SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMTỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 2 Môn: Tiếng Việt Cấp học: Tiểu học Tên tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Hà Trường Tiểu học Khương Mai Chức vụ: Giáo viên
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 2
Môn: Tiếng Việt
Cấp học: Tiểu học Tên tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Hà Trường Tiểu học Khương Mai Chức vụ: Giáo viên
Năm học 2018 - 2019
MÃ SKKN
Trang 2A ĐẶT VẤN ĐỀ 2
1 Lí do chọn đề tài 2
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Đối tượng nghiên cứu khảo sát, thực nghiệm 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu 4
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 5
I CƠ SỞ LÍ LUẬN 5
1 Căn cứ vào mục tiêu của môn học, cấp học 5
2 Căn cứ vào việc dạy Tiếng Việt theo các quan điểm 5
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 6
1 Trò chơi: Ghép nhanh tên sự vật 6
2 Trò chơi: Tìm nhanh từ cùng chủ đề 7
3 Trò chơi: Tìm nhanh từ đồng nghĩa 9
4 Trò chơi: Tìm ''kẻ trú ẩn'' 10
5 Trò chơi: Thi ghép tiếng thành từ 11
6 Trò chơi: Đoán từ 12
7 Trò chơi: Xếp từ theo nhóm 13
8 Trò chơi: Ai đúng ai sai 14
9 Trò chơi: Ai tài so sánh 15
10 Trò chơi: Đặt câu theo tranh 15
11 Trò chơi: Thi đặt câu với từ cho trước 18
12 Trò chơi: Thi đặt câu theo mẫu: (Ai là gì?) 18
13 Trò chơi: Chọn người đối đáp giỏi 19
III KẾT LUẬN 20
1 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 20
2 Bài học kinh nghiệm 20
3 Khuyến nghị 21
Trang 3A.ĐẶT VẤN ĐỀ1.Lí do chọn đề tài
Việc nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường là một trong nhữngviệc làm quan trọng, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài cho đất nước.Chính vì vậy, trên bục giảng có nhiều giáo viên trăn trở, suy tư, chưa hài lòngvới chất lượng giờ dạy nên đã miệt mài nghiên cứu, tìm tòi những sáng kiếnmới, những kinh nghiệm hay nhằm đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợpvới đặc thù của môn học và phù hợp với nhận thức của học sinh, giúp các emhọc tập một cách tự giác, nhẹ nhàng, tự nhiên mà lại hiệu quả Đây là một trongnhững yêu cầu cấp thiết của ngành giáo dục nói chung và bậc tiểu học nói riêng Qua thực tế giảng dạy lớp 2 nói chung và ở môn Tiếng Việt 2 nói riêng, tôinhận thấy rằng: sách giáo khoa Tiếng Việt 2 giúp học sinh hình thành kĩ năng sửdụng tiếng Việt (nghe - nói - đọc - viết), kĩ năng thực hành giao tiếp cụ thể Nộidung sách giáo khoa tinh giản, tích hợp các kiến thức thiết thực mang tính cậpnhật, phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi học sinh tiểu học trong thời đại mới
hiện nay
Tuy nhiên qua những lần hội giảng ở trường, bản thân tôi nhận thấy cáchình thức tổ chức hoạt động học tập trong giờ học Luyện từ và câu còn đơnđiệu Một số giáo viên tổ chức dạy theo vở bài tập từ đầu đến cuối Tức là hướngdẫn học sinh lần lượt làm các bài tập ở vở theo trình tự và hình thức như nhau(chủ yếu là làm việc cá nhân) khiến cho tiết học trở nên nhàm chán không cuốnhút, học sinh tiếp thu không hiệu quả và các em học sinh chưa tích cực trongviệc học tập
Cũng có nhiều giáo viên đã biết thay đổi các hình thức cá nhân, nhóm, lớpcho các bài tập trong một tiết dạy nhưng nhìn chung việc vận dụng chưa đem lạihiệu quả cao
Đối với dạy Luyện từ và câu, nhiều giáo viên chưa tạo cho học sinh sự chủ
động, tích cực trong việc huy động các kiến thức và kinh nghiệm sử dụng tiếng
mẹ đẻ vào việc chiếm lĩnh kiến thức mới của bài học khiến giờ học trở nên nặng nề
Sở dĩ có tình trạng trên là do bản thân cũng như một vài đồng chí giáo viênchưa thấy hết ý nghĩa và tầm quan trọng của giờ học Luyện từ và câu
Đầu năm học, khi mới nhận lớp, tôi nhận thấy các em học sinh lớp 2 đa số
có vốn sống còn ít, vốn hiểu biết về Tiếng Việt còn rất sơ sài, chưa định rõ tronggiao tiếp, viết câu còn cụt lủn hoặc câu có thể có đủ ý nhưng chưa có hình ảnh.Các từ ngữ được dùng về nghĩa còn chưa rõ ràng Việc trình bày, diễn đạt ý củacác em còn ở mức độ rất sơ lược Mặt khác, do thực tế học sinh mới được làm
Trang 4quen với phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2 nên học sinh còn nhiều bỡ ngỡ,chưa có phương pháp học tập bộ môn một cách khoa học và hợp lý.
Muốn nói hay viết tốt đều phải dùng từ Từ là vật liệu để cấu thành ngônngữ Hiểu được nghĩa của từ đã khó, còn phải biết dùng từ như thế nào cho hợpvăn cảnh, đúng ngữ pháp còn khó hơn Nhưng với học sinh lớp 2, vốn từ của các
em còn rất hạn chế, việc tìm hiểu và sử dụng từ còn lúng túng, gặp rất nhiều khókhăn cần phải được bổ sung và phát triển để đáp ứng nhu cầu học tập và giaotiếp Cho nên không thể không coi trọng việc dạy phân môn Luyện từ và câu,đặt nền móng cho việc tiếp thu tốt các môn học khác ở các lớp học trên, đặc biệt
là môn Tập làm văn
Để dạy học luyện từ và câu ở lớp 2 có hiệu quả, không những đòi hỏi ngườithầy phải biết cách khai thác từ ngữ qua vốn sống của trẻ nhằm xây dựng hệthống kiến thức trên cơ sở khai thác qua các câu có từ thuộc chủ đề nhằm bổsung, củng cố, khắc sâu hệ thống kiến thức cho trẻ Ngoài ra người giáo viênphải biết phối hợp một cách linh hoạt các phương pháp đặc trưng của môn họcnhư phương pháp đóng vai, phương pháp thảo luận nhóm, hỏi đáp theo cặp, đặcbiệt là tổ chức trò chơi để học sinh được thực sự tham gia xử lí các tình huống
có vấn đề, lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả Nhữngđiều này thực sự đã giúp học sinh tỏ ra hứng thú và tiếp thu tốt hơn so với cáchdạy truyền thống thông thường
Cùng với mục tiêu của Giáo dục Tiểu học đã đề ra, đó là “lấy học sinh làmtrung tâm”, yêu cầu đặt người học làm trung tâm của quá trình dạy – học, giúpcho học sinh chủ động tiếp cận kiến thức, cũng như tự chiếm lĩnh kiến thức chomình, không còn tình trạng thụ động tiếp thu kiến thức từ thầy cô nhằm pháttriển khả năng tư duy, sự tự chủ và sáng tạo của học sinh Nhưng để làm đượcđiều đó, người giáo viên cần tạo cho học sinh của mình sự hứng thú trong việchọc tập, từ đó khơi dậy sự ham mê tìm hiểu và yêu thích đối với môn học
Đặc biệt, theo Thông tư 30/2014 và Thông tư 22/2016 của Bộ giáo dục vàĐào tạo trong việc đánh giá học sinh Tiểu học nhằm giúp giáo viên đổi mớiphương pháp dạy học, thay đổi các hình thức dạy học đã đi theo lối mòn, cùnghoạt động và trải nghiệm ngay trong quá trình và kết thúc mỗi giai đoạn dạy học
để kịp thời phát hiện những cố gắng của học sinh và động viên khích lệ các emtrong quá trình học tập nhằm thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục
Từ những ý nghĩa đó, tôi đã viết sáng kiến kinh nghiệm “Tổ chức trò chơi
trong môn Luyện từ và câu lớp 2” nhằm chia sẻ những kinh nghiệm nhỏ của
mình cho đồng nghiệp
Trang 52.Mục đích nghiên cứu.
- Tổng hợp lại những biện pháp mình đã làm để chọn lọc và đúc kết thành kinhnghiệm của bản thân
- Giúp đồng nghiệp tìm ra cách tổ chức các tiết học nhẹ nhàng đạt hiệu quả cao
- Giúp học sinh nâng cao tính tích cực, tự giác, sáng tạo trong các hoạt động họctập
3.Đối tượng nghiên cứu khảo sát, thực nghiệm.
5.Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu.
- Thời gian nghiên cứu: Bắt đầu từ tháng 9/2018, kết thúc tháng 3//2019
Trang 6B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
1 Căn cứ vào mục tiêu của môn học, cấp học.
Tiếng Việt thể hiện mục tiêu giáo dục xuyên suốt của môn học là hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt Cung cấp cho họcsinh những kiến thức sơ giản, bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt
Tiếng Việt còn có nhiệm vụ hình thành và phát triển 4 kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết) trang bị kiến thức văn học và nhiều kiến thức kĩ năng khác Học sinh được hướng dẫn để bước đầu khám phá vẻ đẹp và ý nghĩa các hình tượng văn học, đặt nền móng cho sự phát triển năng lực cảm thụ văn học và tư tưởng, tình cảm, nhân cách của các em Tiếng Việt còn giúp các em tiếp thu kiến thức các phân môn khác của môn Tiếng Việt
Thông qua các môn học, giúp các em chủ động được ngôn ngữ trong giao tiếp một cách mạnh dạn, tự tin Từ đó vốn từ của các em phong phú hơn Các
em có nắm chắc được nghĩa của từ thì các em mới trình bày đúng suy nghĩ, ý tưởng, tình cảm của mình Vì lẽ đó, ở bậc tiểu học từ ngữ không chỉ có dạy và học ở phân môn Luyện từ và câu mà còn ở tất cả các phân môn khác của môn Tiếng Việt và các môn học khác
2 Căn cứ vào việc dạy Tiếng Việt theo các quan điểm.
a Quan điểm giao tiếp.
Giao tiếp là hoạt đông trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc,…nhằm thiếtlập quan hệ, sự hiểu biết hoặc sự cộng tác giữa các thành viên trong xã hội.Người ta giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện, phương tiện thông thường
và quan trọng nhất là ngôn ngữ
b.Quan điểm tích hợp.
Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 biên soạn có nhiệm vụ thể hiện và tạo điềukiện để thầy và trò thực hiện phương pháp tích cực hóa hoạt động của ngườihọc, trong đó thầy đóng vai trò tổ chức các hoạt động của học sinh, mỗi học sinhđều được hoạt động, bộc lộ mình và được phát triển
c Quan điểm tích hợp.
Tích hợp có nghĩa là tổng hợp một tiết học hay một bài tập, nhiều mảngkiến thức và kĩ năng liên quan đến nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục
và tiết kiệm thời gian cho người học
Căn cứ vào nội dung và phương pháp dạy môn Tiếng Việt
Nội dung và phương pháp dạy học bao giờ cũng gắn bó với nhau Mỗi nội dungđòi hỏi một phương pháp thích hợp Các kĩ năng giao tiếp không thể hình thành
Trang 7và phát triển bằng con đường thụ động Muốn phát triển những kĩ năng này họcsinh phải được hoạt động trong môi trường giao tiếp dưới sự hướng dẫn củathầy Các kiến thức về ngôn ngữ, văn học, văn hóa, tự nhiên và xã hội có thểtiếp thu qua lời giảng, nhưng học sinh chỉ làm chủ được những kiến thức này khicác em chiếm lĩnh chúng bằng chính hoạt động có ý thức của mình Cũng nhưvậy, những tư tưởng, tình cảm và nhân cách tốt đẹp chỉ có thể hình thành chắcchắn hông qua sự rèn luyện trong thực tế Đây chính là phương pháp tích cựchóa hoạt động của người học.
Căn cứ vào nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu
Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu ở bậc tiểu học nói chung và lớp 2 nói riêng là làm giàu vốn từ cho học sinh và phát triển năng lực dùng từ đặt câu chocác em Ngoài ra phân môn Luyện từ và câu cung cấp cho học sinh một số kiến thức về từ và câu cơ bản, sơ giản, cần thiết và vừa sức với các em Luyện từ và câu trang bị cho các em những hiểu biết về cấu trúc của từ, câu, quy luật hành chức của chúng Cụ thể đó là các kiến thức về cấu tạo từ, nghĩa của từ, các lớp
từ, từ loại, các kiến thức về câu như cấu tạo câu, các kiểu câu, dấu câu, các quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản đều sử dụng trong giao tiếp
Ngoài các nhiệm vụ chuyên biệt trên, Luyện từ và câu còn có nhiệm vụ luyện tư duy, giáo dục thẩm mĩ và luyện tập sử dụng từ cho học sinh
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Với những lí do trên, cùng với những băn khoăn, suy nghĩ, trăn trở củangười giáo viên đứng lớp, tôi mạnh dạn tìm hiểu nội dung chương trình, tài liệuhướng dẫn, thực tế kinh nghiệm giảng dạy trên lớp, trao đổi chuyên môn cùngđồng nghiệp để tìm ra những hoạt động trò chơi cho học sinh phù hợp với từngkiểu bài, từng tiết dạy, từng đối tượng học sinh trong lớp
Tôi xin được đi sâu vào việc nghiên cứu tổ chức trò chơi cho học sinh lớp 2
ở một số kiểu bài đặc trưng trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2
1 Trò chơi: Ghép nhanh tên sự vật
A Mục đích:
- Ghép nhanh được từ với đồ vật hoặc hình vẽ tương ứng
- Có biểu tượng cụ thể về nghĩa của từ
B Chuẩn bị:
- 2 bộ đồ dùng để chơi, mỗi bộ gồm một số đồ vật thật hoặc tranh ảnh đại diệncho nghĩa của từ được nêu trong sách giáo khoa, các thẻ từ ghi tên các đồvật(tranh ảnh)
VD: Tranh bài tập 1(tuần 3 - T26); bài tập 2(tuần 7-T59); bài tập 3(tuần 16
Trang 8- T134) trong sách giáo khoa TV2 tập 1; bài tập 1(tuần 22-T35)…Một số mảnhbìa ghi từng từ tương ứng với từng đồ vật hoặc tranh ảnh để dán hoặc gài.
- Giáo viên(cử 1 học sinh) làm trọng tài để đánh giá kết quả
C Cách tiến hành:
- Chơi theo từng cặp 2 học sinh hoặc 2 nhóm học sinh (mỗi nhóm 2- 4 em)
- Các đồ vật hoặc tranh ảnh đã được sắp xếp hoặc treo thành 2 nhóm Mỗi họcsinh (mỗi nhóm) tham gia trò chơi được phát 1 bộ thẻ từ ghi tên các đồ vật(tranh ảnh) Học sinh của nhóm nào dán hoặc gài đúng và nhanh nhất tên các đồvật hoặc tranh thích hợp thì thắng cuộc
* Chú ý: Trò chơi có thể vận dụng vào các bài:
VD: Dán nhãn cho đồ dùng học tập (tuần 6 – tr 52); Đồ dùng trong nhà (tuần 11,
13 – tr 90, 108) TV 2 tập 1 Các con vật nuôi (tuần 21, 22 T27, 35); các loài thú(tuần 23, 24 - tr45, 55); các loài cá (tuần 25, 26 – tr 64, 73); Các loài cây (tuần
28, 29 – tr 95); những người có nghề nghiệp khác nhau (tuần 33, 34 – tr 129;137) sách TV2 tập 2
D Hiệu quả: Sau khi chơi trò chơi này, học sinh nắm được biểu tượng cụ thể về
nghĩa của các từ, giúp phản ứng nhanh nhạy và phát triển khả năng quan sát,đánh giá sự việc
2 Trò chơi: Tìm nhanh từ cùng chủ đề
A Mục đích:
- Mở rộng vốn từ, phát huy óc liên tưởng, so sánh
- Rèn tác phong nhanh nhẹn, luyện trí thông minh và cách ứng xử nhanh
B Chuẩn bị:
- Bảng phụ hoặc giấy nháp
C Cách tiến hành:
- Trò chơi có từ 2- 4 nhóm, mỗi nhóm có từ 3- 4 học sinh tham gia
- Sau khi giải nghĩa từ ngữ được dùng để gọi tên chủ đề
(VD: Đồ dùng học tập là những dụng cụ của cá nhân dùng để học tập; vật nuôi
là những con vật nuôi trong nhà…) Giáo viên (người dẫn trò) nêu yêu cầu: + Hãy kể ra những từ gọi tên đồ dùng học tập (hoặc những từ nói về tình cảmgia đình…)
+ Từng nhóm ghi lại những từ đó vào bảng phụ (đã được chia theo số lượngnhóm), hoặc ghi vào giấy nháp để đọc lên Thời gian viết khoảng 2- 3 phút + Mỗi từ viết đúng được tính 1 điểm; mỗi từ viết sai bị trừ 1 điểm; nhóm nào có
số điểm cao nhất sẽ xếp thứ nhất, các nhóm khác dựa theo số điểm để xếp thứhai, ba, bốn,
Trang 9*Chú ý: Trò chơi này có thể được sử dụng ở các bài Luyện từ và câu:
- Trong sách giáo khoa TV 2, tập 1:
+ Kể tên các môn em học ở lớp 2 (tuần 7, T59)
+ Hãy kể tên những việc em đã làm ở nhà giúp cha mẹ (tuần 13, T108)
+ Tìm những từ chỉ đặc điểm của người và vật (tuần 15, T122)
+ Viết tên các con vật trong tranh (tuần 16, T134)
- Trong sách giáo khoa TV 2, tập 2:
+ Nói tên các loài chim trong tranh (tuần 22, T35)
+ Tìm các từ ngữ có tiếng "biển" (tuần 25, T 64)
+ Kể tên các con vật sống ở dưới nước (tuần 26, T74)
+ Kể tên các loài cây (tuần 28, T87)
+ Tìm những từ ngữ chỉ nghề nghiệp (tuần 33 T129)
D Hiệu quả: Học sinh rất hứng thú khi chơi trò chơi này, các em đều hoạt bát
nhanh nhẹn hơn, phát huy được khả năng liên tưởng, so sánh không chỉ ở phânmôn Luyện từ và câu mà còn ở các phân môn khác của môn Tiếng Việt
*Tôi đã vận dụng cho học sinh Tìm những từ chỉ đặc điểm của người và
vật(tuần 15, T122) qua hình thức đưa 4 bức tranh cho học sinh quan sát sau đócác em thảo luận theo nhóm ba để trả lời các câu hỏi tương ứng với mỗi tranhrồi cử đại diện 2 nhóm(mỗi nhóm khoảng 5HS) lên ghi các ý trả lời vào dướimỗi câu hỏi( như bài đã trình bày) nhóm nào ghi được nhiều ý trả lời và đúng lànhóm chiến thắng
Trang 10* Còn ở bài Tìm các từ ngữ có tiếng "biển" (tuần 25, T64) tôi tổ chức cho học
sinh thi tìm các tiếng ghép với tiếng “biển” để tạo thành từ sau đó gọi đại diện 2nhóm lên bảng( mỗi nhóm 5 học sinh)lên viết trên bảng lớp theo mẫu:
- Nhận biết nhanh các từ ngữ đồng nghĩa, làm giàu vốn từ của học sinh
- Luyện trí thông minh, nhanh mắt, nhanh tay
B Chuẩn bị:
- Từ 2 đến 4 bộ quân bài có nội dung như nhau nhưng khác màu để khỏi bị lẫn(xanh, đỏ, vàng…) tương tự quân bài trong cỗ tam cúc Mỗi bộ có 10 hoặc 12quân bài đã ghi sẵn các từ
- Một bộ quân bài dành cho người cầm cái (trọng tài) khác màu với các bộ quânbài của người chơi Trên mỗi quân bài này có ghi từng từ đồng nghĩa với từđược ghi trên quân bài của người chơi
- Mỗi quân bài này đều được ghi từ ở cả hai đầu để người chơi dễ nhìn khi cầmbài trên tay
C Cách tiến hành:
- Từ hai đến 4 người chơi Mỗi người có 1 bộ quân bài như nhau (10, 12 quân)
- Trọng tài lật 1 quân trong bộ bài của mình (có từ đồng nghĩa với từ trong bộbài của người chơi)
- Những người chơi phải chọn thật nhanh quân bài của mình có từ đồng nghĩavới quân bài của trọng tài để đánh ra
- Trọng tài công nhận quân bài đánh ra là từ đồng nghĩa thì người đánh quân bài
đó sẽ được ''ăn''; nếu sai thì người đánh quân bài đúng tiếp theo sẽ được ''ăn''
- Trường hợp 2, 3 người cùng ra quân bài đúng thì cùng được ''ăn''
- Đánh hết bộ quân bài, ai có số lượng quân bài được ''ăn'' nhiều nhất sẽ thắngcuộc Như vậy, người thắng là người nhận ra nhanh, đúng từ đồng nghĩa
Học tập Siêng năng
Trang 11* Chú ý: Các cặp từ đồng nghĩa nói về chủ đề học tập dùng làm bộ bài để chơi
và bộ bài để cầm cái: Học hành - học tập; siêng năng - chăm chỉ; vui vẻ - phấnkhởi; bài tập - bài vở; chăm chú - chú ý…
D Hiệu quả: Sau trò chơi, học sinh nắm rõ hơn về từ đồng nghĩa, có khả năng
tìm được từ đồng nghĩa chính xác Các em đều nhanh nhẹn và hoạt bát hơn tronghọc tập
4 Trò chơi: Tìm ''Kẻ trú ẩn''
A Mục đích:
- Mở rộng vốn từ, tìm nhanh và gọi tên được các sự vật ẩn trong tranh
- Luyện kỹ năng quan sát tinh, óc tưởng tượng, liên tưởng giỏi
B Chuẩn bị:
- Phóng to tranh có trong hai bài luyện từ và câu ở tuần 6 (T52); tuần 11(T90) –sách giáo khoa TV 2 tập 1
Trang 123 Tìm các đồ dùng học tập ẩn trong tranh sau Cho biết mỗi đồ vật ấy được dùng để làm gì?
- Mỗi nhóm chơi (4; 5 học sinh) cần chuẩn bị giấy, bút (ghi sẵn tên nhóm vàogiấy khổ to đã chuẩn bị VD: nhóm Mực tím; nhóm Tuổi thơ…)
- Băng dính hoặc hồ dán
C Cách tiến hành:
- Giáo viên nêu yêu cầu: Tìm số đồ vật được vẽ ẩn trong tranh (gọi là kẻ trú ẩn)rồi ghi ra giấy đã chuẩn bị Trong khoảng 3 phút, nhóm nào tìm được đủ sốlượng đồ vật ( tìm hết được những kẻ trú ẩn) là nhóm đạt giải nhất
- Các nhóm chơi cùng quan sát bức tranh do giáo viên đưa ra (hoặc trong sáchgiáo khoa TV 2) ghi lại các từ gọi tên các đồ vật đã quan sát được và số lượngmỗi loại đồ vật đó vào giấy khổ to có ghi tên nhóm (thời gian 3 phút)
- Hết thời gian, các nhóm lên đính tờ giấy ghi kết quả lên bảng Giáo viên hướngdẫn cả lớp hô ''đúng'' (hoặc ''sai'', hoặc ''thiếu'') giáo viên trợ giúp việc xác nhậnkết quả của từng nhóm