1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một số phương pháp đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn vật lý

23 120 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 153,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tất cả các môn học thì vật lý học là một trong những môn khoa học về tự nhiên, nhiệm vụ chủ yếu của nó là nghiên cứu các hiện tượng vật lý, tìmnguyên nhân, khám phá ra các định luậ

Trang 1

4 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu 2

Trang 2

Trong thời kỳ đất nước đang phát triển và có những bước chuyển mìnhvượt bậc như hiện nay, sự đổi mới toàn diện trên nhiều lĩnh vực được coi là mộttrong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển vượt bậc của đất nước Đểthích ứng kịp với sự phát triển trên thì giáo dục cũng phải tự đổi mới nhằm tạo

ra những thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước có đủ sức, đủ tài đưa đất nướcsánh vai với các cường quốc trên thế giới đúng với lời dạy của Bác Thực hiệnNghị quyết lần thứ 4 của BCH TW Đảng khẳng định: "Tiếp tục đổi mới sựnghiệp giáo dục và đào tạo", toàn ngành giáo dục nói chung và các thầy cô giáonói riêng đang ra sức thi đua để đưa sự nghiệp trồng người lên một tầm cao mới

Trong tất cả các môn học thì vật lý học là một trong những môn khoa học

về tự nhiên, nhiệm vụ chủ yếu của nó là nghiên cứu các hiện tượng vật lý, tìmnguyên nhân, khám phá ra các định luật vật lý phục vụ lợi ích của con người.Vật lý là cơ sở cho nhiều ngành kỹ thuật Những thành tựu của vật lý và kỹ thuậtphục vụ rất nhiều cho cuộc sống của con người trên mọi mặt Để có hiệu quảcao trong giảng dạy thì người giáo viên dạy vật lý phải thường xuyên nghiêncứu, sử dụng những thành quả của những môn khoa học có liên quan, cần phảitiếp thu những thành tựu tiên tiến, những kinh nghiệm và phương pháp giảngdạy theo hướng đổi mới

Với những lý do trên nên tôi chọn đề tài:

"Một số phương pháp đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả dạy học bộ mônvật lý"

2 Mục đích nghiên cứu

- Đổi mới phương pháp dạy học môn vật lý để nâng cao chất lượng, hiệu

quả trong dạy học và rút ra các bài học kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu của mụctiêu giáo dục và của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

3 Nội dung nghiên cứu

- Các vấn đề thực trạng của việc đổi mới phương pháp dạy học

- Những biện pháp để đổi mới phương pháp dạy học môn vật lý ở cấp THCS

4 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu

- Học sinh đang học môn vật lý cấp THCS

5 Thành phần tham gia nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu: môn vật lý cấp THCS

- Đối tượng điều tra, khảo sát, thực nghiệm: học sinh tại trường đang công tác

Trang 3

6 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu các tài liệu nghiên cứu về giáo dục và đào tạo

- Nghiên cứu các văn kiện Đại hội của Đảng

- Nghiên cứu các chỉ thị hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học

- Nghiên cứu luật giáo dục, điều lệ trường phổ thông

b Phương pháp nghiên cứu thực tế

- Quan sát, thực hành

- Đàm thoại

- Tổng kết kinh nghiệm

7 Kế hoạch nghiên cứu

- Tháng 9/2016: lên ý tưởng, kế hoạch làm sáng kiến kinh nghiệm

- Tháng 10/2016 đến tháng 2/2017: điều tra, khảo sát, thực nghiệm: thu thập kết quả về các vấn đề thực trạng và các biện pháp đổi mới dạy học môn vật lý

- Tháng 3/2017: viết đề tài sáng kiến kinh nghiệm

PHẦN 2 NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI

1 Cơ sở lý luận

Trang 4

- Xuất phát từ mục tiêu giáo dục và đào tạo của đất nước hiện nay

Giáo dục và đào tạo hiện nay có mục tiêu lớn nhất là tạo ra các thế hệ trẻ

có trình độ văn hóa, năng lực sáng tạo, phẩm chất đạo đức tốt đáp ứng kịp thờinhững yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Để đạt được mục tiêu đó thì trong giảngdạy ở nhà trường phổ thông điều quan trọng nhất là phát triển trí tuệ và năng lực

tự học tự sáng tạo của học sinh trong học tập

- Xuất phát từ nội dung bản chất của quá trình dạy học, hoạt động nhậnthức

Bản chất của quá trình dạy học là quá trình giúp học sinh phát triển trí tuệthông qua việc rèn luyên kỹ năng, thái độ học tập Thông qua việc học, học sinhphát triên năng lực sáng tạo, bộc lộ phẩm chất tâm lý và hình thành nhân cách.Trong quá trình làm cho học sinh nắm vững kiến thức, kỹ năng, nhiệm vụ củaquá trình dạy học không phải chỉ giới hạn ở sự tạo thành các kiến thức, kỹ năng,

kỹ xảo có tính chất tái tạo đơn thuần Mà cần phải làm sao cho trong quá trìnhdạy học phát triển được ở học sinh năng lực áp dụng kiến thức trong tình huốngmới Giải nhữgn bài toán không phải chỉ là chỉ theo khuôn mẫu đã có, thực hiệnnhững bài toán làm có tính chất nghiên cứu và thiết kế, vạch ra các angorit hợp

lý mà trước kia chưa biết để giải các bài toán thuộc loại mới, cũng như nắmđược những kỹ năng, kỹ xảo mới hợp yêu cầu thực tiễn Tức là phải phát triểnnăng lực sáng tạo của học sinh

- Xuất phát từ thực tế giáo dục hiện nay

Đa số giáo viên chưa quan tâm đúng mức đến việc phát huy khả năng tựhọc, tự sáng tạo của học sinh mà chỉ chăm lo cung cấp cho học sinh những kiếnthức cần thiết để các em làm bài điểm cao Ở nhiều trường còn tập trung vàgiảng dạy lý thuyết mà bỏ qua phần thực hành và liên hệ thực tiến làm mất dầnhứng thú học tập của học sinh Điều này nguy hại là, sau khi học xong các hiệntượng vật lý và các định luật về vật lý một số em lại không biết vận dụng cáchiện tượng, định luật đó vào để giải thích một số hiện tượng về khoa học tựnhiên và không chỉ ra được ứng dụng rộng rãi của nó trong khoa học kỹ thuật

- Xuất phát từ xu thế giáo dục của thế giới hiện nay:

Về đổi mới phương pháp là vấn đề cấp bách của thời đại đối với chúng ta.Ngày nay sự đổi mới phương pháp dạy học là sự sống của giáo dục Việt Nam

Vì trước những bước tiến của nhân loại, đất nước ta đang đổi mới nền kinh tế đểhoà nhập với thế giới hiện đại Do vậy việc đổi mới phương pháp dạy học làkhông thể thiếu được trong nhà trường hiện nay Dạy học, lấy học sinh làm

Trang 5

trung tâm là cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học Có như vậy thì mới

có phát huy được năng lực Năng lực đó phải được đào tạo và rèn luyện thànhthói quen, phải được hình thành từ nhà trường phổ thông cũng như của mônkhoa học tự nhiên khác Vì môn Vật lý là môn khoa học thực nghiệm nó là cơ sởcho nhiều ngành kỹ thuật, các máy móc được chế tạo dựa trên các thành tựu vậtlý: Động cơ ô tô, máy bay được chế tạo dựa vào kiến thức về nhiệt, Máy phátđiện, động cơ điện, vô tuyến truyền hình được chế tạo dựa trên kiến thức vềđiện những thành tựu của vật lý và kỹ thuật phục vụ rất nhiều cho cuộc sốngcủa con người trên mọi mặt Vì vậy việc đổi mới phương pháp trong dạy học vật

lý là không thể thiếu được

2 Thực trạng của việc đổi mới phương pháp dạy học

Trong những năm cải cách giáo dục (1981 đến nay) chúng ta đang cốgắng và đa dạng hoá cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Cải cách giáo dục trên

cả 3 mặt: hệ thống giáo dục, nội dung và phương pháp dạy học Song phươngpháp giáo dục vẫn chưa được quan tâm và phương pháp dạy học chưa được đổimới tương xứng Mặc dù những năm gần đây có cố gắng mà cụ thể là số giáoviên giỏi, học sinh giỏi cũng đã tăng nhiều so với những năm trước Tuy nhiêntình trạng phổ biến vẫn là:

+ Các bài dạy chưa có đầy đủ các thí nghiệm, vẫn còn tình trạng dạychay, các bộ dụng cụ thí nghiệm được trang bị về trường đa phần chất lượngchưa tốt, trải qua các năm học dần bị mai một làm cho học sinh ở các năm họcsau không có đủ dụng cụ để thực hành hoặc nếu đủ thì chưa đáp ứng được yêucầu về số lượng, chất lượng

+ Giáo viên thuyết trình kết hợp với đàm thoại chưa đưa học sinh vào tìnhhuống có vấn đề Hệ thống câu hỏi và các tình huống của giáo viên đưa ra chưasát sao, chưa gắn với thực tiễn bài học, chưa gần gũi với học sinh

+ Học sinh được luyện tập, thực hành ít và chủ yếu là vận dụng tri thứcmột cách máy móc đơn giản, chưa thấy được ứng dụng của các kiến thức đã học

vào trong thực tế.

3 Những biện pháp đổi mới phương pháp dạy học môn vât lý ở trường THCS

3.1 Nắm bắt được mục tiêu của mỗi bài học

Mục tiêu: Là căn cứ để đánh giá chất lượng của học sinh và hiệu quả bàidạy của giáo viên Người dạy phải nắm bắt được mục tiêu dạy học trong từng

Trang 6

Thí dụ khái niệm ảnh ảo: Thông thường học sinh chỉ biết cái ảnh cụ thể,

có thể nhìn thấy, sờ thấy như ảnh ở thẻ học sinh, ảnh in trên báo ảnh ảo là mộtkhái niệm khác hẳn, tuy là ảnh ảo nhưng vẫn tồn tại thật, vẫn xác định được vịtrí, độ lớn nhưng lại không hứng được trên màn Học sinh phân biệt được ảnh ảoảnh thật

Chú trọng việc xây dựng kiến thức xuất phát từ những hiểu biết, nhữngkinh nghiệm đã có của học sinh rồi sửa đổi, bổ sung phát triển thành kiến thứckhoa học Tránh việc đưa ra ngay những khái niệm trừu tượng xa lạ với họcsinh, diễn đạt bằng những câu, chữ khó hiểu Thông thường một định luật vật lý

có hai phần: Phần định tính và định lượng Tuỳ từng định luật, từng đối tượnghọc sinh và điều kiện giảng dạy, giáo viên có thể đưa cả hai phần hay không?

Thí dụ:

- Định luật bảo toàn cơ năng gồm 2 phần:

+ Định tính: cơ năng của một hệ kín là một đại lượng được bảo toàn.+ Định lượng: động năng + thế năng = cơ năng = không đổi

Trong khi giảng dạy, giáo viên có thể chỉ đưa vào nội dung phần địnhtính và giải thích cho học sinh hiểu hoặc đưa vào cả phần định lượng để học sinhnắm được bài rõ hơn

- Biên độ dao động của vật dao động càng lớn thì âm phát ra càng to

- Hiệu điện thế giữa hai đầu bóng đèn càng lớn (nhỏ) thì dòng điện chạyqua bóng đèn có cường độ dòng điện càng lớn (nhỏ)

Trang 7

Những hiểu biết về phương pháp nhận thức khoa học cũng được nâng caothêm một mức Cần hướng dẫn học sinh thường xuyên đưa nhiều dự đoán khácnhau về cùng một hiện tượng và tự lực đề xuất các phương án làm thí nghiệm đểkiểm tra dự đoán Có thể học sinh chỉ nêu được sơ bộ về phương án, kiểm tra,giáo viên cần giúp đỡ họ phát triển hoàn chỉnh phương án để trở thành khả thihoặc thảo luận để chọn phương án tối ưu Cần hướng dẫn học sinh thực hiện một

số phương pháp suy luận khác như phương pháp tương tự, phương pháp tìmnguyên nhân của hiện tượng Những hiểu biết về phương pháp nhận thức đó,nhằm rèn luyện cho học sinh thói quen mỗi khi rút ra một kết luận không thểdựa vào cảm tính mà phải có căn cứ thực tế và biết cách suy luận chặt chẽ

b Về kỹ năng

- Về kỹ năng quan sát:

Bước đầu xây dựng cho học sinh biết quan sát mục đích, có kế hoạch.Trong một số trường hợp đơn giản học sinh có thể tự vạch ra kế hoạch quan sátchứ không phải tuỳ tiện ngẫu nhiên, có khi phải tổ chức cho học sinh trao đổi kỹtrong nhóm về mục đích kế quan sát rồi mới thực hiện quan sát

- Kỹ năng thu thập xử lý thông tin:

Trong khi quan sát thí nghiệm chú trọng trong việc ghi chép các thông tinthu thập được, lập thành biểu bảng một cách trung thực Việc xử lý thông tin, dữliệu thu được phải theo những phương pháp xác định, thực chất phương phápsuy luận là để từ những dữ liệu, số liệu cụ thể rút ra kết luạn chung (quy nạp)hay từ những tính chất quy luật chung suy ra những biểu hiện cụ thể trong thựctiễn (suy diễn) Chú trọng ngôn ngữ phát triển, ngôn ngữ vật lý ở học sinh Yêucầu học sinh phải sử dụng những khái niện mới để mô tả và giải thích các hiệntượng, các quá trình, rèn luyện kỹ năng diễn đạt rõ ràng, chính xác ngôn ngữ củavật lý, thông qua việc trình bày các kết quả quan sát nghiên cứu và trong thảoluận ở nhóm, ở lớp Tạo điều kiện để học sinh nói nhiều hơn ở nhóm, ở lớp

Trang 8

3.2 Tổ chức học sinh học tập chiếm lĩnh tri thức

Hình thức chủ yếu vẫn là học tập theo lớp, cả lớp cùng nghiên cứu mộtvấn đề, đạt đến cùng một kết luận riêng bài thực hành khác với trước đây, bâygiờ bao gồm 2 loại:

- Loại thứ nhất: Học sinh thông qua thí nghiệm hình thành kiến thức mới.Loại này khác với loại bài nghiên cứu kiến thức mới thông thường dựa trên thínghiệm ở chỗ: học sinh phải tiến hành các phép đo đạc định lượng, phải làm báocác kết quả thực hành Đối với hình thức này, học sinh chủ động tìm ra kiếnthức dưới sự hướng dẫn của giáo viên Thí dụ như bài 27 "đo hiệu điện thế vàcường độ dòng điện đối với mạch điện song song: (Vật lý 7)

- Loại thứ hai: Không nhằm hình thành kiến thức mới, chỉ nhằm rèn luyệnmột loạt kỹ năng phân biệt, loại này giống như các bài thực hành đang có ởTHCS hiện nay Thí dụ: như bài 6 "Quan sát và vẽ ảnh của một vật tạo bởigương phẳng: (Vật lý 7)

Học sinh ngày càng phát triển hoàn thiện hơn, hình thức làm việc theonhóm, cụ thể là:

+ Phân công nhận và thu dọn, nộp lại dụng cụ thí nghiệm của nhóm

+ Điều khiển hoạt động của nhóm: Phân công công việc, trao đổi ý kiến,tập hợp những ý kiến khác nhau, lần lượt cử người đại diện nhóm phát biểu

+ Nhắc nhở các thành viên hoàn thành nhiệm vụ cá nhân và nhiệm vụchung của nhóm

+ Sử dụng rộng rãi có hiệu quả hình thức làm việc theo nhóm ở lớp nhằm:

- Tạo điều kiện khuyến khích học sinh làm việc tự lực

- Tạo điều kiện, khôngkhí thuận lợi để mỗi học sinh phát biểu ý kiến cánhân, phát huy sáng tạo rèn luyện ngôn ngữ

+ Rèn luyện thói quen phân công, hợp tác giúp đỡ nhau trong hoạt độngtập thể, trong cộng đồng: Vừa tự do nêu ý kiến riêng (dù chưa được đầy đủ,chính xác) Biết tranh luận để bảo vệ ý kiến của mình, vừa biết lắng nghe ý kiến

Trang 9

của bạn Nhờ có ý kiến của bnạn trong nhóm mà sửa lại ý kiến sai của mình vàgợíy cho mình những suy nghĩ mới

3.3 Một số cách đặt câu hỏi (có 6 cách).

a, Câu hỏi (biết)

- Mục tiêu: Kiểm tra trí nhớ của học sinh về các dữ kiện, số liệu, địnhnghĩa, tên tuổi, địa điểm

- Tác dụng: Giúp học sinh ôn lại những gì đã học

- Cách đặt câu: Cái gì? bao nhiêu? hãy định nghĩa?

Em biết những gì, hãy mô tả, cái nào? bao giờ? khi nào?

b, Câu hỏi " hiểu"

- Mục tiêu: Kiểm tra học sinh cách liên hệ, kết nối các số liệu dữ kiện,định nghĩa

- Tác dụng cho thấy học sinh có khả năng diễn tả được lời nói nêu đượccác yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong bài học

- Cách đặt cây hỏi: Tại sao? Hãy liên hệ? Hãy so sánh? Hãy tính?

Làm thế nào? Hãy tính sự chênh lệch? hoặc em có thể giải quyết khó khăn

về vấn đề này như thế nào?

d, Câu hỏi " phân tích" :

- Mục tiêu: Kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đề từ đó đi đến kếtluận hoặc tìm ra mối quan hệ hoặc chứng minh vấn đề nào đó

- Tác dụng: Cho thấy khả năng tìm ra mối quan hệ mới tự diễn giải và đưa

ra kết luận

- Câu hỏi: Tại sao?

Em có nhận xét gì ?

Hãy chứng minh ?

Trang 10

- Cách đặt câu hỏi: Em hãy tìm ra cách ?

f Câu hỏi " đánh giá" :

- Mục tiêu: Kiểm tra học sinh có thể đóng góp ý kiến hoặc đánh giá ýtưởng giải pháp

Tóm lại: Các câu hỏi của giáo viên đưa ra phải có sự lựa chọn, tinh giản

Tư duy bắt đầu từ cảm giác, tri giác các đối tượng và các hiện tượng.Không có sự nhận thức cảm tính thì không có thể có tư duy của học sinh Từ đâyrút ra nhiệm vụ quan trọng của việc dạy học vật lý trongviệc phát triển tư duy,phát triển những năng lực trí tuệ chung là : kích thích sự quan sát hiện tượng,quá trình và các đối tượng một cách chăm chú có định hướng

Trong những dấu hiệu cơ bản của sự phát triển trí tuệcủa học sinh là: Khảnăng so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trìu tượng hoá tách ra được cáibản chất trong các hiện tượng, trong mỗi tình huống Và việc chuẩn bị thínghiệm và việc kế hoạch hoá chúng, việc tiến hành các thí nghiệm là nhằm đượcmục đích đó

- Phát triển ngôn ngữ cho học sinh:

Tư duy và ngôn ngữ trong sự thống nhất không thể tách rời, do đó sự pháttriển tư duy có liên quan trực tiếp với sự phát triển ngôn ngữ của học sinh

Việc dạy học vật lý phải thúc đẩy học sinh mô tả, giải thích các đối tượng,các hiện tượng, các quá trình vật lý và các ứng dụng kỹ thuật dưới hình thức nói

và viết theo một trình tự logic và đúng ngữ pháp Muốn vậy phải sử dụng cho

Trang 11

học sinh thuật ngữ chuyên môn đẻ mô tả và giải thích các hiện tượng, giải thích

rõ các giai đoạn nối tiếp của thí nghiệm và nội dung của các phương trình vật lý

Phát triển tư duy logic, tư duy vật lý và tư duy khoa học kỹ thuật

+ Tư duy logic:

Để phát triển tư duy logic cần sử dụng việc đánh giá những quan sát vàthực nghiệm Việc giải thích những mối liên hệ tương hỗ của những hiện tượngvật lý, việc dự đoán những kết quả mong muốn, việc kiểm tra bằng thực nghiệmnhững hệ quả tút ra từ các giả thuyết và thuyết

+ Tư duy biện chứng:

Các hiện tượng và quá trình vật lý cần được khảo sát hoàn toàn phù hợpvới sự sự phát triển biện chứng của chúng Điều đó có nghĩa là chúng phải đượcphân tích toàn diện, được xem xét trong những mối quan hệ tương hỗ của chúngtrong sự phát triển lịch sử và mâu thuẫn nội taị Việc dạy học vật lý ngay từnhững bài đầu tiên cũng đòi hỏi việc phát triển tư duy biện chứng

+ Tư duy vật lý tư duy khoa học kỹ thuật:

Tư duy vật lý là kỹ năng quan sát các hiện tượng vật lý, phân tích mộthiện tượng phức tạp thành những bộ phận, thành phần phần xác lập ở trongchúng mối liên hệ và những sự phụ thuộc xác định Tìm ra mặt định tính, địnhlượng của các hiện tượng và các đại lượng vật lý, đoán trước được các hệ quả từcác lý thuyết và áp dụng được kiến thức của mình

Tư duy KH-KT bao gồm kỹ năng tìm ra mối liên hệ sâu sắc giữa một bên

là Toán học, Vật lý học và một bên là ứng dụng kỹ thuật khác của các khoa học

đó, biến các tư tưởng khoa học thành sơ đồ, mô hình, kết cấu kỹ thuật

- Phát triển năng lực áp dụng các phương pháp nhận thức tổng quát củakhoa học

Vật lý học là môn có nhiều khả năng để làm việc này Hình thứuc vậnđộng vật lý là hình thức hoạt động đơn giản, phổ biến nhất Vì thế trong các giờ

Ngày đăng: 05/06/2020, 06:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w