Đ Luật Ngân hàng Pháp năm 1941 định nghĩa Ngân hàng thương mại căn cứvào tính chất và mục đích hoạt động là “được coi là Ngân hàng là những xí nghiệphay cơ sở nào hành nghề thường xuyên
Trang 1NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
I NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
tệ Nghiệp vụ đầu tiên của các tổ chức này là thực hiện việc đổi tiền đúc, kinhdoanh chế tác vàng bạc
N
Sự phát triển của lưu thông hàng hoá cùng với nghiệp vụ đổi tiền đã kéo theocác nghiệp vụ khác.Trước hết là nhận tiền gửi, bảo quản vàng bạc rồi tiến tới pháthành những chứng phiếu làm phương tiện thanh toán thay cho tiền vàng Đặc biệt
sự ra đời loại tín phiếu chứng nhận về tiền gửi và được dùng trong thanh toán chitrả gần giống như giấy bạc ngân hàng hiện nay Các tổ chức kinh doanh tiền tệ đãphát triển thực hiện nhiều nghiệp vụ mới và dần dần được coi như những Ngânhàng đầu tiên trên thế giới
Các Ngân hàng mới này hoạt động độc lập và không ràng buộc lẫn nhau.Sang thế kỷ XVIII lưu thông hàng hoá ngày càng mở rộng và phát triển.Việc cácNgân hàng cùng thực hiện chức năng phát hành giấy bạc Ngân hàng làm cho tronglưu thông có nhiều loại giấy bạc Ngân hàng khác nhau gây cản trở cho quá trìnhlưu thông hàng hoá và phát triển kinh tế Chính điều này dẫn đến sự phân hoá trong
Trang 2hệ thống Ngân hàng, thông qua sự can thiệp của Nhà nước bằng cách giành quyềnphát hành tiền cho vài Ngân hàng lớn có uy tín gọi là Ngân hàng phát hành Nhưngvẫn còn tình trạng một quốc gia cùng một lúc lưu thông vài loại tiền Cuối cùng chỉcòn một Ngân hàng duy nhất được phép phát hành tiền trở thành Ngân hàng Nhànước hay còn gọi là Ngân hàng Trung ương Còn lại các Ngân hàng khác khôngđược phép phát hành tiền trở thành Ngân hàng thương mại chuyên kinh doanhtiền tệ và làm trung gian thanh toán, tín dụng giữa các chủ thể trong nền kinh tế.
2 Ngân hàng thương mại, chức năng và vai trò của nó trong nền kinh tế.
2.1 : Định nghĩa Ngân hàng Thương mại :
ể đưa ra một định nghĩa về Ngân hàng Thương mại người ta thường dựavào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính vàđôi khi kết hợp tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động
Đ
Luật Ngân hàng Pháp năm 1941 định nghĩa Ngân hàng thương mại căn cứvào tính chất và mục đích hoạt động là “được coi là Ngân hàng là những xí nghiệphay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức kýthác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụchiết khấu tín dụng hay dịch vụ tài chính “
Luật Ngân hàng Ấn Độ 1950 bổ xung 1959 định nghĩa: ”Ngân hàng là cơ sởnhận các khoản tiền kí thác để cho vay hay tài trợ đầu tư “
Còn luật Ngân hàng Đan Mạch thì căn cứ vào sự kết hợp với đối tượng hoạtđộng năm 1930 đã định nghĩa :”những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận
ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, cácphương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng rabảo hiểm.v.v ”
Trang 3Ở Việt Nam điều 20 Luật các Tổ chức Tín dụng có hiệu lực thi hành ngày01/10/2000 quy định “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn
bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan
Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàngvới nội dung thường xuyên nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng vàcung ứng các dịch vụ thanh toán.”
Mặc dù có rất nhiều định nghĩa, nhiều cách thể hiện nhưng khi phân tích
và khai thác nội dung ta dễ dàng nhận thấy các Ngân hàng thương mại đều cóchung tính chất đó là nhận tiền gửi ký thác (tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳhạn ) để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các dịch vụ kinh doanhkhác của chính ngân hàng
Trong bước chuyển đổi sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhànước Ngân hàng thương mại và cơ cấu hoạt động của nó đóng vai trò quan trọngtrong thể chế tài chính của mỗi quốc gia
2.2: Chức năng và vai trò của Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế.
*Chức năng là trung gian tín dụng
sử dụng vốn trong nền kinh tế và được thoả mãn bằng quan hệ tín dụng trực tiếphoặc gián tiếp Nhưng quan hệ tín dụng trực tiếp giữa các chủ thể gặp nhiều hạnchế vì các chủ thể khó biết được nhu cầu và khả năng về vốn của nhau Hơn nữagiữa họ khó có đủ sự tin tưởng để thực hiện quan hệ chuyển nhượng vốn cho nhau
Trang 4Cá nhân doanh nghiệpCác tổ chức kinh tế
Để khắc phục hạn chế này Ngân hàng thương mại đứng ra làm “ chiếc cầunối “ giữa người có vốn và người cần vốn
(người thừa vốn) (người thiếu vốn)
1 Gửi tiền, uỷ thácđầu tư 3 Cho vay, đầu tư
2.Chứng chỉ tiền gửi 4 Trái phiếu, cổ phiếu
Ngân hàng thương mại huy động vốn bằng cách phát hành các chứng chỉ tiền gửithu hút lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội.Những chứng chỉ tiền gửi do Ngân hàngphát hành hấp dẫn người đầu tư hơn nhiều so với các cổ phiếu, trái phiếu của cáccông ty (nhất là trong điều kiện thị trường chứng khoán chưa phát triển như ở ViệtNam) Bởi vì nó ít chịu rủi ro giá cả, tính thanh khoản cao, lại không phải mất chiphí giám sát hoạt động của các công ty Trên cơ sở nguồn vốn huy động được cácNgân hàng sử dụng để cho vay hoặc đầu tư vào các công ty bằng cách mua cổphiếu trái phiếu do các công ty phát hành từ đó đáp ứng nhu cầu vốn cho cácthành phần kinh tế Như vậy Ngân hàng là môi giới trung gian giữa người đi vay
và người cho vay mà thực chất Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ kinh doanh bằngviệc đi vay để cho vay Ngân hàng thực hiện được chức năng này vì Ngân hàng làmột cơ quan chuyên trách, chuyên kinh doanh về tiền tệ, tín dụng có khả năngnhận biết được tình hình cung cầu về tín dụng Đó là nơi khách hàng có thể tintưởng trong việc gửi tiền Thông qua việc thu hút tiền gửi với khối lượng lớn Ngânhàng có thể giải quyết mối quan hệ giữa cung và cầu tiền tệ cả về khối lượng vốn
và thời hạn
Trang 5Với chức năng này Ngân hàng Thương mại tạo lợi ích cho các bên trongquan hệ là người gửi tiền, người đi vay, Ngân hàng và đảm bảo lợi ích cho nềnkinh tế
Đây là chức năng quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại vì nó phảnánh bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay, nó quyết định sự duy trì và pháttriển của ngân hàng đồng thời nó tạo tiền đề cho các chức năng khác của Ngânhàng
*Chức năng trung gian thanh toán
rên cơ sở nhận tiền gửi của khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán theoyêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanhtoán tiền hàng hoá dịch vụ hay nhập vào tài khoản tiền gửi đó tiền thu bán hàng vàcác khoản thu khác Ở đây Ngân hàng đóng vai trò là "người thủ quỹ" cho kháchhàng Nền kinh tế càng phát triển thì việc thanh toán qua ngân hàng ngày càng mởrộng
T
Ngân hàng thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở nó thực hiệnchức năng trung gian tín dụng Bởi vì thông qua việc nhận tiền gửi ngân hàng mởcho khách hàng tài khoản tiền gửi để theo dõi các khoản thu chi theo lệnh của chủtài khoản Đó chính là cơ sở cho khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàngđặt ngân hàng vào vị trí trung gian thanh toán Hơn nữa hàng ngày nền kinh tế xuấthiện hàng loạt các quan hệ giao dịch với khối lượng các khoản thanh toán lớn Nếuviệc thanh toán được thực hiện bằng tiền mặt trực tiếp sẽ dẫn đến các khoản chi phínhư in ấn vận chuyển bảo quản tiền mặt tăng lên Đặc biệt khách hàng giao dịch ởcách xa nhau có khi gặp rủi ro mất tiền trong quá trình thực hiện thanh toán….Điều
đó đã tạo nên nhu cầu khách hàng thực hiện thanh toán qua Ngân hàng
Ngân hàng Thương mại thực hiện chức năng này có ý nghĩa rất lớn đối vớinền kinh tế Nó cung cấp cho khách hàng nhiều công cụ thanh toán như : uỷ nhiệm
Trang 6thu, uỷ nhiệm chi, séc, thẻ thanh toán.v.v giúp cho các chủ thể kinh tế không phảigiữ tiền hoặc mang theo tiền trong giao dịch thanh toán Từ đó giảm lượng tiền mặttrong lưu thông, góp phần đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ luân chuyển vốn tiếtkiệm chi phí in ấn vận chuyển bảo quản tiền mặt
Với bản thân Ngân hàng chức năng này góp phần tăng lợi nhuận thông quaviệc thu lệ phí thanh toán Ngoài ra còn làm tăng nguồn vốn cho vay của Ngânhàng Nhìn vào hệ thống thanh toán của Ngân hàng thương mại người ta có thểđánh giá ngay được hoạt động của ngân hàng đó có hiệu quả không Nó còn là cơ
sở thực hiện chức năng tạo tiền của Ngân hàng thương mại
* Chức năng tạo tiền
hi có sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng hình thành nên ngân hàng pháthành và Ngân hàng thương mại thì các ngân hàng thương mại không cònthực hiện chức năng phát hành giấy bạc ngân hàng Nhưng với chức năng trunggian tín dụng và trung gian thanh toán Ngân hàng thương mại có khả năng tạo ratiền ghi sổ thực hiện trên tài khoản thanh toán của khách hàng tại Ngân hàngthương mại Đây chính là một bộ phận của lượng tiền giao dịch
K
Từ một khoản tiền gửi ban đầu vào một ngân hàng thông qua hành vi cho vaybằng chuyển khoản kết hợp với thanh toán không dùng tiền mặt Hệ thống ngânhàng thương mại có khả năng tạo nên số tiền gửi gấp nhiều lần số tiền gửi ban đầu.Khả năng mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi Hệ số này chịutác động của tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ dư thừa và tỉ lệ tiền mặt so với tiềngửi thanh toán
Gỉa sử trong điều kiện không có khoản thanh toán nào bằng tiền mặt, không
có khách hàng nào rút tiền hoặc vay bằng tiền mặt, và tất cả các ngân hàng đềucho vay bằng chuyển khoản hết quỹ cho vay của ngân hàng thì hệ số mở rộng tiềngửi được tính theo công thức:
Trang 7Trong thực tế thì không xảy ra trường hợp trên mà khả năng tạo tiền củangân hàng luôn bị giới hạn bởi dự trữ dư thừa,và tỉ lệ rút tiền mặt của côngchúng.Nghĩa là nếu một khách hàng nào đó rút tiền mặt hay vay tiền mặt để thanhtoán thì quá trình tạo tiền sẽ chấm dứt hoặc nếu khách hàng rút hay vay một phầnbằng tiền mặt để thanh toán hoặc ngân hàng không cho vay hết quỹ cho vay thì khảnăng mở rộng tiền gửi cũng giảm đi.
Vậy hệ số mở rộng tiền gửi của ngân hàng thương mại trong thực tế đượctính theo công thức :
1
H =
Tỷ lệ dự trữ Tỷ lệ rút tiền mặt Tỷ lệ dự
bắt buộc + so với tiền gửi thanh toán + trữ dư thừa
Như vậy khả năng mở rộng tiền gửi của các Ngân hàng thương mại phảiđược thực hiện trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa nghiệp vụ cho vay và nghiệp vụthanh toán không dùng tiền mặt Do đó đòi hỏi ngân hàng ngày càng hiện đại hoá
hệ thống thanh toán để tạo thành thói quen thanh toán qua ngân hàng Đồng thờitận dụng quỹ cho vay để giảm đến mức thấp nhất các khoản dự trữ dư thừa
Mặt khác khả năng tạo tiền của Ngân hàng thương mại có thể mang rủi rođến cho ngân hàng khi khách hàng có nhu cầu rút vốn ồ ạt mà ngân hàng lại thiếu
Trang 8phương tiện thanh toán tiền mặt Để giảm rủi ro ngân hàng thương mại phải gửitiền vào tài khoản của mình mở tại Ngân hàng Trung ương và tham gia thanh toán
ra ngoài hệ thống của mình
Chức năng tạo tiền có ý nghĩa kinh tế to lớn Thông qua hoạt động nàylàm cho nguồn vốn Ngân hàng Thương mại tăng lên tạo điều kiện thanh toánkhông dùng tiền mặt trong nền kinh tế
Hoạt động ngân hàng cùng với các chức năng của nó thể hiện sự pháttriển về mặt tài chính nói riêng và sự phát triển nền kinh tế nói chung của mỗi quốcgia Qua các chức năng vị trí vai trò của ngân hàngthương mại được thể hiện:
Thứ nhất Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế :
Vốn được tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân doanhnghiệp và nhà nuớc trong nền kinh tế Muốn có nhiều vốn phải tăng thu nhập quốcdân, giảm nhịp độ tiêu dùng Mà tăng thu nhập quốc dân tức là mở rộng qui mô cảchiều sâu lẫn chiều rộng của sản xuất và lưu thông hàng hoá Để đẩy mạnh sự pháttriển của các ngành trong nền kinh tế cần thiết phải có vốn và ngược lại khi nềnkinh tế tăng trưởng sẽ tạo ra nhiều vốn Và Ngân hàng thương mại qua nghiệp vụhuy động vốn và cho vay sẽ là chủ đề chính đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinhdoanh
Ta thử hình dung trong một thế giới giản đơn không tồn tại ngân hàng thìcác khoản tiết kiệm của dân chúng chỉ có thể sử dụng hoặc dưới dạng tiền mặthoặc dưới dạng đầu tư chứng khoán vào các công ty Nhưng quy mô luồng vốn vàocác công ty nhìn chung là thấp do người thừa vốn phải mất chi phí rất lớn để có thểgiám sát hoạt động của các công ty hay chi phí chuyển nhượng chứng khoán công
ty và rủi ro biến động giá cả chứng khoán trên thị trường cao" Đó là nguyên nhânkhiến dân chúng giảm động lực tiết kiệm tăng tiêu dùng hoặc tiết kiệm dưới dạng
Trang 9tiền mặt hoặc vật chất.
Tuy nhiên chúng ta đang sống trong một thế giới mà ở đó hệ thống ngânhàng phát triển mạnh mẽ và đưọc coi là bộ xương sống của nền kinh tế Hệ thốngNgân hàng sẽ cung cấp kênh dẫn vốn từ người có nhu cầu đầu tư đến các công tybằng cách Ngân hàng thương mại đứng ra huy động vốn nhàn rỗi và tạm thời nhànrỗi của mọi tổ chức cá nhân, các thành phần kinh tế Vốn huy động được trong xãhội qua nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng thương mại đã cung cấp vốn cho mọi hoạtđộng kinh tế, đáp ứng các nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình tái sản xuấtnhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Thứ hai Ngân hàng là cầu nối doanh nghiệp với thị trường
Trong cơ chế thị trường hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác độngmạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan như quy luật giá trị, quy luật cạnhtranh, quy luật cung cầu, sản xuất dựa trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trường trênmọi phương diện Hoạt động của các doanh nghiệp phải đạt hiệu quả kinh tế nhấtđịnh theo quy luật chung của thị trường thì mới đảm bảo đứng vững trong cạnhtranh.Để đáp ứng được yêu cầu đó thì doanh nghiệp không những nâng cao chấtlượng lao động, củng cố hoàn thiện cơ chế quản lý mà còn mở rộng quy mô sảnxuất, cải tiến máy móc công trình, áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất kinhdoanh Những đòi hỏi đó cần phải có một lựơng vốn đầu tư lớn nhiều khi vượt quákhả năng vốn tự có của doanh nghiệp Để giải quyết khó khăn này doanh nghiệptìm đến Ngân hàng để xin vay vốn Thông qua hoạt động tín dụng Ngân hàng là
“chiếc cầu nối" giữa doanh nghiệp và thị trường Vốn của Ngân hàng gián tiếpgiúp doanh nghiệp thoả mãn nhu cầu thị trường từ đó tạo chỗ đứng vững chắctrong cạnh tranh cho doanh nghiệp
Ngoài ra doanh nghiệp thông qua việc thực hiện các dịch vụ thanh toán chonền kinh tế đã thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá, luân chuyển vốn trong xãhội, tiết kiệm chi phí thanh toán cho từng cá nhân, doanh nghiệp, nâng cao hiệu
Trang 10quả kinh tế Đồng thời Ngân hàng cũng giám sát được các hoạt động kinh tế gópphần tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp, tạo sự ổn địnhcho nền kinh tế.
Thứ ba Ngân hàng thương mại là công cụ để nhà nước đIều tiết vĩ mô nền
kinh tế
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường Ngân hàng thương mại hoạtđộng một cách có hiệu quả thông qua nghiệp vụ kinh doanh của mình sẽ thực sự làmột công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.Và Ngân hàng thương mạinhư một kênh quan trọng để Ngân hàng trung ương có thể cung ứng tiền vào lưuthông hay thu hẹp khối lượng tiền tệ ngoài lưu thông nhằm đảm bảo cân đối cungcầu về tiền tệ, thực hiện chính sách giá cả
Cụ thể bằng hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các Ngân hàng trong hệthống, các Ngân hàng thương mại đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứngtrong lưu thông Hay thông qua việc cấp các khoản tín dụng cho nền kinh tế, Ngânhàng thương mại thực hiện dẫn dắt các luồng tiền tập hợp và phân chia vốn trên thịtrường điều khiển chúng một cách có hiệu quả thực thi vai trò điều tiếtgián tiếp vĩ
mô nền kinh tế theo phương châm “Nhà nước điều tiết Ngân hàng, Ngân hàng dẫndắt thị trường”
Thứ tư Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế
Nền kinh tế càng phát triển thì các mối quan hệ hàng hoá tiền tệ càng được
mở rộng, nhu cầu giao lưu kinh tế xã hội giữa các nước trên thế giới càng trở nêncần thiết và cấp bách.Việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn gắn liền với sựtriển kinh tế thế giới Vì vậy nền tài chính của mỗi nước cũng phải hoà nhập vớinền tài chính quốc tế Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong sự hoànhập này Cùng với các nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán quốc tế,kinh doanh ngoại tệ, đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thương không ngừng phát
Trang 11triển Từ đó Ngân hàng thương mại thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính quốcgia phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế
3.Các nghiệp vụ của Ngân hàng thương maị
úa trình hoạt dộng của Ngân hàng dựa trên nguyên tắc “đi vayđể cho vay”tức là tự cân đối vốn và nguồn vốn có vậy mới bảo đảm phục vụ tốt chocông tác huy động vốn, sử dụng vốn cũng như các nghiệp vụ khác củaNgân hàng Để khái quát toàn bộ hoạt động của Ngân hàng thương mại, ta đi vàotìm hiểu các nghiệp kinh doanh chủ yếu sau
Q
3.1 Nghiệp vụ tài sản nợ :
ghiệp vụ tài sản nợ là nghiệp vụ hình thành nguồn vốn của Ngân hàngthương mại Các hoạt động của Ngân hàng dựa trên cơ sở nguồn vốn huyđộng được Đây là nghiệp vụ quan trọng quyết định đến các nghiệp vụ còn lại củaNgân hàng thương mại Về cơ bản nghiệp vụ này bao gồm :
N
*Vốn tự có và coi như tự có
Vốn tự có của Ngân hàng bao gồm vốn pháp định - vốn điều lệ, quỹ dự trữ
của ngân hàng thuộc sở hữu riêng có của ngân hàng Vốn pháp định của Ngân hàngthương mại là mức vốn tối thiểu phải có khi thành lập Ngân hàng do pháp lệnhNhà nước quy định hình thành tuỳ theo tính chất sở hữu của các Ngân hàng thươngmại Vốn điều lệ là vốn được ghi trong điều lệ của mỗi ngân hàng Vốn điều lệthường lớn hơn vốn pháp định Quỹ dự trữ của Ngân hàng bao gồm quỹ dự trữ để
bổ xung vốn điều lệ và quỹ dự trữ đặc biệt để bù đắp rủi ro Việc hình thành cácquỹ này làm tăng vốn tự có của Ngân hàng đồng thời đảm bảo an toàn trong kinhdoanh
Trang 12Vốn tự có của Ngân hàng thương mại chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồnvốn nhưng mang tính chất ổn định và là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác Nókhông phải là vốn dùng trực tiếp vào kinh doanh nhưng lại có vai trò quan trọngtrong kinh doanh của Ngân hàng thương mại Vốn tự có của Ngân hàng khôngnhững là căn cứ pháp lý để thành lập Ngân hàng mà còn là cơ sở để xác định quy
mô hoạt động của Ngân hàng khẳng định thế mạnh cũng như khả năng thanh toáncủa Ngân hàng thương mại đối với khách hàng
Vốn coi như tự có của Ngân hàng : Lợi nhuận chưa chia hoặc các quỹ chưa
sử dụng như quỹ phát triển nghiệp vụ Ngân hàng, quỹ khấu hao tài sản cố định,quỹ khen thưởng phúc lợi
* Nghiệp vụ huy dộng vốn
Đây là nghiệp vụ tạo nguồn vốn chính của Ngân hàng Vốn được huy động
từ nghiệp vụ này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng thươngmại Nguồn vốn này chủ yếu đáp ứng nhu cầu tín dụng của khách hàng Vấn đề đặt
ra các Ngân hàng thương mại làm sao tăng tỷ trọng nguồn vốn này càng cao càngtốt Mặc dù Ngân hàng phải trả lãi cho các loại tiền gửi huy động nhưng việc thuhút vốn nhanh và biết sử dụng vốn có hiệu quả sẽ mang lại lợi nhuận cao cho Ngânhàng
Ngân hàng thương mại huy động vốn dưới dạng :
Tiền gửi thanh toán : Đây là các khoản tiền mà khách hàng gửi vào Ngânhàng với mục đích thông qua Ngân hàng để thực hiện các giao dịch thanh toán.Mục đích chủ yếu là tính thanh khoản chứ không phải mục đích hưởng lãi nên số
dư trên tài khoản này thường xuyên biến dộng, họ có thể rút vốn bất kỳ lúc nào.Mặc dù Ngân hàng chỉ phải trả lãi rất thấp cho loại tiền gửi này nhưng Ngân hàngphải xây dựng quỹ đảm bảo khả năng thanh toán Điều đó làm cho Ngân hàng có