Hiện nay vớitổng số cán bộ công nhân viên 335 người được bố trí sắp xếp thành những phòngban sau : 9 phòng nghiệp vụ : Phòng tổ chức thành lập năm 1988 Phòng kế toán thành lập năm 1988
Trang 1TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HAI BÀ
TRƯNG
I KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG CÔNGTHƯƠNG HAI BÀ TRƯNG ( NHCT_HBT)
1 Qúa phát triển và mô hình tổ chức của NHCT-HBT
HCT_HBT là Ngân hàng cấp quận trực thuộc NHCT Việt nam thànhnăm 1988 có trụ sở tại 306 Bà Triệu _ quận Hai Bà Trưng _Hà nội.Quận Hai Bà Trưng là một quận có địa bàn rộng lớn với diện tích tựnhiên khoảng 1300 ha và 35 vạn dân Đây là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp nhànước, các công ty lớn, tổ chức sản xuất,các hợp tác xã thủ công nghiệp, các hộcông thương như : tổng công ty giấy Việt nam, tổng công ty lâm sản Việt nam,tổng công ty dệt Việt nam, may thăng long, sợi Hà nội,công ty giầy thăng long,nhà máy đóng tàu Hà nội … Ngoài ra còn các tổ chức kinh tế tư nhân, cá thể Hầuhết các công ty trên đều đặt quan hệ với chi nhánh, qua đó ta thấy thành phầnkhách hàng của Ngân hàng rất đa dạng,nguồn vốn trong dân cư dồi dào Nhữngyếu tố đó tạo điều kiện cho Ngân hàng mở rộng khối lượng và qui mô kinh doanhtrên các lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, thanh toán các dịch vụ ngân hàng
N
Từ khi thành lập đến nay NHCT _ HBT luôn là một trong những Ngân hànglớn mạnh, kinh doanh có lãi đó là do Ngân hàng luôn bám sát và thực hiện nhữngđịnh hướng của ngành Đặc biệt từ khi ngành Ngân hàng nước ta chuyển từ Ngânhàng một cấp sang hai cấp đòi hỏi các Ngân hàng thương mại phải tự phấn đấu tồntại và phát triển Để đứng vững trong cơ chế thị trường NHCT _HBT đã luôn tựđổi mới mình gắn liền với sự đổi mới của NHCT Việt nam và của nền kinh tế
Thể hiện ở chỗ NHCT thường xuyên củng cố và xây dựng hệ thống tổ chức
Trang 2phù hợp với mục tiêu kinh doanh trong từng giai đoạn khác nhau Hiện nay vớitổng số cán bộ công nhân viên 335 người được bố trí sắp xếp thành những phòngban sau :
9 phòng nghiệp vụ :
Phòng tổ chức thành lập năm 1988
Phòng kế toán thành lập năm 1988
Phòng kinh doanh thành lập năm 1988
Phòng kho quỹ thành lập năm 1988 Phòng nguồn vốn thành lập năm 1988Phòng tiếp dân thành lập năm 1988 Phòng kiểm soát thành lập năm 1995
Tổ thông tin điện toán thành lập năm 1995 đến năm 1996 nâng cấpthành phòng thông tin điện toán
Tổ kinh doanh đối ngoại thành lập năm 1995 đến năm 1998 nângcấp thành phòng kinh doanh đối ngoại
Tổ cân đối tổng hợp thành lập năm 1999 Hai phòng giao dịch Chợ Hôm và Trương Định thành lập năm 1995Một cửa hàng vàng và 12 quỹ tiết kiệm đặt tại 12 phường trên địabàn quận
Điều hành hoạt động Ngân hàng là ban giám đốc gồm 1 giám đốc và 3 phógiám đốc Các bộ phận được chuyên môn hoá theo nghiệp vụ Ngân hàng và phânđịnh rõ chức năng, nhiệm vụ cụ thể Các phòng ban có quan hệ mật thiết với nhaucùng phối hợp chặt chẽ tạo thành guồng máy hoạt động trôi chảy, nhanh chóng đápứng nhu cầu khách hàng
Nằm trên địa bàn kinh doanh thuận lợi đa dạng phong phú về các thành phầnkinh tế trong khu vực là một lợi thế để Ngân hàng mở rộng lĩnh vực kinh doanhcủa mình không chỉ giới hạn trong các nghiệp vụ nhận gửi và cho vay truyền thống
mà còn tạo khả năng đa dạng hoá các dịch vụ Ngân hàng đặc biệt là mở rộng thanhtoán qua Ngân hàng Bên cạnh đó Ngân hàng cũng vấp phải một số khó khăn nhưtrong những năm gần đây kinh tế ngoài quốc doanh gặp nhiều khó khăn do việc
Trang 3kinh doanh không ổn định, dự án đầu tư không khả thi Điều này dẫn đến dư nợngoài quốc doanh giảm xuống, cụ thể trước đây chi nhánh cho vay đối với thànhphần này lớn hơn 20% tổng dư nợ nay giảm xuống còn dưới 10% tổng dư nợ Qua
đó ta thấy sự biến động của nền kinh tế sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến kết quả kinhdoanh của Ngân hàng
Mặt khác với địa bàn rộng và tiềm năng như quận Hai Bà Trưng thìNHCT_HBT không tránh khỏi sự cạnh tranh gay gắt của các Ngân hàng khác nhưNgân hàng Sài gòn công thương,ADB,Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và pháttriển.v.v
Ngoài ra Ngân hàng còn chịu sức ép từ nhiều phía như chế độ chính sách,yêu cầu thị trường Nhưng do nắm bắt được tính phức tạp của địa bàn hoạt độngNHCT_HBT đã có những chính sách điều hành linh hoạt, đáp ứng yêu cầu củakhách hàng Một mặt duy trì tốt các quan hệ sẵn có một mặt tích cực tìm kiếmkhách hàng mới nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, khai thác lợi thế một cách cóhiệu quả Tiếp tục thực hiện đa dạng hoá các nghiệp vụ, các dịch vụ Ngân hàng điđôi với nâng cao chất lượng và phong cách phục vụ của cán bộ công nhân viêntrong Ngân hàng Mọi hoạt động của NHCT_HBT đều tuân thủ đúng pháp luật nhànước các thông lệ điều ước quốc tế về lĩnh vực Ngân hàng.Từ đó tạo tiền đề chonhững bước tiến xa hơn trong những năm tới
2 Kết quả kinh doanh của NHCT_HBT
rong những năm gần đây hoạt động của chi nhánh gặp nhiều khó khăn nhưbiến động kinh tế, sự cạnh tranh gay gắt giữa các Ngân hàng, số lượng nhânviên tương đối lớn trình độ bất cập với với thông tin thị trường, cơ sở vật chất cònhạn hẹp, công nghệ hoá tin học Ngân hàng còn thấp Mặc dù vậy chi nhánhNHCT_HBT đã phát huy sức mạnh nội lực, thực hiện nghiêm túc sự chỉ định sátsao của NHCT VN và Ngân hàng nhà nước thành phố Hà Nội.Tranh thủ sự giúp
đỡ của Quận uỷ,UBND quận Hai Bà Trưng đã thực hiện tốt các mục tiêu nhiệm
vụ, kế hoạch đề ra, từ đó khẳng định vị thế vai trò của mình trong hoạt động kinh
T
Trang 4doanh
Chính vì vậy đến nay chi nhánh NHCT_HBT đã thu hút được số khách hàngđến giao dịch với chi nhánh tương đối lớn Đến cuối năm 2001 số khách hàng cóquan hệ giao dịch tiền gửi là 2470 tài khoản bằng VNĐ và ngoại tệ, 1201 tài khoảntiền vay Khách hàng có quan hệ tín dụng, thanh toán là khoảng 2000 doanhnghiệp, cơ quan đơn vị trung ương, thành phố và cấp quận Có thể nói đây là thànhcông đáng kể của Ngân hàng Song để thấy rõ tình hình kinh doanh của Ngân hàng
ta cần xem xét từng mặt hoạt động của nó
2.1 Hoạt động huy động vốn :
ốn trong kinh doanh của Ngân hàng không những quyết định về quy môhoạt động của Ngân hàng thương mại mà còn quyết định năng lực cạnhtranh, vị thế, uy tín cũng như khả năng thanh toán chi trả trong hoạt kinh doanh củamỗi Ngân hàng thương mại
V
Nhận thức được tầm quan trọng của vốn đối với hoạt động của một Ngânhàng thương mại trong nền kinh tế thị trường đang phát triển như vậy Để đảm bảothắng lợi trong cạnh tranh chi nhánh NHCT_HBT luôn coi trọng hoạt động, coichiến lược huy động vốn là hoạt động mở đầu trong việc kinh doanh tiền tệ
Bằng sự nhạy bén trong công tác tiếp thị đổi mới phong cách giao dịch mởrộng mạng lưới huy động một cách hợp lý đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tíchcực quan tâm phát triển công tác huy động vốn dưới mọi hình thức như nhận tiềngửi có kì hạn, không kì hạn, phát hành kì phiếu bằng VNĐvà ngoại tệ với lãi suấthợp lý NHCT_HBT đã thu hút được nguồn tiền gửi rất lớn của các tầng lớp dân
cư, tổ chức kinh tế Không những đảm bảo nguồn vốn cho nhu cầu tín dụng củakhách hàng trên địa bàn mà còn thực hiện tốt việc gửi vốn hỗ trợ cho toàn hệthống
Để thấy rõ kết quả trên ta xem xét các số liệu cụ thể sau :
Trang 5Bảng 1 : Tỷ trọng vốn hoạt động trong tổng nguồn.
TiÒn göi tiÕt kiÖm 512 tû
TiÒn göi tiÕt kiÖm 712 tû
Tổng số vốn năm 2001 : 1443 Tỷ đồng
Trang 628%
67%
Nguån TW hç trî 80 tû Nguån tiÒn göi cña c¸c TCKT 397 tû C¸c nguån kh¸c
TiÒn göi tiÕt kiÖm 966 tû
Qua số liệu trên cho thấy NHCT_HBT rất quan tâm đến công tác huy độngvốn Do đó làm cho nguồn vốn luôn tăng trưởng Năm 1999 tổng vốn Ngân hànghuy động tại chỗ là 932 tỷ đồng.Năm 2000 chi nhánh huy động được 1211 tỷ đồngtăng 297 tỷ đồng so với năm 1999 bằng130% Đến năm 2001 tổng số vốn huyđộng đã nên tới 1363 tỷ đồng tăng so với năm 2000 là 152 tỷ đồng bằng 113%.Nhưng để hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì Ngân hàng phải kiểm soát đượcchi phí của các nguồn vốn huy động để có chính sách cho vay và đầu tư hợp lý từ
đó mang lại lợi nhuận cao cho Ngân hàng Điều đó thể hiện qua cơ cấu nguồn vốnhuy động của chi nhánh
Xét cơ cấu nguồn vốn của chi nhánh ta thấy vốn tiền gửi là chủ yếu (tiềngửi của các tổ chức tín dụng,tiền gửi tiết kiệm ) chiếm đến 95% tổng nguồn vốnhuy động Trong đó vốn tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng rất lớn
Năm 1999 chiếm 53%/ tổng nguồn vốn
Năm 2000 chiếm 57%/ tổng nguồn vốn
Năm 2001 chiếm 67%/ tổng nguồn vốn
Đây là nguồn vốn quan trọng và tương đối ổn định mặc dù lãi suất phải trảcho nguồn này tương đối cao Nhưng nguồn vốn này vẫn gia tăng hàng năm với con
số tuyệt đối Năm 2000 nguồn tiền gửi tiết kiệm là 712 tỷ đồng tăng 200 tỷ đồng sovới năm 1999 Đến năm 2001 vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm là 966 tỷ đồng tăng
254 tỷ đồng so với năm 2000 (bằng 136%) Điều đó chứng tỏ chi nhánh đã thựchiện tốt chiến lược khách hàng và đã thu hút được một lượng tiền nhàn rỗi rất lớn
Trang 7trong dân cư vào Ngân hàng
Bên cạnh đó chi nhánh còn đặc biệt quan tâm đến những khách hàng truyềnthống có uy tín và doanh số bán hàng bằng tiền mặt cao Các cán bộ Ngân hàngluôn bám sát hoạt động kinh doanh của các đơn vị tổ chức có quan hệ với Ngânhàng Vì vậy chi nhánh luôn giữ được mối quan hệ tốt với khách hàng Cho nênNgân hàng luôn có số dư tiền gửi của các tổ chức kinh tế lớn và ổn định Số dư tiềngửi của các tổ chức kinh tế năm 2000 là 416 tỷ chiếm 33% tổng nguồn vốn huyđộng tăng 74 tỷ so với năm 1999.Tuy năm 2001 số dư tiền gửi của các tổ chứckinh tế có giảm nhưng vẫn chiếm 27,5% tổng nguồn vốn huy động được của Ngânhàng Đây là nguồn vốn đem lại hiệu quả khá cao cho Ngân hàng tuy không mangtính ổn định nhưng chi phí huy động thấp hơn so với tiền tiết kiệm Nằm trên địabàn có nhiều doanh nghiệp quốc doanh hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhauNHCT - HBT nên có những biện pháp khai thác tốt nguồn vốn rẻ này góp phầntăng thu nhập
Bên cạnh sự thông suốt trong huy động vốn bằng VNĐ, việc huy động vốnbằng ngoại tệ cũng có những chuyển biến khả quan
Đơn vị :tỷ đồng
31/12/1999
Số dư đến31/12/2000
Số dư đến31/12/2001
II Tiền gửi bằng ngoại tệ (quy đổi) 62 218 258
Số liệu trên cho thấy mặc dù trong thời gian qua tuy tỷ giá ngoại tệ luôn biếnđổi nhưng tiền gửi tại chi nhánh NHCT HBT vẫn tăng nhanh từ 62 tỷ năm 1999 thìnăm 2000 là 218 tỷ Đến năm 2001 là 258 tỷ tăng so với 2000 là 40 tỷ Đây là cốgắng lớn của chi nhánh trong việc tạo lập nguồn vốn ngoại tệ để đầu tư cho cácdoanh nghiệp xuất nhập khẩu đáp ứng quan hệ kinh tế quốc tế
Qua phân tích trên ta thấy tình hình huy động vốn của NHCT HBT có nhiều
Trang 8chuyển biến tích cực, không ngừng tăng nhanh về số lượng đặc biệt là nguồn vốnnhàn rỗi trong dân cư Tuynhiên trong thời gian tới Ngân hàng cần có kế hoạch đẩymạnh nguồn tiền gửi từ các tổ chức kinh tế nhằm đạt tới một cơ cấu vốn hợp lýhơn.
2.2 Hoạt động sử dụng vốn.
N
HCT - HBT cũng như các Ngân hàng thương mại khác đều hoạt động trên nguyêntắc “đi vay để cho vay “ Vì vậy để hoạt động kinh doanh đem lại hiệu quả cao chinhánh không những chú trọng đến công tác huy động vốn mà phải đặc biệt quantâm đến việc sử dụng vốn của Ngân hàng Bởi hoạt động sử dụng vốn đem lại thunhập chính cho Ngân hàng
Trong công tác sử dụng vốn NHCT - HBT đã đặt ra phương châm “ ổn định
- an toàn - hiệu quả -phát triển" Trong những năm qua Ngân hàng đã chú trọngđến việc nâng cao chất lượng công tác tín dụng Kết quả hoạt cho vay của chinhánh có nhiều khởi sắc, nhịp độ tín dụng tăng trưởng lành mạnh, chất lượng tíndụng nâng lên
Tìm hiểu tình hình sử dụng vốn của Ngân hàng sẽ có cái nhìn thấu đáo vềhoạt động Ngân hàng, biết được Ngân hàng đang ở tình trạng nào và thực sự nguồnvốn huy động được sử dụng vào mục đích gì
Bảng 2: Bảng cơ cấu dư nợ
(trích nguồn báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh 2000, 2001)
Đơn vị : Tỷ đồng
Cơ cấu dư nợ phân theo thành phần kinh tế
Trang 10Cơ cấu dư nợ phân theo kỳ hạn
Trong đó NHCT - HBT chú trọng mở rộng cho vay đầu tư vào thành phần kinh
tế quốc doanh chiếm >90% tổng dư nợ Kinh tế ngoài quốc doanh chỉ chiếm 10%nhưng so vói năm 2000 cũng có chiều hướng tăng Tuy tỷ trọng dư nợ ở thành phầnnày thấp song nhìn chung an toàn và hiệu quả
Trong cơ cấu dư nợ Ngân hàng vẫn tập trung chủ yếu vào cho vay ngắn hạnnăm 2001 dư nợ ngắn hạn là 329 tỷ chiếm 80% trong tổng dư nợ Đặc biệt có sựchuyển dịch về cơ cấu đầu tư tín dụng trung và dài hạn thực hiện đến 31/12/2001 là
Trang 1183,424 tỷ đồng chiếm 20,2% tổng dư nợ tăng 53,064 tỷ đồng so với năm 2000bằng 169%
Cho vay bằng ngoại tệ dư nợ 121,524 tỷ đồng tăng so với năm 2000 là62,106 tỷ đồng chiếm 29% trong tổng dư nợ.Chủ yếu là cho vay các doanh nghiệpxuất nhập khẩu
Với doanh số cho vay tăng trưởng kết hợp hài hoà giữa nguồn vốn VNĐ vàngoại tệ góp phần giúp các doanh nghiệp tăng năng lực sản xuất kinh doanh có hiệuquả đảm bảo sản phẩm đủ sức cạnh tranh với hàng ngoại nhập
Ngoài ra chi nhánh còn mở rộng chương trình cho vay sinh viên theo chủtrương đúng đắn của nhà nước
Doanh số cho vay 722,4 triệu
Thu nợ 105,3 triệu
Dư nợ 940,9 triệu đồng so với 2000 là 634 triệu đồng
Để xem xét một cách toàn diện chất lượng tín dụng của Ngân hàng còn phải
đề cập đến vấn đề nợ quá hạn ( NQH) Qua chỉ tiêu này Ngân hàng có thể nhậnbiết được hướng đi của mình có hiệu quả không Để thấy được tình hình NQH ởNHCT_HBT ta xem xét số liệu sau:
Tỷtrọng
Số tiền Tỷ
trọng
Số tiền Tỷ
trọngTổng dư NQH 21370 6,1 15018 4,66 15016 3,6
Phân theo thời gian
_NQH dưới 6 tháng 3255 15 1627 11 867 5,8
_NQH trên 12 tháng 14528 68 11455 76 13102 87,2
Phân theo nguyên nhân
_nguyên nhân khách quan 1349 6,3 2062 14 1907 13
_nguyên nhân từ phía khách 20021 93,7 12956 86 13109 87
Trang 12hàng
Qua số liệu trên ta thấy tình hình NQH của chi nhánh có những tiến bộ rõrệt NQH năm 1999 là 21.370 triệu đồng chiếm 6,1% trong tổng dư nợ Năm 2000NQH giảm xuống còn 15.018 triệu đồng chiếm 4,46% tổng dư nợ Và đến năm
2001 tỷ trọng NQH/ tổng dư nợ còn 3,6% Có nghĩa là NHCT-HBT đã giảm thấpđược NQH xuống dưới 5% theo qui định của nhà nước Điều đó chứng tỏ sự tăngtrưởng dư nợ của chi nhánh là lành mạnh Nhưng cũng qua số liệu trên cho thấyNQH trên 12 tháng càng ngày càng tăng Chi nhánh nên có biện pháp đôn đốc thu
nợ nếu không Ngân hàng sẽ bị rủi ro mất vốn rất cao Mà nguyên nhân chủ yếu dokhách hàng, chứng tỏ khi cho vay Ngân hàng không tìm hiểu kiểm tra chặt chẽkhách hàng cũng như quá trình sử dụng vốn của họ Tuy nhiên trong quá trình chovay của Ngân hàng thì vấn đề NQH vẫn là mối hiểm hoạ đe doạ hoạt động kinhdoanh của hệ thống Ngân hàng thương mại thì với tỷ trọng NQH của chi nhánhnhư trên rất đáng được khích lệ Chi nhánh nên có những biện pháp tích cực hơntrong quá trình xử lý NQH để hoạt động của chi nhánh ngày càng có hiệu quả vàphát triển
Chiến lược huy động vốn và chiến lược sử dụng vốn là hai mặt hữu cơkhông thể tách rời trong hoạt động Ngân hàng.NHCT_HBT với chiến lược huyđộng vốn có thể nói đã đạt sự tăng trưởng rất lớn Cuối năm 2001 tổng vốn huyđộng của Ngân hàng lên tới 1363 tỷ đồng Chi nhánh được đánh giá là một trong
số Ngân hàng có vốn huy động tiết kiệm lớn nhất trên địa bàn Hà Nội Thế nhưngcông tác sử dụng vốn của Ngân hàng như đã phân tích ở trên tuy có những bướctăng trưởng nhưng vấn đề tồn tại là vốn huy động nhiều nhưng khả năng cho vaycủa Ngân hàng vẫn còn có hạn.Thực tế cho thấy nghiệp vụ cho vay của chi nhánhthực sự chưa có hiệu quả Doanh số cho vay đến 31/12/2001 là 413 tỷ đồng chỉchiếm 30% tổng vốn huy động NHCT_HBT phải điều chuyển 950 tỷ đồng lên cấptrên
Vấn đề đặt ra là tại sao chi nhánh lại không cho vay được Phải chăng các tổ
Trang 13chức kinh tế có nhu cầu vay vốn thấp ?
Chắc chắn không phải vậy vì trong những năm gần đây dưới sự chuyển dịchcủa nền kinh tế theo hướng CNH_HĐH từng bước hội nhập nền kinh tế khu vực vàthế giới thì vốn là một yếu tố quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sảnxuất của mỗi doanh nghiệp Hầu hết các doanh nghiệp đều cần đến vốn vay Ngânhàng để đầu tư sản xuất, hiện đại hoá công nghệ vì không phải doanh nghiệp nàocũng tự trang trải được vốn Chứng tỏ ở đây “cung” đã không gặp được “cầu “.Qua đó chi nhánh nên nhanh chóng phát hiện những mặt còn tồn tại và tìm biệnpháp xử lý để chất lượng tín dụng tăng trưởng, doanh số cho vay ngày càng cao.Vìcho đến nay hoạt động sử dụng vốn của chi nhánh vẫn là hoạt động mang lại nguồnthu chính cho Ngân hàng
2.3 Công tác kế toán thanh toán :
ới quy mô hoạt động mức độ hiện đại hoá công nghệ Ngân hàng côngtác kế toán đổi mới theo chương trình kĩ thuật mới đã đi vào ổn định.Nâng cao trách nhiệm phục vụ kịp thời chính xác mọi nhu cầu thanhtoán
V
Bảng 4: Tình hình thanh toán của NHCT_HBT
Đơn vị :triệu đồng
Chỉ tiêu Số mónNăm 2000Số tiền Số mónNăm 2001Số tiền
Thanh toán bằng tiền
Trang 14tỷ trọng lớn Năm 2000 là 75%, năm 2001 là 70,2% góp phần giúp các doanhnghiệp thúc đẩy luân chuyển hàng hoá, vật tư, tăng nhanh vòng quay của vốn.
Bên cạnh quá trình thanh toán qua Ngân hàng diễn ra thuận lợi NHCT_HBTcòn đáp ứng kịp thời nhu cầu thu chi tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ Tổ chức mànglưới thu chi nhanh chóng cho khách hàng Cụ thể năm 2001
*Tổng thu tiền mặt là :1830 tỷ đồng tăng so với 2000 là 35%
* Tổng chi tiền mặt là :1640 tỷđồng giảm so với 2000 là 1,8%
*Thu ngoại tệ là 13,838,062 USD
Thực tốt công tác kế toán thanh toán không những giúp cho quá trình luânchuyển vốn vào nền kinh tế đạt hiệu quả mà từ đó còn nâng cao vị thế uy tín củaNgân hàng đối với khách hàng
2.4 Thu nhập, chi phí và lợi nhuận của NHCT_HBT
rong hoạt động kinh doanh cũng như trong công tác kế toán tài chínhNHCT_HBT luôn chấp hành đúng chế độ quy định của nhà nước và chế
độ của ngành, phối hợp chặt chẽ giữa các phòng nghiệp vụ đảm bảo thu
nợ gốc kịp thời, hạch toán chính xác, thực hiện tiết kiệm chi tiêu theo nội dung kếhoạch của NHCT VN
T
Bảng 5: Bảng kết quả chi phí và lợi nhuận của NHCT_HBT
( trích nguồn báo cáo tổng kết kinh doanh 1999,2000,2001)
Trang 15Nhìn vào kết quả kinh doanh đạt được của NHCT_HBT cho thấy đây là mộtNgân hàng làm ăn có lãi, với kết quả kinh doanh khá ổn định và có chiều hướnggia tăng lợi nhuận trên 14 tỷ qua các năm Cụ thể thu nhập năm 2000 tăng 13.637triệu đồng so với năm 1999 Năm 2001 thu nhập đạt 111.466 triệu tăng 10.429triệu bằng 110% so với năm 2000 Điều đó đã kích thích tính năng động tích cựccủa người lao động, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, thu nhập của cán bộ côngnhân viên tăng lên cùng với kết quả kinh doanh
Nhưng để có cái nhìn đúng đắn về kết quả kinh doanh của chi nhánh ta phântích tốc độ tăng thu nhập và chi phí.Ta thấy tốc độ tăng thu nhập năm 2000 so vớinăm 1999 là 15,60% tốc độ tăng chi phí là 18,70% Năm 2001 so với 2000 thí tốc
độ tăng thu nhập là 10,32% trong khi đó tốc độ tăng chi phí là 10,80% Thực tế chothấy trong những năm qua thu nhập của chi nhánh luôn gia tăng nhưng chi phícũng gia tăng Nhưng tốc độ tăng thu nhập và chi phí chênh lệch nhau không lớndẫn đến lợi nhuận năm 2000 chỉ giảm 0,7% so với 1999 và năm 2001 lợi nhuậntăng so với 2000 là 7,3%
Vấn đề đặt ra cho chi nhánh là phải có biện pháp giảm thiểu chi phí Bêncạnh đó tìm nguồn thu nhập bằng cách đa dạng hoá nghiệp vụ kinh doanh, mở rộngthanh toán qua Ngân hàng và cung cấp tốt các các dịch vụ Ngân hàng để lợi nhuậncủa chi nhánh đạt được cao hơn
Qua phân tích trên ta đã có cái nhìn khá toàn diện cả về những thuận lợi vàkhó khăn trong công tác huy động vốn và tín dụng _ hai lĩnh vực truyền thống củachi nhánh Tuy nhiên trong lĩnh vực kinh doanh Ngân hàng còn một lĩnh vực nữarất quan trọng góp phần tăng thu nhập cho Ngân hàng _đó là các dịch vụ Ngânhàng Vậy tình hình thực hiện các dịch vụ Ngân hàng tại NHCT_HBT thì như thếnào ?
II HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ TẠI NHCT_HBT :
Trang 16ối với Ngân hàng thương mại Việt Nam thì phần lớn lợi nhuận thu được
là nhờ thực hiện các nghiệp vụ tín dụng Bên cạnh đó hoạt động đầu tưđảm bảo cho Ngân hàng một khoản thu nhập bổ sung và cho phép hạnchế rủi ro.Ngoài ra còn một loại sản phẩm cũng mang lại lợi nhuận cao cho Ngânhàng mà chứa đựng rất ít rủi ro đó là dịch vụ Ngân hàng
Đ
Trong cơ chế thị trường và xu hướng hoạt động của các Ngân hàng hiện đạithì các dịch vụ Ngân hàng được xem như là một hoạt động kinh doanh thu lãi caonhất Nó là lĩnh vực kinh doanh giành giật thu nhập qua sự phục vụ tận tình chuđáo và không ngừng đề cao chữ tín Đối với các Ngân hàng thương mại hiện đạitrên thế giới thì hoạt động dịch vụ rất phát triển đem lại nguồn thu chủ yếu choNgân hàng như hệ thống Ngân hàng thương mại ở Anh thu từ dịch vụ Ngân hàngchiếm 40-60% tổng thu nhập
Nhận thức được tầm quan trọng của dịch vụ Ngân hàng trong việc thu hútkhách hàng mở rộng thu nhập cho Ngân hàng NHCT _HBT đã cố gắng đa dạnghoá các dịch vụ của mình
Trong nội dung hoạt động của chi nhánh gồm các dịch vụ chủ yếu sau :
khai Đơn vị thực hiện
1 Kinh doanh ngoại tệ vàng bạc đá
quý, mua bán chuyển đổi ngoại tệ 1990
Phòng kinh doanh đốingoại
2 Dịch vụ chuyển tiền cho khách
hàng ở các nước trên thế giới
1995 Phòng kinh doanh đối
Trang 17Để có một danh mục các dịch vụ như trên đó là một cố gắng rất lớn củachi nhánh Trong những năm qua NHCT_HBT đã cung cấp cho khách hàng mộtkhối lượng lớn dịch vụ đem lại thu nhập đáng kể cho Ngân hàng Để có cái nhìntổng quát về “bức tranh dịch vụ “ của NHCT_HBT ta đi phân tích kết quả đạtđược của các dịch vụ mà chi nhánh đang thực hiện.
1.
Thực trạng tình hình cung cấp dịch vụ trong NHCT_HBT
1.1 Chi trả kiều hối:
iền kiều hối chỉ số tiền của người Việt Nam hiện đang sinh sống và làm việc
ở nước ngoài gửi về cho thân nhân ở Việt nam Đây là nguồn vốn rất ít đượckhai thác vào Ngân hàng hiện nay Ước tính số lượng người Việt nam đang sống ởnước ngoài lên đến 2,7 triệu người và có thu nhập từ 15 – 30 tỷ USD/năm Nếu chỉchuyển 10% số thu nhập thì đã lên tới con số 1,5 tỷ đến 3 tỷ USD tạo ra sự chuchuyển tư bản ngoại tệ có lợi cho nền kinh tế trong nước Nhận thức được vai tròquan trọng của kiều hối đối với sự phát triển kinh tế nên ngay từ năm 1997NHCT_HBT đã triển khai thực hiện dịch vụ này và được thực hiện bởi phòng kinhdoanh đối ngoại Bằng nhiều biện pháp hợp lý chi nhánh đã liên tục nâng cao sốtiền kiều hối được chi trả
Trang 18*0,1 món GBP trị giá 5,000.00
Có được kết quả như trên chi nhánh đã có nhiều cố gắng trong công tác chitrả cho khách hàng nhanh chóng, chính xác,an toàn, tận tình hướng dẫn khách hàngkhi có yêu cầu hướng dẫn thủ tục để người thân ở nước ngoài gửi tiền về Khi nhậnđược báo có chi nhánh sẽ báo báo ngay cho người nhận thông qua bưu điện hoặcđiện thoại hay nhập vào tài khoản nếu có
Để khuyến khích lượng kiều hối gửi về Ngân hàng chi nhánh đã cố gắngtrong việc mở rộng quan hệ với các Ngân hàng nước ngoài Hiện nay chi nhánh đãduy trì quan hệ với các Ngân hàng quốc tế sau :
Stt Địa
điểm
Ngân hàng giao dịch Đồng tiền giao
dịch
1 ANH STANDARD CHARTERED (LONDON) GBP
3 ÚC COMMON WEALTH BANK (SYDNEY) AUD
T
6 MỸ CORESTATES BANK (NEWYORK) USD và các
đồng tiền khác
Bên cạnh việc mở rộng quan hệ với các Ngân hàng nước ngoài chi nhánhcũng cố gắng đơn giản hoá thủ tục, nâng cao chất lượng dịch vụ với mức phí hợp
lý Người lĩnh tiền chỉ phải trả một khoản lệ phí 0,1% trên số tiền chuyển nếu rútVNĐ thấp nhất là 2USD quy đổi Nếu lĩnh bằng ngoại tệ khách hàng phải trả mứcphí là 0,3% thấp nhất là 4USD quy đổi
Thêm nữa Ngân hàng cũng chấp nhận chi trả tất cả các loại tiền theo yêu cầucủa khách hàng.Với ngoại tệ mạnh chi nhánh sẽ trả trực tiếp cho người nhận cònvới ngoại tệ khó chuyển đổi nếu khách hàng có yêu cầu Ngân hàng sẽ chuyển đổisang VND Đây cũng là điểm mới trong quy định của Ngân hàng bởi lẽ trước năm
2000 người dân khi lĩnh tiền kiều hối buộc phải chuyển ngoại tệ sang VND theo tỷ
Trang 19giá Ngân hàng quy định mà tỷ giá này luôn thấp hơn tỷ giá trên thị trường tự do tạicùng thời điểm.
Với nỗ lực kể trên có thể nói hoạt động chi trả kiều hối của chi nhánh đã đạtđược những kết quả đáng khích lệ.Tuy nhiên lĩnh vực này còn gặp nhiều khó khănchủ quan cũng như khách quan gây ảnh hưởng đến doanh số thực hiện
Khó khăn thứ nhất : Đó là “sự rò rỉ ” của lượng kiều hối vào Việt Nam qua
các đơn vị không chính thức Theo UB người Việt Nam ở nước ngoài thì số lượngkiều hối có thể vào khoảng 1,2 tỷ USD trong toàn quốc nhưng các Ngân hàng chỉmới kiểm soát được 50% hay vào khoảng 600 triệu USD/ năm.Nếu tính tổng sốkiều hối chuyển về của hơn 2,7 triệu kiều bào Việt Nam sinh sống ở nước ngoàigửi về thì con số kiều hối là 2-3 tỷ USD lớn hơn nhiều con số ước tính của UBngười Việt Nam ở nước ngoài Do đó ta thấy số ngoại tệ do kiều bào chuyển về cókhoảng 600 triệu đến trên 1tỷ đang lưu thông ngoài hệ thống Ngân hàng Nguyênnhân tại sao Ngân hàng không kiểm soát được số ngoại tệ đó ?
Thực tế từ lâu lượng kiều hối chuyển về Việt Nam bằng con đường khá đadạng Ngoài chuyển tiền qua hệ thống Ngân hàng,các tổ chức kinh tế hợp pháp,ngoại tệ còn được chuyển về nước qua các đơn vị đầu tư không chính thức.Mộtcách chuyển tiền nữa là qua con đường quen biết Có bao nhiêu ngoại tệ chuyểnqua con đường này điều đó khó xác định chính xác song có thể khẳng định đó làcon số không nhỏ Với lại nhiều người dân có thân nhân ở nước ngoài gửi tiền về
họ thích nhận tiền qua các mối quan hệ quen biết hoặc các dơn vị không chính thứchơn là lấy tiền qua Ngân hàng.Mặc dù họ biết rằng chuyển tiền qua những conđường không chính thức này sẽ gặp rủi ro rất cao, phí chuyển tiền cao hơn nhiều sovới Ngân hàng nhưng họ vẫn chuyển bởi vì họ không gặp các thủ tục phức tạp nhưtrong Ngân hàng mà lại còn nhận tiền tại nhà Còn nhận tiền qua Ngân hàng thìmọi thủ tục chi trả phải tiến hành tại Ngân hàng, nhiều khi người dân phải đếnNgân hàng lần thứ hai hoặc lần thứ ba mới nhận được tiền Do đó thời gian nhậntiền cũng như chuyển tiền lâu hơn Hơn nữa nhiều khi tâm lí của người dân ngại