1.1.1: Lịch sử ra đời của NHTM NHTM là một trong năm loại hình ngân hàng trung gian mà các nhà nghiêncứu đã tổng kết được, đó là: NHTM, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng đầu tư,Ngân hàng p
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ
HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA NHTM
1.1 Khái quát về NHTM.
1.1.1: Lịch sử ra đời của NHTM
NHTM là một trong năm loại hình ngân hàng trung gian mà các nhà nghiêncứu đã tổng kết được, đó là: NHTM, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng đầu tư,Ngân hàng phát triển, các tổ chức tín dụng và hợp tác Và đây cũng là loại hìnhchiếm lĩnh một vị trí đặc biệt trong nền kinh tế Tuy ở mỗi quốc gia có các quanđiểm khác nhau về khái niệm NHTM nhưng nhìn chung họ đều thống nhất vớinhau: NHTM là loại hình ngân hàng hoạt động vì mục đích lợi nhuận thông quaviệc kinh doanh các khoản vốn ngắn hạn là chủ yếu Theo quan điểm của các nhàngân hàng nước ta về NHTM được ghi trong luật các tổ chức tín dụng ban hànhtháng 5 năm 1990 như sau: “NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạtđộng chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệmhoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làmphương tiện thanh toán ”
Theo các nhà nghiên cứu thì mầm mống sơ khai của ngân hàng có từ thờitrung cổ mà tiền thân của nó là những hiệu kim hoàn Thời đó những người giầuthường mang tiền bạc tới những tiệm kim hoàn và gửi ở đó để đảm bảo an toàn chotài sản của họ Họ sẽ được nhận một chứng thư xác nhận quyền sở hữu về nhữngtài sản đi gửi nhưng đổi lại họ phải trả một mức phí cho hiệu kim hoàn đó Lúcđầu, những ông chủ đúc vàng dự trữ 100% để chi trả cho khách hàng Sau một thờigian dài họ nhận thấy rằng luôn luôn có một lượng tiền vàng tồn ở trong kho họgiữ vì bên cạnh những người rút tiền thì cũng có những người khác đem tiền vàogửi Mặt khác, không phải ai cũng có tiền nhàn rỗi để gửi vào mà có rất nhiều
Trang 2người đang cần vốn để đáp ứng nhu cầu kinh doanh Từ đó, các chủ hiệu kimhoàn nghĩ ra một kiểu kinh doanh mới là chỉ giữ lại một số lượng nhất định để đápứng yêu cầu rút tiền của khách hàng, phần còn lại họ sẽ cho người cần vốn vay.Dần dần thì hoạt động cho vay ngày càng phát triển, vì vậy thay vì thu phí giữ tiền,
họ lại trả cho những người gửi một số tiền nhất định nào đó Hoạt động này ngàycàng phát triển và được coi là nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng, và các tiệmkim hoàn dần dần phát triển và hình thành nên ngân hàng
Ở thời kỳ đầu, khoảng thế kỷ 15 đến thế kỷ 18 các ngân hàng còn hoạt độngđộc lập với nhau và thực hiện các chức năng như nhau, đó chính là trung gianthanh toán và phát hành giấy bạc ngân hàng
Sang thế kỷ 18, cuộc cách mạng kinh tế của các nước Tây Âu đã tạo ra mộtkhối lượng hàng hóa khổng lồ Như vậy, một mặt nó đòi hỏi phải có khối lượngvốn lớn, mặt khác nó thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá ngày càng phát triển.Các nghiệp vụ của ngân hàng như “đi vay”và “cho vay”, làm trung gian thanh toángiữa các chủ thể kinh tế cũng như phát hành giấy bạc ngân hàng diễn ra hết sức sôinổi Tuy nhiên các ngân hàng đều có quyền phát hành ra loại giấy bạc của riêngmình đã làm cho có quá nhiều loại tiền lưu thông cùng một lúc Hơn nữa nhà nướckhông thể quản lý được khối lượng tiền được phát hành Trong quá trình phát triểncủa mình ngân hàng đã được phân hoá thành hai hệ thống.Thứ nhất là nhóm ngânhàngđược phép phát hành tiền được gọi là ngân hàng phát hành, sau gọi là NHTW.Thứ hai là nhóm ngân hàng không được phép phát hàng tiền, chỉ làm trung gian tíndụng và trung gian thanh toán trong nền kinh tế, và được gọi là ngân hàng trunggian
Thời kỳ đầu khi hệ thống ngân hàng mới được phân hoá thì các ngân hàngtrung gian thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng mà ngân hàng đó có khả năngđáp ứng như : nhận tiền gửi và cho vay, làm trung gian thanh toán Sau này khi nềnkinh tế phát triển hơn thì hoạt động ngân hàng cũng từng bước được hoàn thiện
Trang 3Dựa vào tính chất kinh doanh và mục đích hoạt động mà người ta chia ra ngânhàng trung gian thành 5 loại :
Ngân hàng thương mại
1.1.2 Vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị trường
1.1.2.1 NHTM là nơi thu hút tiền nhàn rỗi và cung ứng vốn cho nền kinh tế
Trong nền kinh tế, không chỉ có riêng ngân hàng làm nhiệm vụ thu hútlượng tiền nhàn rỗi và cung cấp vốn cho các chủ thể thiếu vốn, nhưng NHTM vẫn
là tổ chức thực hiện công việc này hiệu quả nhất Và đây được coi là chức năng cơ
Trang 4bản nhất của ngân hàng, đồng thời tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năngkhác Khi thực hiện các chức năng làm trung gian tín dụng NHTM giống như chiếccầu để nối giữa những người có vốn mà chưa có ý tưởng kinh doanh và nhữngngười có ý tưởng kinh doanh nhưng chưa có vốn Hay nói cụ thể hơn là ngân hàng
“đi vay ” để “cho vay” Ngân hàng thực được việc này dựa trên cơ sở ngân hàng làmột tổ chức chuyên kinh doanh về tiền tệ và tín dụng, có khả năng nhận biết khảnăng cung và cầu vốn trên thị trường, và đặc biệt là có uy tín khá cao Dựa vào uytín của ngân hàng mà những người có tiền đem vào đó để gửi, họ vừa đạt đượcmục đích là đảm bảo an toàn cho tài sản của mình mà lại vừa có thu nhập Trên cơ
sở đó ngân hàng đã tập hợp được khối tiền nhàn rỗi và cho những người cần vốnvay Như vậy NHTM đã giúp góp phần tạo được lợi ích cho tất cả các bên Đối vớingười vay tiền sẽ thoả mãn được vốn để kinh doanh một cách nhanh nhất, chi phí
về thời gian và tiền bạc thấp nhất Đối với bản thân NHTM thì sẽ kiếm được lợinhuận từ phần chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền cho vay Cũng giốngnhư bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động kinh doanh trên thị trường, lợi nhuậnnày sẽ quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Và đối với tổng thểnền kinh tế, chức năng trung gian tín dụng sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì cácthành phần kinh tế có vốn kịp thời để đáp ứng yêu cầu sản xuất và tái sản xuất mởrộng Ngoài ra khi có mặt của NHTM thì quá trình luân chuyển hàng hoá diễn ranhanh hơn Như vậy hoạt động “đi vay ”để “cho vay” của NHTM chiếm một vị tríquan trọng trong nền kinh tế Và khi thực hiện tốt chức năng này thì sẽ tạo ra nềntảng vững chắc để NHTM thực hiện các chức năng khác
1.1.2.2 NHTM là cầu nối giữa thị trường tài chính trong nước và quốc tế.
NHTM là đơn vị có chi nhánh rộng khắp không chỉ trong nội bộ một quốcgia mà còn cả ở nước ngoài Và lợi thế như vậy NHTM dễ dàng thu hút và mởrộng vốn đầu tư nước ngoài vào trong nước Đối với những người muốn đầu tư vàonước khác có hai cách: một là đầu tư trực tiếp và hai là đầu tư gián tiếp Hình thức
Trang 5đầu tư trực tiếp có thể đem lại lợi nhuận cao nhưng đổi lại người ta phải nghiêncứu nhiều yếu tố như: môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý, cơ sở vật chất
hạ tầng và khả năng thất bại cũng rất cao Hình thức đầu tư nước ngoài được ưachuộng hơn là đầu tư gián tiếp, có nghĩa là các nhà đầu tư mua bán cổ phiếu , tráiphiếu trên thị trường chứng khoán Mà NHTM là chủ thể tham gia trên thịtrường chứng khoán ấy, nếu họ hoạt động tích cực sẽ làm cho thị trường chứngkhoán sôi động, và như vậy họ không chỉ lôi kéo người đầu tư trong nước đầu tư
mà cả người đầu tư nước ngoài
Mạng lưới hoạt động vượt qua biên giới quốc gia của các NHTM đem lạimột lợi thế rất quan trọng khác Đó là họ có điều kiện để am hiểu về môi trườngpháp lý, môi trường kinh doanh, cơ sở vật chất hạ tầng của nước sở tại họ hoạtđộng, từ đây họ có thể cung cấp thông tin đó cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩunước nhà Đa phần các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước bị thiếu thông tinhoặc có thông tin nhưng không đầy đủ và hoàn hảo nên dẫn đến có quyết sách sailầm Vì vậy, đối với họ những thông tin mà ngân hàng cung cấp sẽ giúp ích cho họtrong quá trình kinh doanh Không chỉ các doanh nghiệp có lợi mà qua đó các chinhánh NHTM hoạt động ở nước ngoài vừa thu được phí tư vấn và vừa nâng caođược uy tín Khi nền kinh tế phát triển thì vai trò này sẽ được đề cao hơn nữa
1.1.2.3 Vai trò trung gian thanh toán
Vai trò này thực hiện được thì phải dựa trên cơ sở là Ngân hàng làm thủ quỹcho xã hội Theo đó thì các NHTM mở tài khoản tiền gửi, thực hiện quản lý tàikhoản và tiến hành thu, chi theo lệnh của khách hàng Nếu càng có nhiều đơn vị, cánhân mở tài khoản ở ngân hàng thì việc thu chi sẽ càng được thực hiện nhiều ngaytrên tài khoản và lượng tiền mặt trong lưu thông sẽ giảm Việc giảm lượng tiền mặttrong lưu thông đem lại lợi ích cho nhà nước mà người dân cũng được hưởng íchlợi đó Mặt khác khi việc thanh toán qua ngân hàng tăng lên sẽ làm cho tốc độ luânchuyển vốn và hàng hoá tăng lên; vốn nhàn rỗi sẽ được tập trung nhiều hơn ở ngân
Trang 6hàng để đầu tư cho nền kinh tế; tăng cường được sự quản lý của nhà nước đối vớicác chủ thể kinh tế Phương thức TTKDTM ra đời không chỉ khắc phục đượcnhược điểm của phương thức thanh toán bằng tiền mặt mà còn có ý nghĩa to lớnkhác Chính vì thế mà phương thức thanh toán qua ngân hàng là xu hướng phổbiến hiện nay Nó cũng được coi là chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển kinh tế, xãhội, văn minh của đất nước Người ta thấy rằng càng ở những nước có nền kinh tếphát triển thì tỷ trọng TTKDTM càng lớn
1.1.3 Các nghiệp vụ chủ yéu của NHTM.
1.1.3.1 Các nghiệp vụ thuộc tài sản nợ và vốn.
Nghiệp vụ thuộc tài sản Nợ phản ánh nguồn vốn của ngân hàng Từ sau cuộcsuy thoái kinh tế thế giới 1929-1930, phần lớn các NHTM trên thế giới đều chútrọng đến việc quản lý tài sản Có Tuy nhiên, tới năm 1960 người ta đã giành sựquan tâm đến việc quản lý tài sản Nợ Người ta nghiên cứu và chia bên tài sản Nợthành 3 nghiệp vụ như sau:
* Nghiệp vụ tiền gửi :
Tiền gửi không kỳ hạn
Tiền gửi không kỳ hạn hay còn được gọi là tiền gửi thanh toán mà đặc tínhcủa nó là khách hàng có thể rút bất cứ lúc nào Đối với loại tiền gửi này mục đíchchính của khách hàng là bảo đảm an toàn cho tài sản của họ và sử dụng các tiện íchtrên tài khoản đó Do đó mức lãi suất tiền gửi mà ngân hàng đưa ra hầu như khôngảnh hưởng đến số dư và sự biến động trên tài khoản Đây là nguồn vốn rẻ nhất củangân hàng vì trước đây ngân hàng không trả lãi cho loại tiền gửi này, ngày nay hầuhết các ngân hàng đều trả lãi, tuy nhiên đó chỉ là lãi suất khuyến khích nên rất thấp
Tiền gửi có kỳ hạn
Với loại này khách hàng được rút tiền ra sau một thời hạn nào đó mà kháchhàng đã cam kết với ngân hàng ví dụ như 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng, 24tháng Trước đây, nếu khách hàng đến rút trước thời hạn dù chỉ là một ngày thì
Trang 7ngân hàng không trả lãi Khi sự cạnh tranh giữa các ngân hàng cao, để thu hútkhách hàng thì các ngân hàng đã cho khách hàng rút trước hạn hưởng lãi suấtkhông kỳ hạn Mức lãi suất là nhân tố hấp dẫn, quyết định đến lượng tiền gửi vàongân hàng vì mục đích của khách hàng là hưởng lãi suất Chi phí trả lãi cao nhưngnguồn vốn này ổn định, ngân hàng có thể chủ động lập kế hoạch sử dụng vốn
Tiền gửi tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm là tiền để dành của dân cư được gửi vào ngân hàng nhằmmục đích hưởng lãi Cũng giống như tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm là loạitiền gửi phi giao dịch Mục đích của người gửi tiền là hưởng lãi suất cho nên càngđưa ra mức lãi suất cao thì ngân hàng càng có thể thu hút được nhiều vốn hơn ỞViệt Nam có 3 loại tiền gửi tiết kiệm sau:
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn : về bản chất thì giống tiền gửi không kỳhạn tuy nhiên khách hàng không được hưởng các dịch vụ thanh toán (trên tàikhoản loại này ) nên số dư của nó ít biến động và khách hàng được hưởng mức lãisuất nhất định
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khách hàng chỉ được rúttiền sau một thời hạn nhất định Cũng giống như tiền gửi tiết kiệm, yếu tố lãi suất
sẽ quyết định đến lượng vốn huy động, lãi suất cao sẽ kích thích người dân tiếtkiệm tiêu dùng để gửi vào ngân hàng
+ Tiền gửi tiết kiệm có mục đích : thường là loại tiết kiệm trung và dài hạnnhằm mục đích lớn như: xây nhà ở, mua ô tô xịn Ngân hàng còn đưa ra một số
ưu đãi cho loại hình tiền gửi này là ngoài việc được hưởng lãi, khách hàng cònđược hỗ trợ thêm tiền nếu có nhu cầu
Xét trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thì bộ phận tiền gửi chiếm một tỷtrọng lớn Bộ phận này có ý nghĩa rất quan trọng vì ngoài ưu thế là chi phí rẻ vànguồn vốn tương đối ổn định thì tỉ trọng của nó còn thể hiện uy tín của ngân hàng.Tất cả các ngân hàng đều quan tâm đến phát triển nghiệp vụ này
Trang 8*Nghiệp vụ đi vay
Phát hành GTCG
Để thu hút được tối đa nguồn vốn từ hình thức này các ngân hàng thườngđưa ra nhiều loại hình đó là: phát hành theo mệnh giá; phát hành theo hình thứcchiết khấu Trong từng loại ngân hàng còn chia nhỏ ra theo kỳ hạn trả lãi khácnhau để phù hợp với mọi đối tượng khách hàng
Cùng với nghiệp vụ tiền gửi, nghiệp vụ này cũng thuộc nghiệp vụ huy độngvốn của ngân hàng Khi áp dụng hình thức phát hành GTCG để huy động vốn thìngân hàng sẽ có ba điểm thuận lợi Thứ nhất là ngân hàng không phải duy trìDTBB nếu chỉ phát hành GTCG có thời hạn dưới một năm Thứ hai là ngân hàng
sẽ chủ động về khối lượng vốn huy động hơn là nhận tiền gửi Thứ ba là khi pháthành GTCG ngân hàng đã ấn định thời gian đáo hạn của nó cho nên ngân hàngcũng giữ vị thế là người chủ động về thời gian huy động Thông thường việc pháthành GTCG là để phục vụ một mục đích đặt ra trước đó của ngân hàng Nhận thấycác ưu điểm trên nên càng ngày các ngân hàng càng chú trọng đến nghiệp vụ huyđộng vốn loại này
Vay từ NHTW
Đây là nguồn vốn thường xuyên nhưng hết sức cần thiết đối với cácNHTM Nguồn vốn này đảm bảo khả năng thanh toán của các NHTM khi khôngvay được từ các nguồn khác, đôi khi nó là phao cứu hộ khi các NHTM đang ở bên
bờ vực sụp đổ Thông qua các hình thức chiết khấu, tái chiết khấu các GTCG, chovay lại theo hồ sơ tín dụng, cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và cácGTCG ngắn hạn khác NHTW thực hiện tái cấp vốn đối với các NHTM Đây làmột nguồn để NHTM tạo nguồn vốn cho mình nhưng thông qua đó NHTW quản lý
vĩ mô đối với các NHTM và thực hiện chính sách tiền tệ đã đặt ra
Vay từ các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác
Trang 9Chi phí cho nguồn vốn này rất đắt, các ngân hàng chỉ vay trên thị trường tiền
tệ liên ngân hàng khi không thể huy động từ các nguồn khác Nguồn vốn nàykhông chỉ có chi phí cao mà thường kém ổn định nên đối với loại này ngân hàngthường vay trong thời gian ngắn, phổ biến là vay qua đêm Trong quá trình hoạtđộng của mình thì các đều phải sử dụng nghiệp vụ này, tuy nhiên mức độ sử dụngnhiều hay ít lại phụ thuộc vào từng ngân hàng trong từng giai đoạn cụ thể nhưngnói chung càng sử dụng ít càng tốt
Các nguồn vốn khác của ngân hàng
Đó là đi vay từ các ngân hàng nước ngoài, vay từ những công ty mẹ củangân hàng( những công ty nắm giữ ngân hàng ); phát hành hợp đồng mua lại ởcác nước phát triển thì nghiệp vụ này mới phát sinh, còn các NHTM ở những nướcđang phát triển như Việt Nam thì hầu như không có và nếu có cũng không đáng kể
* Vốn của ngân hàng
Cũng giống như bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động trên thịtrường thì phải tự tạo cho mình một lượng vốn nào đó, mức vốn này được gọi làVTC Tuỳ từng ngành nghề và tuỳ từng quốc gia mà pháp luật quy định chủ doanhnghiệp phải có hay không phải có một lượng vốn tối thiểu nào đó Riêng với ngànhngân hàng thì tất cả các quốc gia đều quy định phải có vốn pháp định Vốn phápđịnh là một phận của VTC vì VTC còn bao gồm cả quỹ dự trữ và vốn coi như tự
có Quỹ dự trữ của ngân gồm có quỹ dự trữ bổ xung vốn điều lệ và quỹ dự trữ đặcbiệt để bù đắp rủi ro Quỹ dự trữ này được trích ra từ lợi nhuận sau thuế của ngânhàng với hai mục đích: mục đích thứ nhất là đảm bảo an toàn trong hoạt động kinhdoanh vì đây chính là nguồn bù đắp khi ngân hàng thực sự gặp rủi ro; mục đích thứhai là làm tăng thêm nguồn VTC cho ngân hàng Đây là một trong số các chỉ tiêu
để đánh giá uy tín của một ngân hàng Còn vốn coi như tự có bao gồm lợi nhuậnchưa chia, các quỹ khác chưa sử dụng như quỹ khấu hao TSCĐ, quỹ khen thưởngphúc lợi, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ
Trang 10VTC của ngân hàng chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn củangân hàng nhưng nó có ý nghĩa hết sức quan trọng Trước hết nó quyết định đến sự
ra đời của một ngân hàng, tiếp nữa nó quyết định đến quy mô hoạt động của ngânhàng, là tiếng nói góp phần nâng cao uy tín của ngân hàng trong quá trình thu húttiền gửi, cung cấp tiền vay cũng như các sản phẩm dịch vụ ngân hàng khác
1.1.3.2 Nghiệp vụ tài sản Có
Nếu nghiệp vụ tài sản Nợ tạo nguồn vốn cho ngân hàng thì nghiệp vụ tàisản Có là cách thức mà ngân hàng sử dụng nguồn vốn của mình Để tạo đượcnguồn vốn đã là khó nhưng phải sử dụng và quản lý nó làm sao có hiệu quả thìcàng khó hơn Các nhà ngân hàng đã xác định được nghiệp vụ tài sản Có bao gồmcác nghiệp vụ cơ bản sau:
a Nghiệp vụ ngân quỹ
Đây chính là khoản dự trữ của ngân hàng để vừa đáp ứng nhu cầu thanhkhoản, tín dụng của ngân hàng và vừa đảm bảo được hoạt động kinh doanh tiền tệ
có hiệu quả Nghiệp vụ này bao gồm các loại sau:
Tiền mặt tại quỹ: gồm tiền giấy và tiền làm loại được quản lý tại ngân
hàng lượng tiền mặt nhiều hay ít phụ thuộc vào quy mô hoạt động của ngân hàng
và thời gian kinh doanh Loại này không mang lại lợi nhuận cho ngân hàng nhưngcác ngân hàng bắt buộc phải duy trì vì nó đảm bảo nhu câu rút tiền, nhu cầu tíndụng của khách hàng Nếu tiền tồn quý không hợp lý sẽ mang lại tai hại cho ngânhàng hoặc là không đáp ứng được khả năng thanh khoản, hoặc là dự trữ dư thừa sẽmất đi khả năng sinh lời của đồng tiền Vì vậy, các ngân hàng phải xác định đểmức độ duy trì tiền mặt tồn quỹ là hợp lý
Tiền gửi tại các ngân hàng khác.
Mục đích của hoạt động này là duy trì hoạt động thanh toán giữa các ngânhàng, giao dịch ngoại tệ, mua bán chứng khoán Ngoài ra thì ngân hàng gửi còn
Trang 11được hưởng lãi, dù lãi suất thấp nhưng với lượng tiền với lượng tiền gửi lớn nhưngân hàng thì nó cũng tạo một khoản thu nhập và có hiệu quả hơn là để tại quỹ.
Tiền gửi ở NHTW: gồm tiền DTBB và tiền gửi thanh toán tại NHTW.
Lượng tiền gửi ở NHTW liên tục biến động do hoạt động nhận tiền và trả tiền (đốivới riêng một ngân hàng) nhưng bao giờ cũng phải giữ lớn hơn hay bằng tiền gửiDTBB, nếu không ngân hàng thương mại sẽ bị phạt
Ba bộ phận chính tạo nên phần dự trữ của ngân hàng nhưng mọi ngân hàngđều phải duy trì, tuy nhiên mức độ bao nhiêu thì phụ thuộc vào tình hình hoạt độngcủa từng ngân hàng Một ngân hàng hoạt động tốt là biết xác định dự trữ hợp lý
b Nghiệp vụ cho vay
Đây là nghiệp vụ cung ứng vốn của ngân ngân hàng trực tiếp cho các nhu cầusản xuất, tiêu dùng trên cơ sở thỏa mãn những điều kiện vay vốn của ngân hàng.Hoạt động cho vay chiếm một tỷ trọng lớn nhất trong nghiệp vụ tài sản có, nhưngmức độ rủi ro của nó rất lớn Ngày nay, các NHTM có xu hướng nâng dần tỷ trọnghoạt động dịch vụ Điều này, không có nghĩa các ngân hàng không chú trọng tớihoạt động cho vay nữa mà thực chất là chỉ cho vay những dự án thực sự đem lại lợinhuận Ngân hàng thông qua các hình thức sau để cấp tín dụng cho nền kinh tế
Cho vay ứng trước: là loại hình cho vay theo hợp đồng tín dụng, trong đó
người đi vay được phép sử dụng trong hạn mức và có thời hạn nhất định
Cho vay bằng chiết khấu thương phiếu: là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn trong
đó ngân hàng mua những thương phiếu chưa đến hạn thanh toán của khách hàngvới số tiền bằng thương phiếu trừ đi phần lợi tức chiết khấu và hoa hồng phí
Cho vay thuê mua: là hình thức tín dụng trung và dài hạn được thực hiện
qua việc cho thuê tài sản như máy móc, thiết bị, các động sản và bất động sảnkhác
Trang 12Cho vay vượt chi: là hình thức đặc biệt của tín dụng ứng trước theo đó
người vay được phép sử dụng quá số tiền trên tài khoản tiền gửi của mình ở mộthạn mức nhất định và trong một thời gian xác định
Tín dụng bằng chữ ký: trong hình thức này ngân hàng không trực tiếp cho
khách hàng vay nhưng dùng chữ ký (uy tín) của mình để tạo điều kiện cho kháchhàng di vay vốn ở nơi khác
Cho vay tiêu dùng: là cho vay để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cá nhân.
Loại cho vay này có rủi ro cao nên lãi suất cho vay cao
c Nghiệp vụ đầu tư
Hoạt động đầu tư chủ yếu của ngân hàng là đầu tư chứng khoán Mục đíchkhi ngân hàng đầu tư là nhằm sinh lợi cho tài sản của mình Thứ hai là đa dạng hóasản phẩm dịch vụ hay đa dạng hoá danh mục đầu tư Thứ ba là để phòng ngừa rủi
ro Hoạt động của ngân hàng được xem là có mức độ rủi ro cao nhất Vì vậy, việcphòng ngừa rủi ro là hết sức cần thiết
Xét về tỷ trọng trong tổng lợi nhuận thì lợi nhuận từ nghiệp vụ đầu tư manglại chỉ đứng sau nghiệp vụ cho vay Khi nền kinh tế càng phát triển thì thu nhậpmang lại từ nghiệp vụ này càng tăng
1.1.3.3 Nghiệp vụ kinh doanh dịch vụ ngân hàng
Ở nghiệp vụ này ngân hàng hoạt động trên ba mảng chính đó là dịch vụ trênthị trường chứng khoán; dịch vụ thanh toán; dịch vụ tư vấn Ngày nay, nghiệp vụnày được các ngân hàng chú trọng đầu tư vì nó vừa đáp ứng nhu cầu ngày càng caocủa xã hội tức là thị trường hoạt động rộng và rủi ro hoạt động thấp
1.1.3.4 Nghiệp vụ ngoại bảng
Nghiệp vụ này không nằm trong bảng tổng kết tài sản của ngân hàng và nó
có đặc điểm là khi một nghiệp vụ ngoại bảng phát sinh thì không trực tiếp làm biếnđộng đến tài sản và nguồn vốn của ngân hàng Nội dung của nghiệp vụ ngoại bảng
có thể tóm tắt ở các điểm sau: