặp rủi ro bất khả kháng thì dư nợ quá hạn của kinh tế quốc doanh sẽ làm tăng nhanh chóng dư

nợ quá hạn của toàn chi nhánh

Trang 16

BIỂU PHÂN TÍCH NỢ QUÁ HẠN THEO KỲ HẠN NỢ TẠI NGÂN HÀNG

CÔNG THƯƠNG HAI BÀ TRƯNG

III ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI

NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HAI BÀ TRƯNG

Như đã đề cặp đến khái niệm và các chỉ tiêu đánh giá cho vay trung và dài hạn ở chương I Vì vậy để xem xét hiệu quả cho vay trung dài hạn tại ngân hàng công thương Hai Bà Trưng chúng ta sẽ dựa trên các chỉ tiêu đó để đánh giá những kết quả và những tồn tại

Trang 17

1 Những kết quả đạt được.

a.Xét về phía xã hội.

Thực hiện chủ trương của toàn ngành Ngân hàng không ngừng nâng dần tỷ trọng cho vay trung và dài hạn góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển Trong những năm qua tín dụng trung dài hạn của ngân hàng công thương Hai Bà Trưng đã đóng góp một phần đáng kể về mặt xã hội như: Nhờ có những dụ án dầu tư cho vay theo chiều sâu dẫn đến sử dụng được một khối lượng lớn lao động trong xã hội như dự án cho vay đối với công ty may Chiến Thắng mua sắm thiết bị đã tạo

ra được hơn 200 đơn vị việc làm cho cán bộ công nhân viên trong xí nghiệp Ngân hàng cũng tham gia đầu tư vốn vào nhiều cơ sở hạ tầng cho đất nước như cho cho tổng công ty cầu Thăng Long vay vốn để đầu tư xây dựng một số cầu trên quốc lộ 1A, quốc lộ 36, cho vay dự án nâng cấp sân bay Nội Bài

Ngoài ra hoat động đầu tư của Ngân hàng cũng góp phần đán kể vào việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thông qua việc cho vay các công ty như: Công ty may chiến thắng, Công ty may 10 để đầu tư sản xuất các mặt hàng suất khẩu

b Xét về phía nhà doanh nghiệp

Một là: Tỷ lệ dư nợ tín dụng trung dài hạn trên tổng dư nợ tín dụng đã tăng

trưởng không ngừng qua các năm 1996, 1997, 1998 Tuy nhiên năm1998 tỷ lệ này mới chỉ đạt khoảng 20%, nhỏ hơn mức chung của toàn hệ thống Ngân Hàng Công Thương Việ Nam(khoảng 25%) Song dù sao cũng là kết quả của sự lỗ lực không ngừng của toàn chi nhánh Thời gian qua chi nhánh đã thực hiện phương châm phục vụ đổi mới nến kinh tế theo chiều sâu Nhu cầu của các doanh nghiệp lúc này là đổi mới kỹ thuật, công nghệ để khắc phục tình trạng lạc hậu về kỹ thuật, gia tăng các máy móc thiết bị mới, hiện đại để tăng hiệu quả và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Mở rộng tín dụng trung dài hạn của Ngân hàng là

Trang 18

một giải pháp đúng đắn để chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường với môi trường cạnh tranh gay gắt Những kết quả bước đầu của ngân hàng công thương Hai Bà Trưng là tích cực cung cấp nguồn vốn trung dài hạn cho nhu cầu phát triển kinh tế, góp phần đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá hiện đậi hoá đất nước tháo gỡ những khó khăn

về vốn cho các doanh nghiệp, tạo động lực bước đầu cho các doanh nghiệp phát triển

Hai là: trong những năm qua để tạo điều kiện cho hoạt động của doanh

nghiệp được tiến hành thuận lợi cho vay đã cố gắng xem xét các dự án để cung cấp vốn nhanh chóng, chính sác, phát tiền vay đúng tiến độ công trình Vì mục tiêu lợi nhuận và cũng để tạo điều kiện chi nhánh các doanh nghiệp vay vốn dễ dàng nhanh chóng trong khuân khổ các quy chế và quy trình tín dụng để đảm bảo

an toàn tín dụng

Ba là: Ngân hàng còn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoat

động có hiệu quả thông qua các hoạt động tư vấn của mình Bởi lẽ Ngân hàng là một tổ chức liên quan đến mọi ngành kinh tế, chính vì vậy Ngân hàng sẽ là một

cơ quan có hiểu biết tổng hợp trên mọi lĩnh vực Các doanh nghiệp sẽ rất yên tâm nếu như được Ngân hàng tư vấn cho hoạt động của mình Tuy rằng khả năng này của chi nhánh chưa thật vững vàng song những năm qua chi nhánh đã triển khai công tác tiếp cận doanh nghiệp, hướng dẫn doanh nghiệp lập hồ sơ vay vốn hợp

lý, đúng quy định, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoàn thành sớm các thủ tục xin vay, Ngân hàng luôn cử các cán bộ tín dụng theo dõi quá trình hoạt động của các đơn vị vay vốn nhằm giám sát và sớm tìm ra những giải pháp cần thiết nếu đơn vị vay vốn gặp khó khăn

Trang 19

Bốn là: Vì là chi nhánh trực thuộc của Ngân Hàng Công Thương Việt Nam

nên hoạt động kinh doanh của ngân hàng công thương Hai Bà Trưng.chịu sự quản lý của Ngân Hàng Công Thương Việt Nam: Mức lãi suất mức phán quyết của chi nhánh đều do Ngân Hàng Công Thương Việt Nam quy định và kiểm tra rất sát sao Song dựa vào mối quan hệ lâu dài với các doanh nghiệp, chi nhánh luôn tạo điều kiện ưu đãi về lãi suất cho các khách hàng, khuyến khích khách hàng vay vốn thường xuyên tại chi nhánh ví dụ: 3/1998 chi nhánh xin Ngân Hàng Công Thương Việt Nam giảm 0.1% lãi suất cho tổng công ty thép Việt Nam, Tổng công ty xây dựng công trình, Tổng công ty xây dựng Hà Nội, Tổng công ty cầu Thăng Long Ưu đãi cho vay đối với hàng suất khẩu cho một số công ty: Công ty may Chiến Thắng, Công ty dung dịch hoá phẩm Nhằm giúp cho những doanh nghiệp này mở rộng sản xuất kinh doanh tăng sản lượng hàng hoá cung cấp ra thị trường nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời cũng tạo quan hệ lâu dài giữa Ngân hàng với doanh nghiệp, tăng sức hấp dẫn đối với khách hàng

Năm là: Chi nhánh đã bám sát được các doanh nghiệp vừa và nhỏ, xem xét

đầu tư vốn hợp lý, giúp các doanh nghiệp này từng bước ổn định sản xuất kinh doanh

c Xét về phía Ngân hàng

Một là:Sau nhiều năm hoạt động với kinh nghiệm của bản thân, đến nay

Ngân hàng đã có quan hệ với những khách hàng có uy tín, khả năng tài chính vững mạnh, thuộc những ngành nghề mũi nhọn, những công trình trọng điểm của Nhà nước để mở rộng và tăng vốn đầu tư nhằm phát huy hiệu quả tín dụng Ví dụ như đầu tư cho tổng công ty thép Việt Nam bao tiêu thép cho công ty thép Thái Nguyên, Tổng công ty xăng dầu Việt Nam, các đơn vị trực thuộc bộ giao thông

Trang 20

như: Tổng công ty xây dựng cầu Thăng Long, Tổng công ty xây dựng công trình

1 và các đơn vị trực thuộc Đây là một trong những thành công lớn nhất của chi nhánh Nhờ có những thành công này chi nhánh đã thu được kết quả kinh doanh khả quan, trong đó có sự đóng gópmột phần không nhỏ của lược khách hàng ổn định và có uy tín trên đây

Hai là: Thực hiện nghiệp vụ cho vay trung và dài hạn không chỉ đơn giản là

thẩm định các dự án đàu tư, thẩm định món vay rồi tung vốn cho vay mà còn là

cả một quá trình kiểm tra Trong những năm qua, ngân hàng công thương Hai Bà Trưng đã thực hiện tốt công tác kiểm tra bao gồm:

•Kiểm tra trước khi cho vay: Đây chính là bước kiểm tra tính khả thi của dự

án vay vốn

•Kiểm tra trong khi cho vay: Là nghiệp vụ thực hiện mỗi lần phát tiền vay nhằm đảm bảo số tiền vay phải bao gồm giá trị khối lượng máy móc, thiết bị và các chi phí thực tế phát sinh của công trình

•Kiểm tra sau khi cho vay: Là việc kiểm tra chứng từ vay vốn, đảm bảo nghiệp vụ cho vay có đúng chế độ, thể lệ Nhà nước ban hành Kiểm tra đơn vị sử dụng tiền vay có đúng mục đích xin vay không? Tiền vay phát ra có thực sự được dùng để đầu tư máy móc thiết bị hay chi phí cho công trình theo đúng mục đích

đã cam kết trong đơn xin vay không?

Ba là: Sở dĩ chi nhánh đạt được kết quả như hiện nay là nhờ hoạt động đầu

tư có tính chất trọng điểm Chi nhánh ưu tiên đầu tư cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng suất khẩu có uy tín như: Tổng công ty cà phê Việt Nam, Công ty giầy Thụy Khuê, Công ty may Chiến Thắng

Ngày đăng: 02/10/2013, 11:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

*Về quan hệ giữa cho vay và thu nợ: Xem xét cụ thể biểu 7: “Tình hình cho vay và thu nợ trung dài hạn tại Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng” ta thấy:  Trong năm 1996 doanh số cho vay trung dài hạn đạt: 58320 triệu đồng, trong đó  kinh tế quốc doanh chiếm - TÌNH HÌNH CHO VAY TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HAI BÀ TRƯNG
quan hệ giữa cho vay và thu nợ: Xem xét cụ thể biểu 7: “Tình hình cho vay và thu nợ trung dài hạn tại Ngân hàng công thương Hai Bà Trưng” ta thấy: Trong năm 1996 doanh số cho vay trung dài hạn đạt: 58320 triệu đồng, trong đó kinh tế quốc doanh chiếm (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w