Chính vì "nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh" nên mục tiêu môn tiếng Việt ở bậc tiểu học đã nêu những nội dung cụ thể là: nhằm hình thành và phát triển ở học si
Trang 1-SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT VÀI KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN
LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 3
Tác giả : Bùi Thu Hiền
Chức vụ : Giáo viên Tiểu học
(Tài liệu có kèm theo đĩa CD)
NĂM HỌC 2011 - 2012
Trang 2Xuất phát từ yêu cầu đổi mới đó, trong những năm qua đảng và nhà nước
ta đặc biệt quan tâm đến giáo dục Một trong những nhiệm vụ cơ bản của giáodục hiện nay là: hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh một cách toàndiện theo mục tiêu phát triển của nguồn nhân lực phục vụ cho công cuộc côngnghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Môn tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạtđộng ngôn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ của học sinh thểhiện tốt hay không là nhờ vào vốn kiến thức về tiếng Việt dồi dào và khả năngchuyển tải kiến thức - nội dung bài dạy hợp lý, sáng tạo của giáo viên
Chính vì "nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học
sinh" nên mục tiêu môn tiếng Việt ở bậc tiểu học đã nêu những nội dung cụ thể
là: nhằm hình thành và phát triển ở học sinh qua các kỹ năng sử dụng tiếng việt( nghe, nói, đọc, viết ) vận dụng trong học tập và giao tiếp ở trường và môitrường xung quanh; thông qua việc dạy và học môn tiếng việt để góp phần rènluyện các em có những thao tác tư duy về ngôn ngữ; cung cấp cho học sinh cáckiến thức sơ giản về tiếng việt và những hiểu biết ban đầu về tự nhiên - xã hội,
về con người, về văn hóa, văn học việt nam và nước ngoài; qua đó bồi dưỡngtình yêu tiếng việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng giàu đẹp củatiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người việt nam
Vì vậy muốn thực hiện tốt, có hiệu quả các yêu cầu mà mục tiêu trên đã
đề ra, đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức vững vàng, sáng tạo năng độngtrong quá trình dạy học, nắm chắc các hoạt động chủ yếu ở mỗi tiết dạy trongcác phân môn của môn tiếng việt như phân môn tập đọc, luyện từ và câu, tậplàm văn, kể chuyện…
Trong khi đó ở các trường tiểu học, cũng như những môn học khác, môntiếng Việt do chương trình giáo dục phổ thông mới đưa vào thực hiện mấy nămgần đây và giáo viên phải tiếp cận theo hướng dạy mới, tiến trình tiết dạy và cáchoạt động dạy học cũng có sự đổi mới so với trước đây, nên không ít giáo viênchưa nắm chắc các biện pháp dạy và học chủ yếu, còn lúng túng khi lên tiết dạy,làm ảnh hưởng rất lớn chất lượng học tập của học sinh và mục tiêu giáo dục
Trang 3
Đây chính là lý do thúc đẩy chúng tôi chọn môn tiếng việt để xây dựng chuyên
đề Tuy nhiên, do phạm vi tìm hiểu và thực hiện quá rộng nên chúng tôi chọn,
nghiên cứu và viết giải pháp hữu ích " Một vài kinh nghiệm dạy phân môn luyện
từ và câu lớp 3" này
.2 Mục đích nghiên cứu :
Dựa trên thực trạng dạy và học môn luyện từ và câu ở lớp 3 nói chung, dạyhọc sinh các bài tập về từ , câu, các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhânhóa, tôi muốn đưa ra một số ý kiến đổi mới để giúp các để giúp học sinh rènluyện kỹ năng dùng từ, đặt câu và sử dụng một số dấu câu; giúp học sinh mởrộng và phát triển vốn từ làm cho vốn ngôn ngữ của các em càng phong phú
3.
Đối tượng nghiên cứu :
Trong phạm vi sáng kiến kinh nghiệm này, tôi chỉ nghiêm cứu áp dụng chohọc sinh lớp 3 Các thầy cô giáo và học sinh lớp 4,5 cũng có thể đọc để thamkhảo
4.Đối tượng khảo sát và đối tượng thực nghiệm :
Học sinh lớp 3A trường Tiểu học Thái Thịnh và học sinh lớp 3A2 trường Tiểuhọc Thanh Xuân Trung
5.Ph ương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra, quan sát
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp trắc nghiệm đối chứng so sánh
- Kết hợp nhiều phương pháp hỗ trợ khác
6.Ph ạm vi và kế hoạch nghiên cứu:
Thời gian nghiên cứu từ tháng 9 năm 2010 đến tháng 2 năm 2012
B/
N ỘI DUNG :
1. Nội dung lí luận:
Với mục tiêu chung của môn Tiếng Việt thì mục tiêu của phân mônluyện từ và câu là một bộ phận nhỏ của môn tiếng việt hết sức cần thiết để rènluyện cho học sinh kỹ năng dùng từ, đặt câu và sử dụng một số dấu câu; giúphọc sinh mở rộng và phát triển vốn từ làm cho vốn ngôn ngữ của các em càngphong phú; việc giúp học sinh nắm ý nghĩa của từ, tích cực hóa vốn từ để bồidưỡng cho các em thói quen dùng từ chính xác, nói - viết thành câu, có ý thức
sử dụng tiếng việt có văn hóa trong học tập và giao tiếp
Trang 4
Phân môn luyện từ và câu ở bậc học tiểu học nói chung và phân mônluyện từ và câu ở lớp 3 nói riêng thể hiện tính tổng hợp, thực hành rất rõ, vừaphù hợp với đặc trưng của hoạt động ngôn ngữ vừa bảo đảm yêu cầu rèn luyện
kỹ năng sử dụng tiếng việt cho học sinh thông qua các bài tập thực hành về từ
và câu Thông qua mục tiêu chương trình cũng như cụ thể hóa được vai trò củanhân tố từ ngữ trong việc sử dụng tiếng việt Bên cạnh đó, phân môn luyện từ
và câu ở lớp 3 còn góp phần quan trọng giúp học sinh mở rộng và phát triển vốn
từ, yêu cầu học sinh nắm được một số câu thành ngữ, tục ngữ quen thuộc, nghĩamột số từ hán việt…
Mục tiêu phân môn luyện từ và câu ở lớp 3 là: mở rộng vốn từ theo chủđiểm, củng cố kiến thức về các kiểu câu ( thông qua các mô hình) và thành phầncâu ( thông qua các câu hỏi) đã học ở lớp 2 cung cấp cho học sinh có hiểu biết
sơ giản về các phép tu từ so sánh và nhân hóa ( thông qua các bài tập) Rènluyện cho học sinh các kỹ năng dùng từ và đặt câu, sử dụng một số dấu câu Bồidưỡng cho học sinh thói quen dùng từ, nói và viết thành câu: có ý thức sử dụngtiếng việt văn hóa trong học tập, giao tiếp và thích học tiếng việt
Do đó người giáo viên dạy lớp 3 ( hay dạy bậc tiểu học ) cần phải hội đủcác yếu tố như: có kiến thức sâu rộng và chính xác của phân môn này; nắmvững mục tiêu chung cũng như mục tiêu của từng bài dạy; có những hiểu biết
cơ bản về nội dung bài học, về ý đồ của sách giáo khoa và về cấu trúc của từngbài theo các thông tin thể hiện ở sách giáo khoa; có năng lực giảng dạy nhấtđịnh, biết xử lý và linh hoạt sáng tạo trong quá trình dạy - học Đây chính là cơ
sở vững chắc để giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách tốt nhất, các em biếtvận dụng thành công trong học tập và giao tiếp
b Giáo viên:
Giáo viên đã truyền thụ đầy đủ chính xác kiến thức và nội dung của tiết
dạy; nắm khá chắc các hoạt động dạy học cơ bản của tiết dạy, việc nghiên cứu
và chuẩn bị bài soạn khá chu đáo trước khi lên lớp Tuy nhiên, đối với từng bài,từng tiết giáo viên vẫn nghiên cứu chưa kỹ nên chưa hiểu hết ý đồ của sách giáokhoa, dẫn đến trong tiết dạy giáo viên chưa biết vận dụng - phối hợp các
phương pháp và hình thức dạy học cho phù hợp theo từng nội dung kiến thức,
từng dạng bài yêu cầu
Trong quá trình lên lớp dạy một tiết luyện từ và câu - lớp 3, một số giáo viêntuy đã có nhiều cố gắng khi nghiên cứu các tài liệu tham khảo và sách giáo viên
Trang 5
trong quá trình giảng dạy, do đặc điểm tình hình của lớp, do khả năng giáo viên
có nhiều hạn chế về kiến thức, phương pháp…hay do những yếu tố khác nênkhi vận dụng đã có những điểm tồn tại như đưa ra các hoạt động dạy học chưaphù hợp, chưa cụ thể làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tiết dạy
Vấn đề tồn tại lớn nhất là việc định hướng tiến trình của một tiết dạy phânmôn luyện từ và câu chưa cụ thể, chưa hợp lý ( thể hiện trong bài soạn ) nêngiáo viên hết sức lúng túng khi vận dụng hình thức tổ chức các hoạt động dạyhọc trong tiết dạy như: hoạt động của thầy và trò chưa theo hướng tích cực; giáoviên làm việc nhiều, chủ yếu là làm mẫu, giảng giải; chưa có sự dẫn dắt, gợi ý
để học sinh tự tìm tòi kiến thức nội dung cần biết Việc tổ chức các hình thứcchưa hợp lý, như có bài tập cần phải sử dụng hoạt động thảo luận nhóm, thì giáoviên lại tổ chức làm việc chung cả lớp, có bài tập đề bài cần tổ chức cho họcsinh hoạt động cá nhân thì giáo viên lại tổ chức trò chơi học tập tập trung đốitượng học sinh khá giỏi Thời gian bố trí cho từng hoạt động chưa phù hợp, hệthống câu hỏi và hình thức thực hành bài tập chưa đảm bảo yêu cầu, chưa phânloại đối tượng học sinh để bồi dưỡng học sinh khá giỏi và giúp đỡ học sinh yếukém trong tiết học
c Học sinh:
Nhìn chung đa số học sinh luôn cố gắng học tập đối với phân môn
này vốn từ của các em được hình thành tự nhiên và từ nhận thức qua giao tiếphàng ngày ở trường và ngoài xã hội vốn từ của các em quá nghèo nàn , các emnói chuyện với nhau và trả lời không thành câu, nhiều khi dùng từ thiếu chínhxác Bên cạnh đó, trong tiết dạy giáo viên ít chú trọng đến phần luyện nói đặcbiệt là đối tượng học sinh học yếu, giáo viên ít sử dụng hình thức chủ động tíchcực học tập cho học sinh nên các em đã ít có cơ hội thực hành giao tiếp tiếngviệt ngoài xã hội, lại càng ít được trau chuốt bồi dưỡng khả năng sử dụng tiếngviệt trong trường học
Hơn thế nữa, kỹ năng viết của các em vẫn có nhiều tồn tại như viết chưathành câu, dùng từ còn lặp đi lặp lại nhiều lần, chưa hay, đôi lúc chưa chínhxác; kỹ năng làm bài tập chưa đúng do xác định sai yêu cầu bài tập, hoặc do khảnăng vận dụng kiến thức đã học vào làm bài còn hạn chế, sử dụng dấu câukhông đúng chỗ trong câu hay đoạn văn, đặt câu và tìm câu hỏi - câu trả lời theomẫu chưa thích hợp
KÕt qu¶ kh¶o s¸t: (Riªng ë khèi líp 3)
kiến thức đi học vào làm bài
Tỷ lệ hs chưa có vốn từ phong phú , kĩ năng vận dụng tốt kiến thức đi học
vào làm bài
Tỷ lệ HS có vốn từ phong phú , kĩ năng vận dụng tốt kiến thức đi học vào làm
bài
Trang 6I/ Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh lĩnh hội kiến thức trong tiết dạy:
Để giúp học sinh lớp 3 học tốt phân môn Luyện từ và câu, giáo viên phảixem xét hệ thống bài tập, cấu trúc tri thức Tiếng Việt cần hình thành cho họcsinh Nguyên tắc phát triển tri thức - vốn từ Tiếng Việt và kiến thức - nguyêntắc ngữ pháp để làm cơ sở định hướng chọn lọc những phương pháp - phươngtiện dạy học thích hợp thực hiện một cách có hệ thống, đạt hiệu quả bài dạy.Chúng tôi đã hướng dẫn học sinh phân loại các dạng bài tập để từ đó áp dụngcác biện pháp dạy học như sau:
Loại bài tập này ngoài tác dụng giúp học sinh hình thành ý thức làm giàu vốn
từ cho bản thân , qua việc tìm các từ ngữ thuộc một chủ điểm nào đó Ngoài ra,học sinh còn có thể huy động được các từ ngữ khác nhau về nghĩa để sử dụngtrong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ
Về cách dạy loại bài tập tìm từ cùng chủ điểm, giáo viên cần chú ý đến từmẫu, đó là điểm tựa có tác dụng gợi ý định hướng cho học sinh trong quá trìnhtìm từ Đồng thời giáo viên hướng dẫn cho các em xác định đúng yêu câu củabài tập
Trang 7
Vì vậy ở từng bài tập, giáo viên nên nêu một, hai ví dụ mẫu cho học sinhtham khảo Các từ ngữ mẫu này có tác dụng gợi ý, định hướng cho học sinhđồng thời giúp học sinh hiểu rõ yêu cầu của bài tập
1.2 Loại bài tập giúp học sinh nắm nghĩa của từ, mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa:
a.Nội dung:
Ví dụ: Tìm các từ:
-) Chỉ trẻ em Mẫu : thiếu niên
-) Chỉ tính nết của trẻ em Mẫu : ngoan ngoãn
-) Chỉ tình cảm của người lớn đối vơi trẻ em.Mẫu : thương yêu
b.Biện pháp dạy học:
Đối với bài tập này, giáo viên cần giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bàitập là hiểu nghĩa của từ Do đó, giáo viên cần dựa vào hệ thống câu hỏi để họcsinh thực hiện tìm những từ có nghĩa ấy hoặc những từ đó có nghĩa như thế nào.Sau đó giáo viên chữa một phần nhỏ của bài tập làm mẫu bằng cách gọi 1 họcsinh làm cho cả lớp theo dõi góp ý Giáo viên tiến hành tổ chức cho học sinh cảlớp làm bài tập Cuối cùng giáo viên tổ chức cho học sinh trong lớp trao đổi,nhận xét về kết quả, rút ra những điểm ghi nhớ về kỹ năng và kiến thức: họcsinh nắm nghĩa của từ và biết cách vận dụng làm bài tập
1.3/ Tìm từ trái nghĩa, gần nghĩa, đồng nghĩa:
a.Nội dung:
Ví dụ: Tìm từ trái nghĩa với từ: tốt, lười biếng, nhanh…
Tìm từ đồng nghĩa với từ: chăm chỉ, siêng năng…
Tìm từ gần nghĩa với từ: vui vẻ, lo lắng…
b.Biện pháp dạy học:
Loại bài tập này, dựa trên mối quan hệ ngữ nghĩa các từ Nói cách khác làgiữa các từ có mối quan hệ với nhau về nghĩa như: quan hệ đồng nghĩa, gầnnghĩa, trái nghĩa Để tiến hành tìm các từ ngữ có quan hệ với nhau về nghĩanhằm mở rộng và phát triển vốn từ cho các em, làm phong phú vốn từ Nhưvậy, giáo viên phải hướng dẫn học sinh nắm nghĩa của từ cho sẵn được coi là từ
"trung tâm", để định hướng tìm đúng từ cần tìm theo những từ mà bài tập đãcho Ngoài ra, giáo viên cần hướng dẫn cho các em nắm được quan hệ của từnhư quan hệ đồng nghĩa là gì? ; Gần nghĩa là gì?; Trái nghĩa là gì? Từ đó việcliên hệ tìm từ của học sinh sẽ dễ dàng hơn
Trang 8
Các loại bài tập kiểu này thường có từ cho sẵn gọi là từ mẫu , từ điểm tựa làm
cơ sở Từ đó, học sinh tự liên hệ tìm hiểu mối quan hệ của chúng Đối vớitrường hợp từ cho sẵn có nghĩa trừu tượng, khó nhận biết, để trợ giúp hoạt độngtìm từ cho học sinh, giáo viên có thể giải thích nghĩa của từ cho sẵn và nêu một
số ngữ cảnh điển hình trong đó có sử dụng từ cho sẵn ấy để học sinh phát hiện
từ Khi đó việc tìm từ của các em sẽ đúng hướng, đúng yêu cầu của bài tập vàđơn giản hơn nhiều
1.4/ Mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo từ:
1.5/ Loại bài tập tìm từ ngữ cùng chủ điểm:
Trang 9
Về cách dạy loại bài tập tìm từ cùng chủ điểm, giáo viên cần chú ý đến từmẫu, đó là điểm tựa có tác dụng gợi ý định hướng cho học sinh trong quá trìnhtìm từ Đồng thời giáo viên hướng dẫn cho các em xác định đúng yêu câu củabài tập
1.6/ Loại bài tập cung cấp về từ loại:
a.Nội dung:
Ví dụ: Đọc khổ thơ dưới đây và trả lời câu hỏi:
Con mẹ đẹp sao
Những hòn tơ nhỏ
Chạy như lăn tròn
Trên sân, trên cỏ
a) Tìm các từ chỉ hoạt động trong khổ thơ trên?
b) Hoạt động chạy của những chú gà con được miêu tả bằng cách?
b.Biện pháp dạy học:
Đối với loại bài tập này, ở lớp 3 thường tập trung phát triển vốn từ cho họcsinh và lồng ghép trong nhiều dạng bài khác nhau Những từ loại ở đây chỉ lànhững kiến thức sơ giản về danh từ, động từ, tính từ như cung cấp cho các emnắm được những từ chỉ người, con vật, đồ vật; từ chỉ hoạt động, trạng thái; từchỉ đặc điểm, tính chất
Việc hướng dẫn làm các bài tập này, giáo viên cần chú ý dẫn dắt các em dựavào kinh nghiệm sống của bản thân là chủ yếu để vận dụng vào làm bài, giáoviên tránh giải thích dài dòng hoặc sa vào lý thuyết Qua việc cung cấp các từloại, giáo viên cần giúp các em biết dùng các từ loại đó đặt câu cho phù hợp
2/ Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng dùng từ đặt câu và sử dụng dấu câu: 2.1/ Loại bài tập dùng từ đặt câu:
Trang 10sự vật và hiện tượng để phân loại, phân nhóm từ; mỗi loại và mỗi nhóm từ này
là một hệ thống ngữ nghĩa cho việc dùng từ đặt câu chính xác hơn Loại bài tậpnày học sinh cần chọn được từ chỉ sự vật là chủ của hoạt động đi trước,tiếp đó
là từ chỉ hoạt động, đặc điểm cuối cùng các từ chỉ thời gian, nơi chốn.Theo cách
đó học sinh sẽ tạo được câu theo đúng trật tự cho trước
2.2/ Loại bài tập " đặt câu theo các kiểu câu Ai ( cái gì, con gì)? Là gì?( ở đâu, làm gì, bằng gì) Ai thế nào? và những bộ phận chính của các kiểu câu ấy":
a.Nội dung:
Ví dụ: Đặt câu theo mẫu Ai thế nào? để miêu tả:
a) Một bác nông dân
b) Một bông hoa trong vườn
c) Một buổi sớm mùa đông
Mẫu: Buổi sớm hôm nay lạnh cóng tay
Tuấn lên bảy tuổi ( ) em rất hay hỏi ( ) một lần ( ) em hỏi bố:
- Bố ơi, con nghe nói trái đất quay xung quanh mặt trời Có đúng thếkhông bố?
- Đúng đấy ( ) con ạ! - Bố Tuấn đáp
- Thế ban đêm không có mặt trời thì sao?
b.Biện pháp dạy học:
Trang 11
Loại bài tập này giúp các em bước đầu có ý thức và biết đăt dấu chấm, dấuchấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy vào đúng chỗ Trong quá trình hướng dẫnhọc sinh làm bài tập, giáo viên cần đảm bảo quy trình sau: Cho các em đọc vàxác định đúng yêu cầu của bài tập, học sinh được tham gia giải một phần bài tậpyêu cầu các em nắm được đặc điểm của câu thông qua đọc nhẩm để tư duy tìm
và điền dấu câu cho thích hợp ( dựa vào vốn sống của các em, ở mức độ kiếnthức lớp 2 không có phần bài học)
2.4/ Loại bài tập đặt câu theo mẫu hoặc tìm bộ phận của câu thông qua đăt câu hỏi:
a.Nội dung:
Ví dụ: Dựa theo nội dung các bài tập đọc đã học ở tuần 3, tuần 4, hãy đặt câutheo mẫu Ai là gì? để nói về:
a) Bạn Tuấn trong truyện Chiếc áo len
b) Bạn nhỏ trong bài thơ Quạt cho em ngủ
c) Bà mẹ trong truyện Người mẹ
d) Chú chim sẻ trong truyện Chú sẻ và bông hoa bằng lăng
Ví dụ: Tìm các bộ phận của câu:
- Trả lời câu hỏi " Ai ( con gì, cái gì)?"
- Trả lời câu hỏi " Làm gì?"
a) Đàn sếu đang sải cách trên cao
b) Sau một cuộc dạo chơi, đám trẻ ra về
c) Các em tới chỗ ông cụ, lễ phép hỏi
Ví dụ: Đặt câu hỏi cho các bộ phận câu được in đậm:
a) Mấy bạn học trò bỡ ngỡ đứng nép bên người thân
b) Ông ngoại dẫn tôi đi mua vở, chọn bút
c) Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng
b.Biện pháp dạy học:
Với loại bài tập trên giúp học sinh biết tư duy có hệ thống về ngữ nghĩa vànắm vững hơn về cấu tạo câu để thực hành khi nói và viết Giáo viên cần lưu ýđến đối tượng học sinh học yếu và giúp các em bằng cách gợi ý, dẫn dắt hướnglàm bài thật dễ hiểu, có như vậy các em mới làm được
Trang 12* Sự vật được so sánh: quả dừa được so sánh với đàn lợn con
tàu dừa được so sánh với chiếc lược
b.Biện pháp dạy học:
Đây là những dạng bài tập mới, có trong chương trình SGK Tiếng việt 3 tập 2, nhằm giúp học sinh làm quen với biện pháp tu từ so sánh: tên gọi biệnpháp, các cách so sánh và tác dụng của so sánh; hiểu về biện pháp tu từ sosánh, từ đó giúp học sinh sử dụng biện pháp này khi viết đoạn văn, viết cácbài tập làm văn miêu tả ở các lớp sau, tạo hiệu quả tu từ cao khi giao tiếp Trong các bài tập trên, ngữ liệu được chọn lọc, hay phù hợp với tâm lýlứa tuổi học sinh tiểu học Ngữ liệu có nội dung miêu tả sự vật rất gần gũivới các em, tạo cho các em sự thích thú khi học Các em sẽ thấy các sự vậtxung quanh trở nên ngộ nghĩnh đáng yêu hơn Nhờ đó, học sinh sẽ tiếp nhậnbiện pháp tu từ này một cách dễ hiểu hơn
-4/
Các bài tập về biện pháp tu từ nhân hóa :
a.Nội dung:
Ví dụ 1: Bài tập 2 (Tiếng việt 3 - tập 2 - trang 27).
Cho bài thơ:
Ông trời bật lửa
Chị mây vừa kéo đếnTrăng sao trốn cả rồiĐất nóng lòng chờ đợiXuống đi nào, mưa ơi!
Mưa! Mưa xuống thật rồi!
Đất hả hê uống nướcÔng sấm vỗ tay cười Làm bé chợt tỉnh giấc